Để giúp địa phương nhìn nhận đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001 - 2010, phân tích đánh giá những kết quả đã đạt được và những tồn tại, bất cập tron
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐẶNG THỊ THUỶ
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
GIAI ĐOẠN 2001 – 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
- Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được
Trang 3Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS, TS:
Trần Viết Khanh đã trực tiếp hướng dẫn trong toàn bộ thời gian tôi thực hiện
đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Bộ môn Quy hoạch đất đai nói riêng, Khoa Tài nguyên và Môi trường, Khoa đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Thái Nguyên nói chung
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ và bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thu thập thông tin, tài liệu, nghiên cứu làm luận văn
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn./
Tác giả luận văn
Đặng Thị Thuỷ
Trang 42 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4 1.1 Một số lý luận về sử dụng đất 4 1.2 Cơ sở lý luận, ý nghĩa và tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất các cấp 8 1.3 Ý nghĩa, tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất 16 1.4 Thực tiễn công tác quy hoạch trong và ngoài nước 17 1.5 Công tác quy hoạch sử dụng đất tỉnh Phú Thọ 23
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
Trang 5Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27 3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội 27
3.1.3 Thực trạng môi trường 33 3.1.4 Thực trạng phát triển kinh tế- xã hội 33 3.1.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội, môi trường 45 3.2 Hiện trạng sử dụng các loại đất 47 3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp: 47 3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp: 49
3.3 Tình hình quản lý đất đai 54 3.3.1 Công tác xác định địa giới, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính 54 3.3.2 Công tác khảo sát đo đạc, lập bản đồ địa chính 54 3.3.3 Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 55 3.3.4 Công tác đánh giá phân hạng đất 55 3.3.5 Công tác giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất 56 3.3.6 Công tác thống kê, kiểm kê đất đai 57 3.3.7 Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và dồn đổi ruộng đất 58 3.3.8 Giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai 58 3.3.9 Quản lý tài chính về đất đai 59 3.3.10 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất 59 3.4 Đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đã được duyệt 59 3.4.1 Đánh giá tình hình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001-
2010 đã được phê duyệt đến hết năm 2005 59 3.4.2 Đánh giá tình hình thực hiện Phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến
năm 2010 đã được phê duyệt 65
Trang 63.4.3 Đánh giá chung về tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001 –
2010 huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ 73 3.4.4 Một số đề xuất nhằm nâng cao khả năng thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện Cẩm Khê giai đoạn 2011 – 2020 huyện Cẩm Khê 76 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC 84
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
3.1 Một số chỉ tiêu về khí hậu của huyện Cẩm Khê từ 2005 - 2010
3.2 Các loại đất huyện Cẩm Khê 29 3.3 Số liệu tài nguyên khoáng sản huyện Cẩm Khê 31 3.4 GTSX và tăng trưởng GTSX qua các giai đoạn huyện Cẩm Khê 34 3.5 Cơ cấu kinh tế huyện Cẩm Khê qua một số năm 34 3.6 Giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp, thủy sản qua một số năm 35 3.7 Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp huyện Cẩm Khê năm 2010 47 3.8 Diện tích, cơ cấu đất phi nông nghiệp huyện Cẩm Khê năm 2010 50 3.9 Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đã được phê duyệt đến
3.12 Kết quả thực hiện chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
đã được phê duyệt theo phương án ĐCQH đến hết năm 2010 66 3.13 Kết quả thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã được phê duyệt theo phương án ĐCQH đến hết năm 2010 68 3.14 Kết quả thực hiện chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp đã được phê
duyệt theo phương án ĐCQH đến hết năm 2010 69 3.15 Kết quả thực hiện chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất chuyên dùng đã được phê
duyệt theo phương án ĐCQH đến hết năm 2010 71
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, là nguồn lực to lớn của đất nước Cho nên chúng ta cần phải tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai, để đất đai ngày càng được quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả; trong đó, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một nội dung quan trọng của công tác quản lý nhà nước về đất đai
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, tại Chương II, Điều 18 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật nhằm đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả” Luật Đất đai năm 2003, từ Điều 21 đến Điều 30 quy định về nguyên tắc, nội dung, trình tự, thẩm quyền lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp
Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tấm đến công tác quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất; vì vậy, công tác này được triển khai rộng khắp trên phạm vi cả nước và đạt được một số kết quả nhất định (Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đến năm 2005 của cả nước được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15/6/2004 ; cả nước có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (100 %) đã lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 được Chính phủ phê duyệt; 531/681 huyện, thành phố thuộc tỉnh (78 %) hoàn thành quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010; 7.576/11.074 xã, phường, thị trấn ( 68%) hoàn thành quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010) ; qua đó góp phần đắc lực đưa công tác quản lý nhà nước về đất đai dần đi vào nền nếp
Như vậy, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng với sự nỗ lực rất lớn của các địa phương, việc lập quy hoạch sử dụng đất đã được triển khai trên diện rộng và khá đồng bộ, đặc biệt là ở cấp tỉnh và cấp huyện Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, công tác lập, thực hiện, quản lý và giám sát quy hoạch sử dụng đất ở một số địa phương còn hạn chế, việc lập quy hoạch sử dụng đất các cấp chưa đồng bộ, kết quả thực hiện phương án quy hoạch còn thấp hoặc quá cao; việc xác định nhu cầu sử dụng đất cho các ngành chưa sát thực tế, quá trình thực hiện phải điều chỉnh, bổ sung Cho nên, việc đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính khả thi của quy hoạch sử dụng đất là rất cần thiết
Cẩm Khê là một huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ, có diện tích tự nhiên là
Trang 1123.464,82 ha, với 30 xã và 01 thị trấn Huyện có vị trí địa lý như sau :
- Phía Đông giáp huyện Thanh Ba ;
- Phía Tây giáp huyện Yên Lập ;
- Phía Nam giáp huyện Tam Nông;
- Phía Bắc giáp huyện Hạ Hòa
Huyện Cẩm Khê đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001-2010 được UBND tỉnh Phú Thọ phê duyệt tại Quyết định số 3787/QĐ-UB ngày 19 tháng 12 năm 2000 và được điều chỉnh tại Quyết định số 3465/QĐ-UBND ngày 12 tháng 12 năm
2006 của UBND tỉnh Phú Thọ Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để địa phương thực hiện việc quản lý và sử dụng đất từ năm 2001 đến hết năm 2010 Sau một thời gian thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất, huyện Cẩm Khê đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, một số nội dung của phương án quy hoạch sử dụng đất chưa được thực hiện triệt để, do nhiều nguyên nhân, dẫn đến tính khả thi của phương
án quy hoạch chưa cao
Để giúp địa phương nhìn nhận đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch
sử dụng đất giai đoạn 2001 - 2010, phân tích đánh giá những kết quả đã đạt được và những tồn tại, bất cập trong quá trình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất; khắc phục những tồn tại, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất của huyện Cẩm Khê giai đoạn tiếp theo (2011 – 2020), góp phần đắc lực vào sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội an ninh quốc phòng trên địa bàn huyện
Đề tài “Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của huyện Cẩm
Khê, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2001-2010” là thiết thực và cần thiết đối với huyện Cẩm
Khê, tỉnh Phú Thọ
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu, đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2001 - 2010, làm rõ những ưu điểm đạt được, những tồn tại trong thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất và nguyên nhân của những tồn tại; đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn tiếp theo (2011 - 2020), góp phần đắc lực vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã- hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn huyện Cẩm Khê, đưa công tác quản lý nhà nước về đất đai vào nền nếp
Trang 123 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra, đánh giá tình hình quản lý sử dụng đất tại huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ
- Tìm hiểu việc lập và thực hiện phương án quy hoạch, phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ
- Đánh giá việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất, phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao khả năng thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất của huyện giai đoạn tiếp theo
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Góp phần bổ sung kiến thức về quy hoạch; nâng cao nhận thức về nội dung, phương pháp đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của một đơn vị hành chính cấp huyện
- Tạo lập cơ sở khoa học cho việc đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thực thi quy hoạch sử dụng đất của một đơn vị hành chính cấp huyện trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất của nước ta
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Làm tài liệu tham khảo phục vụ cho các nhà quản lý của huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ nâng cao hiệu quả công tác tổ chức lập, triển khai thực hiện, quản lý, giám sát quy hoạch sử dụng đất của huyện
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số lý luận về sử dụng đất
1.1.1 Khái niệm đất đai và chức năng của đất đai
Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông suối, đầm lầy ), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa )
Các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản xuất và sinh tồn của xã hội loài người được thể hiện theo các mặt sau: sản xuất; môi trường sự sống; cân bằng sinh thái; điều tiết khí hậu; tàng trữ và cung cấp nguồn nước; dự trữ (nguyên liệu và khoáng sản trong lòng đất); kiểm soát ô nhiễm và chất thải; Không gian sự sống; bảo tồn - bảo tàng sự sống; phân dị lãnh thổ
Đất đai đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là cơ
sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất Các Mác đã nhấn mạnh “ Đất là mẹ, lao động là cha, sản sinh ra mọi của cải vật chất”
Đối với các ngành phi nông nghiệp, đất đai giữ vai trò là cơ sở không gian để thực hiện các quá trình lao động, là kho tàng dự trữ các tài nguyên trong lòng đất Trong nông nghiệp, đất đai tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và làm ra sản phẩm phục vụ đời sống của con người và xã hội Năng suất và chất lượng của sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất Đất nông nghiệp là yếu tố đầu vào quan trọng tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp
1.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất
Phạm vi, cơ cấu và phương thức sử dụng đất vừa bị chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên vừa bị chi phối bởi các điều kiện, quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật Theo nghiên cứu của Viện Điều tra Quy hoạch đất đai Tổng cục Địa chính có 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất, bao gồm: điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội và nhân tố không gian
1.1.2.1 Nhân tố điều kiện tự nhiên
Quá trình sử dụng đất đai cần phải chú ý đến các đặc tính và tính chất đất đai để xác định yếu tố hạn chế hay tích cực cho việc sử dụng đất hợp lý như chế độ nhiệt, bức xạ,
Trang 14độ ẩm, yếu tố địa hình, thổ nhưỡng, xói mòn Các đặc tính, tính chất này được chia làm 2 loại: Điều kiện khí hậu và Điều kiện đất đai
- Điều kiện khí hậu:
Khí hậu là một thành phần rất quan trọng của hệ sinh thái đồng ruộng Nó cung cấp năng lượng chủ yếu cho quá trình tạo thành chất hữu cơ, mang lại năng suất cho cây trồng Có đến 90 - 95% chất hữu cơ của cây là do quá trình quang hợp với sự cung cấp năng lượng của ánh sáng mặt trời Cây trồng tận dụng cao nhất điều kiện khí hậu sẽ cho tổng sản phẩm và giá trị kinh tế cao nhất
- Điều kiện đất đai:
Các yếu tố địa hình, địa mạo, độ cao, độ dốc, hướng dốc, mức độ xói mòn thường dẫn tới sự khác nhau về đất đai và khí hậu, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và hoạt động của các ngành
Mỗi vùng đất khác nhau có các điều kiện tự nhiên khác nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sử dụng đất: khả năng sản xuất, xây dựng công trình, phát triển các ngành
Do đó, để có phương án sử dụng đất hợp lý cần phải tuân thủ theo quy luật tự nhiên, tận dụng tối đa những thuận lợi, khắc phục những hạn chế để sử dụng đất mang lại hiệu quả cao nhất
1.1.2.2 Nhân tố kinh tế - xã hội
Các nhân tố kinh tế - xã hội bao gồm các thể chế, chính sách, thực trạng phát triển các ngành, điều kiện cơ sở hạ tầng: giao thông, thủy lợi, xây dựng , trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, trình độ dân trí, dân số, lao động, việc làm và đời sống văn hóa, xã hội
Các điều kiện tự nhiên là cơ sở để xây dựng phương án sử dụng đất nhưng các nhân tố kinh tế - xã hội sẽ quyết định phương án đã lựa chọn có thực hiện được hay không Phương án sử dụng đất được quyết định bởi khả năng của con người và các điều kiện kinh tế - xã hội, kỹ thuật hiện có
Điều kiện kinh tế - xã hội có tác động không nhỏ tới việc sử dụng đất đai, thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình sử dụng đất hiệu quả của con người Vì vậy, khi lựa chọn phương cách sử dụng đất, ngoài việc dựa vào quy luật tự nhiên thì các nhân tố kinh tế xã hội cũng không kém phần quan trọng
1.1.2 3 Nhân tố không gian
Tính chất không gian bao gồm: vị trí địa lý, địa hình, hình dạng, diện tích Đất đai không thể di dời từ nơi này đến nơi khác Đất đai phải khai thác tại chỗ, không thể chia cắt mang đi Trong thực tế, bất kỳ ngành sản xuất nào (nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, khai thác khoáng sản ) đều cần đến đất đai là điều kiện không gian cho các
Trang 15hoạt động Do đó, không gian là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của việc sử dụng đất, các nhân tố không gian có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sử dụng đất, nó sẽ gián tiếp quyết định hiệu quả của việc sử dụng đất
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, các yếu tố điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh
tế xã hội tạo ra nhiều tổ hợp ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai
Tuy nhiên, mỗi yếu tố giữ vị trí và có tác động khác nhau Trong đó, điều kiện tự nhiên là yếu tố cơ bản để xác định công dụng của đất đai, có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể
và sâu sắc, nhất là đối với sản xuất nông nghiệp; Điều kiện kinh tế sẽ ảnh hưởng tác động của con người trong việc sử dụng đất; Điều kiện xã hội tạo ra những khả năng khác nhau cho các yếu tố kinh tế và tự nhiên tác động tới việc sử dụng đất Vì vậy, cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế - xã hội để nghiên cứu, xử lý mối quan hệ giữa các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội trong lĩnh vực sử dụng đất đai
Sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai Với ý nghĩa là nhân tố của sức sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất được thể hiện theo 4 mặt sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất;
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất;
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh tế sử dụng đất;
- Giữ mật độ sử dụng đất thích hợp, hình thành việc sử dụng đất một cách kinh tế, tập trung, thâm canh
1.1.3 Sử dụng đất và các mục đích kinh tế, xã hội, môi trường
Trong giai đoạn hiện nay việc sử dụng đất luôn hướng tới mục tiêu kinh tế, nhằm đạt được lợi nhuận tối đa trên một đơn vị diện tích đất nhất định, bên cạnh đó là một phần diện tích đất không nhỏ được sử dụng để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, ăn ở cũng như thỏa mãn đời sống tinh thần của con người
Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng đất, các mục đích sử dụng đất nêu trên luôn nẩy sinh mâu thuẫn làm cho mối quan hệ giữa người và đất ngày càng căng thẳng, những sai lầm liên tục của con người trong quá trình sử dụng đất (sai lầm có ý thức hoặc vô ý thức) dẫn đến huỷ hoại môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng (các thảm họa sinh thái như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, trượt lở đất liên tục xẩy ra với quy mô ngày càng lớn
Trang 16và mức độ ngày càng nghiêm trọng), làm cho một số chức năng của đất bị yếu đi
Những xung đột giữa 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường rất đa dạng:
- Đất sản xuất nông nghiệp đối lập với quá trình đô thị hoá
- Phát triển thủy lợi đối lập với việc phân chia các nguồn tài nguyên nước cho đô thị và phát triển công nghiệp
- Phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển đối lập với việc bảo vệ hệ sinh thái ven biển
- Sản xuất thuốc phiện đối lập với sản xuất lương thực thực phẩm ở một số địa phương
- Quyền lợi của người bản địa và những người di cư
- Bảo vệ các giá trị sinh thái đối lập với nhu cầu về thực phẩm hoặc nông sản khác
- Các chủ sử dụng đất nhỏ mâu thuẫn với việc canh tác quy mô lớn
- Sử dụng đất và mục tiêu kinh tế
Việc sử dụng đất như một thể thống nhất tạo ra điều kiện để giảm thiểu những xung đột, tạo ra hiệu quả sử dụng cao và liên kết được sự phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ và nâng cao môi trường Sử dụng đất hợp lý, bền vững là hài hoà được các mục tiêu kinh tế -
xã hội và môi trường, giải quyết mâu thuẫn, sung đột và hài hòa giữa 3 lợi ích
1.1.4 Quản lý bền vững tài nguyên đất
Quản lý bền vững tài nguyên đất là quy trình được xây dựng trên nền tảng kiến thức giúp tích hợp quản lý đất đai, nước sạch, đa dạng sinh học và môi trường (bao gồm
cả các ảnh hưởng ngoại sinh đầu vào và đầu ra) để đáp ứng nhu cầu thực phẩm và vải vóc đang tăng lên trong khi vẫn duy trì các dịch vụ hệ sinh thái, quản lý bền vững tài nguyên đất là cần thiết để đáp ứng các yêu cầu dân số đang gia tăng Cách quản lý đất không hợp
lý có thể dẫn đến thoái hóa đất và giảm năng lực sản xuất và dịch vụ Quản lý bền vững tài nguyên đất bao gồm các hoạt động:
- Duy trì và phát huy tiềm năng sản xuất của đất trồng trọt, đất rừng và các bãi chăn thả ( như vùng cao, vùng đất dốc, vùng bằng phẳng và vùng đất trũng)
- Duy trì năng lực của đất rừng sản xuất và các nguồn dự trữ rừng thương mại và phi thương mại tiềm năng
- Duy trì tính nguyên vẹn của các thác nước để vừa cung cấp nước và đáp ứng nhu cầu thủy điện, đồng thời duy trì các khu vực trữ nước
- Duy trì năng lực của các tầng ngập nước đề đáp ứng nhu cầu trồng trọt và các hoạt động sản xuất khác
- Quản lý bền vững tài nguyên đất còn bao gồm các hoạt động nhằm chấm dứt và
Trang 17cải thiện tình trạng suy thoái đất hoặc ít ra là giảm thiểu những tác động bất lợi từ những cách thức sử dụng không hợp lý trước đó
Các hoạt động sử dụng đất đã làm biến đổi một phần lớn diện tích đất trên bề mặt trái đất Với việc phát quang các khu rừng nhiệt đới, sản xuất nông nghiệp để sinh tồn, tập trung sản xuất trang trại, mở rộng trung tâm thành thị, con người đang biến đổi cảnh quan thế giới
1.2 Cơ sở lý luận, ý nghĩa và tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất các cấp
1.2.1 Cơ sở lý luận của quy hoạch sử dụng đất
1.2.1.1 Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất
Về mặt thuật ngữ, “quy hoạch” là việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động như phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức ”, “đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất, miếng đất ) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành(đặc tính thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thuỷ văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hoá tính ) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau Như vậy,
để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch nhằm xác định ý nghĩa mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định
Về mặt bản chất, đất đai là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong lĩnh vực
sử dụng đất đai (gọi là các mối quan hệ đất đai) và việc tổ chức sử dụng đất như “tư liệu
sản xuất đặc biệt” gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội nên quy hoạch sử dụng đất đai là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất: kinh tế, kỹ thuật và pháp chế Trong đó:
- Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai;
- Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu ;
- Tính pháp chế: Xác lập tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật
“Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp của Nhà nước về tổ chức, quản lý nhằm sử dụng hiệu quả tối đa tài nguyên đất, bảo vệ môi trường để phát triển bền vững trên
cơ sở phân bố quỹ đất vào các mục đích phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của
cả nước, các vùng và theo đơn vị hành chính các cấp ”
Theo FAO: “Quy hoạch sử dụng đất là quá trình đánh giá tiềm năng đất và nước một cách có hệ thống phục vụ việc sử dụng đất và kinh tế - xã hội nhằm lựa chọn ra phương án sử dụng đất tốt nhất Mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất là lựa chọn và đưa ra
Trang 18phương án đã lựa chọn vào thực tiễn để đáp ứng nhu cầu của con người một cách tốt nhất nhưng vẫn bảo vệ được nguồn tài nguyên cho tương lai Yêu cầu cấp thiết phải làm quy hoạch là do nhu cầu của con người và điều kiện thực tế sử dụng đất thay đổi nên phải nâng cao kỹ năng sử dụng đất”
“Quy hoạch sử dụng đất là bản “tổng phổ” của phát triển, trong đó phản ánh cụ thể các ý tưởng về tương lai của các ngành các cấp nhịp nhàng và cân đối, thông qua những trình tự hành chính và pháp lý nhất định để trở thành quy chế xã hội, mọi người đều có quyền và nghĩa vụ thực hiện Quá trình tổ chức thành lập, thực hiện điều chỉnh quy hoạch là quá trình huy động lực lượng xã hội vào sự nghiệp công cộng theo phương thức dân chủ, nên đó cũng là quá trình xây dựng và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân Do đó quy hoạch sử dụng đất vừa là phương thức để phát triển vừa là công cụ để xây dựng và củng cố Nhà nước”
Từ đó có thể hiểu: “Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật
và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và
có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất (các giải pháp sử dụng cụ thể), nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường”
Sử dụng đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả được hiểu là: mọi loại đất đều được đưa vào sử dụng theo các mục đích nhất định; các đặc điểm tính chất tự nhiên,
vị trí, diện tích phải phù hợp với yêu cầu và mục đích sử dụng; áp dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật và các biện pháp tiên tiến; đáp ứng đồng bộ cả ba lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường
Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đai theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông
nghiệp (đặc biệt là diện tích đất lúa và đất có rừng phòng hộ, đặc dụng); ngăn chặn các
hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm huỷ hoại đất, phá vỡ sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội
và các hậu quả khó lường về tình hình bất ổn định chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 191.2.1.2 Hệ thống quy hoạch sử dụng đất
2.2.1.2.1 Quy hoạch sử dụng đất theo ngành
Đối tượng của QHSDĐ theo ngành là diện tích đất đai thuộc quyền sử dụng và diện
tích dự kiến cấp thêm cho ngành (trong phạm vi ranh giới đã được xác định rõ mục đích cho
từng ngành ở các cấp lãnh thổ tương ứng) QHSDĐ giữa các ngành có quan hệ chặt chẽ với
quy hoạch sử dụng đất của vùng và cả nước Hệ thống QHSDĐ theo ngành bao gồm:
- Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp;
- Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp;
- Quy hoạch sử dụng đất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp;
- Quy hoạch sử dụng đất giao thông, thủy lợi…
1.2.1.2.2 Quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ
Quy hoạch sử dụng đất đóng vai trò quan trọng trong quá trình sử dụng đất Luật Đất đai quy định tiến hành quy hoạch sử dụng đất ở 4 cấp: cả nước, tỉnh, huyện, xã Lập quy hoạch tiến hành theo trình tự từ trên xuống dưới và sau đó bổ sung hoàn chỉnh từ dưới lên đây là quá trình có mối quan hệ trực tiếp và chặt chẽ giữa tổng thể và cụ thể, giữa vĩ
mô và vi mô, giữa trung ương và địa phương trong hệ thống chỉnh thể [10] QHSDĐ theo lãnh thổ được thực hiện tại 4 cấp cục thể:
- Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia;
Mục đích của QHSDĐ theo các cấp lãnh thổ hành chính là: Đáp ứng nhu cầu đất đai cho hiện tại và tương lai để phát triển các ngành kinh tế quốc dân; cụ thể hoá một bước QHSDĐ của các ngành và đơn vị hành chính cấp cao hơn; làm căn cứ, cơ sở để các ngành
(cùng cấp) và các đơn vị hành chính cấp dưới triển khai QHSDĐ của ngành và địa phương mình; làm cơ sở để lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm (căn cứ để giao cấp đất, thu hồi đất
theo thẩm quyền được quy định trong Luật Đất đai); phục vụ cho công tác thống nhất quản
lý nhà nước về đất đai
Trang 20- Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia: được xây dựng căn cứ vào nhu cầu của nền
kinh tế -xã hôi, trong đó xác định phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ sử dụng đất cả nước nhằm điều hòa quan hệ sử dụng đất giữa các ngành, các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương; đề xuất các chính sách, biện pháp, điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và thực hiện quy hoạch
- Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh: xây dựng căn cứ vào QHSDĐ toàn quốc và quy
hoạch vùng; cụ thể hóa các chỉ tiêu chủ yếu của quy hoạch cả nước kết hợp với đặc điểm đất đai và yêu cầu phát triển KT-XH trong phạm vi tỉnh
- Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện: xây dựng trên cơ sở định hướng của QHSDĐ
cấp tỉnh nhằm giải quyết các mâu thuẫn về quan hệ đất đai Căn cứ vào đặc điểm nguồn tài nguyên đất, mục tiêu dài hạn phát triển kinh tế - xã hội và các điều kiện cụ thể khác của huyện, đề xuất các chỉ tiêu và phân bổ các loại đất; xác định các chỉ tiêu định hướng
về đất đai đối với quy hoạch ngành và xã, phường, thị trấn trên phạm vi của huyện
- Quy hoạch sử dụng đất cấp xã: xã là đơn vị hành chính cấp cuối cùng Vì
vậy, trong quy hoạch cấp xã vấn đề sử dụng đất đai được giải quyết rất cụ thể, gắn chặt với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của xã và các quan hệ ngoài xã QHSDĐ cấp xã là quy hoạch vi mô, được xây dựng dựa trên khung chung các chỉ tiêu định hướng sử dụng đất cấp huyện Kết quả của QHSDĐ cấp xã còn là cơ sở để
bổ sung QHSDĐ cấp huyện và là căn cứ để giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, để tiến hành dồn điền đổi thửa nhằm thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh cũng như các dự án cụ thể
1.2.1.3 Những đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất
QHSDĐ thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất được thể hiện cụ thể như sau:
1.2.1.3.1 Tính lịch sử - xã hội
Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch sử dụng đất Mỗi hình thái KT - XH đều có một phương thức sản xuất của xã hội thể hiện theo 2 mặt: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong quy hoạch sử dụng đất , luôn nảy sinh quan hệ giữa người với đất đai cũng như quan hệ giữa người với người về quyền sở hữu
và sử dụng đất đai QHSDĐ thể hiện đồng thời vừa là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất của xã hội
Trang 211.2.1.3.2 Tính tổng hợp
Tính tổng hợp của QHSDĐ biểu hiện chủ yếu ở hai mặt: Đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu nền kinh tế quốc dân; QHSDĐ đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như: Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công nghiệp, môi trường sinh thái
1.2.1.3.3 Tính dài hạn
Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế xã hội quan trọng, xác định quy hoạch trung và dài hạn về sử dụng đất, đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất ngắn hạn
Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để thực hiện chiến lược phát triển KT-XH Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến Thời hạn của quy hoạch sử dụng đất thường từ trên 10 năm đến 20 năm hoặc xa hơn
1.2.1.3.4 Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô
Với đặc tính trung và dài hạn, QHSDĐ chỉ dự kiến trước các xu thế thay đổi
phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất (mang tính đại thể, không dự
kiến được các hình thức và nội dung cụ thể, chi tiết của sự thay đổi) Vì vậy, QHSDĐ
mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái lược về sử dụng đất
1.2.1.3.5 Tính chính sách
Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính sách xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội; tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái
1.2.1.3.6 Tính khả biến
Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương diện khác nhau, QHSDĐ chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định Khi
xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của QHSDĐ không còn phù hợp Việc điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch là biện pháp thực hiện và cần thiết Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch, QHSDĐ luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc "quy
Trang 22hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện " với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao
1.2.1.4 Căn cứ pháp lý của lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất
Việc phân bổ sử dụng đất một cách hợp lý cho từng lĩnh vực, từng ngành là vấn đề quan tâm của Đảng và Nhà nước ta Điều này được thể hiện thông qua các văn bản pháp luật như Hiến pháp, Luật, Nghị định, Thông tư và các văn bản dưới luật tạo cơ sở pháp lý cho quy hoạch sử dụng đất
- Điều 6 Luật Đất đai 2003 quy định: “Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất là một trong 13 nội dung của quản lý nhà nước về đất đai”, Từ Điều 21 đến Điều 30 quy định rõ
về công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất
- Nghị định số 181/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định
bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
- Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02 tháng 11 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
1.2.1.5 Trình tự, nội dung lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
* Trình tự, nội dung lập quy hoạch sử dụng đất đầu kỳ:
- Điều tra, phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội:
- Đánh giá tình hình sử dụng đất, biến động sử dụng đất, kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ trước và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất;
- Đánh giá tiềm năng đất đai và định hướng dài hạn về sử dụng đất;
- Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất:
- Đánh giá tác động của phương án quy hoạch sử dụng đất đến kinh tế, xã hội và môi trường;
- Phân kỳ quy hoạch sử dụng đất và lập kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu;
- Đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất
* Trình tự, nội dung lập kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối
- Điều tra, thu thập thông tin, dữ liệu;
- Phân tích, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ trước;
Trang 23- Xây dựng kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối;
- Đề xuất các giải pháp thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối
* Trình tự, nội dung điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
- Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất:
+ Điều tra, phân tích, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố làm thay đổi
cơ cấu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch sử dụng đất của huyện đã được xét duyệt;
+ Xây dựng phương án điều chỉnh phân bổ quỹ đất trong thời gian còn lại của
kỳ quy hoạch sử dụng đất cụ thể đến từng đơn vị hành chính cấp dưới;
+ Xây dựng bản đồ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất
+ Tổng hợp chỉ tiêu trong phương án điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất;
+ Xác định các chỉ tiêu có khả năng thực hiện để bố trí trong thời gian còn lại của kỳ kế hoạch; các chỉ tiêu không có khả năng thực hiện thì điều chỉnh cho kỳ kế hoạch sau hoặc công bố huỷ bỏ;
+ Chỉ tiêu sử dụng đất của phương án điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất được phân bổ cụ thể cho từng năm còn lại của kỳ kế hoạch;
+ Xác định danh mục các công trình, dự án có tầm quan trọng trong thời gian còn lại của kỳ kế hoạch;
+ Dự kiến thu ngân sách từ đất đai và các khoản chi cho đất đai ;
+ Đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện phương án điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất
1.2.1.6 Những nguyên tắc cơ bản của quy hoạch sử dụng đất
Việc lập quy hoạch sử dụng đất phải đảm bảo các nguyên tắc:
- Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh;
- Được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch kế hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch sử dụng đất
Trang 24phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đai được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt;
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên phải thể hiện nhu cầu sử dụng đất của cấp dưới;
- Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả;
- Khai thức hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường;
- Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh;
- Dân chủ và công khai;
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của mỗi kỳ phải được quyết định, xét duyệt trong năm cuối của kỳ trước đó
1.2.1.7 Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với các quy hoạch chuyên ngành khác 1.2.1.7.1 Với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là tài liệu mang tính khoa học, sau khi được phê duyệt sẽ mang tính chiến lược chỉ đạo vĩ mô sự phát triển kinh tế - xã hội, được luận chứng bằng nhiều phương án kinh tế - xã hội về phát triển và phân bố lực lượng
sản xuất theo không gian (lãnh thổ) có tính đến chuyên môn hoá và phát triển tổng hợp
sản xuất của các vùng và các đơn vị lãnh thổ cấp dưới
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là một trong những tài liệu tiền kế hoạch cung cấp căn cứ khoa học cho việc xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Trong
đó, có đề cập đến dự kiến sử dụng đất đai ở mức độ phương hướng với một số nhiệm vụ chủ yếu Còn đối tượng của quy hoạch sử dụng đất là tài nguyên đất Nhiệm vụ chủ yếu của nó là căn cứ vào yêu cầu của phát triển kinh tế, xã hội và các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội điều chỉnh cơ cấu và phương hướng sử dụng đất; Xây dựng phương án quy hoạch phân phối sử dụng đất thống nhất và hợp lý Như vậy, quy hoạch sử dụng đất đai là quy hoạch tổng hợp chuyên ngành, cụ thể hoá quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, nhưng nội dung của
nó phải được điều hoà thống nhất với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
1.2.1.7.2 Với quy hoạch các ngành
* Với quy hoạch phát triển nông nghiệp
Quy hoạch phát triển nông nghiệp xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đối với sản xuất nông nghiệp để xác định hướng đầu tư, biện pháp, bước đi về nhân tài, vật lực đảm bảo cho các ngành trong nông nghiệp phát triển đạt tới quy mô các chỉ tiêu về đất đai, lao động, sản phẩm hàng hoá, giá trị sản phẩm trong một thời gian dài với tốc độ
và tỷ lệ nhất định
Trang 25Quy hoạch phát triển nông nghiệp là một trong những căn cứ quan trọng của quy hoạch sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất tuy dựa trên quy hoạch và dự báo yêu cầu sử dụng đất của các ngành trong nông nghiệp, nhưng chỉ có tác dụng chỉ đạo vĩ
mô, khống chế và điều hoà quy hoạch phát triển nông nghiệp Hai loại quy hoạch này
có mối quan hệ qua lại vô cùng mật thiết và không thể thay thế lẫn nhau
* Với quy hoạch đô thị
Căn cứ vào yêu cầu của kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế - xã hội và phát triển của đô thị, quy hoạch đô thị sẽ định ra tính chất, quy mô, phương châm xây dựng đô thị, các bộ phận hợp thành của đô thị, sắp xếp một cách hợp lý toàn diện, bảo đảm cho
sự phát triển đô thị được hài hoà và có trật tự, tạo ra những điều kiện có lợi cho cuộc sống và sản xuất Tuy nhiên, trong quy hoạch đô thị cùng với việc bố trí cụ thể khoảnh đất dùng cho các dự án, sẽ giải quyết cả vấn đề tổ chức và sắp xếp các nội dung xây dựng Quy hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm xác định chiến lược dài hạn về vị trí, quy mô và cơ cấu sử dụng toàn bộ đất đai cũng như bố cục không gian (hệ thống
đô thị) trong khu vực quy hoạch đô thị
Quy hoạch đô thị và quy hoạch sử dụng đất công nghiệp có mối quan hệ diện và điểm, cục bộ và toàn bộ Sự bố cục, quy mô sử dụng đất, các chỉ tiêu chiếm đất xây dựng trong quy hoạch đô thị sẽ được điều hoà với quy hoạch sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất sẽ tạo những điều kiện tốt cho xây dựng và phát triển đô thị
* Với quy hoạch các ngành sử dụng đất phi nông nghiệp khác
Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch các ngành là quan hệ tương
hỗ vừa phát triển vừa hạn chế lẫn nhau Quy hoạch các ngành là cơ sở và bộ phận hợp thành của quy hoạch sử dụng đất, nhưng lại chịu sự chỉ đạo và khống chế của quy hoạch sử dụng đất Quan hệ giữa chúng là quan hệ cá thể và tổng thể, cục bộ và toàn
bộ, không có sự sai khác về quy hoạch theo không gian và thời gian ở cùng một khu vực cụ thể (có cả quy hoạch ngắn hạn và dài hạn) Tuy nhiên chúng có sự khác nhau rất rõ về tư tưởng chỉ đạo và nội dung: Một bên là sự sắp xếp chiến thuật, cụ thể, cục
bộ (quy hoạch ngành); Một bên là sự định hướng chiến lược có tính toàn diện và toàn cục (quy hoạch sử dụng đất)
1.3 Ý nghĩa, tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất
1.3.1 Ý nghĩa, tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất nói chung
Quy hoạch sử dụng đất là công tác có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý và sử dụng đất đai Đây là công cụ hữu hiệu tạo ra những điều kiện lãnh thổ cần thiết để tổ chức
sử dụng đất có hiệu quả cao Mặt khác quy hoạch sử dụng đất cũng là một trong 13 nội
Trang 26dung quản lý nhà nước về đất đai (theo Điều 6 Luật đất đai 2003), đây là căn cứ pháp lý
để thực hiện việc giao đất và thu hồi đất cũng như công tác quản lý nhà nước về đất đai
1.3.2 Ý nghĩa, tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cấp huyện
Trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất của nước ta, quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh
và cấp huyện là hai bộ phận quan trọng :
- Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh có vị trí trung tâm và là khung sườn trung gian giữa vĩ mô và vi mô, giữa tổng thể và cụ thể, giữa Trung ương và địa phương Nó có tác động trực tiếp tới việc sử dụng đất của các Bộ, ngành, vùng, các huyện, các dự án; đồng thời cũng có vai trò cụ thể hóa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất cả nước
- Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện là cơ sở để cụ thể hóa quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cả nước, có tác dụng trực tiếp chỉ đạo và khống chế quy hoạch sử dụng đất của nội bộ các ngành, các tổ chức sử dụng đất, kế thừa quy hoạch cấp trên
1.4 Thực tiễn công tác quy hoạch trong và ngoài nước
1.4.1 Quy hoạch sử dụng đất một số nước trên thế giới
1.4.1.1 Nhật Bản
Quy hoạch sử dụng đất ở Nhật Bản được phát triển từ rất lâu, đặc biệt được đẩy mạnh vào đầu thập kỷ 70 của thế kỷ 20 QHSDĐ ở Nhật Bản không những chú ý đến hiệu quả kinh tế, xã hội, mà còn rất chú trọng đến bảo vệ môi trường, tránh các rủi ro của tự nhiên như động đất, núi lửa…và được chia ra: QHSDĐ tổng thể và QHSDĐ chi tiết
QHSDĐ tổng thể được xây dựng cho một vùng lãnh thổ rộng lớn tương đương với cấp tỉnh, cấp vùng trở lên Mục tiêu của QHSDĐ tổng thể được xây dựng cho một chiến lược sử dụng đất dài hạn khoảng từ 15 - 30 năm nhằm đáp ứng các nhu cầu sử dụng đất cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội Quy hoạch này là định hướng cho quy hoạch
sử dụng đất chi tiết Nội dung chủ yếu chỉ khoanh định cho các loại đất lớn như: Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư, đất cơ sở hạ tầng, đất khác
QHSDĐ chi tiết được xây dựng cho vùng lãnh thổ nhỏ hơn tương đương với cấp
xã Thời kỳ lập quy hoạch chi tiết là 5-10 năm về nội dung quy hoạch chi tiết rất cụ thể, không những rõ ràng cho từng loại đất, các thửa đất và các chủ sử dụng đất, mà còn có những quy định chi tiết cho các loại đất như: về hình dáng, quy mô diện tích, chiều cao xây dựng…
1.4.1.2 Cộng hòa Liên bang Nga
QHSDĐ ở Cộng hòa Liên bang Nga chú trọng việc tổ chức lãnh thổ, các biện pháp bảo vệ và sử dụng đất với các nông trang và các đơn vị sử dụng đất nông nghiệp QHSDĐ của Nga được chia thành hai cấp: quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết
Trang 27Quy hoạch chi tiết với mục tiêu cơ bản là tổ chức sản xuất lãnh thổ trong các xí nghiệp hàng đầu về sản xuất nông nghiệp như các nông trang, nông trường Nhiệm vụ cơ bản của quy hoạch chi tiết là tạo ra những hình thức tổ chức lãnh thổ sao cho đảm bảo một cách đầy đủ, hợp lý, hiệu quả việc sử dụng từng khoanh đất cũng như tạo ra những điều kiện cần thiết để làm tăng tính khoa học của việc tổ chức lao động, việc sử dụng những trang thiết bị sản xuất với mục đích là tiết kiệm thời gian và tài nguyên
Quy hoạch chi tiết sẽ đưa ra phương án sử dụng đất nhằm bảo vệ và khôi phục độ phì của đất, ngăn chặn hiện tượng xói mòn đất, ngăn chặn việc sử dụng đất không hiệu quả, làm tăng điều kiện sống của người dân
1.4.1.3 Cộng hòa Liên bang Đức
Ở Cộng hoà Liên bang Đức, vị trí của quy hoạch sử dụng đất được xác định trong
hệ thống quy hoạch phát triển không gian (theo 4 cấp): Liên bang, vùng, tiểu vùng và đô
thị Trong đó, quy hoạch sử dụng đất được gắn liền với quy hoạch phát triển không gian ở cấp đô thị
Trong quy hoạch sử dụng đất ở Cộng hoà Liên bang Đức, cơ cấu sử dụng đất : Đất nông nghiệp và lâm nghiệp vẫn là chủ yếu, chiếm khoảng 85% tổng diện tích; diện tích mặt nước, đất hoang là 3%; đất làm nhà ở, địa điểm làm việc, giao thông và cơ sở
hạ tầng cung cấp dịch vụ cho dân chúng và nền kinh tế - gọi chung là đất ở và đất giao thông chiếm khoảng 12% tổng diện tích toàn Liên bang
1.4.1.4 Trung Quốc
Trung Quốc coi trọng việc phát triển kinh tế - xã hội bền vững, công tác bảo vệ môi trường luôn được quan tâm lồng ghép và thực hiện đồng thời với phát triển kinh tế -
xã hội Đến nay Trung Quốc đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất từ tổng thể đến chi
tiết cho các vùng và địa phương theo hướng phân vùng chức năng (khoanh định sử dụng
đất cho các mục đích) gắn với nhiệm vụ bảo vệ môi trường
Để quy hoạch tổng thể phù hợp với phân vùng chức năng, các quy định liên quan của pháp luật Trung Quốc đã yêu cầu mọi hoạt động phát triển các nguồn tài nguyên phải nhất quán với phân vùng chức năng
Một trong những ảnh hưởng tích cực của quy hoạch tổng thể và sơ đồ phân vùng chức năng là việc giảm thiểu xung đột đa mục đích nhờ xác định được các sử dụng tương thích cho phép ưu tiên ở các khu vực cụ thể
1.4.1.5 Quy hoạch sử dụng đất đô thị ở Anh
Để bắt tay vào công việc xây dựng lại sau chiến tranh, năm 1947 chính phủ Anh
đã sửa đổi và công bố Luật kế hoạch đô thị và nông thôn, trong đó điều thay đổi quan
Trang 28trọng nhất là xác lập chế độ quốc hữu về quyền phát triển và xây dựng chế độ cho phép khai thác Quy định mọi loại đất đều phải đưa vào chế độ quản lý, mọi người nếu muốn khai thác đất đai, trước hết phải được cơ quan quy hoạch địa phương cho phép khai thác, cơ quan quy hoạch địa phương căn cứ vào quy định của quy hoạch phát triển để xem liệu có cho phép hay không Chế độ cho phép khai thác trở thành biện pháp chủ yếu của chế độ quản lý quy hoạch đất đai
1.4.1.6 Quy hoạch sử dụng đất đô thị ở Hàn Quốc
Năm 1972 “Luật Sử dụng và Quản lý đất đai quốc gia” chia toàn bộ đất đai cả nước thành 10 loại phân khu sử dụng Đồng thời chỉ định các khu hạn chế phát triển, gọi
là đai xanh, trong khu hạn chế này ngoài những vật kiến trúc cần phải duy trì ra, cấm tất
cả mọi khai thác Ý đồ dùng sự ngăn cách của các đai xanh để khống chế sự phát triển nhảy cóc, bảo vệ đất nông nghiệp và các điều kiện nghỉ ngơi, giải trí; đảm bảo cung ứng đất làm nhà ở một cách hợp lý “Kế hoạch 10 năm về phát triển tổng hợp toàn quốc” , mục đích là phân tán nhân khẩu của đô thị lớn, đồng thời phối hợp với “phương án phát triển khu vực” để kích thích tăng trưởng của vùng sâu, vùng xa, thu hút nhân khẩu quay
về Theo “kế hoạch quản lý khu vực thủ đô” của Hàn Quốc đưa ra năm 1981, thì cấm tiến hành khai thác quy mô lớn ở thủ đô để tránh việc nhân khẩu ồ ạt đổ vào, sau đó là dùng phương thức chế độ quản lý tổng ngạch khống chế số lượng chiêu sinh đại học khu vực Hán Thành Trên thực tế, Hàn Quốc sau hai, ba mươi năm nỗ lực, cuối cùng vẫn đối mặt với thất bại Dùng “chính sách đai xanh” lại làm cho giá nhà tăng cao, tạo thành tiền bồi thường đất đai quá cao, việc thu hồi đất đai để xây dựng công trình công cộng của chính phủ gặp khó khăn và bế tắc
1.4.2 Tình hình quy hoạch đất đai ở nước ta qua các thời kỳ
1.4.2.1 Thời kỳ 1975 – 1980
Thời kỳ này Chính phủ đã lập quy hoạch trong cả nước, kết quả đạt được là cuối năm
1980 đã xây dựng xong các phương án quy hoạch phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến nông sản của cả nước, trong đó coi quy hoạch đất nông nghiệp, lâm nghiệp là luận chứng quan trọng để phát triển Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất trong quy hoạch đất đai thời
kỳ này là số liệu điều tra cơ bản về thống kê đất đai, về thổ nhưỡng, điều kiện tự nhiên chưa đầy đủ Tính khả thi chưa cao vì chưa tính đến khả năng về đầu tư
Trang 29chỉ đạo chương trình lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất ở nước ta trong thời kỳ 1986 – 2000 (lập quy hoạch, kế hoạch sản xuất vùng trọng điểm, khu công nghiệp,
du lịch, xây dựng thành phố)
Trong thời kỳ này kết quả đã được nâng lên một bước về nội dung và cơ sở khoa học của quy hoạch sử dụng đất Tuy nhiên trong thời kỳ này quy hoạch sử dụng đất cấp xã chưa được đề cập đến, còn quy hoạch cấp huyện, cấp tỉnh và cả nước đã được đề cập đến nhưng chưa đầy đủ
1.4.2.3 Thời kỳ từ năm 1987 đến năm 1993
Ngày 29/12/1987 Quốc hội khoá VIII thông qua Luật Đất đai và chủ tịch Hội đồng Nhà nước công bố ngày 08/01/1988 Đây là Luật đất đai đầu tiên được ban hành và dành một số điều cho quy hoạch như xác định vai trò, vị trí của công tác quy hoạch và quản lý
sử dụng đất trong nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên Luật đất đai 1988 chưa nêu ra nội dung của quy hoạch sử dụng đất
Ngày 15/4/1991 Tổng cục Quản lý ruộng đất (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã ra thông tư 106/QH-KHKĐ xây dựng quy hoạch sử dụng đất tương đối cụ thể
và hoàn chỉnh ở các cấp
Ngày 18/2/1992 Tổng cục Quản lý ruộng đất đã kịp thời hoàn thành tài liệu hướng dẫn lập quy hoạch phân bổ đất đai cấp xã Do đó công tác quy hoạch sử dụng đất được đẩy mạnh một bước, đặc biệt là công tác quy hoạch sử dụng đất cấp xã được thực hiện
tư số 1842/TT-TCĐC hướng dẫn thi hành Nghị định 68/NĐ-CP của Chính Phủ
Trong giai đoạn này, Tổng cục Địa chính cho triển khai lập quy hoạch sử dụng đất
cả nước và các tỉnh, các huyện Hầu hết các địa phương trong cả nước đã lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất
Trang 301.4.2.5 Từ khi có Luật đất đai 2003 cho đến nay
Để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, cũng như đảm bảo quyền quản lý đất đai của Nhà nước theo Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Đất đai 2003 thay cho Luật Đất đai 2001 và Luật
có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 Trong đó quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được nhấn mạnh trong Chương 2 Mục 2 của Luật Đất đai năm 2003
Để thực hiện Luật Đất đai 2003, Chính phủ ban hành Nghị định 181/NĐ-CP về việc hướng dẫn thi hành luật, trong đó Chương III Điều 12 cũng ghi cụ thể nội dung quy hoạch sử dụng đất
Để công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thống nhất trong cả nước
Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành các Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Thông tư số 28/2004/TT–BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn thực hiện thống
kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng ban hành Quyết định số 04/2007/QĐ–BTNMT về việc ban hành quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Qua thực tế triển khai thực hiện Luật Đất đai năm 2003, để dần hoàn thiện cơ sở pháp lý của công tác quản lý nhà nước về đất đai, Chính phủ ban hành Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Bộ Tài nguyên và Môi trường cụ thể hóa bằng việc ban hành Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 quy định chi tiết về việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch sử dụng đất
1.4.3 Công tác lập quy hoạch trên phạm vi cả nước
Luật Đất đai năm 1993 ra đời tạo cơ sở pháp lý cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai đầy đủ hơn Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã góp phần đảm bảo tính thống nhất trong công tác quản lý nhà nước về đất đai Thông qua quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước thực hiện quyền định đoạt về đất đai, nắm được quỹ đất đai đến từng loại, bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, gắn chuyển mục đích sử dụng đất với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, có cơ sở để điều chỉnh chính sách đất đai tại mỗi địa phương, chủ động giành quỹ đất hợp lý cho phát triển các ngành, các lĩnh vực, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vừa đảm bảo ổn định các mục tiêu xã hội vừa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Từng bước chủ động dành quỹ đất hợp lý cho xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội, phát triển kết cấu hạ tầng cho công nghiệp, dịch vụ, đô thị Qua công tác quy hoạch sử dụng đất đai, UBND các cấp nắm chắc được quỹ đất đai của địa phương mình, có dự tính được nguồn
Trang 31thu từ đất cho ngân sách nhà nước
Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được quy định trong Luật Đất đai 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 68/NĐ-CP ngày 01/10/2001 quy định nội dung cụ thể về lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các cấp địa phương Từ năm 1994, Chính phủ đã cho triển khai xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010 Tuy vậy, cũng phải đến năm 2004, tại kỳ họp thứ
5 Quốc hội khoá XI, Quốc hội mới ra Nghị quyết số 29/2004/QH11 thông qua quy hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đai đến năm 2005; Bộ Quốc phòng và Bộ Công an tiến hành công tác rà soát quy hoạch sử dụng đất
an ninh, quốc phòng và đã được Chính phủ phê duyệt
Nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới của xã hội nói chung và đòi hỏi về công tác quản
lý đất đai nói riêng, Luật Đất đai năm 2003 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 Khung pháp lý đối với công tác quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất được quy định rõ: Luật Đất đai 2003 quy định tại mục 2 chương II (gồm
10 điều, từ Điều 21 đến Điều 30); Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định tại chương III (gồm 18 điều, từ Điều 12 đến Điều 29), Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính Phủ quy định tại Chương II (gồm 8 điều, từ điều 3 đến Điều 10)
Luật Đất đai năm 2003 quy định rõ nội dung việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp Đối với kỳ quy hoạch sử dụng đất là 10 năm và kỳ kế hoạch là 5 năm Việc lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất là 5 năm một lần gắn với việc kiểm kê đất đai để phục vụ cho công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được tốt hơn Bản đồ quy hoạch sử dụng đất được lập 10 năm một lần gắn với kỳ quy hoạch sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất cấp xã phải được lập trên nền bản đồ địa chính Ngoài ra,
để cho việc quản lý đất đai được thuận lợi hơn, đất đai được chia thành 3 nhóm đất chính: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư hướng dẫn số 30/2004/TT-BTNMT và quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất và quy trình lập điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất các cấp và Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày
02 tháng 11 năm 2009 quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Theo kết quả báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường đến hết năm 2007, cùng với quy hoạch sử dụng đất đai cả nước, đã có 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng xong phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2006 – 2010)
Trang 32Đối với cấp huyện, đã có 531/681 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoàn thành việc lập quy hoạch đến năm 2010 (đạt 78 %); 98 huyện đang triển khai (chiếm 14
%); còn lại 42 huyện chưa triển khai (chiếm 8 %), phần lớn là các đô thị (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh)
Đối với cấp xã, đã có 7.676/11.074 xã, phường, thị trấn đã lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 (đạt 68 %); 1.507 xã đang triển khai (chiếm 14 %); còn lại 1.991 xã chưa triển khai (chiếm 18 %) Trong số các xã đã lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 có 1.358 xã đã lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết thể hiện trên bản đồ địa chính theo quy định của Luật Đất đai
1.5 Công tác quy hoạch sử dụng đất tỉnh Phú Thọ
Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được UBND tỉnh Phú Thọ quan tâm
tổ chức thực hiện Tỉnh Phú Thọ đã tổ chức lập quy hoạch sử dụng đất 3 cấp tỉnh, huyện
xã đến năm 2010, cụ thể như sau:
1.5.1 Đối với cấp tỉnh
Thực hiện Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Đất đai của Chính phủ cũng như của Bộ Tài nguyên và Môi trường, cuối năm 2005, tỉnh Phú Thọ
đã tiến hành rà soát và lập điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch
sử dụng đất 5 năm (2006- 2010) của tỉnh Sau đó, UBND tỉnh Phú Thọ đã trình Hội đồng thẩm định (gồm các bộ, ngành ở Trung ương) và trình Chính phủ phê duyệt Việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006-2010) của tỉnh Phú Thọ đã được Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 56/2007/NQ-CP ngày 20/11/2007
1.5.2 Đối với cấp huyện
Thực hiện Luật Đất đai năm 2003, đầu năm 2005, UBND tỉnh đã giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo các huyện, thành, thị lập điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006-2010) của địa phương và thông qua Hội đồng thẩm định cấp tỉnh Đến nay, UBND tỉnh phê duyệt hồ sơ của 9 huyện: Cẩm Khê, Thanh Ba, Hạ Hoà, Đoan Hùng, Phù Ninh, Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thuỷ và Yên lập
Hai huyện Thanh Sơn và Tân Sơn do điều chỉnh địa giới hành chính nên đến nay đang tiến hành lập Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 theo chỉ đạo của UBND tỉnh
Thành phố Việt Trì và thị xã Phú Thọ do trước đây chưa có quy hoạch chung xây dựng đô thị nên không thực hiện việc lập Quy hoạch sử dụng đất mà chỉ xây dựng Kế hoạch
sử dụng đất hàng năm, trình UBND tỉnh phê duyệt Sau khi có quy hoạch chung xây dựng đô thị được phê duyệt, đến tháng 7/2007 hai địa phương này mới bắt đầu triển khai lập quy
Trang 33hoạch sử dụng đất giai đoạn 2007-2015 Hiện nay, UBND tỉnh đang xem xét phê duyệt
1.5.3 Đối với cấp xã
Thực hiện Luật Đất đai năm 2003, ngày 30 tháng 5 năm 2005, UBND tỉnh đã phê duyệt dự án đầu tư lập bổ sung quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-2010 của 235 xã trên địa bàn tỉnh Phú Thọ tại Quyết định số 1374/QĐ-CT để làm cơ sở cho việc quản lý,
sử dụng đất theo đúng luật định
Căn cứ vào dự án được duyệt, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ đã chỉ đạo các huyện, thị triển khai thực hiện việc lập bổ sung quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-2010 của 235 xã trên địa bàn tỉnh Đến cuối năm 2007, toàn bộ 235 xã đã hoàn thành việc lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch giai đoạn 2006-2010 của địa phương Ngoài ra, UBND tỉnh đã phê duyệt quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001-2010 cho
18 xã, phường, thị trấn (gồm: 8 xã, 1 phường, 9 thị trấn) từ năm 2001
Như vậy, tính đến nay trên địa bàn tỉnh Phú Thọ còn 21 xã, phường, thị trấn chưa hoàn thành việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất (trong đó: đang triển khai: 4, chưa triển khai: 17), tập trung chủ yếu ở thành phố Việt Trì và thị xã Phú Thọ
Nhìn chung, sau khi Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn tỉnh ngày càng được nhận thức đúng đắn và được quan tâm hơn UBND tỉnh Phú Thọ đã chỉ đạo các cấp, các ngành trên địa bàn quản lý, sử dụng đất cơ bản theo đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt Do đó công tác quản lý đất đai dần dần đi vào nề nếp và có tác dụng thiết thực trong công tác quản lý đất đai, góp phần tích cực vào việc hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà các cấp và địa phương đã đề ra, giảm được sự chồng chéo, tạo sự hợp lý trong việc sử dụng đất trên địa bàn tỉnh
Huyện Cẩm Khê đã lập quy hoạch sử dụng đất đai thời kỳ 2001 - 2010 và đã được UBND tỉnh Phú Thọ phê duyệt năm 2000 và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010, lập kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 – 2010 được UBND tỉnh Phú Thọ phê duyệt năm 2006
Trang 34
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội chi phối việc thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch;
- Phương án quy hoạch sử dụng đất của huyện Cẩm Khê đến năm 2010 đã được phê duyệt;
- Tình hình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất của huyện Cẩm Khê đến năm 2010 đã được phê duyệt;
- Các tài liệu số liệu liên quan đến quy hoạch sử dụng đất huyện Cẩm Khê đến năm 2010
2.2 Địa điểm nghiên cứu
- Huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Khái quát Điều kiện tự nhiên, KT-XH của huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ;
- Tình hình quản lý, sử dụng đất đai;
- Tình hình lập, xét duyệt và thực hiện phương án QHSDĐ của huyện
- Đánh giá tình hình thực hiện phương án “Quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001 - 2010” đã được phê duyệt đến hết năm 2010;
- Đề xuất các giải pháp nâng cao tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn tiếp theo
2.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, khảo sát
Đây là phương pháp được dùng để thu thập số liệu, thông tin cần thiết phục vụ cho
đề tài nghiên cứu Một số phương pháp cụ thể đó là phương pháp điều tra nội nghiệp, điều tra ngoại nghiệp, điều tra phỏng vấn các nhà lãnh đạo, các chuyên gia và người dân… Các phương pháp điều tra được kết hợp sử dụng nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
- Phương pháp thống kê, so sánh
Để phân tích đưa ra kết luận, đề tài có tiến hành thống kê, so sánh một số chỉ tiêu
về cơ cấu các loại đất
- Phương pháp minh họa bằng bản đồ, biểu đồ
Thực trạng sử dụng đất và kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất sẽ được trình bày dưới dạng những biểu đồ và bản đồ minh họa
Trang 35- Phương pháp chuyên gia
Tổ chức hội thảo hoặc lấy ý kiến tư vấn của những chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực lập quy hoạch, quản lý quy hoạch và giám sát quy hoạch để trao đổi về cách nhìn nhận, đánh giá cũng như những gợi ý đề xuất về giải pháp
Trang 36Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Cẩm khê là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ, có toạ độ địa lý
từ 21015' đến 21029' độ vĩ Bắc và từ 104057' đến 105013' độ kinh Đông Địa giới hành chính gồm có:
- Phía bắc giáp giáp huyện Hạ Hoà dài 18,5 km
- Phía đông gíáp huyện Thanh Ba dọc theo dòng sông Thao 21,5 km
- Phía tây giáp huyện Yên Lập 33,75 km
- Phía nam giáp huyện Tam Nông dọc theo sông Bứa 11,25 km
Cẩm Khê gồm có 31 đơn vị hành chính (30 xã, 01 thị trấn), trung tâm của huyện là thị trấn Sông Thao cách thành phố Việt Trì khoảng 50km về phía Đông Nam Trên địa bàn huyện có hệ thống giao thông tương đối thuận lợi, bao gồm: QL32C dài 31km chạy dọc chiều dài của huyện đi Yên Bái, hệ thống đường tỉnh: tỉnh lộ 313, tỉnh lộ 313B, tỉnh
lộ 313C, tỉnh lộ 321C chạy qua, trên địa bàn huyện còn có hệ thống đường thủy, có bến phà Tình Cương và một số bến đò khác dọc theo sông Thao thuận lợi cho việc đi lại và vận chuyển hàng hoá giữa các vùng
3.1.1.2 Địa hình địa mạo
Địa hình của huyện khá phức tạp, hướng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Đây là vùng bán sơn địa, bị chia cắt bởi hệ thống sông, ngòi; sự đan xen giữa khu vực đồi, núi và các dộc ruộng thấp trũng, có vùng đồng bằng và hồ đầm xen kẽ, có thể chia địa hình của huyện thành các dạng chính như sau:
- Địa hình vùng núi: Tập trung chủ yếu ở phía Tây huyện, đây là dãy núi thấp đoạn cuối của dãy Hoàng Liên Sơn, chạy suốt chiều dài huyện theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, gần như song song với sông Thao Độ cao trên 300 m, có đỉnh cao trên 500m là ranh giới tự nhiên giữa 2 huyện Cẩm Khê và Yên Lập, độ dốc lớn hơn 250 chiếm 10% diện tích tự nhiên Dạng địa hình này bị chia cắt nhiều, gây khó khăn trong sản xuất nông lâm nghiệp và phát triển giao thông, thuỷ lợi, phân bố chủ yếu ở các xã: Tiên Lương, Phượng Vỹ, Tam Sơn, Văn Bán, Hương Lung, và một phần các xã Đồng Lương, Văn Khúc, Yên Dưỡng, Cấp Dẫn, Chương Xá, Tạ Xá
Trang 37- Địa hình trung du, đồi thấp: Đồi gò Cẩm Khê có đỉnh bằng, tròn, sườn thoải, độ cao tuyệt đối dưới 40m, độ cao tương đối dưới 20m so với mực nước biển Độ dốc từ 150đến 250 chiếm 15,4% diện tích tự nhiên, tính phức tạp ít, sự phân cách địa hình không lớn, tuy vậy cũng gây khó khăn không nhỏ trong việc canh tác, làm cho đất bị xói mòn, rửa trôi, phân bố chủ yếu ở các xã: Tuy Lộc, Ngô Xá, Thụy Liễu, Phùng Xá, Thanh nga, Sơn Nga, Phú Khê, Điêu Lương và một phần ở: Thị trấn Sông Thao, Phú Lạc, Văn Khúc, Đồng Lương, Yên Dưỡng
- Địa hình đồng bằng và thấp trũng: Dạng địa hình này tập trung chủ yếu ở khu vực ven sông Thao hoặc xen kẽ với các vùng đồi núi thấp, phân bố suốt từ thượng huyện đến hạ huyện Khu vực này tương đối màu mỡ, phì nhiêu do quá trình bồi tụ phù sa của sông Thao, rất thuận lợi cho sản xuất lương thực, cây hàng năm và chăn nuôi Tuy nhiên,
bề mặt những khu vực này không đồng đều nên có nhiều vùng là hồ đầm lớn, đồng chiêm trũng và lòng chảo gây ngập úng về mùa mưa và hiện tượng glây hóa Dạng địa hình này tập trung chủ yếu ở các xã: Đồng Cam, Phương Xá, Hiền Đa, Cát Trù và từ Tình Cương, Phú Lạc đến Sơn Nga, Phùng Xá, Ngô Xá, Tiên Lương, có đồi gò và đồng bằng xen kẽ
3.1.1.3 Khí hậu
Theo phân vùng khí hậu của tỉnh Phú Thọ, Cẩm Khê nằm trong tiểu vùng khí hậu phía Bắc nên mang đặc điểm chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa, với những đặc điểm chủ yếu sau:
- Nhiệt độ trung bình năm là 22,50C-23,9, nhiệt độ trung bình cao nhất 39,50C, nhiệt độ trung bình thấp nhất là 100C; tổng tích nhiệt trung bình năm khoảng 85000C
- Tổng lượng mưa trung bình hàng năm từ 1650-1850mm, lượng mưa năm nhiều nhất là 1850mm, lượng mưa nhỏ nhất là 1543,1mm; mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Những năm gần đây mưa nhiều và không đồng đều, tình trạng hạn hán, úng lụt cục bộ thường xuyên xảy ra gây nhiều thiệt hại về đời sống, giao thông vận tải và các cơ sở hạ tầng khác
- Độ ẩm trung bình 85%, thấp nhất là 32% (tập trung chủ yếu tháng 11,12 và tháng
1 hàng năm)
- Chế độ gió thổi theo hai mùa rõ rệt:
+ Gió mùa Đông Bắc thổi vào mùa lạnh, kéo dài từ tháng 9 năm trước đến tháng 3 năm sau Gió xuất hiện kèm theo mưa gây ra các hiện tượng rét đậm kéo dài, sương mù đôi khi có sương muối gây ảnh hưởng đến đời sống sản xuất
+ Gió mùa Đông Nam thổi vào mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, vào các tháng 6,7,8 đôi khi có xuất hiện gió Tây Nam khô và nóng
Trang 383.1.1.4 Thuỷ văn
Phía Đông và Đông Nam của huyện được bao bọc bởi 2 hệ thống sông, đó là:
- Sông Thao bắt đầu từ xã Tuy Lộc đến các xã Điêu Lương, Đồng Lương dài 21,5km Lưu lượng dòng chảy của sông Thao cao nhất 1647m3/s, mùa khô thấp nhất 520m3/s Sông Thao đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất đồng thời cũng cung cấp lượng phù sa không nhỏ phục vụ việc cải tạo đồng ruộng ở các xã ven sông;
- Sông Bứa chạy qua huyện về phía Đông Nam dài 5km, ngăn cách giữa Cẩm Khê và huyện Tam Nông Đây cũng là nguồn cung cấp nước không nhỏ cho sản xuất nông nghiệp
Ngoài hệ thống sông, trên địa bàn còn tập trung nhiều ngòi lớn như: Ngòi Cỏ, ngòi
Me, Ngòi Giành, Ngòi Cái…Ngoài nhiệm vụ cung cấp nước còn là nơi tưới, tiêu và dẫn nước từ sông phục vụ cho sản xuất
Trên địa bàn còn tập trung khá nhiều ao, hồ, đầm lớn và đồng chiêm trũng với diện tích mặt nước là 1.443,23 ha Các hồ, đầm này vừa là nguồn dự trữ cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, vừa là nơi có cảnh đẹp có thể kết hợp với mô hình du lịch sinh thái, nuôi trồng thủy sản Nhiều hồ đầm lớn như hồ Dục Gạo, Dục Bò - Điêu Lương; hồ Ba Vực - Văn Bán, hồ Vực Sy – Sơn Tình, Đầm Meo-Văn Khúc, Điêu Lương … có thể tận dụng làm hồ sinh thái, điểm du lịch
3.1.2 Các nguồn tài nguyên
3.1.2.1 Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên của huyện năm 2010 là 23 464,82ha, chiếm 6,64% diện tích tự nhiên của tỉnh Phú Thọ Theo kết quả Đánh giá phân hạng đất huyện Cẩm Khê, đất đai của huyện được chia thành 5 loại chính như sau:
Bảng 3.2 Các loại đất huyện Cẩm Khê STT Loại đất Diện tích(ha) Cơ cấu(%)
Trang 39* Nhóm đất Phù sa: Tổng diện tích là 4.928,63 ha, chiếm 21% tổng diện tích tự nhiên Diện tích đất phù sa phân bố ở các xã ven sông Hồng, sông Bứa, ngòi Giành, chủ yếu ở địa hình vàn, vàn thấp, trũng, tập trung ở các xã: Đồng Lương, Điêu Lương, Yên Dưỡng, Cát Trù, Hiền Đa, Tình Cương, Yên Tập, Phú Khê, thị trấn Sông Thao, Tùng Khê, Sai Nga, Phùng Xá, Ngô Xá, Đồng Cam, Phú Lạc, Thụy Liễu
Nhìn chung, đất có độ phì khá, đây là loại đất thích hợp với nhiều loại cây trồng hàng năm như: lúa, ngô, lạc, đậu đỗ, các loại rau…
* Nhóm đất Glây: Tổng diện tích là 2.318,02ha, chiếm 9,88 % tổng diện tích tự nhiên Loại đất này phân bố ở dạng địa hình thấp, trũng, ứ đọng nước và nơi có mực nước ngầm gần mặt đất, tập trung chủ yếu ở các xã: Tạ Xá, Hương Lung; Văn Khúc, Chương
Xá, Thanh Nga, Sơn Tình, Cấp Dẫn, Văn Bán, Tam Sơn, Hương Lung, Phượng Vỹ, Ngô
Xá, Yên Dưỡng Nhìn chung độ phì nhiêu của đất ở mức trung bình thấp, thích hợp với việc trồng lúa 2 vụ, 1 vụ lúa chiêm
* Nhóm đất Xám: Tổng diện tích là 1.579.76 ha, chiếm 6,73% tổng diện tích tự nhiên Loại đất này phõn bố chủ yếu ở độ dốc cấp II, cấp III; tập trung ở dạng địa hình bậc thang thấp vùng bán sơn địa, chủ yếu ở các xã: Yên Dưỡng, Hương Lung, Văn Bán, Tam Sơn, Phượng Vỹ, Tiên Lương, Thanh Nga, Đồng Lương, Tạ Xá Nhìn chung, độ phì nhiêu của đất ở mức trung bình thấp, thích hợp chủ yếu cho trồng lúa 2 vụ
* Nhóm đất xám Feralit: Tổng diện tích là 8.837,37 ha, chiếm 37,66% tổng diện tích tự nhiên Loại đất này phân bố chủ yếu ở độ dốc cấp II, cấp III, tập trung chủ yếu
ở các xã Xương Thịnh, Thụy Liễu, Cấp Dẫn, Phượng Vĩ, Văn Khúc, Sơn Tình, Điêu Lương, Đồng Lương, Tiên Lương, Tuy Lộc, Hương Lung, Phú Lạc, Chương Xá, Thanh Nga, Ngô Xá Cây trồng chủ yếu là Sắn, Chè, cây ăn quả ( Nhãn, Vải, Xoài ), Keo, Bạch đàn Nhìn chung, đất bị xói mòn mạnh, độ phì của đất thấp
3.1.2.2 Tài nguyên nước
Nguồn nước của huyện được cung cấp từ 2 nguồn nước chính, đó là:
* Nguồn nước mặt:
Cẩm Khê có ưu thế lớn về nguồn nước mặt từ hệ thống các sông, bao gồm sông Thao, sông Bứa; hệ thống ngòi, bao gồm: Ngòi Cỏ, ngòi Me, ngòi Giành, ngòi Cái, ngòi Mới…, và nguồn nước mặt từ các ao, hồ, đầm khá lớn, như hồ Dộc Gạo, Dục Bò,
hồ Ba Vực, hồ Vực Sy, hồ đồng Mèn, đầm Meo, đầm đồng Chằm, đồng Đào, đầm Múc Mận, là nguồn quan trọng để cung cấp cho sản xuất nông nghiệp và nhu cầu sinh hoạt của người dân trên địa bàn Bên cạnh đó, tổng lượng mưa trung bình hàng năm là 1650-1850 mm, đây thực sự là nguồn nước lớn cung cấp cho sản xuất nông lâm
Trang 40nghiệp, bổ sung cho sông, ngòi, hồ, đầm, nguồn nước ngầm và sinh hoạt của nhân dân
* Nguồn nước dưới đất:
Nguồn nước dưới đất của huyện có trữ lượng lớn, tầng khai thác ở độ sâu trung bình, dễ khai thác và đang được đại đa số các hộ dân cư khai thác dưới dạng giếng khơi, giếng khoan, chất lượng nước tương đối tốt, đáp ứng được nhu cầu nước sinh hoạt trên địa bàn
3.1.2.3 Tài nguyên rừng
Theo kết quả thống kê năm 2010, diện tích đất lâm nghiệp của huyện Cẩm Khê là 6.307,66 ha, chiếm 26,88 % diện tích tự nhiên và chiếm 3,76% diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh Độ che phủ rừng đạt 27,5%, thấp hơn so với toàn tỉnh (49,4%), trong đó:
- Diện tích đất rừng sản xuất là 5.141,16 ha, chiếm 81,50% diện tích đất lâm nghiệp, trong đó đất rừng tự nhiên là 243,40 ha và đất rừng trồng là 1.853,76 ha, đất rừng khoanh nuôi phục hồi 99,17ha Diện tích đất rừng tập trung khoảng 1.973 ha, các loại cây trồng chủ yếu là cây nguyên liệu giấy, như Bạch đàn, Keo, Bồ đề, Tập trung chủ yếu ở các xã: Tiên Lương, Phượng Vỹ, Văn Bán, Hương Lung, Văn Khúc, Yên Dưỡng, Đồng Lương, Chất lượng rừng khá tốt, giá trị sản xuất đạt khoảng 50 triệu/1ha, tăng gấp đôi so với năm 2005 Tuy nhiên, diện tích đất rừng trồng ngày càng
bị thu hẹp để phục vụ cho các mục đích phi nông nghiệp như phát triển giao thông, công nghiệp, ;
- Đất rừng phòng hộ 1.166,50 ha, chiếm 18,50% diện tích đất lâm nghiệp, diện tích đất rừng phòng hộ tự nhiên là 588,90 ha, rừng trồng và khoanh nuôi phòng hộ là 277,70 ha, tập trung chủ yếu ở các xã: Tiên Lương, Phượng Vỹ, Tam Sơn, Văn Bán, Hương Lung, các loại cây trồng chủ yếu là cây bản địa, Tre, Nứa, các loại cây tạp…giữ vai trò quan trọng là rừng đầu nguồn phòng hộ, luôn được bảo vệ nghiêm ngặt
3.1.2.4 Tài nguyên khoáng sản
Theo tài liệu điều tra về địa chất và báo cáo thuyết minh dự án khảo sát đo đạc xác định khu vực quản lý khai thác và bảo vệ khoáng sản trên địa bàn huyện thì Cẩm Khê có một số điểm mỏ và điểm quặng
Bảng 3.3 Số liệu tài nguyên khoáng sản huyện Cẩm Khê
Số TT Loại khoáng sản Trữ lượng (tấn) Địa điểm Ghi chú