1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA DU LỊCH VÀ DU LỊCH VĂN HÓA NHỮNG VẤN ĐỀLÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

116 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối Quan Hệ Giữa Văn Hóa Du Lịch Và Du Lịch Văn Hóa - Những Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn
Tác giả Lê Thị Hải Lý
Người hướng dẫn GS. TS Lê Chí Quế
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Du lịch
Thể loại Luận văn thạc sĩ du lịch
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (6)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (7)
  • 4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (7)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (12)
  • 6. Bố cục của đề tài (12)
  • Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DU LỊCH VÀ (13)
    • 1.1. Một số vấn đề chung về văn hóa du lịch và du lịch văn hóa (13)
      • 1.1.1. lịch Du (0)
        • 1.1.1.1. Khái niệm (13)
        • 1.1.1.2. Phân loại du lịch (15)
      • 1.1.2. Văn hóa (17)
        • 1.1.2.1. Khái niệm (17)
        • 1.1.2.2. Phân loại văn hóa (20)
      • 1.1.3. Du lịch văn hóa (22)
        • 1.1.3.1. Khái niệm (22)
        • 1.1.3.2. Tài nguyên du lịch văn hóa (25)
        • 1.1.3.3. Dịch vụ du lịch văn hóa (26)
        • 1.1.3.4. Mục tiêu và nhiệm vụ của du lịch văn hoá (26)
      • 1.1.4. Văn hóa du lịch (28)
        • 1.1.4.1. Khái niệm (28)
        • 1.1.4.2. Thành tố tạo dựng văn hoá du lịch (34)
        • 1.1.4.3. Những yếu tố khác (39)
        • 1.1.4.4. Những biểu hiện văn hoá du lịch (41)
    • 1.2. Mối quan hệ giữa Văn hóa du lịch và du lịch văn hóa (46)
      • 1.2.1. Bảo vệ tài nguyên du lịch văn hóa (46)
      • 1.2.2. Nâng cao hình ảnh điểm đến (48)
      • 1.2.3. Đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách (49)
      • 1.2.4. Tạo môi trường du lịch văn minh (51)
  • Chương 2. THỰC TIỄN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA DU LỊCH VÀ DU LỊCH VĂN HÓA (54)
    • 2.1. Giới thiệu khái quát về địa bàn nghiên cứu (54)
      • 2.1.1. Tổng quan về khu di tích lịch sử - văn hóa Kim Liên (54)
      • 2.1.2. Tiềm năng du lịch văn hoá của Khu di tích (55)
        • 2.1.2.1. Các di tích lịch sử Cách mạng (55)
        • 2.1.2.2. Các trò chơi, biểu diễn nghệ thuật, âm nhạc (56)
        • 2.1.2.3. Các lễ hội (56)
        • 2.1.2.4. Ngành nghề truyền thống (57)
        • 2.1.2.5. Món ăn dân tộc (57)
    • 2.2. Những biểu hiện mối quan hệ giữa văn hóa du lịch và du lịch văn hóa tại (58)
      • 2.2.1. Giữ gìn tính nguyên gốc và bảo vệ giá trị văn hóa của tài nguyên du lịch văn hóa (58)
        • 2.2.1.1. Quê nội Làng Sen (60)
        • 2.2.1.2. Quê Ngoại - Hoàng Trù (62)
        • 2.2.1.3. Mộ Bà Hoàng Thị Loan (63)
      • 2.2.2. Tạo dựng thương hiệu hình ảnh điểm đến (66)
      • 2.2.3. Tăng khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách (70)
      • 2.2.4. Tạo môi trường du lịch văn minh (75)
  • Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA DU LỊCH VÀ DU LỊCH VĂN HÓA (83)
    • 3.1. Định hướng các cấp về vấn đề này (83)
    • 3.2. Một số giải pháp (86)
      • 3.2.1. Xây dựng hệ thống pháp lý tạo sự gắn kết đối với hai vấn đề này (86)
      • 3.2.2. Xây dựng môi trường văn hóa du lịch trong du lịch văn hóa (87)
      • 3.2.3. Bảo vệ tôn tạo và phát huy di sản văn hóa trong hoạt động du lịch văn hóa 85 (90)
      • 3.2.4. Tuyên truyền giáo dục cho các đối tượng tham gia du lịch (93)
      • 3.2.5. Xây dựng một khu ẩm thực (96)
      • 3.2.6. Nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với việc khai thác các giá trị văn hóa đặc trưng cho phát triển du lịch văn hóa (99)
  • KẾT LUẬN (102)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (105)
  • PHỤ LỤC (109)

Nội dung

Ngày nay du lịch đã trở thành một hoạt động tinh thần quan trọng không thể thiếu trong cuốc sống của con người. Chính vì vậy, lực lượng lao động tham gia vào hoạt động du lịch ngày càng lớn. Nhiều trường Đại học, cao đẳng cũng như trung cấp chuyên nghiệp trong cả nước đã, đang đào tạo và cung cấp nguồn lao động ngành du lịch để đáp ứng nhu cầu lao động ngày càng cao của xã hội. Trong chương trình đào tạo hiện nay ở các trường Đại học, Cao đẳng hay trung cấp chuyên nghiệp chưa có nội dung rõ ràng về văn hóa du lịch và du lịch văn hóa. Trong một số giáo trình, sách tham khảo cũng như trên tạp chí du lịch có chỗ tuy đã có sự phân biệt nhưng chưa rõ ràng; có chỗ chưa đưa ra được sự phân biệt giữa văn hóa du lịch và du lịch văn hóa. Trong thực tiễn hoạt động du lịch ở các điểm du lịch gần như ta chưa thấy được sự gắn kết của mối quan hệ này nhằm tạo sự phát triển bền vững. Với cương vị là một học viên cao học khóa 7 chuyên ngành Du lịch học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, hiện lại đang tham gia công tác giảng dạy tại Trường Đại học Vinh. Vì vậy, tôi thấy việc nghiên cứu “Mối quan hệ giữa văn hóa du lịch và du lịch văn hóa Những vấn đề lý luận và thực tiễn” là vấn đề cấp thiết

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Du lịch văn hóa đã thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả và được nghiên cứu sâu rộng, với nhiều công trình và giáo trình được công bố Đây là một trong ba loại hình du lịch ưu tiên phát triển tại Việt Nam, bên cạnh du lịch sinh thái và du lịch biển đảo Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020, với tầm nhìn đến năm 2030, du lịch văn hóa vẫn được chú trọng phát triển Nhiều tác giả cũng đã tiến hành nghiên cứu và đánh giá hoạt động du lịch văn hóa tại các vùng và địa phương khác nhau.

- Nguyễn Phạm Hùng, Đề tài khoa học trọng điểm nhóm A, Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa vùng Đồng bằng Sông Hồng, 2013.

Học viên Cao học Lê Thị Lan Hương, thuộc chuyên ngành Du lịch học tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đang nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu việc khai thác tài nguyên văn hóa của tỉnh Nghệ An phục vụ hoạt động du lịch”.

Học viên cao học Trần Thị Thu Thủy, thuộc chuyên ngành Du lịch học tại Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, đã thực hiện nghiên cứu về "phát triển du lịch văn hóa Bình Định" vào năm 2010.

Sinh viên Đinh Thị Kim Thùy, thuộc chuyên ngành Văn hóa du lịch tại Đại học Dân lập Hải Phòng, đã thực hiện đề tài nghiên cứu mang tên “Xây dựng một số tuyến du lịch văn hóa huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng” vào năm 2010.

Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu nội dung cơ sở lý luận về Du lịch văn hóa:

- Trần Thúy Anh 2011, Du lịch văn hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB giáo dục Việt Nam.

- Trần Thúy Anh (2011), Khai thác di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch ở Việt Nam, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 12.

- Trần Thúy Anh (2009), Tăng cường gắn kết giữa văn hóa với du lịch, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 8.

- Nguyễn Phạm Hùng (1998), Tượng đài Hà Nội và du lịch văn hóa,

Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 8.

- Đào Duy Tuấn (2009), Lễ hội và vấn đề phát triển du lịch văn hóa ở

Việt Nam, Tạp chí du lịch Việt Nam số 3.

Văn hóa hiện diện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ hoạt động du lịch đến các khía cạnh khác Sự hiện diện này cho thấy vai trò quan trọng của văn hóa trong cuộc sống của con người, điều mà nhiều tác giả đã đề cập đến.

Văn hóa đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển, vì nó được tạo ra bởi con người và ảnh hưởng đến mọi hoạt động của họ Văn hóa không chỉ là sản phẩm của sự sáng tạo mà còn cung cấp năng lượng tinh thần, giúp con người hoàn thiện bản thân hơn.

Văn hóa đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển, vì mọi tiến bộ đều do con người quyết định Nó khơi dậy và phát huy tiềm năng sáng tạo, đồng thời huy động sức mạnh nội sinh của con người để góp phần vào sự phát triển xã hội.

Văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết sự phát triển, giúp phát huy những yếu tố tích cực và hạn chế những yếu tố tiêu cực từ cả nhân tố khách quan lẫn chủ quan Nó tạo ra sự cân bằng và hài hòa giữa các điều kiện bên trong và bên ngoài, đảm bảo cho sự phát triển bền vững và lâu dài.

Trong nền kinh tế thị trường, văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn người lao động phát huy sáng kiến và nâng cao chất lượng sản phẩm Nó dựa trên các chuẩn mực chân, thiện, mỹ để thúc đẩy sự cải tiến kỹ thuật và tay nghề Đồng thời, văn hóa cũng sử dụng giá trị truyền thống và đạo lý dân tộc để hạn chế xu hướng sùng bái hàng hóa và tiền tệ, nhằm ngăn chặn những tác động tiêu cực đến bản chất con người và các mối quan hệ xã hội Việc hạn chế những tiêu cực này chỉ có thể thực hiện được thông qua văn hóa.

Văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, phê phán lối sống thực dụng và tiêu thụ quá mức Nó bao trùm mọi khía cạnh của hoạt động xã hội, từ văn hóa đô thị đến văn hóa nông thôn, văn hóa ứng xử, văn hóa doanh nghiệp và văn hóa trường học Văn hóa nông thôn thể hiện qua sinh hoạt văn hóa đặc trưng của cộng đồng nông nghiệp, với sự phát triển cơ sở vật chất và sự đa dạng trong hoạt động văn hóa Sự nâng cao dân trí và phát triển kinh tế hộ đã tạo điều kiện cho người dân sáng tạo và hưởng thụ văn hóa Đồng thời, văn hóa doanh nghiệp, với các giá trị và quy tắc riêng, ảnh hưởng đến hành vi và tư duy của nhân viên, tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp Dù ở bất kỳ môi trường nào, văn hóa vẫn là nền tảng cốt lõi cho sự phát triển và thành công.

Văn hóa du lịch bao gồm các thuộc tính văn hóa thể hiện qua ba thành tố chính: khách thể du lịch, chủ thể du lịch và yếu tố trung gian kết nối giữa hai bên Các công trình phản ánh hiện tượng du lịch liên quan đến văn hóa đã được ghi nhận và nghiên cứu.

- Lê Huy bá (2006), Du lịch sinh thái, NXB khoa học và kỹ thuật.

- Nguyễn Đình Hòe (2002), Du lịch bền vững, NXB Đại học Quốc gia

-Phạm Trung Lương (2002), Du lịch sinh thái, NXB giáo dục.

-Phan Huy Suy, Vài suy nghĩ về phát triển du lịch bền vững.

Các bài báo liên quan đến du lịch địa phương bao gồm phát triển du lịch bền vững tại Nha Trang - Khánh Hòa, với hội thảo cùng tên diễn ra vào năm 2005, và phát triển du lịch bền vững tại Phong Nha - Kẽ Bàng, cùng với việc quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên.

- hướng phát triển du lịch bền vững tại tỉnh Kiên Giang và cụ thể cho khu vực

Hà Tiên - Đông Hà thể hiện rõ yếu tố văn hóa trong mối liên kết giữa khách thể và chủ thể du lịch Nội dung nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khai thác tài nguyên du lịch một cách có ý thức, nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường, và xây dựng kế hoạch quy hoạch hợp lý Đồng thời, việc quản lý sức chứa du lịch và đào tạo nguồn nhân lực chuyên môn cao cũng là những yếu tố quan trọng Tất cả những yếu tố này tạo nên văn hóa du lịch, đóng vai trò là nhân tố trung gian kết nối giữa chủ thể và khách thể du lịch.

Văn hóa du lịch về mặt lý luận đã được các tác giả nghiên cứu qua một số tài liệu hoặc giáo trình hay bài báo như:

- Trần Diễm Thúy, văn hóa du lịch, NXB văn hóa - thông tin.

- Trần Thúy Anh 2011, Du lịch văn hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB giáo dục Việt Nam.

- Bùi Thanh Thủy (2009), Nội hàm văn hóa du lịch, Tạp chí Du lịch, số 12.

- Nguyễn Văn Bốn (2012), Văn hóa du lịch Việt Nam, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 335.

Mối quan hệ giữa văn hóa du lịch và du lịch văn hóa

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về văn hóa du lịch và du lịch văn hóa, nhưng mối quan hệ giữa hai lĩnh vực này vẫn chưa được khai thác nhiều Hiện tại, chưa có công trình nghiên cứu nào chính thức và toàn diện về vấn đề này.

Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:

- Phương pháp thu thập, tổng hợp và xử lý tư liệu

- Phương pháp khảo sát thực địa

- Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu

- Phương pháp điều tra xã hội học

Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương

Chương 1 trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về văn hóa du lịch và du lịch văn hóa, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ các khái niệm này Chương 2 phân tích thực tiễn mối quan hệ giữa văn hóa du lịch và du lịch văn hóa, làm nổi bật sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau giữa hai lĩnh vực này trong bối cảnh phát triển du lịch hiện đại.

Chương 3 trình bày một số giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ giữa văn hóa du lịch và du lịch văn hóa, từ đó góp phần tạo ra sự phát triển bền vững trong ngành du lịch Việc kết hợp hài hòa giữa các yếu tố văn hóa và du lịch không chỉ nâng cao trải nghiệm của du khách mà còn bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa địa phương Các giải pháp này bao gồm việc phát triển các chương trình du lịch văn hóa đa dạng, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương, và tăng cường quảng bá các di sản văn hóa.

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DU LỊCH VÀ

Một số vấn đề chung về văn hóa du lịch và du lịch văn hóa

Du lịch đã phát triển từ một hiện tượng đơn lẻ của một bộ phận nhỏ dân cư thành một hoạt động phổ biến và quan trọng trong đời sống xã hội Ban đầu, người đi du lịch tự thỏa mãn nhu cầu cá nhân, nhưng sau này, các nhu cầu về đi lại, ăn ở, giải trí đã trở thành cơ hội kinh doanh, biến du lịch thành một hoạt động kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách Ở Việt Nam, Luật Du lịch 2005 định nghĩa du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí và nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định Định nghĩa này không chỉ có tính pháp lý mà còn điều chỉnh nhận thức và hành vi của xã hội về du lịch, phù hợp với thực tiễn hiện hành.

Cũng với cách tiếp cận như trên, Trần Đức Thanh trong “Nhập môn khoa học du lịch” đưa ra cách định nghĩa về du lịch gồm hai phần:

1 Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chổ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng.

2 Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chổ nhận thức về thế giới xung quanh [42,Tr 14].

Tuy nhiên mới đây nhất trong Đề tài khoa học trọng điểm nhóm A về

Nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Phạm Hùng về phát triển du lịch văn hóa vùng Đồng Bằng Sông Hồng mang đến một cái nhìn mới mẻ về khái niệm du lịch Ông định nghĩa du lịch là những hoạt động đa dạng của con người khi rời khỏi nơi cư trú trong một khoảng không gian và thời gian nhất định, nhằm thưởng thức, trải nghiệm và khám phá những điều mới lạ về tự nhiên và văn hóa, từ đó làm phong phú thêm đời sống tâm hồn.

Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố "lạ" trong du lịch, cho rằng du lịch không chỉ là việc cung ứng tài nguyên, sản phẩm hay dịch vụ mà còn phải mang đến sự mới mẻ và khác biệt so với những trải nghiệm hàng ngày của con người Điều này cho thấy rằng để thu hút du khách, các sản phẩm và dịch vụ du lịch cần phải đáp ứng nhu cầu về sự độc đáo và sáng tạo.

Du lịch là một hoạt động di chuyển khỏi nơi cư trú thường xuyên của con người, không mâu thuẫn với các khái niệm khác nhau mà nhấn mạnh các khía cạnh riêng Theo Trần Đức Thanh, du lịch không chỉ là một ngành kinh tế mang lại lợi nhuận mà còn là hoạt động xã hội nâng cao sức khỏe và nhận thức cho người đi du lịch Luật Du lịch định nghĩa du lịch là hoạt động xã hội nhằm nâng cao sức khỏe, tham quan, tìm hiểu và nghỉ dưỡng PGS.TS Nguyễn Phạm Hùng nhấn mạnh rằng du lịch còn là hoạt động thưởng thức, trải nghiệm và khám phá, đặc biệt chú trọng vào tính lạ và tính mới của điểm đến.

Theo Trần Đức Thanh trong “Nhập môn khoa học du lịch”, hiện nay, các chuyên gia du lịch Việt Nam phân loại các loại hình du lịch dựa trên những tiêu chí cơ bản sau đây.

Phân loại theo tài nguyên môi trường

Tùy vào môi trường tài nguyên mà hoạt động du lịch được chia thành hai nhóm lớn là du lịch văn hóa và du lịch thiên nhiên.

Du lịch văn hóa là hoạt động du lịch diễn ra trong môi trường nhân văn, tập trung vào việc khai thác tài nguyên văn hóa Ngược lại, du lịch thiên nhiên đưa du khách đến những địa điểm có môi trường tự nhiên trong lành và cảnh quan hấp dẫn, nhằm đáp ứng nhu cầu trở về với thiên nhiên Các loại hình du lịch tiêu biểu trong du lịch tự nhiên bao gồm du lịch biển, du lịch núi và du lịch nông thôn.

Phân loại theo mục đích chuyến đi

Mục đích của chuyến đi là động lực chính thúc đẩy hoạt động du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu của con người Phân loại này thường được gọi là phân loại dựa trên động cơ hoặc nhu cầu của du khách.

Chuyến đi của con người không chỉ đơn thuần là để nghỉ ngơi và giải trí, mà còn có nhiều mục đích khác như học tập, công tác, hội nghị và tôn giáo Trong những chuyến đi này, nhiều người thường sử dụng các dịch vụ du lịch như lưu trú và ăn uống tại khách sạn, nhà nghỉ Đồng thời, họ cũng tận dụng thời gian rảnh để tham quan và khám phá những giá trị thiên nhiên và văn hóa tại địa điểm mình đến Do đó, có thể coi đây là những chuyến du lịch kết hợp trong hành trình của họ.

Phân loại theo lãnh thổ hoạt động

Các học giả người Mỹ Mc Intosh và Goelder đã sử dụng tiêu chí này để phân loại như sau:

Du lịch quốc tế (International Tourism) liên quan đến chuyến đi vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ (biên giới) quốc gia của khách du lịch.

Du lịch quốc tế đến (đón khách) là chuyến đi của người nước ngoài đến tham quan du lịch.

Du lịch quốc tế đi (gửi khách) là chuyến đi của người trong nước ra tham quan du lịch ở nước ngoài.

Du lịch trong nước là chuyến đi của những cư dân chỉ trong phạm vi quốc gia của họ.

Du lịch nội địa bao gồm du lịch trong nước và du lịch quốc tế đến

Du lịch quốc gia bao gồm du lịch nội địa và du lịch ra nước ngoài Các cách phân loại khác

Ngoài ba cách phân loại phổ biến nói trên còn có rất nhiều cách phân chia du lịch thành các thể loại khác Đó là:

Căn cứ vào đặc điểm địa lý của nơi đến du lịch bao gồm du lịch biển, du lịch núi, du lịch thành phố, du lịch nông thôn.

Dựa trên các phương tiện giao thông, du lịch có thể được phân loại thành nhiều hình thức như du lịch bằng xe đạp, xe máy, ô tô, tàu hỏa, tàu thủy và máy bay.

Căn cứ vào loại hình lưu trú bao gồm du lịch ở khách sạn, nhà trọ, motel, bungalow,bãi cắm trại và làng du lịch.

Căn cứ vào thời gian du lịch bao gồm du lịch dài ngày và du lịch ngắn ngày.

Căn cứ vào lứa tuổi bao gồm du lịch thiếu niên, du lịch thanh niên, du lịch trung niên và du lịch cao niên.

Căn cứ vào hình thức tổ chức du lịch bao gồm du lịch theo đoàn, du lịch gia đình và du lịch cá nhân.

Căn cứ vào phương thức hợp đồng bao gồm du lịch trọn gói và du lịch từng phần.

Văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn trong đời sống con người, với nhiều định nghĩa khác nhau do trình độ nhận thức, mục đích và động cơ của mỗi người Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh định nghĩa văn hóa là toàn bộ những sáng tạo và phát minh của con người, bao gồm ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật và các công cụ sinh hoạt hàng ngày Phạm Văn Đồng cũng nhấn mạnh rằng văn hóa là một lĩnh vực phong phú, liên quan đến con người trong quá trình tồn tại và phát triển, bao gồm hệ thống giá trị, tư tưởng, tình cảm, đạo đức, trí tuệ, tài năng, và ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng.

Văn hóa được định nghĩa là những yếu tố đối lập với thiên nhiên, do con người sáng tạo ra từ tư tưởng, tình cảm đến ý thức và sức đề kháng của mỗi cá nhân, mỗi dân tộc Nguyễn Đức Từ Chi phân tích văn hóa từ hai góc độ: góc độ hẹp, hay “góc nhìn báo chí”, coi văn hóa là kiến thức của con người và xã hội, nhưng ông cho rằng cách hiểu này không đầy đủ, vì người nông dân giỏi cày ruộng nhưng không biết chữ vẫn bị xem là “không có văn hóa” Góc nhìn thứ hai, “góc nhìn dân tộc học”, xem văn hóa là toàn bộ cuộc sống vật chất, xã hội và tinh thần của từng cộng đồng, với sự khác biệt giữa các nền văn hóa của các tộc người khác nhau trong những môi trường sống khác nhau Văn hóa cũng bị chi phối mạnh mẽ bởi sự kiểm soát của xã hội.

Theo Trần Ngọc Thêm, từ “văn hóa” mang nhiều nghĩa khác nhau Trong tiếng Việt, văn hóa thường được hiểu là trình độ học thức và lối sống, cũng như chỉ mức độ phát triển của các giai đoạn lịch sử như văn hóa Đông Sơn Ông định nghĩa văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.

Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam và quốc tế đã áp dụng định nghĩa văn hóa của UNESCO năm 1994 Theo đó, văn hóa được hiểu là tổng thể các đặc trưng tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc của một xã hội hoặc nhóm người Văn hóa bao gồm nghệ thuật, văn chương, lối sống, quyền cơ bản của con người, hệ thống giá trị, tập tục và tín ngưỡng.

Mối quan hệ giữa Văn hóa du lịch và du lịch văn hóa

1.2.1 Bảo vệ tài nguyên du lịch văn hóa

Theo Luật Du lịch Việt Nam, tài nguyên du lịch bao gồm cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, và các công trình lao động sáng tạo của con người Những tài nguyên này có thể được sử dụng để đáp ứng nhu cầu du lịch và là yếu tố cơ bản trong việc hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, và đô thị du lịch.

Tài nguyên du lịch văn hóa là yếu tố quan trọng trong việc phát triển du lịch, đóng vai trò như "bột để gột nên hồ" Việc bảo vệ và duy trì tài nguyên văn hóa là nhiệm vụ hàng đầu để đảm bảo sự bền vững của các nền văn hóa và tài nguyên thiên nhiên Du lịch văn hóa không chỉ khai thác tài nguyên mà còn chú trọng đến việc bảo tồn và tôn tạo chúng Các cơ sở vật chất phục vụ du lịch văn hóa cần phản ánh văn hóa địa phương và giữ nguyên giá trị gốc Hình thức tổ chức chương trình du lịch văn hóa cũng khác biệt, với sự chú trọng vào bảo vệ tài nguyên Những hoạt động như lễ hội cần được thực hiện đúng cách để không làm mất đi giá trị nguyên gốc Trường hợp làng cổ Đường Lâm là ví dụ điển hình cho việc trùng tu không đúng cách, dẫn đến việc giảm sút lượng khách du lịch do mất đi giá trị văn hóa vốn có.

1.2.2 Nâng cao hình ảnh điểm đến Để khách du lịch một đi không trở lại với một điểm du lịch là dễ nhưng để họ trở lại lần hai, lần ba hay lần thứ n thật không dễ chút nào Tại sao một vùng quê nhỏ ở Nhật bản có tên là yufuin lại thu hút được khách du lịch như vậy Qua phỏng vấn có trên 10% du khách đã tìm đến địa chỉ này trên 10 lần, 70% khách quay lại 2 lần Xét về mặt tiềm năng du lịch, đây chỉ là một làng nhỏ… Những người làm du lịch ở đây đã tự tạo ra được những cái đặc sắc, mới lạ, tạo nên tính riêng biệt của điểm đến này Làng làm du lịch dựa trên tiêu chí tự cung tự cấp Làng tự tạo ra các sản phẩm thủ công truyền thống làm quà lưu niệm; tất cả chén bát hay đồ dùng phục vụ nhu cầu ăn uống của du khách đều do người trong làng làm ra và có in logo riêng; rau củ quả và các loại thực phẩm dành cho khách du lịch đến yufuin đều do chính người trong làng cung cấp…Tất cả chúng tạo nên cái riêng, cái khác biệt của điểm du lịch nói trên và thu hút được số lượng lớn du khách trở lại đây Chính trong quá trình khai thác và phát triển du lịch văn hóa ở yufuin, hình ảnh điểm đến đã từng bước được xây dựng và nâng cao.

Tại Hội nghị Ban chỉ đạo nhà nước về Du lịch - kỳ họp thứ nhất năm

Vào năm 2014, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng và quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam với khẩu hiệu “an toàn, thân thiện, chất lượng và hiệu quả” Mục tiêu chính của du lịch văn hóa là tạo ra hình ảnh độc đáo cho các điểm du lịch thông qua các chương trình đặc sắc và mới lạ, nhằm gây ấn tượng với du khách Việc truyền thông trực tiếp qua trải nghiệm của du khách sẽ giúp quảng bá sự thân thiện và tính riêng biệt của quốc gia Đồng thời, việc gìn giữ các giá trị văn hóa độc đáo và thuần nhất cũng là biểu hiện của văn hóa du lịch Sự khác biệt tại mỗi điểm du lịch không chỉ đến từ các giá trị văn hóa mà còn phản ánh trình độ, thái độ và tính chuyên nghiệp của đội ngũ nhân viên trong ngành du lịch Sự giao thoa giữa du lịch văn hóa và văn hóa du lịch thể hiện rõ nét tại các khu du lịch cụ thể.

1.2.3 Đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách Đáp ứng nhu cầu của du khách là một trong những nhiệm vụ của người làm du lịch nhưng phải là những nhu cầu chính đáng Trong thương trường, khách hàng là thượng đế Trong dịch vụ du lịch, du khách là một loại thượng đế đặc biệt Du khách có thể từ chối sản phẩm ngay khi họ đang tiêu thụ sản phẩm chỉ vì một sơ suất nhỏ làm họ không hài lòng Sản phẩm du lịch là sản phẩm mang cả tính vô hình và hữu hình Nó có thể tăng giá trị khi đáp ứng những nhu cầu nảy sinh tức thì của du khách Do vậy, chiến lược chung của ngành kinh tế du lịch là thõa mãn càng nhiều nhu cầu của khách để thu hút khách [42, Tr 170] Mục tiêu của du lịch văn hóa và văn hóa du lịch không nằm ngoài mục tiêu chung đó Cung cấp sự đa dạng về mặt đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng khách đặc biệt là mở rộng các loại hình dịch vụ bổ sung đồng thời đảm bảo chất lượng của sản phẩm cung cấp Tuy nhiên do là con người, nhất là khi trở thành du khách nên họ có không ít nhu cầu khác nhau. Nhu cầu đó vô cùng phong phú và đa dạng Khách du lịch khác giới có nhu cầu không giống nhau do đặc điểm tâm sinh lý khác nhau Độ tuổi cũng là một yếu tố quyết định sự không giống nhau của nhu cầu du khách Nếu là khách ở độ tuổi thanh thiếu niên thì thường lựa chọn các hoạt động du lịch hướng ngoại, năng động; ngược lại đối tượng khách ở độ tuổi trung niên hoặc người già lại thường hướng tới loại hình du lịch sinh thái, văn hóa hay nghỉ dưỡng Từ nhu cầu đi lại, ăn uống cho đến ngủ nghỉ của khách Châu Âu hoàn toàn khác với khách Châu Á và không giống nhau ở các Quốc gia Nếu là khách Nhật, khi lưu trú tại khách sạn, họ thích được ở tầng áp chót, với khách Trung Quốc, số phòng khách sạn có con số 4 là điều vô cùng cấm kị vì quan niệm 4 là con số tử.

Du lịch văn hóa thu hút nhiều đối tượng với mục đích khác nhau, từ việc tìm hiểu và tham quan đến thỏa mãn nhu cầu tâm linh Nhiều du khách đến với du lịch sinh thái để tận hưởng không khí trong lành và thiên nhiên hoang sơ, trong khi một số khác lại tìm đến các khu bảo tồn và vườn quốc gia để nghiên cứu về các loài cây và động vật Du lịch làng nghề cũng mang lại cơ hội cho du khách khám phá quy trình sản xuất thủ công truyền thống, nhưng không ít người chỉ đơn thuần muốn mua sắm sản phẩm làm quà Do đó, các điểm du lịch cần đa dạng hóa dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng khách và đảm bảo chất lượng sản phẩm cung cấp.

1.2.4 Tạo môi trường du lịch văn minh

Cốt lõi của văn hóa du lịch tại một điểm đến là xây dựng môi trường du lịch văn minh, bao gồm cả môi trường tự nhiên và xã hội Để tạo ấn tượng tốt với du khách, cần thiết phải có một môi trường du lịch an toàn, thân thiện và văn minh Điều này đòi hỏi phải phát triển văn hóa du lịch, với mục tiêu tạo ra không gian trong lành, giúp du khách thoải mái và thỏa mãn nhu cầu Một môi trường du lịch văn minh phải là nơi xanh - sạch - đẹp, không có rác thải bừa bãi và hạn chế ô nhiễm Ngoài ra, điểm đến cần tránh tình trạng chèo kéo, chặt chém khách và các tệ nạn xã hội, đồng thời người dân và nhân viên du lịch phải thể hiện sự thân thiện, cởi mở trong cách ứng xử với du khách.

Tình trạng cướp giật và xâm hại tài sản, tính mạng của du khách đang trở thành thách thức lớn đối với ngành Du lịch Việt Nam, ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh du lịch của nhiều thành phố Mặc dù chính quyền và các đơn vị liên quan đã triển khai nhiều biện pháp, nhưng tình hình vẫn chưa có chuyển biến tích cực, với sự gia tăng các vụ việc vào dịp lễ, tết và các sự kiện văn hóa Điều này đã tác động xấu đến tâm lý của du khách khi đến Việt Nam Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để khắc phục tình trạng này, giúp du khách cảm thấy yên tâm và thoải mái khi du lịch mà không phải lo lắng về an toàn.

Chương 1 tổng luận các vấn đề với vai trò là cơ sở luận cho việc giải quyết nội dung ở các chương tiếp theo như văn hóa, du lịch, du lịch văn hóa, văn hóa du lịch cùng các thành tố tạo nên chúng Nội dung chương 1 cũng tiến hành làm rõ các biểu hiện của mối quan hệ giữa văn hóa du lịch và du lịch văn hóa Quá trình phân tích khẳng định đây là 2 khái niệm khác nhau, không đồng nhất Du lịch văn hóa là một loại hình du lịch lấy điểm đến là yếu tố văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu du khách với mục đích nhằm bảo tồn các giá trị văn hóa như lễ hội, di tích, phong tục tập quán của các cộng đồng người, các loại hình nghệ thuật hay làng nghề Văn hóa du lịch là một khoa học với mục đích nghiên cứu và khai thác các giá trị văn hóa phục vụ hoạt động du lịch hay nói một cách khác văn hóa du lịch là sự vận dụng văn hóa học trong hoạt động du lịch (là sự thể hiện văn hóa trong du lịch), là thuộc tính văn hoá trong các thành tố khách thể du lịch (tài nguyên du lịch), chủ thể du lịch (khách du lịch), trong các đơn vị làm du lịch Ngoài ra còn một số nhân tố khác nữa như môi trường du lịch, sản phẩm du lịch, cách thức quản lý Văn hóa du lịch được biểu hiện ở văn hóa của người đi du lịch, người làm du lịch, tính nguyên gốc, giá trị chứa đựng của tài nguyên du lịch, sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng về văn hoá và môi trường pháp lý, môi trường du lịch Như vậy, du lịch văn hóa và văn hóa du lịch là 2 khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ biện chứng với nhau Hoạt động du lịch văn hóa làm được tốt sẽ tạo tiền đề cho việc nghiên cứu văn hóa du lịch tốt; ngược lại, có văn hóa du lịch tốt sẽ giúp cho việc thực hiện tốt hoạt động của loại hình du lịch văn hóa Mối quan hệ giữa du lịch văn hóa và văn hóa du lịch không thể tách rời bởi cùng đi tới mục đích bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch; nâng cao hình ảnh điểm đến; đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, tạo dựng hệ thống các sản phẩm du lịch văn hoá có chất lượng, độc đáo, khác lạ và môi trường du lịch văn minh Mối quan hệ này sẽ được minh chứng qua nghiên cứu thực tiễn từ trường hợp khu di tích Kim Liên – Nam Đàn, Nghệ An.

THỰC TIỄN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA DU LỊCH VÀ DU LỊCH VĂN HÓA

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA DU LỊCH VÀ DU LỊCH VĂN HÓA

Ngày đăng: 27/06/2023, 09:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2000),Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb VHTT, Hà Nội 2. Minh Anh, Hải Yến (biên soạn) (2006), Cẩm nang Du lịch Việt Nam,Nxb thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 2000
3. Trần Thúy Anh (2011), Du lịch văn hóa - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch văn hóa - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Thúy Anh
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
4. Trần Thúy Anh (2011), Khai thác di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch Việt Nam, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch Việt Nam
Tác giả: Trần Thúy Anh
Nhà XB: Tạp chí Du lịch Việt Nam
Năm: 2011
5. Trần Thúy Anh (2009), Tăng cường gắn kết giữa văn hóa và du lịch, Tạp chí du lịch Việt Nam, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường gắn kết giữa văn hóa và du lịch
Tác giả: Trần Thúy Anh
Nhà XB: Tạp chí du lịch Việt Nam
Năm: 2009
6. Lê Huy Bá (2006), Du lịch sinh thái, Nxb Khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái
Tác giả: Lê Huy Bá
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 2006
7. Vũ Thế Bình (2008), Một số vấn đề về du lịch văn hóa ở Việt Nam (trong một con đường tiếp cận di sản), Cục Di sản văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về du lịch văn hóa ở Việt Nam (trong một con đường tiếp cận di sản)
Tác giả: Vũ Thế Bình
Nhà XB: Cục Di sản văn hóa
Năm: 2008
8. Bộ văn hóa, thể thao và du lịch (2011), Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Bộ văn hóa, thể thao và du lịch
Năm: 2011
9. Nguyễn Văn Bốn (2012), “Văn hóa du lịch Việt Nam”, Tạp chí văn hóa Nghệ Thuật, số 335, Tr. 35 - 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa du lịch Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Bốn
Nhà XB: Tạp chí văn hóa Nghệ Thuật
Năm: 2012
10. Chỉ thị vê “Cải thiện môi trường Văn hóa du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Phước số 19/213/CT - UBND tỉnh Bình Phước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải "thiện môi trường Văn hóa du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Phước số 19/213/CT
11. Quang Đạm (chủ biên), Nguyễn Bá Mão (1990), Lịch sử huyện Nam Đàn, Ban Đồng hương huyện Nam Đàn tại Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử huyện Nam Đàn
Tác giả: Quang Đạm, Nguyễn Bá Mão
Nhà XB: Ban Đồng hương huyện Nam Đàn tại Hà Nội
Năm: 1990
12. Ninh Viết Giao (2005), Nam Đàn quê hương Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Nxb Tổng hợp TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Đàn quê hương Chủ Tịch Hồ Chí Minh
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Tổng hợp TP.HCM
Năm: 2005
13. Ninh Viết Giao (2005), Nghệ An di tích lịch sử văn hóa, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An di tích lịch sử văn hóa
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2005
14. Nguyễn Phạm Hùng (2013), Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa vùng Đồng Bằng Sông Hồng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa vùng Đồng Bằng Sông Hồng
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
15. Nguyễn Phạm Hùng (1998), Tượng Đài Hà Nội và du lịch văn hóa, Tạp chí du lịch Việt Nam, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tượng Đài Hà Nội và du lịch văn hóa
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Nhà XB: Tạp chí du lịch Việt Nam
Năm: 1998
16. Nguyễn Đình Hòe (2002), Du lịch bền vững Nxb Đại hoc Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hòe
Nhà XB: Nxb Đại hoc Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
17. Chu Trọng Huyến (2007), Kể chuyện về gia thế Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Nxb thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện về gia thế Chủ Tịch Hồ Chí Minh
Tác giả: Chu Trọng Huyến
Nhà XB: Nxb thuận Hóa
Năm: 2007
18. Lê Thị Lan Hương (2010), “Tìm hiểu việ khai thác tài nguyên du lịch Văn hóa của Tỉnh Nghệ An phục vụ hoạt động du lịch” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu việ khai thác tài nguyên du lịch Văn hóa của Tỉnh Nghệ An phục vụ hoạt động du lịch
Tác giả: Lê Thị Lan Hương
Năm: 2010
19. Khu di tích Kim Liên (1996), Di tích lưu niệm Chủ Tịch Hồ Chí Minh tại Quê hương, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lưu niệm Chủ Tịch Hồ Chí Minh tạiQuê hương
Tác giả: Khu di tích Kim Liên
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
20. Khu di tích Kim Liên (1995), Quê hương trong lòng Bác, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quê hương trong lòng Bác
Tác giả: Khu di tích Kim Liên
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
21. Đinh Trung Kiên (2004), Một số vấn đề về Du lịch Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về Du lịch Việt Nam
Tác giả: Đinh Trung Kiên
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w