Ý nghĩa trong thực tiễn - Qua việc đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất, tìm ra những mặt thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý đất đai nói chung và công tác quy ho
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THỊ NGỌC HÀ
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH SỬ DỤNG NHÓM ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SÔNG
LÔ TỈNH VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2005 - 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thế Hùng
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được nội dung này, tôi đã nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ rất tận tình của PGS TS Nguyễn Thế Hùng, sự giúp đỡ, động viên của các thầy cô giáo trong khoa Tài nguyên và Môi trường, Khoa đào tạo Sau đại học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Nhân dịp này cho phép tôi được bày
tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thế Hùng và những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo trong khoa Tài nguyên
và Môi trường
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ UBND huyện, phòng NN & PTNT, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, chính quyền các xã cùng nhân dân huyện Sông Lô đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và các bạn đồng nghiệp động viên, giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn
Vĩnh Phúc, ngày tháng 9 năm 2010
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Ngọc Hà
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục i
Danh mục từ và các cụm từ viết tắt……… v
Danh mục các bảng………vi
Danh mục các hình………vii
MỞ ĐẦU i
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Yêu cầu 4
1.4 Ý nghĩa 4
1.4.1 Ý nghĩa trong lý luận: 4
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 5
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
1.1.1 Đất đai - tư liệu sản xuất đặc biệt 5
1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất vật chất và phát triển kinh tế xã hội 5
1.1.3 Khái niệm và các loại hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai 7
1.1.3.1 Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất 7
1.1.3.2 Các loại hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 11
1.1.3.3 Nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất 11
1.1.3.4 Căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất 12
1.1.3.5 Nội dung lập quy hoạch sử dụng đất 13
1.1.4 Tầm quan trọng của việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai 13
1.1.5 Cơ sở pháp lí của việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 14
Trang 61.1.5.1 Cơ sở pháp lý 14
1.1.5.2 Cơ sở thực tiễn 17
1.2 Tình hình nghiên cứu và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trong nước và trên thế giới 18
1.2.1 Tình hình nghiên cứu và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trên thế giới 18
1.2.2 Tình hình nghiên cứu và tiến hành quy hoạch sử dụng đất đai ở Việt Nam qua các thời kỳ 23
1.2.2.1 Tình hình chung 23
1.2.2.2 Thời kỳ trước Luật Đất đai 2003 24
1.2.2.3 Thời kỳ thực hiện Luật Đất đai 2003 đến nay 26
1.2.3 Tình hình triển khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai tỉnh Vĩnh Phúc 30
1.2.4 Tình hình triển khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai huyện Sông Lô- tỉnh Vĩnh Phúc 30
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 32
2.2 Địa điểm và thời gian thực hiện 32
2.3 Nội dung nghiên cứu 32
2.3.1 Nghiên cứu điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội huyện Sông Lô 32
2.3.2 Hiện trạng sử dụng đất và công tác quản lý đất đai 32
2.4 Phương pháp nghiên cứu 33
2.4.1 Phương pháp điều tra, khảo sát 33
2.4.2 Phương pháp thống kê 33
2.4.3 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 33
2.4.4 Điều tra phỏng vấn các đối tượng quản lý và thực hiện quy hoạch 33
2.4.5 Tổng hợp và xử lý số liệu 33
Trang 72.4.6 Phương pháp so sánh 34
2.4.7 Phương pháp chuyên gia 34
2.4.8 Phương pháp, dự báo: 34
2.4.9 Phương pháp sử dụng phần mềm tin học: Excel, Microstation, Mapinfo để sử lý số liệu, bản đồ, xây dựng các bảng biểu… 34
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội 35
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 35
3.1.1.1 Vị trí địa lý 35
3.1.1.2 Địa hình địa mạo 36
3.1.1.3 Khí hậu 36
3.1.1.4 Thủy văn và nguồn nước 37
3.1.1.5 Các nguồn tài nguyên 38
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 42
3.1.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội của huyện giai đoạn 2005 – 2009 42 3.1.2.1.1 Quy mô và tăng trưởng kinh tế 42
3.1.2.1.2 Cơ cấu kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế 44
3.1.2.2 Dân số và lao động 50
3.1.2.3 Cơ sở hạ tầng nông thôn 53
3.1.2.3.1 Hệ thống giao thông 53
3.1.2.3.2 Hệ thống thủy lợi và cấp thoát nước 54
3.1.2.3.3 Hiện trạng cấp điện 54
3.2 Hiện trạng sử dụng đất và tình hình quản lý đất đai 55
3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2009 55
3.2.2 Tình hình quản lý đất đai 57
3.3 Đánh giá công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất cấp xã huyện Sông Lô giai đoạn 2005- 2010 60
3.3.1 Kết quả điều tra chọn xã 60
Trang 83.3.2 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng nhóm đất phi nông
nghiệp của các đơn vị hành chính 65
3.3.2.1 Đánh giá chung về thực hiện quy hoạch sử dụng nhóm đất phi nông nghiệp của các đơn vị hành chính 65
3.3.2.1.1 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch nhóm đất phi nông nghiệp thị trấn Tam Sơn 65
3.3.2.1.2 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch nhóm đất phi nông nghiệp xã Đức Bác 68
3.3.2.1.3 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch nhóm đất phi nông nghiệp xã Yên Thạch 69
3.3.3 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch nhóm đất phi nông nghiệp giữa các đơn vị hành chính 71
3.3.3.1 Đất ở 71
3.3.3.2 Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 73
3.3.3.3 Đất trụ sở cơ quan công trình sự nghiệp 75
3.3.3.4 Đất có mục đích công cộng 76
3.4 Đánh giá nguyên nhân gây khó khăn và cản trở đối với việc thực hiện quy hoạch 78
3.5 Một số giải pháp giải quyết những khó khăn trong thực hiện quy hoạch 82
3.5.1 Các giải pháp về chính sách pháp lý 83
3.5.2 Giải pháp về vốn đầu tư 85
3.5.3 Giải pháp về quản lý và sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch 85
3.5.4 Một số giải pháp kỹ thuật 87
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
4.1 Kết luận 88
4.2 Kiến nghị 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 9Danh môc c¸c c¸c tõ, côm tõ viÕt t¾t
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Các chỉ tiêu phát triển KT-XH huyện Sông Lô 43 giai đoạn 2005-2009 43 Bảng 3.2: Thực trạng phát triển ngành nông nghiệp huyện Sông Lô giai đoạn 2005-2009 45 Bảng 3.3: Thực trạng phát triển ngành công nghiệp huyện Sông Lô giai đoạn 2005- 2009 48 Bảng 3.4: Hiện trạng Dân số và lao động các năm 2005-2009 52 Bảng 3.5: Hiện trạng sử dụng đất huyện Sông Lô năm 2009 55 Bảng 3.6: Đánh giá tình hình chung các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Sông Lô 61 Bảng 3.7: Bảng tổng hợp quy hoạch sử dụng nhóm đất phi nông nghiệp thị trấnTam Sơn giai đoạn 2000-2009 66 Bảng 3.8: Bảng tổng hợp quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp xã Đức Bác giai đoạn 2000-2009 68 Bảng3.9: Bảng tổng hợp quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp xã 70 Yên Thạch giai đoạn 2000-2009 70 Bảng 3.10: So sánh kết quả việc thực hiện quy hoạch đất ở giữa các đơn vị hành chính đến năm 2009 71 Bảng 3.11: So sánh kết quả thực hiện đất sản xuất kinh doanh giữa các đơn vị hành chính đến năm 2009 73 Bảng 3.12: So sánh kết quả thực hiện đất trụ sở cơ quan công trình sự nghiệp giữa các đơn vị hành chính đến năm 2009 75 Bảng 3.13: So sánh kết quả thực hiện quy hoạch đất có mục đích công cộng giữa các đơn vị hành chính đến năm 2009 77
Trang 11Bảng 3.14: Bảng tổng hợp phiếu điều tra kết quả thực hiện quy hoạch của các công trình, dự án tại các đơn vị hành chính……… …… 78 Bảng 3.15: Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả thực hiện quy hoạch của các công trình, dự án……… 79
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1: Cơ cấu đất đai huyện Sông Lô năm 2009 56 Hình 3.2: Yếu tố ảnh hưởng tới công tác giải phóng mặt bằng 81
Trang 13MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Ngày nay, sử dụng đất bền vững, tiết kiệm, và có hiệu quả đã trở thành chiến lược quan trọng có tính toàn cầu Nó có ý nghĩa quan trọng với sự tồn tại và phát triển của nhân loại Bất kỳ nước nào, đất đều là tư liệu sản xuất nông- lâm nghiệp chủ yếu, cơ sở lãnh thổ để phân bố các ngành kinh tế quốc dân Gần đây trong báo cáo về suy thoái đất toàn cầu, UNEP khẳng định”Mặc cho những tiến bộ của khoa học- kỹ thuật vĩ đại, con người hiện đại vẫn phải sống dựa vào đất" Đất là nguồn tài nguyên có hạn, đất có khả năng canh tác ngày càng ít ỏi Diện tích đất có khả năng canh tác của lục địa chỉ có 3.030
triệu ha, hiện tại nhân loại mới khai thác được 1.500 triệu ha đất canh tác
Cùng với đó là dân số tăng nhanh, sự phát triển của đô thị, công nghiệp hoá
và cơ sở hạ tầng kỹ thuật đã tác động mạnh đến việc sử dụng đất Diện tích đất tự nhiên và đất canh tác trên đầu người ngày càng giảm Bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ở Việt Nam là dưới 0,15ha Theo tính toán của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO), với trình độ sản xuất trung bình hiện nay trên thế giới, để có đủ lương thực, thực phẩm, mỗi người cần có 0,4 ha đất canh tác Diện tích đất còn bị suy giảm do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu Dẫn đến tình trạng giảm, mất dần khả năng sản xuất và nhiều hậu quả nghiêm trọng khác Ở Việt Nam hiện có 16,7 triệu ha bị xói mòn, rửa trôi mạnh, chua nhiều, 9 triệu Ha đất có tầng mỏng và độ phì thấp, 3 triệu ha đất thường bị khô hạn và sa mạc hoá, 1,9 triệu ha đất bị phèn hoá, mặn hoá mạnh Ngoài ra tình trạng ô nhiễm do phân hoá học, hoá chất bảo vệ thực vật, chất thải, nước thải, khu công nghiệp, làng nghề, sản xuất, dịch vụ và chất độc hoá học để lại sau chiến tranh cũng đáng báo động Hoạt động canh tác của ngươì
Trang 14dân cũng bị đe doạ bởi tình trạng ngập úng, lũ lụt, sạt lở đất, thoái hoá lý, hóa học đất
Với những áp lực và thực trạng sử dụng đất đai như trên cho thấy nguồn tài nguyên đất ngày càng khan hiếm và có giới hạn Đòi hỏi phải có sự đối chiếu hợp lý giữa các kiểu sử dụng đất đai để đạt được khả năng tối đa về sản xuất ổn định và an toàn lương thực, đồng thời cũng bảo vệ được hệ sinh thái cây trồng và môi trường đang sống Quy hoạch sử dụng đất đai là nền tảng trong tiến trình này Đây là một thành phần cơ sở có liên quan đến hệ sinh thái các vùng núi, sa mạc hoang vu, hay các vùng đồng bằng ven biển, đồng thời lại nằm trong mục tiêu phát triển và bảo vệ rừng, đất trồng và tài nguyên ven biển Quy hoạch sử dụng đất đai là yếu tố chính trong tất cả yêu cầu phát triển và bảo vệ các vùng đất nông nghiệp.Có những sự mâu thuẫn nhau trong sử dụng đất đai hiện nay Nhu cầu về đất nông nghiệp, đồng cỏ, bảo vệ thiên nhiên, rừng, du lịch và phát triển đô thị thì lớn hơn nhiều so với nguồn tài nguyên đất đai hiện có Hiện nay có rất nhiều tài liệu nghiên cứu định nghĩa về quy hoạch sử dụng đất đai (QHSDĐĐ) khác nhau, từ đó đưa đến những việc phát triển quan điểm và phương pháp được sử dụng trong QHSDĐĐ cũng khác nhau
Trong phương pháp tổng hợp và người sử dụng đất đai là trung tâm (UNCED, 1992; trong FAO, 1993) đã đổi lại định nghĩa về QHSDĐĐ như sau QHSDĐĐ là một tiến trình xây dựng những quyết định để đưa đến những hành động trong việc phân chia đất đai cho sử dụng để cung cấp những cái có lợi bền vững nhất (FAO, 1995) Với cái nhìn về quan điểm khả năng bền vững thì chức năng của QHSDĐĐ là hướng dẫn sự quyết định trong sử dụng đất đai để làm sao trong nguồn tài nguyên đó được khai thác có lợi cho con người, nhưng đồng thời cũng được bảo vệ cho tương lai Do đó có thể định nghĩa:“Quy hoạch sử dụng đất đai là sự đánh giá tiềm năng đất nước có hệ
Trang 15thống, tính thay đổi trong sử dụng đất đai và những điều kiện kinh tế xã hội
để chọn lọc và thực hiện các sự chọn lựa sử dụng đất đai tốt nhất Đồng thời quy hoạch sử dụng đất đai cũng là chọn lọc và đưa vào thực hành những sử dụng đất đai đó mà nó phải phù hợp với yêu cầu cần thiết của con người về bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tương lai”
Việc lập QHSDĐ được lập từ trung ương tới địa phương theo cấp quản
lý và cấp xã là bước lập quy hoạch chi tiết tới từng thửa đất Năm 2000 cả nước đã thực hiện lập QHSDĐ cho cả kỳ quy hoạch 2000-2010 Hiện nay kỳ quy hoạch đã hết và chuẩn bị cho kỳ tiếp theo chúng ta cần đánh giá việc thực hiện quy hoạch của kỳ trước, những tồn tại, khó khăn, những gì đạt được làm căn cứ cho việc quy hoạch 2010-2020 có hiệu quả
Xuất phát từ tầm quan trọng nêu trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“ Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng nhóm đất phi nông nghiệp cấp xã trên địa bàn huyện Sông Lô giai đoạn 2005 – 2010 ”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng nhóm đất phi nông nhiệp và xác định các yêú tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất phi nông nghiệp ở huyện Sông Lô
- Phân tích , đánh giá việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất cấp xã của huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005 – 2010 Từ đó thấy được những nguyên nhân khó khăn trong thực hiện quy hoạch
- Nghiên cứu kết quả thực hiện quy hoạch cấp xã So sánh việc thực hiện của các xã có điều kiện khác nhau từ đó đưa ra được phương hướng thực hiện quy hoạch giai đoạn 2010- 2015 có hiệu quả Công tác lập quy hoạch có hiệu quả cao hơn phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội tránh lãng phí nguồn tài nguyên
Trang 16- Đánh giá được những thuận lợi, khó khăn, tồn tại trong công tác thực hiện quy hoạch
1.4 Ý nghĩa
1.4.1 Ý nghĩa trong lý luận:
- Trong quá trình nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất sẽ hiểu rõ tầm
quan trọng của việc lập quy hoạch và thực hiện quy hoạch
- Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch để từ đó thuận lợi cho công tác lập quy hoạch sao cho hiệu quả Lập quy hoạch bám sát vào tình hình thực
tế và những điều kiện cần thiết để quy hoạch được thực hiện
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Qua việc đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất, tìm ra những mặt thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý đất đai nói chung và công tác quy hoạch nói riêng của cấp xã, từ đó đưa ra được các giải pháp khắc phục cho những khó khăn tồn tại đó
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Đất đai - tư liệu sản xuất đặc biệt
Đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi hoạt động sản xuất của con người, đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là phương tiện lao động và là yếu tố không thể thiếu được trong sự tồn tại và phát triển của con người
Trong quá trình phát triển của xã hội Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của con người Đất đai tồn tại như một vật thể tự nhiên chỉ khi tham gia vào quá trình lao động, chịu sự tác động của con người thì đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất Tuy nhiên, sự khác biệt của đất so với tư liệu sản xuất khác đã nói lên tính đặc biệt của nguồn tài liệu này
Đất đai ở các vùng địa lý khác nhau có tính chất khác nhau, thể hiện sự không đồng nhất về chất lượng, hàm lượng chất dinh dưỡng là một trong các nguyên nhân làm cho chất lượng sản phẩm khác nhau Vì vậy nó hình thành nên các đặc sản khác nhau ở mỗi khu vực Trong khi đó đất đai lại hoàn toàn
cố định về vị trí, không thể di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác và chúng ta lại càng không thể thay thế bằng tư liệu sản xuất khác Nhưng nếu biết sử dụng đất đai hợp lý không những đất sẽ không bị huỷ hoại mà còn có thể làm tăng tính chất sản xuất cũng như hiệu quả sử dụng đất
1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất vật chất và phát triển kinh tế xã hội
“Đất đai”về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó bao gồm khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy ), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật,
Trang 18trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ
và hiện tại để lại
Như vậy “Đất đai”là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng và nằm ngang bên mặt đất Nó giữ vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội hội loài người, như Mác nói “Lao động không phải là nguồn duy nhất sinh ra của cải vật chất và giá trị tiêu thụ, lao động chỉ là cha của của cải, vật chất còn đất là mẹ”
Trong sản xuất và phát triển kinh tế xã hội, đất đai đã thể hiện vị trí đặc biệt quan trọng, là điều kiện tiên quyết là cơ sở thiên nhiên của mọi quá trình sản xuất Điều này có nghĩa thiếu đất đai thì không một ngành nào có thể bắt đầu công việc cũng như con người không thể tồn tại Tuy nhiên với từng ngành khác nhau vai trò của đất cũng khác nhau
* Trong các ngành phi nông nghiệp
Đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất Trong các ngành này việc sử dụng đất không đòi hỏi đến độ phì nhiêu của đất, chất lượng của thảm thực vật mà chủ yếu cần quan tâm đến các tính chất cơ lý, vật lý của đất (đối với các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng), các nguồn tài nguyên sẵn có trong lòng đất (với các ngành khai khoáng) Bên cạnh đó đặc điểm kiến tạo địa hình, cảnh quan thiên nhiên đã cung cấp cho con người cơ hội để thưởng thức, giải trí nâng cao giá trị đời sống vật chất, tinh thần
Mặc dù đất đai giữ vai trò thụ động trong các ngành phi nông nghiệp nhưng nó vẫn là yếu tố vô cùng quan trọng Nếu biết sử dụng đất đai hợp lý, khoa học không những đem lại hiệu quả cao trong sản xuất mà còn duy trì được sức sản xuất của đất, kéo dài thời gian sử dụng đất, đáp ứng sự phát triển bền vững
* Trong các ngành nông - lâm nghiệp
Trang 19Chất lượng hàng nông sản phụ thuộc trực tiếp vào đất phì nhiêu, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên sẵn có trong đất Đất đai đóng vai trò tích cực trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm, là điều kiện vật chất cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động và phương tiện lao động
Sự khác biệt về tính chất hoá học của đất, địa hình đã hình thành nên các vùng chuyên canh với các sản phẩm nông sản khác nhau Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là cơ sở của sự sống và phát triển của cây trồng Đất là nơi nuôi sống thực vật, là giá đỡ cho mọi cây trồng sinh trưởng và phát triển, cây trồng có thể sống trên đất là nhờ có đất và độ phì nhiêu
Cùng với sự phát triển của xã hội, công năng của đất cũng ngày càng được mở rộng, việc sử dụng đất đai cũng ngày càng phức tạp hơn Nếu trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế - xã hội đất đai được sử dụng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu về vật chất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp thì càng ngày đất đai càng được sử dụng vào đúng mục đích Nó không những cung cấp các điều kiện cần thiết để sản xuất trực tiếp ra của cải vật chất mà còn đáp ứng các điều kiện về hưởng thụ cho cuộc sống của nhân loại Bên cạnh đó sự gia tăng về dân số ngày càng lớn trong khi diện tích tự nhiên của đất đai có hạn làm cho diện tích đất nông - lâm nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại Nhu cầu tăng trưởng kinh tế cao gây áp lực đối với đất đai ngày càng mạnh dẫn đến tình trạng rối loạn trong khai thác sử dụng đất nhất là đối với đất nông nghiệp
Vì vậy việc sử dụng đất phải hợp lý, khoa học mới đáp ứng được yêu cầu bền vững cho các thế hệ sau
1.1.3 Khái niệm và các loại hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
1.1.3.1 Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất
Trước kia quy hoạch sử dụng đất đai được hiểu chỉ là những công việc đơn thuần như: đo vẽ bản đồ, sắp xếp lại trật tự sử dụng đất Ngày nay, quy hoạch sử dụng đất mang đầy đủ các yếu tố về kinh tế, kĩ thuật và pháp chế
Trang 20Nghĩa là quy hoạch sử dụng đất là việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động như phân bổ, bố trí và sắp xếp tổ chức đất đai tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng đất theo các mục đích khác nhau
Để hiểu khái niệm về quy hoạch sử dụng đất đai, cần tìm hiểu khái niệm về quy hoạch và đất đai dưới góc độ quản lý đất đai Về thuật ngữ có thể hiểu quy hoạch sử dụng đất đai như sau: Quy hoạch là việc xác định một trật
tự nhất định bằng những hoạt động như phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có định nghĩa chuẩn về đất đai Theo cách hiểu thông thường đất đai là phần nổi của mặt địa cầu trên đó con người và vạn vật đi lại sinh sống Tuy nhiên dựa theo các quy định của pháp luật hiện hành thì "đất đai”có thể hiểu như sau:
- Đất đai là tài sản quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân
bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng
- Đất đai là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ quốc, gia gắn liền với chủ quyền quốc gia vì không có quốc gia nào là không có đất
- Đất đai là loại tài sản đặc biệt không di dời và không tái tạo được
- Đất đai là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoảnh đất, vạc đất, mảnh đất, miếng đất ) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, chế độ nước, nhiệt độ ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hoá
tính tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng đất theo các mục
đích khác nhau Như vậy, để sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và hợp lý cần phải làm quy hoạch Đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm xác định ý nghĩa, mục đích của thành phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định và đầy đu6 được xác định dựa trên quan điểm nhận thức: Đất đai
là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong lĩnh sử dụng đất đai và việc
Trang 21tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất đặc biệt gắn chặt với sự phát triển kinh tế xã hội Bản chất của quy hoạch đất đai là sự tổng hợp của 3 biện pháp: kinh tế, kỹ thuật và pháp chế
- Biện pháp kỹ thuật: Là sự áp dụng các biện pháp tổ chức lãnh thổ hợplý dựa trên các cơ sở khoa học kỹ thuật (các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật: điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu )
- Biện pháp pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo quản lý và sử dụng đất đai theo đúng pháp luật
- Biện pháp kinh tế (hiệu quả sử dụng đất): Đây là biện pháp quan trọng nhất nhằm khai thác triệt để tiềm năng đất đai và thu được hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích đất đai.[5]
Như vậy, có thể định nghĩa quy hoạch đất đai là hệ thống các biện pháp của Nhà nước (thể hiện đồng thời 3 tính chất kinh tế, kỹ thuật, pháp chê) về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai nói cách khác quy hoạch sử dụng đất phải đảm bảo 5 mục tiêu sau:
- Sử dụng đất đầy đủ: Mọi loại đất đều được đưa vào sử dụng theo các mục đích nhất định
- Sử dụng đất hợp lý: Đặc điểm tính chất tự nhiên, vị trí, diện tích phù hợp với yêu cầu và mục đích sử dụng
- Sử dụng đất khoa học: áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật và các biện pháp tiên tiến
- Sử dụng đất có hiệu quả nhất: Đáp ứng đồng bộ cả 3 lợi ích kinh tế,
xã hội và môi trường
- Sử dụng đất bền vững: thông qua việc phân bố quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất đai như tư liệu sản xuất
Trang 22Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững, phát huy lợi thế của thổ nhưỡng và lãnh thổ để mang lại lợi ích cao, thực hiện đồng thời 2 chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường
Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương hướng nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập kế hoạch và quy hoạch sử dụng đất đai chi tiết của mình; xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai; làm cơ sở để tiến hành giao cấp đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hoá - xã hội với hiệu quả cao
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất đai còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đai, phát huy lợi thế ngành và lãnh thổ hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm nghiêm trọng quỹ đất nông - lâm nghiệp (đặc biệt
là đất trồng lúa và đất lâm nghiệp có rừng); ngăn chặn các hành vi tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm, huỷ hoại đất đai, phá vỡ sự cân bằng sinh thái, gây ụ nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế xã hội và các hậu quả khó lường về tình hình bất ổn định chính trị, an ninh, quốc phòng của từng địa phương, đặc biệt là trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường như hiện nay
Với những nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất đai đã đưa ra khái niệm: "Quy hoạch sử dụng đất đai theo hướng bền vững là một hệ thống các công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế, xã hội với các quan điểm về môi trường để đồng thời duy trì nâng cao sức sản
Trang 23xuất của đất, giảm rủi ro trong sản xuất, bảo vệ tiềm năng nguồn lực tự nhiên
và ngăn ngừa quá trình thoái hoá môi trường đất, có hiệu quả lâu dài và được
xã hội chấp nhận”[5]
Như vậy, quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng là điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và đưa ra các biện pháp tổ chức sử dụng đất đai phù hợp với yêu cầu hiện tại tương thích với điều kiện phát triển kinh tế xã hội trong tương lai
1.1.3.2 Các loại hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Luật đất đai 1993 qui định: “Quy hoạch sử dụng đất đai dược tiến hành theo lãnh thổ và theo ngành”[5]
- Quy hoạch sử dung đất đai theo lãnh thổ có các dạng:
+ Quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai cả nước;
+ Quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh;
+ Quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện;
+ Quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã;
- Quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành:
+ Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp;
+ Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp;
+ Quy hoạch sử dụng đất các khu dân cư nông thôn;
+ Quy hoạch sử dụng đất đô thị;
+ Quy hoạch sử dụng đất chuyên dùng
1.1.3.3 Nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất
Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
1 Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội, quốc phòng, an ninh;
Trang 242 Được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên;
kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt;
3 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên phải thể hiện nhu cầu
sử dụng đất của cấp dưới;
4 Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả;
5 Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường;
6 Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh;
7 Dân chủ và công khai;
8 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của mỗi kỳ phải được quyết định, xét duyệt trong năm cuối của kỳ trước đó.[5]
1.1.3.4 Căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất
Căn cứ để lập quy hoạch sử dụng đất bao gồm:
a) Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước; quy hoạch phát triển của các ngành và các địa phương;
b) Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước;
c) Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và nhu cầu của thị trường;
d) Hiện trạng sử dụng đất và nhu cầu sử dụng đất;
đ) Định mức sử dụng đất;
e) Tiến bộ khoa học và công nghệ có liên quan đến việc sử dụng đất; g) Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ trước
Căn cứ để lập kế hoạch sử dụng đất bao gồm:
a) Quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt;
Trang 25b) Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm năm và hàng năm của Nhà nước;
c) Nhu cầu sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; d) Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ trước;
đ) Khả năng đầu tư thực hiện các dự án, công trình có sử dụng đất
1.1.3.5 Nội dung lập quy hoạch sử dụng đất
Nội dung lập quy hoạch sử dụng đất:
a) Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội và hiện trạng sử dụng đất; đánh giá tiềm năng đất đai;
b) Xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch; c) Xác định diện tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tế
- xã hội, quốc phòng, an ninh;
d) Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án; đ) Xác định các biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường; e) Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất;
1.1.4 Tầm quan trọng của việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
Sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ người - đất trong tổ hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Căn cứ vào nhu cầu của thị trường về phát hiện quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng hợp lý nhất tài nguyên đất đai, phát huy tối
đa công dụng của đất đai nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái, kinh tế và xã hội cao nhất Song thực tế việc sử dụng đất còn nhiều bất cập Nhiều nơi trên thế giới
và ngay cả ở Việt Nam sử dụng đất vẫn chưa phát huy được tối đa công năng của đất Có những hoạt động của của con người chỉ là vô thức lại huỷ hoại dần nguồn tài nguyên này Vì vậy sử dụng đất như thế nào để đạt được kết quả cao nhất đảm bảo tính bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trường là điều được nhiều cấp, nhiều ngành quan tâm
Trang 26Từ khi xã hội loài người hình thành, sống bằng phương thức săn bắn và hái lượm, chủ yếu dựa vào sự ban phát của tự nhiên và thích ứng với tự nhiên
để tồn tại, vấn đề sử dụng đất hầu như không tồn tại Nhưng đến thời kỳ du mục, con người sống trong lều cỏ, những vùng đất có nước và đồng cỏ bắt đầu được sử dụng Khi ngành trồng trọt xuất hiện với công cụ sản xuất thô sơ, diện tích đất đai được sử dụng tăng lên nhanh chóng, năng lực sử dụng đất và
ý nghĩa của việc sử dụng đất cũng được tăng lên theo Tuy nhiên, trình độ sử dụng đất còn thấp, phạm vi sử dụng đất còn hạn chế, thu nhập đem lại từ sử dụng đất chưa cao
1.1.5 Cơ sở pháp lí của việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Chương 2, điều 18 hiến pháp nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam năm 1992 đã khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý, sử dụng”.[1]
Điều 1 luật đất đai 1993 khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân
do nhà nước thống nhất quản lý”.[2]
Tại chương 2 điều 18 hiến pháp năm 1992 nêu rõ: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật bảo đảm đúng mục đích và
có hiệu quả” Điều đó thể hiện tính pháp chế của nhà nước ta trong việc quy
hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai [1]
Điều 6 luật đất đai 2003 quy đinh: “Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai “là một trong 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai.[3]
Trang 27Điều 31 luật đất đai năm 2003 xác định một trong những căn cứ để quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất là
“Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt” [3]
Nghị quyết 01/1997/QH quốc hội khoá IX, kỳ họp 11 về kế hoạch sử dụng đất cả nước năm 2000 và đẩy mạnh công tác quy hoạch sử dụng đất các cấp trong cả nước
Như vậy để sử dụng và quản lý đất đai một cách tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả nhất thiết phải làm quy hoạch
Việc lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải dựa trên những văn bản có giá trị pháp lý:
- Hiến pháp 1992, Luật đất đai 1993 cùng các lần sửa đổi bổ sung năm
1998, 2001 và Luật đất đai 2003
- Nghị định 181/2004/NĐ - CP của Chính phủ về hướng dẫn thi hành luật đất đai năm 2003 nói rõ nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai và trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai tại các điều 12, 13 và 15
- Thông tư số 1842/2001/TT-TCĐC ngày 01/11/2001 và thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của bộ Tài Nguyên & Môi Trường về hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT, ngày 30 tháng 6 năm 2005 của
Bộ Tài nguyên và môi trường về việc ban hành Quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất do UBND các cấp lập trên địa bàn quản lý Quy hoạch sử dụng đất được phân kỳ thực hiện là mười năm
Trang 28Thời hạn lập quy hoạch sử dụng đất thống nhất với thời hạn lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của các ngành các cấp
Do vậy công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thực hiện liên tục theo từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của các cấp, của từng vùng và
cả nước cần phải căn cứ vào các quy định của Nhà nước về việc thực hiện lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
*Thẩm quyền lập và xét duyệt quy hoạch sử dụng đất
1 Chính phủ tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước
2 Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương
3 Uỷ ban nhân dân huyện thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của thị trấn thuộc huyện
Uỷ ban nhân dân huyện, quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương,
Uỷ ban nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các đơn vị hành chính cấp dưới, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này
4 Uỷ ban nhân dân xã không thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị trong kỳ quy hoạch sử dụng đất tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương
5 Quy hoạch sử dụng đất của xã, phường, thị trấn được lập chi tiết gắn với thửa đất (sau đây gọi là quy hoạch sử dụng đất chi tiết); trong quá trình lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết, cơ quan tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch sử dụng đất phải lấy ý kiến đóng góp của nhân dân
Trang 29Kế hoạch sử dụng đất của xã, phường, thị trấn được lập chi tiết gắn với thửa đất (sau đây gọi là kế hoạch sử dụng đất chi tiết)
6 Uỷ ban nhân dân cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trước khi trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt
7 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải được trình đồng thời với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.[4]
*Thẩm quyền quyết định, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
1 Quốc hội quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước
1.1.5.2 Cơ sở thực tiễn
Kết quả đạt được trong công tác đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đã
và đang cho nền kinh tế đất nước có bước phát triển với những thay đổi đáng
kể Từ một nền kinh tế tập trung bao cấp chuyển sang nền kinh tế sản xuất hàng hoá, vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng tăng dân tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp Cùng với đó sự gia tăng dân số sẽ gây sức ép lớn đối với đất đai, đặc biệt ở những khu vực có mật độ dân số cao
Trang 30Đất đai là nguồn tài nguyên không thể tái tạo được và nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế không chỉ ở Việt Nam Nước ta có 32.929.700 ha diện tích đất tự nhiên, bình quân diện tích đất trên đầu người thấp là 0,046 ha/người (niên giám thống kê năm 2004), cho nên việc sử dụng đất đai hợp lý liên quan đến các ngành các lĩnh vực Vì vậy đòi hỏi các cấp, các ngành phải thường xuyên xây dựng các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phù hợp trên địa bàn mình quản lý và phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội Mặc dù công tác quy hoạch, kế hoạch hoá việc sử dụng đất đã được đề cập khi luật đất đai 1988 ra đời, song đến nay việc thực hiện công tác này vẫn còn
có những hạn chế Hầu hết các địa phương chưa tự xây dựng phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn mình quản lý, do đó hiệu quả của phương án không cao, còn nhiều hạn chế, đất đai sử dụng không theo quy hoạch
1.2 Tình hình nghiên cứu và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trong nước và trên thế giới
1.2.1 Tình hình nghiên cứu và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trên thế giới
Công tác quy hoạch phân bổ sử dụng đất đã được tiến hành từ lâu, ở nhiều nước trên thế giới
Xuất phát từ những mô hình nông trang đa canh, chuyên canh các quốc gia tiến bộ đã sớm nhận thức được vai trò cũng như hiệu quả của công việc xây dựng một mô hình quản lý, sử dụng đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học dựa trên cơ sở tiến bộ của tư liệu sản xuất Quy hoạch sử dụng đất được đưa ra để đảm bảo đáp ứng được yêu cầu đó
Trong những năm gần đây công tác này được hầu hết các nước trên thế giới quan tâm Việc thực hiện cũng được tiến hành thường xuyên, liên tục giữa các kỳ kế tiếp, năm kế tiếp Càng ngày quy hoạch sử dụng đất càng
Trang 31khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế quốc dân ở một số nước như: Pháp, Bungari, Nga nhiệm vụ quy hoạch sử dụng đất không chỉ đặt lên vai của các cấp lãnh đạo mà còn trên vai các chủ trực tiếp sử dụng đất bởi lẽ nó không những liên quan tới việc tổ chức lãnh thổ mà phần lớn, đất đai tập trung ở những người chủ sử dụng đất dưới dạng trang trại Trong quá trình đổi mới công tác quy hoạch sử dụng đất đai ở một số nước đã đem lại những thành tựu đáng kể trong việc phát triển kinh tế của đất nước Hầu hết để làm giảm khoảng cách giữa nông thôn và thành thị thì công tác quy hoạch nông thôn đã được trú trọng
* Quy hoạch ở Liên Xô (cũ)
Sau khi cuộc Cách mạng vô sản thành công Liên Xô xũ và các nước Đông Âu tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội, một trong những nhiệm vụ hàng đầu được đặt ra là xoá bỏ cách biệt giữa thành thị và nông thôn Sau một thời gian xây dựng và phát triển theo quy hoạch, đời sống văn hoá vật chất ở nông thôn ở các nước này là một thành công lớn.[5]
Theo A Condukhop và Amikhalop phần thiết kế xây dựng quy hoạch nông thôn dựa trên cơ sở điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế, văn hoá xã hội Quá trình thực hiện được quy hoạch phải giải quyết một loạt những vấn
đề sau:
+ Quan hệ giữa khu dân cư với vùng sản xuất, khu vực canh tác
+ Quan hệ giữa khu dân cư với giao thông bên ngoài
+ Hệ thống giao thông nội bộ, các côg trình hạ tầng kỹ thuật
+ Việc bố trí mặt bằng hài hoà cho từng vùng khác nhau về mặt địa lý, đảm bảo sự thống nhất trong tổng thể kiến trúc
+ Các công trình văn hoá công cộng (trường học, trạm xá, sân thể thao) tạo nên được môi trường sống trong lành, yên tĩnh
Trang 32+ Quy hoạch khu dân cư mang nét của đô thị hoá, giải quyết thoả mãn các nhu cầu của con người
Quy hoạch nông thôn của Amikhalop và A Condukhop đã thể hiện nội dung: Mỗi vùng dân cư, làng, xã, có một trung tâm gồm các công trình công cộng và nhà ở có dạng giống nhau có nông trang viên
Đến giai đoạn sau trong các công trình quy hoạch nông thôn của G Deleur và Ikhokhon đã đưa ra sơ đồ quy hoạch vùng lãnh thổ các huyện gồm
3 cấp trung tâm
+ Trung tâm của huyện
+ Trung tâm thị trấn của tiểu vùng
+ Trung tâm của làng xã
Trong thời kỳ này trên địa bàn nông thôn của Liên Xô chia cấp trung tâm theo quan hệ từ trung tâm huyện qua trung tâm tiểu vùng đến trung tâm làng xã quy hoạch nông thôn đã khai thác triệt để mặt bằng tổng thể các khu nhà ở, khu chế xuất, khu văn hoá được bố trí hợp lý theo kiểu tổ chức quy hoạch đô thị Nhà ở được chia vùng với những lô đất tăng gia nhỏ và xây dựng theo hệ thống quản lý nhà nước, bố trí không gian rộng rãi theo kiểu thiết kế chung, không gây lộn xộn Đây là những thành công của Liên Xô trong quy hoạch nông thôn trong điều kiện cụ thể trong nước
* Quy hoạch đất đai ở Thái Lan
Nông thôn ở Thái Lan cũng giống như ở các nước ở Đông Nam á đều
có đặc điểm và những nét tương tự giống nhau như ở nông thôn Việt Nam Việc học hỏi đúc rút ra những kinh nghiệm quý báu từ công tác quy hoạch nong thôn ở Thái Lan là rất cần thiết
Trong những năm gần đây Thái Lan đã có nhiều cố gắng lớn trong xây dựng quy hoạch nông thôn để phát triển nền kinh tế, ổn định xã hội, Thái Lan
Trang 33đã có sự đầu tư tương đối lớn cho việc xây dựng hệ thống mạng lưới giao thông nông thôn phục vụ sản xuất, nối liền các khu sản xuất với khu chế biến
và thị trường tiêu thụ Quá trình quy hoạch nông thôn tại các làng xã được xây dựng theo mô hình và nguyên lý hiện đại mới Khu dân cư được bố trí tập trung, trung tâm làng xã là nơi xây dựng các công trình công cộng, các khu sản xuất được bố trí thuận tiện nằm trong khu vực vòng ngoài
Kết quả sau 7 lần thực hiện kế hoạch 5 năm, Thái Lan đã đạt được sự tăng trưởng kinh tế nông nghiệp rõ rệt, các vùng nông thôn đều có cơ sở hạ tầng và hệ thống giao thông phát triển, dịch vụ công cộng nâng cao, đời sống nông thôn được cải thiện không ngừng
Qua những vấn đề lý luận và thực tiễn quy hoạch nông thôn ở nước ngoài cho thấy muốn phát triển nông thôn nhất định phải có quy hoạch hệ thống làng xã một cách phù hợp với điều kiện cụ thể Phải xây dựng hệ thống
cơ sở hạ tầng và mạng lưới hệ thống giao thông hoàn thiện, cùng với việc xây dựng hệ thống giao thông làng, xã đã trở thành hạt nhân phát triển kinh tế, văn hoá xã hội và là môi trường thuận lợi cho việc tiếp thu văn minh đô thị để phát triển nông thôn mới
Tóm lại việc quy hoạch sử dụng đất đai hiện nay đã và đang trở thành một trong những công việc không thể thiếu để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội mỗi nước và nó đang dần dần, từng bước khẳng định vị trí của mình trong các chiến lược phát triển kinh tế.
Ở Philippin: Có ba cấp quy hoạch đó là: Cấp quốc gia, cấp vùng và cấp huyện Cấp quốc gia đưa ra những hướng dẫn chỉ đạo chung Cấp vùng triển khai một khung chung cho quy hoạch theo vùng Cấp huyện triển khai các đồ
án tác nghiệp Chính phủ có vai trò trong việc thống nhất giữa các ngành và các quan hệ giữa các cấp quy hoạch khác nhau, đồng thời cũng tạo điều kiện
để các chủ sử dụng đất tham gia
Trang 34Ở các nước Lào, Trung Quốc, Campuchia: Công tác quy hoạch đất đai
đã bắt đầu phát triển nhưng mới chỉ dừng lại ở mức quy hoạch tổng thể các ngành mà không tiến hành quy hoạch ở các cấp nhỏ hơn như ở Việt Nam
Ở Pháp: Quy hoạch đất đai được xây dựng quy hoạch theo hình thức
mô hình hóa nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao trong việc sử dụng tài nguyên môi trường và lao động, áp dụng bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc hợp lý, tăng hiệu quả sản xuất xã hội
Ở Canađa: Chính phủ liên bang đã can thiệp vào quy hoạch cấp trung gian Chính phủ đặt ra mục tiêu chung ở cấp quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi
và khuyến khích các hoạt động quy hoạch ở các bang
Ngoài ra chính phủ còn có vai trò hỗ trợ để có sự tham gia của các lĩnh vực khác nhau có liên quan đến quá trình lập quy hoạch bao gồm các ngành công nghiệp, nông nghiệp và vấn đề môi trường ngày càng được quan tâm và
Ở Bungari: Quy hoạch lãnh thổ đất nước được phân thành các vùng đặc trưng gắn liền với việc bảo vệ môi trường thiên nhiên
Ở Angiêri: Việc quy hoạch đất đai được tiến hành theo phương pháp nhất thể hóa và đa phái Quy hoạch đất đai được tiến hành với sự tham gia đầy đủ của các phương tiện có liên quan, các tổ chức ở cấp chính phủ, nhà nư-
ớc, cộng đồng và các tổ chức nông gia
Để có một phương pháp chung làm cơ sở cho công tác quy hoạch đất đai ở phạm vi toàn thế giới, năm 1992 FAO đã đưa ra quan điểm quy hoạch đất đai nhằm sử dụng đất đai một cách có hiệu quả, bền vững đáp ứng tốt những yêu cầu của hiện tại và đảm bảo yêu cầu lương thực cho tương lai, chú trọng đến hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường gắn liền với khả năng sử dụng bền vững Phương pháp quy hoạch đất đai này được áp dụng ở ba mức
là quốc gia, huyện và xã
Trang 35FAO đưa ra phương pháp này nhằm đáp ứng yêu cầu áp dụng vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia, đối với các quốc gia đang phát triển thì quy hoạch sử dụng đất đai chủ yếu phục vụ cho nhu cầu phát triển và sản xuất lương thực đảm bảo cho an toàn lương thực Còn đối với các quốc gia phát triển thì quy hoạch đất đai hướng vào bảo vệ, cải thiện môi trựờng sinh thái, cảnh quan thiên nhiên
1.2.2 Tình hình nghiên cứu và tiến hành quy hoạch sử dụng đất đai ở Việt Nam qua các thời kỳ
1.2.2.1 Tình hình chung
Qua sự phát triển của đất nước (thể hiện bằng các văn bản pháp luật) ở các thời kỳ và cùng với sự phát triển của thế giới về quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế nông thôn ở nước ta đã tiến hành làm quy hoạch tổng thể trên phạm vi toàn vùng kinh tế lớn, các vùng kinh tế trọng điểm và dự án về phát triển xã hội nông thôn ở nhiều địa phương trên cả nước như:
- Chương trình quy hoạch tổng thề đồng bằng sông Hồng do chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) tài trợ
- Chương trình quy hoạch tổng thể đồng bằng sông Cửu Long, vùng Tây Nguyên, vùng Duyên hải miền Trung dưới sự chủ trì của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn do Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp thực hiện năm 1994 - 1995 đã chứng tỏ sự thành công bước đầu trong quy hoạch tổng thể
Các chương trình và dự án quy hoạch tổng thể trong giai đoạn 10- 15 năm đã thực sự là những định hướng đúng đắn cho những bước đi sau trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước và của từng vùng trên cơ sở khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng tài nguyên thiên nhiên Các điều kiện kinh tế xã hội và thế mạnh từng vùng Quy hoạch tổng thể từng vùng tạo điều
Trang 36kiện ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cũng như bảo vệ môi trường sinh thái trong khu dân cư
Nhờ có các chương trình, dự án phát triển tổng hợp vùng nông thôn cho nên nền kinh tế ở từng vùng đã được đa dạng hoá, công nghiệp hoá nông thôn
đã khởi sắc Nông nghiệp được phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá các làng nghề truyền thống đã được khôi phục kinh tế, dịch vụ và du lịch đã được
phát triển góp phần tạo ra việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân Cơ
sở hạ tầng và các dịch vụ xã hội cũng được đầu tư phát triển cao hơn trước chính điều này đã bước đầu tạo điều kiện sống tốt hơn
Tuy nhiên, đó mới chỉ là kết quả bước đầu, việc tiếp tục phát triển nông thôn ở các giai đoạn tiếp theo và mở rộng phạm vi quy hoạch trên khắp các vùng nông thôn cả nước là việc cần thiết, đòi hỏi các nhà lãnh đạo, những nhà quy hoạch và đầu tư phải có tâm huyết với sự phát triển nông thôn để biến những ý tưởng trong tương lai thành hiện thực
1.2.2.2 Thời kỳ trước Luật Đất đai 2003
Trước những năm 80 quy hoạch sử dụng đất đai chưa được coi là công tác của ngành quản lý đất đai mà chỉ được đề cập tới như một phần của quy hoạch phát triển ngành nông - lâm nghiệp Các phương án phân vùng nông - lâm nghiệp đã đề cập tới phương hướng sử dụng tài nguyên đất trong đó có tính toán quỹ đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và coi đây là phần quan trọng Tuy nhiên, do còn thiếu các tài liệu điều tra cơ bản và chưa tính được khả năng đầu tư nên tính khả thi của phương án còn thấp
Trong thời gian từ năm 1981 đến năm 1986 thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, các Bộ, Ngành, các tỉnh, thành phố đã tham gia triển khai chương trình lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất ở Việt Nam đến năm 2000 Trong sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất của tỉnh đều đề cập đến vấn đề sử dụng đất đai và được tính toán tương đối có hệ
Trang 37thống để khớp với cả nước, các vùng kinh tế lớn, các huyện trong tỉnh, các xã của huyện nên bước đầu đã đánh giá được hiện trạng tiềm năng và đưa ra các phương hướng sử dụng quỹ đất quốc gia đến năm 2000 Cũng trong thời kỳ này hầu hết các quận, huyện, thị xã, xã, thị trấn trong cả nước đã tiến hành xây dựng quy hoạch tổng thể cấp huyện, cấp xã
Từ năm 1987 đến trước Luật Đất đai năm 1993 công tác quy hoạch sử dụng đất đai đã có cơ sở pháp lý quan trọng Tuy nhiên, công tác quy hoạch sử dụng đất đai cũng chưa được xúc tiến như Luật Đất đai đã quy định Nguyên nhân là do nền kinh tế nước ta đang đứng trước những khó khăn và thử thách của nền kinh tế thị trường Tuy vậy, thời kỳ này công cuộc đổi mới nông thôn diễn ra sâu sắc, công tác quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã nổi lên như một vấn
đề cấp bách về giao đất, cấp đất Đây cũng là mốc đầu tiên đánh dấu công tác triển khai quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã trên phạm vi cả nước
Sau Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1992, Nhà nước triển khai công tác nghiên cứu chiến lược phát triển, quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội ở hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các vùng kinh tế Đây là mốc bắt đầu của thời kỳ đưa công tác quản lý đất đai vào nề nếp
Theo Báo cáo công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2003, từ năm 1994 Chính phủ đã cho triển khai xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của cả nước đến năm 2010 và được Quốc hội khoá IX thông qua kế hoạch sử dụng đất đai 5 năm (từ năm
1996 đến năm 2000)
Cùng với Báo cáo quy hoạch sử dụng đất đai cả nước, đến nay hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đai đến năm 2010, kế hoạch sử dụng đất đai 5 năm và hàng năm
Trang 38Đối với quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện cũng đang được triển khai theo hướng dẫn của Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) Đến nay cả nước hiện có 233 quận, huyện, thị xã hoàn thành quy hoạch sử dụng đất đai (chiếm 35,28% tổng số đơn vị cấp huyện); có 146 huyện, thị đang triển khai và hoàn thành trong năm 2003 (chiếm 23,4% tổng
1.2.2.3 Thời kỳ thực hiện Luật Đất đai 2003 đến nay
Nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới của xã hội nói chung và đòi hỏi về công tác quản lý đất đai nói riêng, Chủ tịch nước đã ký lệnh số 23/2003/LCTN ngày 12/12/2003 công bố Luật Đất đai mới và đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003 Luật Đất đai 2003 có hiệu lực từ ngày 01/7/2004
Trong Luật Đất đai 2003 quy định rõ nội dung việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của các cấp Đối với kỳ quy hoạch sử dụng đất đai của
cả nước, cấp tỉnh, cấp xã là 10 năm và kỳ kế hoạch sử dụng đất đai là 5 năm Việc lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất là 5 năm một lần gắn với việc kiểm kê đất đai để phục vụ cho việc quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai được tốt hơn Bản đồ quy hoạch sử dụng được lập 10 năm một lần gắn với kỳ quy hoạch sử dụng đất đai và bản đồ quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã phải được lập trên nền bản đồ địa chính Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo việc khảo sát đo đạc, lập và quản lý bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất trong phạm vi cả nước và tổ chức thực hiện việc lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất của cả nước UBND các cấp
Trang 39có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương mình
Quy hoạch đất đai theo lãnh thổ hành chính đã và đang triển khai ở hầu hết các tỉnh và thành phố trong cả nước
Ngày 12/10/1998, Tổng cục Địa chính ra công văn số 1814/CV - TCĐC về việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cùng với các hướng dẫn kèm theo về công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Ngày 1/10/2001 Chính phủ ban hành nghị định số 68/NĐ - CP của chính phủ về việc triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở 4 cấp hành chính
Ngay sau đó Tổng cục Địa chính đã ban hành thông tư 1842/2002/TT TCĐC ngày 01/11/2001 kèm theo quyết định số 424a, 424b, Thông tư 2074/2001/TT - TCĐC ngày 14/02/2001 để hướng dẫn các địa phương thực
-hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo Nghị định 68/NĐ - CP
Ngày 01/07/2004 Luật đất đai 2003 chính thức có hiệu lực, Luật đã quy
định rõ về công tác quản lý Nhà nước về đất đai, “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai ”[3]
Tại mục 2 từ điều 21 đến điều 30 Luật đất đai 2003 quy định cụ thể về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Điều 21, 22 quy định về nguyên tắc, căn cứ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, điều 23 quy định về nội dung chủ yếu của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, điều 25 quy định rõ cả 4 cấp hành chính trong cả nước phải lập quy hoạch sử dụng đất, điều 26 quy định về thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, điều 27 nói về việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, điều 29 nói về việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất
Ngày 09/2/2004 Thủ tướng chính phủ ban hành chỉ thị số 05/2004/CT
-TTg về việc thi hành Luật đất đai 2003
Trang 40Ngày 29/10/2004 Chính phủ ban hành nghị định số 181/2004/NĐ - CP
về việc thi hành Luật Đất đai 2003.[4]
Ngày 01/11/2004 Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành thông tư số 30/2004/TT - BTNMT về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.[6]
Ngoài ra, để cho việc quản lý đất đai được thuận lợi thì căn cứ vào mục đích sử dụng đất, đất đai được phân loại như sau:
Nhóm đất nông nghiệp: trong cơ cấu đất đai của cả nước hiện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 63,54% và còn rất ít khả năng mở rộng Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 28,38% Những năm qua nhờ biết áp dụng tiến bộ khoa học vào trong sản xuất nông nghiệp, người nông dân đã dần chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn Ngoài ra, các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh kiểu kinh tế trang trại cũng đem lại hiệu quả và lợi nhuận cao cho người nông dân (Theo số liệu của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2005 hiện cả nước có 113.000 trang trại)
Hệ số sử dụng đất trồng cây hàng năm tăng từ 1,4 (năm 1995) lên 1,6 lần (năm 2003) Trong cơ cấu đất chuyên lúa diện tích đất này tăng nhanh do người dân đã chú ý đến biện pháp thuỷ lợi, tiến bộ kỹ thuật về thâm canh tăng
vụ và đa dạng hoá giống lúa Sản xuất nông nghiệp biến đổi dần theo hướng bền vững, diện tích các loại cây lâu năm có hiệu quả kinh tế cao tăng nhanh
An ninh lương thực quốc gia không những được đảm bảo, mà nước ta còn được đưa vào nhóm các nước xuất khẩu nông sản hàng lớn của Thế giới Ngoài ra, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đối với những diện tích không thích hợp với trồng lúa hay diện tích đất ngập nước sang nuôi trồng thuỷ sản
là một hướng phát triển mới đã góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và hiệu quả sử dụng đất Các mô hình này đã được sản xuất thử nghiệm trên nhiều