Nguồn nguyên liệu văn hoá có hai loại cơ bản: Văn hoá vậtthể là những sáng tạo của con người tồn tại, hiện hữu trong không gian mà cóthể cảm nhận bằng thị giác, xúc giác, chẳng hạn những
Trang 1Quan hệ giữa văn hoá và du lịch
Nhiều năm qua ở nước ta, có một bài học, một kinh nghiệm hết sức thuyết phục
là văn hoá trong du lịch ở nước ta vừa như là mục tiêu mang tính định hướng,vừa như là một quan điểm khẳng định rằng, văn hoá là nội dung, là bản chấtđích thực của du lịch Việt Nam, tạo nên tính độc đáo, đặc sắc, hấp dẫn nhất củacác sản phẩm du lịch Việt Nam, góp phần tạo dựng hình ảnh quốc gia trong mắtbạn bè quốc tế
Du lịch là một hoạt động thực tiễn xã hội của con người, nó được hình thànhnhờ sự kết hợp hữu cơ giữa 3 yếu tố người du lịch, tài nguyên du lịch và môigiới du lịch Người du lịch là chủ thể du lịch, tài nguyên du lịch là khách thể dulịch, ngành du lịch là môi giới cung cấp sự phục vụ cho người du lịch Xét theo
phạm trù văn hoá xã hội, du lịch là một hoạt động văn hoá cao cấp của con người Bởi văn hoá là mục đích mà du lịch hướng tới, là nguyên nhân nội sinh
của nhu cầu du lịch Dù người đi du lịch nhằm mục đích gì (thăm thân, tìm hiểu,nghiên cứu, ngắm cảnh, nghỉ dưỡng…) hoặc theo phương thức nào (đường bộ,đường sắt, đường biển, đường hàng không…) thì mục đích cuối cùng là nhằmthoả mãn những nhu cầu của bản thân, để cảm nhận, thụ hưởng những giá trị vậtchất và tinh thần do con người tạo ra ở một xứ sở ngoài nơi cư trú thường xuyên
của họ Nói cách khác du lịch là hành vi ứng xử của con người với môi trường
tự nhiên và xã hội nhằm phục vụ lợi ích cho họ và là hoạt động có lợi cho việc
thúc đẩy phát triển trí tuệ của loài người
Đó là nhận định mang tính tổng quát còn biểu hiện cụ thể của mối quan hệ mậtthiết giữa văn hoá và du lịch được thể hiện qua các khía cạnh:
- Văn hoá là nguồn tài nguyên độc đáo của du lịch (nguồn nguyên liệu để hìnhthành lên hoạt động du lịch) Khi nói văn hoá là nguồn nguyên liệu để hìnhthành lên hoạt động du lịch, tức là chúng ta nói đến vật hút / đối tượng hưởngthụ của du khách Nguồn nguyên liệu văn hoá có hai loại cơ bản: Văn hoá vậtthể là những sáng tạo của con người tồn tại, hiện hữu trong không gian mà cóthể cảm nhận bằng thị giác, xúc giác, chẳng hạn những di tích lịch sử văn hoá,những mặt hàng thủ công, các công cụ trong sinh hạt, sản xuất, các món ăn dântộc… Văn hoá phi vật thể như lễ hội, các loại hình nghệ thuật, cách ứng xử, giaotiếp… Theo quan niệm của ngành du lịch, người ta xếp các thành tố văn hoá vàotài nguyên nhân văn (đối lập với tài nguyên tự nhiên như biển, sông hồ, núirừng, hang động…) cụ thể là: Các di tích lịch sử - văn hoá; hàng lưu niệm mangtính đặc thù dân tộc; ẩm thực; lễ hội; các trò chơi giải trí; phong tục, tập quán,cách ứng xử, giao tiếp; tín ngưỡng, tôn giáo; văn học - nghệ thuật
Vì vậy mà văn hoá là điều kiện và môi trường để cho du lịch phát sinh và pháttriển Cùng với tài nguyên tự nhiên, tài nguyên văn hoá là một trong những điềukiện đặc trưng cho việc phát triển du lịch của một quốc gia, một vùng, một địaphương Giá trị của những di sản văn hoá: di tích lịch sử, các công trình kiến
Trang 2trúc, các hình thức nghệ thuật, các tập quán, lễ hội, ngành nghề truyền thống…cùng với các thành tựu kinh tế, chính trị, xã hội, các cơ sở văn hoá nghệ thuật,các bảo tàng… là những đối tượng cho du khách khám phá, thưởng thức, cho dulịch khai thác và sử dụng Sự khai thác và thu lợi nhuận từ tài nguyên, việc xâydựng các khu điểm du lịch đều phản ánh trí tuệ và sức sáng tạo của loài người.Chính những tài nguyên này không chỉ tạo ra môi trường và điều kiện cho dulịch phát sinh và phát triển mà còn quyết định quy mô, thể loại, chất lượng vàhiệu quả của hoạt động du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương.
Di tích Ngọ Môn - Huế
Mối quan hệ giữa du lịch và văn hoá còn được biểu hiện qua hành vi ứng xử,đạo đức trong phục vụ, hay trong giao dịch kinh doanh du lịch Thực chất củamối quan hệ giữa văn hoá với kinh doanh nói chung và kinh doanh du lịch nóiriêng (hay vai trò của văn hoá trong phát triển kinh tế) đã được khẳng định Nóicách khác, hành vi kinh doanh muốn có được thành công phải được thực hiệnmột cách văn hoá Có thể gọi chung là nghệ thuật kinh doanh hay văn hoá kinhdoanh
Xét ở một khía cạnh khác, mối quan hệ mật thiết này được thể hiện: nếu muốnphát triển du lịch cần phải có một môi trường du lịch tốt (bao gồm cả môi trường
tự nhiên và môi trường nhân văn - hai yếu tố này không tách rời) Môi trường tựnhiên như không có rác bẩn, nguồn nước sạch, không viết vẽ lên đá…môitrường nhân văn đó là di tích được giữ gìn, cư dân, nhân viên làm việc ở nơi dulịch phải có văn hoá, tố chất văn hoá, cơ chế chính sách, hệ thống pháp luật hoànchỉnh…
Tri thức, thông tin xã hội, cách ứng xử, hiểu biết tâm lý du khách…là nhữngđộng lực hữu hiệu thúc đẩy sự phát triển du lịch
Ngược lại đối với văn hoá, du lịch cũng thể hiện một vai trò hết sức quan trọngtrong mối quan hệ này Du lịch trở thành phương tiện để truyền tải và trình diễncác giá trị văn hoá của một địa phương, một dân tộc để mọi khách du lịch trongnước và quốc tế khám phá, chiêm ngưỡng, học tập và thưởng thức
Nhờ có du lịch mà sự giao lưu văn hoá giữa các cộng đồng, các quốc gia đượctăng cường và mở rộng
Du lịch còn là phương tiện để đánh thức và làm trỗi dậy các giá trị văn hoá dântộc đang bị chìm lắng hoặc mai một dần theo thời gian trước những biến cố củalịch sử Đấy có thể là các công trình kiến trúc cổ, một tập quán sinh hoạt, mộtlàn điệu dân ca, một món ăn dân tộc thể hiện trình độ mỹ thuật văn hoá, kỹthuật của các thời đại đã qua Nhờ có du lịch mà các tài sản văn hoá đó được
Trang 3khôi phục, khai thác và tôn tạo, phục vụ cho nhu cầu được thẩm nhận những giátrị của những di sản đó.
Du lịch tìm hiểu các giá trị văn hoá dân tộc
Xét ở góc độ kinh tế, nhờ có du lịch đã tạo ra một nguồn thu nhập cho phép cácđịa phương tích luỹ và phát triển kinh tế – xã hội; trong đó có văn hoá Nhờ đócác tài sản văn hoá được bảo vệ, tu sửa, tôn tạo đồng thời với việc xây dựng mớicác cơ sở văn hoá và làm phong phú thêm các giá trị văn hoá đương đại Chính
vì văn hoá và du lịch có mối quan hệ tương tác/lẫn vào nhau như vậy nên vănhoá và du lịch không thể tách rời nhau và càng không thể đối lập nhau
Như vậy có thể xác nhận một luận điểm: du lịch là một hoạt động văn hoá mangtính tổng hợp, hay nội hàm của du lịch là văn hoá và tính văn hoá đó được thểhiện hoặc rõ ràng hoặc ẩn hiện xuyên suốt các mặt hoạt động du lịch Các hoạtđộng chủ yếu của du lịch bao gồm: ăn, ở, du ngoạn, mua sắm, vui chơi giải trí(nhu cầu nội tại của con người ) thì trong tất cả các hoạt động đó ngoài việc đểlàm thoả mãn nhu cầu đời sống thiết yếu của mọi thành viên trong xã hội đềumang những đặc trưng văn hoá, khát vọng về văn hoá - thể hiện sự ngưỡng mộ,theo đuổi đối với nền văn hoá của nơi khác Du khách có thể bỏ những cănphòng với tiện nghi cao cấp để được sống trong các căn nhà sàn, nhà lá đơn sơ,
có thể bỏ phương tiện giao thông hiện đại để đi thuyền độc mộc, đi xe xích lôlọc xọc trên những đường phố cổ, có thể bỏ những món ăn quen khẩu vị đểthưởng thức những món “khó chơi”, sẵn sàng tiêu tốn một khoản tiền lớn đểmua đặc sản của nước khác
“Những vật mà du khách có thể nhìn thấy, ăn, sờ, cầm nắm được tuy là loại vậtchất cụ thể nhưng trong đó đều bao chứa loại văn hoá tinh thần nào đó mà dukhách đi xem, đi mua, đi ăn, điều chủ yếu nhất mà họ chọn không phải là bảnthân vật chất mà ở chỗ thoả mãn nhu cầu tâm lý tìm cái mới, cái lạ, cái đẹp” (1)
Vì thế du lịch mặc dù là một ngành kinh tế trong đó bao hàm nội dung hoạt động
kinh tế, nhưng về tổng thể du lịch là một hoạt động văn hoá - một sinh hoạt văn hoá xã hội của loài người
2 Văn hoá du lịch
“Văn hoá du lịch không phải là phép cộng đơn giản giữa văn hoá và du lịch mà
là sự kết hợp giữa du lịch và văn hoá, là kết quả tinh thần và vật chất do tácđộng tương hỗ lẫn nhau giữa 3 loại: nhu cầu văn hoá và tình cảm tinh thần củachủ thể du lịch (du khách), nội dung và giá trị văn hoá của khách thể du lịch (làtài nguyên du lịch có thể thoả mãn sự hưởng thụ tinh thần và vật chất của người
du lịch), ý thức và tố chất văn hoá của người môi giới phục vụ du lịch (hướngdẫn viên, thuyết minh viên, người thiết kế sản phẩm, nhân viên phục vụ…) sản
Trang 4sinh ra” (2) Bất cứ một trong 3 yếu tố này đều không thể đơn độc tạo thành vănhoá du lịch Nếu tách khỏi khách thể du lịch, thì du khách sẽ mất đối tượng thamquan thưởng thức, không thực hiện được khát vọng văn hoá Không có môi giới
du lịch thì chủ thể và khách thể du lịch không thể gặp nhau, không thể thực hiệnđược du lịch, mà không có du lịch thì đương nhiên sẽ không thể nảy sinh ra vănhoá du lịch Nếu không có du khách và khách thể du lịch thì ngành du lịch lập rachỉ có danh, thì không sản sinh ra văn hoá du lịch mới, ngay cả thành phần vănhoá du lịch vốn có cũng không thể thể hiện ra được
Như vậy, văn hoá du lịch tức là nội dung văn hoá do du lịch thể hiện ra - là vănhoá do du khách và người làm công tác du lịch tích luỹ và sáng tạo ra trong hoạtđộng du lịch Văn hoá du lịch được sinh ra và phát triển lên cùng với hoạt động
du lịch
Tính văn hoá của chủ thể du lịch thể hiện ở quá trình thưởng thức du lịch Trênhết nó được bộc lộ qua ý thức đối với nhu cầu du lịch bởi điều đó thể hiện rõtrình độ văn hoá nhất định và nhu cầu xã hội về nhiều mặt của mọi người.Những quan niệm về giá trị, hình thức tư duy, tính thẩm mỹ, tích cách, tìnhcảm… sẽ được bộc lộ trong hoạt động du lịch và nó phản ánh tâm lý dân tộc.Ngoài ra nó còn được thể hiện qua hành vi du lịch biết hướng tới cái đẹp, trântrọng và nâng niu cái đẹp Đáng tiếc, nhiều bãi biển, nhiều danh lam thắng cảnhđang ngày càng bẩn vì rác thải vứt vô tội vạ, chưa kể những dòng lưu bút viết vẽ
đủ kiểu, đủ loại trên các vách đá, thân cây, thậm chí còn khắc trên bia cổ…
Khách thể du lịch là cơ sở vật chất của văn hoá du lịch, các cơ sở này vừa cungcấp đối tượng để du khách tham quan, thưởng thức du ngoạn, đồng thời cũng chỉ
có dưới sự quan tâm của du lịch mới có thể hoạt động được
Tính văn hoá của khách thể du lịch được thể hiện qua các giá trị mà tài nguyên
du lịch có thể cung cấp cho du khách, những giá trị về thẩm mỹ vệ sinh, môi ờng về khả năng nâng cao thể chất và tri thức cho du khách, chưa nói đến bảnthân khái niệm các giá trị rất rộng Ví như một tài nguyên du lịch là một di tíchlịch sử văn hoá, giá trị thẩm mỹ ở đây là phải trân trọng tính xác thực, việc trùng
trư-tu, tôn tạo làm biến dạng di tích, làm mất đi vẻ đẹp nguyên sơ ban đầu của nó, viphạm tính nguyên gốc - tính xác thực lịch sử của di tích, đó có thể coi là mộthành vi không văn hoá Điều đó không những không có tác dụng thu hút dukhách mà ở một chừng mực nhất định còn làm phương hại đến hình ảnh củađiểm du lịch, hình ảnh chung về nền văn hoá của cả quốc gia
Tính văn hoá trong khách thể du lịch cũng được coi là một tiêu chuẩn để xácđịnh chất lượng sản phẩm du lịch
Ngành du lịch vừa gồm các dịch vụ du lịch, quản lý điểm du lịch, trực tiếp tiếpxúc với khách hàng, cũng bao gồm việc xây dựng các khu, điểm du lịch, thiết kếchương trình, bố trí các cơ sở dịch vụ Nhiệm vụ cơ bản nhất là bắc cầu giữachủ thể và khách thể du lịch để kiếm tìm cái đẹp và cung cấp cái đẹp Tính văn
Trang 5hoá được thể hiện trong bộ phận môi giới này là ngành du lịch khi thiết kế tuyến
du lịch, xây dựng các khu điểm du lịch, các cơ sở du lịch, dịch vụ… phải tạođược tính văn hóa Phải có tác dụng nâng cao được phong vị cuộc sống của dukhách, khiến cho du khách cảm giác an lành, thư thái, làm giàu thêm tri thức vềthiên nhiên, con người và văn hoá, cảm thấy được cái đẹp của thế giới tự nhiên,triết lý nhân văn và nền văn hoá bản địa
Cần đảm bảo sự hợp lý, tối ưu trong đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị hạ tầng dulịch, nhưng ngoài thông lệ quốc tế, còn phải có phần đặc thù của nó Theo cáctuyến, điểm du lịch đã được quy hoạch chi tiết, phải từng bước xây dựng hệthống đường xá, phương tiện vận chuyển, cơ sở lưu trú: khách sạn, nhà hàng,nơi mua sắm; phương tiện thông tin liên lạc theo tiêu chuẩn quốc tế, càng hiệnđại, càng thuận lợi càng dễ thu hút khách Tuy nhiên, bên cạnh phần thông lệquốc tế, trong du lịch còn có những phần cơ sở vật chất, thiết bị hạ tầng mangđậm bản sắc văn hoá dân tộc hấp dẫn du khách Ví như tại các danh thắng, cáckhu cảnh quan phải giữ được con đường gập ghềng uốn khúc qua các sườn núi,ven sông, lên các hang động, chùa chiền mới là du lịch Không thể hoặc nhấtquyết không được bê tông hoá/gạch hoá/ đá hoá hoàn toàn những con đườngquanh co, uốn lượn, đó là “phần hồn” của điểm du lịch Đánh mất phần hồn ấy,giá trị của của du lịch sẽ bị giảm sút và chất lượng du lịch cũng sẽ bị suy giảm.Hay trong điểm du lịch là các ngôi làng, đô thị cổ, khi quy hoạch, xây dựng phảiđảm bảo không làm tổn hại đến không gian, bảo tồn những con đường cổ, nhà
cổ, cây cầu cổ, chợ, nơi sinh hoạt của cộng đồng cư dân thì điểm này mới khẳngđịnh được những giá trị đặc sắc, riêng có của nó một cách đầy đủ Kể cả trongtrang thiết bị khách sạn, nhà hàng cũng vậy, ngoài phần quốc tế, phải tăng tỷ lệ
cơ sở vật chất, thiết bị hạ tầng mang phong cách riêng như tạo dáng kiến trúc,trang trí nội thất, hoa văn trang trí, các vật dụng làm từ các đồ thủ công truyềnthống như thêu ren, lụa, gốm, đá, cói
Tính dân tộc trong trang trí kiến trúc
Tính văn hoá còn được biểu hiện bởi thái độ ứng xử, hiểu biết rộng, thói quenchính xác khoa học của người môi giới du lịch nhất là người thiết kế sản phẩm
và đặc biệt là hướng dẫn viên du lịch - người trực tiếp đi cùng với khách du lịch/chủ thể du lịch trong suốt chuyến du lịch, là người có nhiệm vụ tìm kiếm cái đẹp
và cung cấp cái đẹp cho du khách
Ngoài ra, phát triển được du lịch phải có một môi trường du lịch tốt (bao gồm cảmôi trường sinh thái tự nhiên và môi trường xã hội nhân văn) Môi trường xã hộinhân văn gồm trình độ phát triển xã hội, trình độ dân trí, mức sống, ý thức tôntrọng pháp luật, kể cả toàn bộ hệ thống thiết chế, luật pháp, cơ chế chính sách.Môi trường xã hội nhân văn thuận lợi, đặc biệt là môi trường pháp lý rõ ràng,
Trang 6phù hợp với thông lệ quốc tế sẽ có tác dụng tích cực trong việc khuyến khích dulịch phát triển.
Du lịch là một hoạt động có sẵn tính văn hoá nhưng suy cho cùng nó vẫn là mộthoạt động kinh doanh cho nên các sản phẩm của nó cũng phải đảm bảo tính vănhoá
Để có một hệ thống sản phẩm - hàng hoá du lịch mang tính văn hoá thì nó phảiđược thể hiện trong toàn bộ chi tiết từ tuyến du lịch, điểm du lịch, phương tiện
du lịch và các dịch vụ… nói chung phải xây dựng được sản phẩm đáp ứng đượchai yêu cầu: Tính đặc sắc và tính biểu trưng của nền văn hoá dân tộc
Không phải bất cứ sản phẩm du lịch nào được khai thác từ văn hoá dân tộc cũngđều mang sẵn tính độc đáo, mặc dù văn hoá bản thân nó đã mang tính đặc thùcho mỗi quốc gia Khai thác những yếu tố mang tính bản sắc, đặc trưng của vănhoá dân tộc để hình thành các sản phẩm du lịch chính là tạo nên những sản phẩmvăn hoá đặc sắc, riêng biệt
Du lịch tới các vùng dân tộc thiểu số đang được thế giới quan tâm bởi ở đó dukhách sẽ được quan sát, tìm hiểu những tập tục, những lối sống cũng như nhữnggiá trị văn hoá đặc sắc, riêng có, hiếm lạ Nhiều nước trên thế giới có các dân tộc
ít người sinh sống Tuy nhiên, ở Việt Nam lại có những lợi thế so sánh trongphát triển du lịch đến với các vùng dân tộc ít người Lợi thế đó được thể hiệntrong sự bảo lưu những nét sơ khai của văn hoá các dân tộc, trong lối sống, tậptục, trong thói quen canh tác hay trong kiến trúc, trang phục, trong sinh hoạt vănhoá nghệ thuật và nghề thủ công truyền thống Đặc biệt những nét văn hoá đó lạiđược hoà quện với không gian sinh thái tự nhiên tuyệt đẹp, trong lành có sứccuốn hút du khách Ngoài ra, nét hấp dẫn của các nền văn hoá các dân tộc
ít người Việt Nam chính là đa dạng trong sự thống nhất của nền văn hoá dântộc Như vậy, đầu tư để phát triển loại hình du lịch tới các vùng dân tộc thiểu sốchính là tạo nên một loại hình du lịch văn hoá độc đáo, đặc sắc của Việt Nam
Du lịch đến các vùng dân tộc thiểu số
Quốc gia nào cũng có hệ thống các đô thị nhưng khi khách đến thủ đô Hà Nộichắc chắn sẽ thấy thích thú, thậm chí bất ngờ, khi đến đây, đến với đô thị, lạigặp những “làng” cổ truyền dân dã Đặc biệt nữa, là những nghề vừa hiếm lạ lạivừa lâu đời cổ kính với “công nghệ” và “quy trình công nghệ” cùng những sảnphẩm đặc biệt của nó - chính là sức mạnh và sức hút quý báu cho du lịch/dukhách Thêm nữa, phần lớn những làng nghề đặc sắc như thế này, ở dạng tổngthể, tổng hoà của nó, đều là những “làng văn hiến thi thư” với những phongcảnh - phong tục (mà hàng đầu là lễ hội) phong phú và hấp dẫn Du lịch chắc
Trang 7chắn tìm được điểm lý tưởng ở đây: một sản phẩm du lịch văn hoá đặc sắc đầysức hấp dẫn.
Cũng như vậy, du lịch sinh thái đang được cả thế giới quan tâm và hướng tới ởnhiều quốc gia nguồn tài nguyên tạo dựng loại sản phẩm này rất phong phúnhưng riêng chỉ ở Việt Nam mới thể hiện hệ sinh thái nông nghiệp nông thônvùng nhiệt đới gió mùa vô cùng đa dạng, độc đáo với những đồng ruộng, mảnhvườn, ao cá, cây trồng, vật nuôi… đi liền với nó là những phương thức sử dụng,bảo vệ đất đai, nguồn nước, động thực vật, cách thức nuôi trồng… cảnh sinhhoạt của những người dân, các phương tiện sản xuất thô sơ và đó là một nguồnnguyên liệu đặc sắc để du lịch Việt Nam tạo nên một sản phẩm du lịch độc đáo.Bản sắc văn hoá của một quốc gia, một địa phương là nền tảng cho việc tạo ranhững sản phẩm biểu trưng có sức hấp dẫn đối với khách du lịch Rõ ràng khôngthể tạo nên những sản phẩm du lịch biểu trưng của Việt Nam bằng việc saochép, vay mượn từ hình mẫu các sản phẩm du lịch của Băngcốc, Bắc Kinh hayMalayxia mà phải từ những giá trị văn hoá đặc trưng của Việt Nam Bởi lẽ vănhoá là nền tảng của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu của sự phát triển dântộc.Việc tạo những sản phẩm du lịch có tính biểu trưng cho nền văn hoá quốcgia có một vai trò quan trọng trong việc xác định hình ảnh của quốc gia đó vàcủa ngành du lịch
Văn hoá du lịch là một phạm trù rộng, thể hiện những giá trị văn hoá của toàn bộhoạt động du lịch Tất cả những hoạt động của từng bộ phận, những sản phẩm
du lịch trong quá trình tạo dựng đều hướng vào mục đích hình thành nên nhữngnét đặc trưng riêng mang bản sắc văn hoá dân tộc, sẽ giúp hình thành nên mộtvăn hoá du lịch đặc trưng riêng cho đất nước
Như vậy, toàn bộ mối quan hệ tổng hoà giữa khách du lịch, khách thể du lịch,môi giới du lịch, sản phẩm du lịch và các thiết chế đã tạo ra một bộ phận vănhoá du lịch Ngày nay, văn hoá du lịch đã trở thành một thành tố mới trongphạm trù văn hoá của mỗi quốc gia
Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch
Trong nhận thức mới của nhân loại, văn hoá được hiểu theo nghĩa rộng là tất cả những gìcon người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội; một hệ thống tổng hoà các giá vật chất và tinh thần, vật thể và phi vật thể, tĩnh và động; là hoạt động sáng tạo cả tinh thần lẫn vật chất, chứ không bó hẹp trong hoạt động tinh thần sáng tạo như cách hiểu trước đây
Trang 8Văn hoá thấm sâu và lan toả rộng ra khắp nơi, tác động trực tiếp lên tất cả các hoạt động của con người, trở thành động lực và mụctiêu của mọi hoạt động xã hội cũng như sự pháttriển kinh tế, trong đó có hoạt động du lịch Nếu thiên nhiên là cái nôi đầu tiên nuôi sống con người, thì văn hoá là cái nôi thứ hai, trong đó toàn bộ đời sống tinh thần của con người được tạo ra, nuôi dưỡng và phát triển Bao nhiêu khát vọng được hình thành và thoả mãn, trong đó có khát vọng được đi tìm cái mới, cái khác trong đời sống thường nhật của mình Nói cách khác văn hóa là nền tảng của
du lịch Mỗi dân tộc có những sự khác nhau trong ăn mặc, nói năng, sinh sống, đi lại, lễ nghi, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng Cùng một dân tộc, nhưng ở các vùng, miền khác nhau thì tính chất, kết cấu, mô thức văn hoá cũng đã khác nhau Chính sự khác nhau đó
là sự hấp dẫn du lịch, tạo ra các loại hình du lịch Sự trường tồn của văn hóa, tính tiên tiến
và bản sắc văn hóa cùng với sự tồn tại và phát triển của nhân loại sẽ quyết định sự phát triển của du lịch
Một nơi muốn trở thành một điểm du lịch thì thuận lợi nhất là phải có tài nguyên du lịch hấp dẫn, được sử dụng để phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch Đối với phần lớn
du khách, chính sự hấp dẫn của điểm du lịch mới là động cơ thúc đẩy họ đi du lịch chứ không phải là tiện nghi của khách sạn hay khu
du lịch Chỉ những điểm du lịch hấp dẫn, an toàn và thân thiện, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế
về vệ sinh, an ninh và chất lượng, mới thu hút được khách du lịch, mới có thể thành công cả trong hiện tại và tương lai, hay nói một cách khác là mới phát triển bền vững được
Tài nguyên du lịch tự nhiên của nước ta rất đa dạng, phong phú; vị trí địa lý thuận lợi cho việc đi lại của khách cả đường bộ, đường không và đường thuỷ là những thế mạnh của Việt nam Song, tài nguyên du lịch nhân văn mang đậm nét bản sắc dân tộc của công động
54 dân tộc trên đất Việt, công cuộc đổi mới đất nước thu được nhiều thành tựu, kinh tế phát
Trang 9triển, chính trị ổn định, đường lối đối ngoại đa dạng hoá, đa phương hoá, muốn làm bạn với tất
cả các nước, càng nhân lên sức hấp dẫn du lịch.Trên 4 vạn di tích, trong đó có 4 di sản văn hoá Thế giới, khoảng 3.000 di tích cấp quốc gia đã được xếp hạng (79,3% số di tích xếp hạng quốcgia là phân bố ở Bắc Bộ, 14,4% ở Nam Bộ và 6,3% ở Trung Bộ), khoảng 3.000 làng nghề truyền thống, trên 1.000 lễ hội đang hoạt động, hoạt động văn hóa văn nghệ dân gian, ca múa nhạc dân tộc truyền thống (rối nước, chèo, tuồng cổ, phong tục tập quán ) và nhiều thiết chế văn hóa khác là những nguồn tài nguyên dulịch đặc sắc của đất nước
Du lịch có mối quan hệ mật thiết đối với văn hoá Văn hoá tạo ra sức hấp dẫn du lịch Bản thân tài nguyên du lịch nhân văn là sự thể hiện của văn hoá xã hội Cảnh quan thiên nhiêncũng là sự hấp dẫn du lịch quan trọng khác, tuy
do tự nhiên tạo ra ban đầu, nhưng muốn khai thác được phải có sự đầu tư tôn tạo của bàn tay con người Do đó, cảnh quan thiên nhiên khôngtách rời khỏi cảnh quan nhân văn, mà phải thống nhất trong hệ thống văn hoá hoàn chỉnh mới có sức hấp dẫn du lịch lâu dài và bền vững
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch là do con người tạo ra nên
nó mang tính văn hoá Cộng đồng dân cư nơi khách đến, nhân viên làm du lịch đều cần phải
có trình độ văn hoá nhất định nào đó mới có thểphục vụ được khách du lịch, mới có thể sáng tạo được môi trường du lịch tốt
Được “xây” trên nền văn hóa, phát triển phải dựa trên nền tảng văn hóa, nhưng du lịch không thụ động mà có những tác động trở lại văn hóa, phát triển vì mục tiêu văn hóa, góp phần bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa Trong sự phát triển của lịch sử nhân loại, văn hoá xã hội của các vùng, miền, các dân tộc, các khu vực có sự giao lưu, thâm nhập,giao thoa với nhau Bên cạnh sự giao lưu ngày càng tăng giữa các nền văn hoá trên thế giới nhờ vào sự phát triển của giao thông, thông tin liên lạc, ngoại giao và thương mại, thì hoạt động du lịch thúc đẩy hoạt động giao lưu văn
Trang 10hoá một cách trực tiếp và nhanh nhất Bởi lẽ, một mặt nhu cầu du lịch là sự mong muốn đượcthoả mãn sự tìm hiểu các nền văn hoá khác, thôi thúc con người đi du lịch để giao lưu; mặt khác du lịch là hoạt động thực tiễn của con người, theo nghĩa rộng, nó thuộc về phạm trù văn hoá, là một hoạt động văn hoá mang tính cao cấp, xuất hiện và xếp sau các hoạt động văn hóa đáp ứng nhu cầu sống thường nhật của con người.
Như vậy, du lịch là một hoạt động văn hoá mang tính tổng hợp và xã hội hoá cao Mọihoạt động của nó đều theo đuổi hoặc chứa đựngmột loại hình, một hình thức văn hoá nào đó
Dù ý thức hoặc vô thức từ phía người làm du lịch, văn hoá đều phải xuyên suốt các mặt hoạt động của du lịch Các nhu cầu du lịch chủ yếu bao gồm đi lại, ăn uống, lưu trú, mua sắm, tham quan, vui chơi giải trí đều chứa đựng đặc trưng văn hoá Trong ăn uống, lưu trú, đi lại, mua sắm không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt bình thường mà còn là sự khám phá, thưởng thức, trải nghiệm; tham quan và vui chơi giải trí
là nhu cầu đặc trưng của chuyến đi du lịch càngthể hiện rõ nét hơn tính văn hoá Tất cả các dịch vụ và hàng hoá du lịch đáp ứng được các nhu cầu này có giá trị đối với khách du lịch ở chỗ nó thoả mãn được các nhu cầu tìm đến cái mới, cái khác biệt của nơi họ đến du lịch so vớinơi ở thường ngày của mình, giúp cho du kháchtìm được cái đáp ứng khát vọng hướng tới cái chân, cái thiện, cái mỹ, ba trụ cột vĩnh hằng của
sự phát triển văn hoá nhân loại
Ai cũng biết rằng, du lịch tuy phải dựa vào kinh
tế để có cơ sở vật chất kỹ thuật cho các hoạt động du lịch và bản thân du lịch cũng là một ngành kinh tế tổng hợp, nhưng nhìn tổng thể vàxét cho đến cùng thì du lịch là một hoạt động văn hoá Tính văn hoá của du lịch, hay nói gọn
là văn hoá du lịch, không phải là phép cộng đơn thuần giữa văn hoá với du lịch mà là hình thái văn hoá trong lĩnh vực du lịch, có nội dungxác định Văn hoá du lịch là một hình thức văn hoá xã hội đặc thù, do hoạt động du lịch sinh rahoặc liên quan mật thiết với nó Văn hoá du
Trang 11lịch sẽ phát triển cùng với sự phát triển của du lịch.
Hoạt động du lịch sẽ góp phần giới thiệu, giá trị nền văn hoá độc đáo của Việt Nam mấy nghìn năm văn hiến thông qua xúc tiến du lịch,
tổ chức tạo sản phẩm phục vụ khách và tổ chứccác chương trình du lịch Bằng các ấn phẩm quảng cáo xúc tiến, vẻ đẹp về đất nước, con người Việt Nam sẽ được giới thiệu trong và ngoài nước Trong quá trình hoạt động, ngành
Du lịch phải làm cho sản phẩm, dịch vụ của mình chứa đựng ngày càng tăng hàm lượng vănhoá ngay từ xây dựng các công trình du lịch, tổ chức các dịch vụ khách sạn, hướng dẫn, giới thiệu tham quan, vui chơi giải trí và cả trong thái độ phục vụ khách Như vậy không phải chỉ có ngành Du lịch giới thiệu nền văn hoá Việt Nam với khách, mà các ngành, địa phương
và nhân dân nơi khách đến đều phải có trách nhiệm và truyền tải được giá trị độc đáo của bản sắc văn hóa nước ta đến với du khách quốc
tế và đặc trung riêng có của văn hóa mỗi vùng, miền, dân tộc đến với khách du lịch nội địa.Trong chuyến đi của mình, khách du lịch
Trang 12văn hoá dân tộc, bảo vệ và phát triển môi trường tự nhiên và xã hội Du lịch quốc tế có vai trò quan trọng trong giáo dục tinh thần quốc
tế, làm cho mọi người thấy cần thiết phải phát triển và củng cố các mối quan hệ quốc tế, làm cho các dân tộc gần gũi nhau hơn, góp phần bình thường hoá quan hệ, giữ gìn, củng cố hoà bình và tăng thêm tình hữu nghị giữa các dân tộc, tăng cường sự hợp tác, hội nhập trên mọi lĩnh vực vì lợi ích phát triển chung
Văn hóa và du lịch có mối quan hệ khá khăng khít, luôn tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình phát triển Mới đây rộ lên những hành vi vô văn hóa làm ảnh hưởng xấu tới du lịch như nạn "chặt chém" du khách, tăng giá thuê
phòng, giá dịch vụ một cách phi lý, giá một cốc nước giải khát bình thường lên tới hàng trăm nghìn đồng, đi xích-lô một quãng đường ngắn cũng lên đến tiền triệu, đi ta-xi thì bị đưa vòng vèo, gian lận số đo đi đường, lấy giá tùy tiện.Trong khi đó, việc đi lại thiếu an toàn, đã xảy ra cướp giật giữa chỗ đông
người, rồi tai nạn, đeo bám du khách, chèo kéo mua hàng lưu niệm không có giá trị mà lại lấy giá đắt Văn hóa giao thông cũng rất kém khi người, xe tham gia giao thông thường vi phạm luật đi đường, chen lấn, tranh giành nhau đi, gây ra ùn tắc và tai nạn giao thông Tất cả những hiện tượng đó để lại ấn tượng khó chịu, nặng nề cho du khách Không ít du khách nước ngoài đến nước
ta một lần và không bao giờ quay trở lại Rõ ràng, du lịch đang rất cần đến một môi trường văn hóa lành mạnh để phát triển bền vững Ở đó con người lịch sự văn minh, thân thiện; ở đó du khách có thể thoải mái cảm nhận được vẻ đẹp đấtnước và con người Việt Nam chúng ta
Nhiều di tích lịch sử, văn hóa và thắng cảnh đã tạo thế mạnh cho du lịch Việt Nam, trong đó có tới 14 di sản vật thể và phi vật thể được UNESCOcông nhận
là di sản văn hóa thế giới Tuy nhiên trong cuộc hội thảo quốc tế "Mười năm thực hiện Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể - Bài học kinh nghiệm vàđịnh hướng tương lai" mới được tổ chức tại tỉnh Quảng Nam, nhiều nhà nghiêncứu đã lên tiếng cảnh báo, nếu tổ chức và quản lý không tốt, du lịch sẽ phá hủy
di sản Bà I-ri-na Bô-cô-va, Tổng Giám đốc UNESCO cho biết: "UNESCO kêugọi cộng đồng LHQ cần làm gì để tiếp cận và bảo tồn văn hóa gắn với phát triển bền vững Bởi trong quá trình phát triển nếu không có văn hóa sẽ không
có di sản văn hóa" Ðiều này thể hiện khá rõ nét trong việc tổ chức và quản lý
lễ hội truyền thống ở nước ta Lễ hội truyền thống thường gắn với di tích lịch
sử, văn hóa và thắng cảnh Một số lễ hội đã bị thương mại hóa Cư dân địa phương phụ thuộc hoàn toàn vào du lịch để kiếm sống và giao dịch thương mại Lễ hội trở nên xô bồ, nhếch nhác, che lấp mất giá trị quý giá vốn có của
nó Không ít nơi, di tích bị xâm hại, bị làm mới, mất đi giá trị nguyên gốc Người ta chỉ biết đến lợi ích trước mắt mà không nghĩ đến chuyện lâu dài, khi