1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

HỢP TÁC “NHÀ NƯỚC – NHÀ TRƯỜNG – NHÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG DU LỊCH” TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH ĐÁP ỨNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀ DU LỊCH

7 11 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 243,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội thảo Du lịch“Liên kết đào tạo du lịch trong bối cảnh thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID 19”, Trường Đại học Thủy lợi 2022 99 HỢP TÁC “NHÀ NƯỚC – NHÀ TRƯỜNG – NHÀ SỬ DỤNG L.

Trang 1

HỢP TÁC “NHÀ NƯỚC – NHÀ TRƯỜNG – NHÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG DU LỊCH”

TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH ĐÁP ỨNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀ DU LỊCH

ThS Phạm Văn Long

Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng Email: phamvanlongncs@gmail.com

Tóm tắt: Phát triển nguồn nhân lực du lịch luôn được xác định là một giải pháp căn bản trong phát triển

du lịch Bối cảnh hội nhập quốc tế đặt ra những yêu cầu và thách thức mới đối với nguồn nhân lực du

lịch và đào tạo nguồn nhân lực du lịch Nhà nước - Nhà trường và Nhà sử dụng lao động du lịch là 3 chủ

thể quan trọng, không thể thiếu và tách rời nhau trong phát triển nguồn nhân lực du lịch Nhận diện vai

trò từng chủ thể, mối liên kết giữa các chủ thể để tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo,

góp phần phát triển nguồn nhân lực du lịch đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng và hợp ý về cơ cấu

Hoạt động đào tạo du lịch không thể thiếu sự tham gia của cả ba chủ thể Do đó, cần có giải pháp thúc

đẩy mối liên kết, hợp tác ba nhà trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế để đáp ứng yêu cầu phát

triển ngành Du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Từ khóa: Du lịch; Đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực du lịch; hội nhập quốc tế; Hợp tác nhà

nước – nhà trường – nhà sử dụng lao động du lịch

1 Đặt vấn đề

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang đậm tính văn hóa, có tính liên ngành, liên vùng,

xã hội hóa cáo và đặc biệt có khả năng hội nhập quốc tế sâu, rộng Hội nhập quốc tế đem đến cho Việt

Nam nhiều cơ hội, song cũng tiềm ẩn những thách thức đối với ngành Du lịch Việt Nam Hội nhập quốc

tế là tiền đề quan trọng thúc đẩy bước ngoặt phát triển của Du lịch Việt Nam với sự tăng trưởng mạnh mẽ

của khách du lịch quốc tế, thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào lĩnh vực du lịch dịch vụ và tạo sự

dịch chuyển lao động du lịch quốc tế và cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với nguồn nhân lực du lịch

Việt Nam về cả quy mô, cơ cấu và chất lượng Cạnh tranh du lịch ở phạm vi khu vực và toàn cầu trở

thành xu hướng tất yếu trong hội nhập quốc tế Tính đặc thù của sản phẩm du lịch cho thấy tầm quan

trọng của nguồn nhân lực du lịch trong quá trình cung ứng dịch vụ du lịch cho du khách

Thực tiễn cho thấy, nguồn nhân lực du lịch Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế, bất cập như tỷ lệ

lao động du lịch qua đào tạo về du lịch còn thấp, tình trạng thiếu nhân lực, nhất là vào thời kỳ “cao điểm”

của mùa vụ du lịch diễn ra phổ biến, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, thiếu đội ngũ quản lý, quản trị

doanh nghiệp chất lượng cao… Đào tạo nguồn nhân lực du lịch là một trong những giải pháp quan trọng

bậc nhất, quyết định phát triển nguồn nhân lực du lịch Để nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo du lịch,

ngoài việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và nhà giáo du lịch, đồng bộ và hiện đại hóa cơ sở

vật chất, thiết bị phục vụ đào tạo, đổi mới nội dung đào tạo và phương pháp đào tạo, cần chú trọng mối

liên kết giữa Nhà nước – Nhà trường – Nhà sử dụng lao động du lịch (liên kết 3 nhà) Trong thời gian

qua, liên kết “ba nhà” đã có một số kết quả tích cực, góp phần quan trong trong nâng cao hiệu quả đào tạo

nguồn nhân lực du lịch Việt Nam Trước bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ, hơn nữa với đặc

thù là ngành kinh tế có tính hội nhập cao, đòi hỏi phải có những thay đổi từ nhận thức đến hành động cụ

thể trong hợp tác giữa Nhà nước – Nhà trường và Nhà sử dụng lao động du lịch

Trang 2

2 Kết quả nghiên cứu

2.1 Thực trạng hợp tác giữa Nhà nước – Nhà trường – Nhà sử dụng lao động du lịch

Trong tổng thể mối quan hệ Nhà nước – Nhà trường – Nhà sử dụng lao động du lịch, nhà nước luôn đóng vai trò dẫn dắt, định hướng, kết nối nhằm thúc đẩy phát triển hợp tác giữa các bên có liên qua trong hoạt động đào tạo.Phải khẳng định rằng, trong mọi trường hợp, không thể thiếu chủ thể nhà nước trong hợp tác giữa “Nhà nước – Nhà trường – Nhà sử dụng lao động du lịch” và nhà nước đã thực hiện vài trò,

sứ mệnh của mình thông qua các hoạt động cụ thể, đã góp phần thành công cho công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch trong thời gian vừa qua

Trước hết, có thể thấy nhà nước tham gia hợp tác ba bên thông qua việc ban hành thể chế liên quan đến hoạt động giáo dục, đào tạo nói chung và các quy định cụ thể thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực du lịch làm hành lang pháp lý cho các nhà trường, các nhà sử dụng lao động du lịch tham gia hoạt động đào tạo Hoạt động này của nhà nước thể hiện qua việc ban hành các đạo luật, các quy định từ trung ương đến địa phương nhằm cụ thể hóa các quy định của pháp luật, triển khai cụ thể các chủ trương, chính sách liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực du lịch như Luật Du lịch, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, Quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam, các đề án phát triển nguồn nhân lực du lịch của Ngành

Du lịch và của từng địa phương Một số chính sách cụ thể, trực tiếp tác động đến đào tạo nguồn nhân lực

du lịch như nhà nước đã xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, trọng điểm trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước và của nhiều địa phương Nhiều ngành nghề cụ thể trong du lịch được xác định ngành nghề trọng điểm cấp độ quốc tế, khu vực ASEAN và quốc gia Một số chương trình đào tạo du lịch đã được nhà nước hỗ trợ đầu tư bằng ngân sách ODA hoặc ngân sách nhà nước thông qua Dự

án phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam do Liên minh Châu Âu tài trợ (Dự án EU), Chương trình đào tạo thí điểm các ngành nghề trọng điểm thuộc lĩnh vực du lịch do Chính phủ phê duyệt

Nhà nước đã ban hành một số chính sách khuyến khích nhà sử dụng lao động du lịch (doanh nghiệp) tham gia hoạt động đào tạo như chính sách ưu đãi về đầu tư, về vay vốn và ưu đãi về thuế Tuy nhiên trong thực tế, các chính sách này chưa thực sự hiệu quả, việc thực thi, tiếp cận chính sách còn gặp khó khăn do đó chưa thu hút mạnh mẽ nhà sử dụng lao động du lịch tham gia thực sự vào quá trình đào tạo Nhiều nhà sử dụng lao động du lịch chưa thực sự nhận diện tầm quan trọng của mình trong vai trò là “một chủ thể” không thể thiếu của quá trình đào tạo nguồn nhân lực du lịch, chưa sẵn sàng tham gia hợp tác sâu trong đào tạo Nhà sử dụng lao động du lịch thường mới chỉ tham gia tiếp nhận sinh viên thực tập, tuyển dụng sinh viên làm việc thời vụ hoặc sau tốt nghiệp, hoặc mời nhà trường đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn cho người lao động Một số ít nhà sử dụng lao động du lịch tham gia xây dựng chương trình đào tạo, chuẩn kiến thức, kỹ năng tối thiểu (chuẩn đầu ra), tiêu chuẩn kỹ năng nghề, giảng dạy tại cơ sở đào tạo hoặc hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn tại doanh nghiệp, đánh giá kết quả học tập

Sự vào cuộc mang tính dẫn dắt của nhà nước còn thông qua việc chủ động kết nối nhà sử dụng lao động và nhà trường thông qua việc ký các hợp tác giữa nhà nước và nhà sử dụng lao động, đặc biệt là các tập đoàn lớn hoặc tổ chức đại diện cho doanh nghiệp như việc ký kết hợp tác giữa Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp với Tập đoàn Sun Group, Tập đoàn Vingroup, Công ty cổ phần Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình, Tập đoàn BIM Group, Liên đoàn thương mại và công nghiệp Việt Nam cùng với sự tham gia của một số nhà trường Cơ quan nhà nước ở trung ương, địa phương đã tổ chức một số hoạt động có ý nghĩa đối với hoạt động đào tạo và gắn kết nhà trường, nhà sử dụng lao động như các hội chợ việc làm, ngày hội tư vấn hướng nghiệp, ngày hội tư vấn tuyển sinh, các hội nghị đào tạo theo nhu cầu xã hội Thông qua các chương trình hợp tác, người học của các nhà trường được học nghề, tập nghề và tuyển dụng vào làm việc tại các đơn vị thành viên của các tập đoàn, được hỗ trợ chi phí học tập, học bổng, cơ sở vật chất, thiết

Trang 3

bị, học liệu… Qua khảo sát chọn mẫu một số cơ sở đào tạo chuyên sâu về du lịch thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, một số cơ sở giáo dục đại học có đào tạo về du lịch cho thấy, chưa có nhiều văn bản hợp tác “tay ba” giữa nhà nước – nhà trường – nhà sử dụng lao động trong lĩnh vực du lịch Nội dung hợp tác chủ yếu là của nhà trường – nhà sử dụng lao động thông qua một số hoạt động đã đề cập như đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho người lao động tại doanh nghiệp, doanh nghiệp tiếp nhận sinh viên thực tập, chuyên gia của doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình đào tạo, giảng dạy và đánh giá kết quả học tập của sinh viên, doanh nghiệp tuyển dụng sinh viên sau tốt nghiệp Nhà sử dụng lao động du lịch hợp tác với nhà trường trên cương vị là nhà sử dụng lao động, người học tiếp cận môi trường làm việc thực tiễn chưa có nhiều sự hướng dẫn, đào tạo tại chỗ của chuyên gia, người có tay nghề cao tại doanh nghiệp Nhà sử dụng lao động du lịch chưa nhận diện rõ quá trình người học thực tập tại doanh nghiệp là quá trình đào tạo, doanh nghiệp là cơ sở đào tạo thực tiễn cho người học, chuyên gia, người có tay nghề cao tại doanh nghiệp là “nhà giáo”có thực tiễn nghề nghiệp tốt nhất Cũng chính từ thực tế này cho thấy, khi doanh nghiệp cần lao động thì doanh nghiệp tìm đến nhà trường, khi nhà trường cần doanh nghiệp thì nhà trường tìm đến doanh nghiệp Sự vào cuộc của doanh nghiệp vì mục tiêu tuyển dụng là cốt lõi, chưa tham gia với tư cách là một chủ thể của quá trình đào tạo Qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy, phần lớn các nhà sử dụng lao động du lịch không phải chi trả chi phí đào tạo cho các nhà trường khi tuyển dụng và ngược lại, các nhà trường không phải chi trả chi phí đào tạo tại doanh nghiệp cho nhà sử dụng lao động

Đào tạo theo đơn đặt hàng là một trong những ví dụ điển hình về hợp tác giữa Nhà nước – Nhà trường – Nhà sử dụng lao động du lịch trong thời gian vừa qua Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho người học,

cơ sở đào tạo thực hiện đào tạo, doanh nghiệp đề xuất nhu cầu và tiếp nhận lao động sau đào tạo Hoạt động này đã được triển khai đối với các khóa đào tạo thí điểm cho các chương trình đào tạo chuyển giao

từ một số nước như Úc, Đức mà Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội giữ vai trò là nhà nước đặt hàng Tại một số địa phương, việc đặt hàng đào tạo nguồn nhân lực du lịch bước đầu đã được thực hiện có sự tham gia của nhà nước, cơ sở đào tạo và nhà sử dụng lao động, song phổ biến hơn cả là đặt hàng đào tạo

từ chính doanh nghiệp đối với cơ sở đào tạo Với những chương trình đào tạo đặt hàng trực tiếp từ doanh nghiệp với cơ sở đào tạo thì dường như nhà nước không thể hiện nhiều vai trò

Dự báo nhu cầu nguồn nhân lực du lịch là một trong những nhiệm vụ quan trọng gắn với phát triển nguồn nhân lực du lịch, gắn với đào tạo du lịch đã được thực hiện ở các mức độ khác nhau Ở phạm vị toàn ngành, nhà nước (Tổng cục Du lịch, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã thực hiện dự báo nhu cầu nguồn nhân lực du lịch trên cơ sở Chiến lược và Quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam Tuy nhiên, sự bứt phá của du lịch Việt Nam giai đoạn 2016-2019 và sự khủng hoảng du lịch do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đã làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác dự báo của ngành

Tóm lại, hợp tác ba nhà “Nhà nước – Nhà trường – Nhà sử dụng lao động du lịch” trong thời gian qua đã có những kết quả bước đầu, góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực du lịch Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và gắn với mục tiêu phát triển ngành Du lịch trở thành ngành kinh

tế mũi nhọn, cần phải có nhận thức mới về hợp tác giữa Nhà nước – Nhà trường – Nhà sử dụng lao động trong đào tạo nguồn nhân lực du lịch Cần tăng cường vai trò dẫn dắt trong hợp tác “ba bên” của nhà nước, thúc đẩy sự vào cuộc mạnh mẽ, thực chất của doanh nghiệp, tạo cơ sở vững chắc để nhà trường phát triển đúng hướng, cung ứng nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động du lịch

2.2 Đề xuất giải pháp thúc đẩy hợp tác Nhà nước – Nhà trường – Nhà sử dụng lao động du lịch đáp ứng hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế tác động mạnh mẽ đến hoạt động du lịch ở tất cả các khía cạnh, từ tăng trưởng

Trang 4

lượng khách du lịch đếncác yêu cầu về cơ sở vật chất kỹ thuật tương ứng, chất lượng và sự đa dạng sản phẩm dịch vụ du lịch và đặc biệt là đội ngũ lao động du lịch Đào tạo du lịch là một trong những giải pháp căn cốt, quan trọng nhất trong phát triển nguồn nhân lực du lịch Do đó, hội nhập quốc tế đặt ra những thách thức đối với đào tạo du lịch, vừa phải nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của dịch vụ du lịch cao cấp, vừa phải tăng quy mô đào tạo để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng của Ngành, đặc biệt là tăng trưởng về lượng khách du lịch quốc tế đến Bên cạnh đó, đào tạo du lịch cũng sẽ phải đối mặt với thách thức cạnh tranh của thị trường lao động du lịch trong nước khi có sự dịch chuyển mạnh mẽ của nguồn nhân lực du lịch nước ngoài vào thị trường lao động du lịch Việt Nam Người lao động du lịch Việt Nam cũng cần được trang bị đủ năng lực để tham gia thị trường lao động du lịch khu vực và trên thế giới Hơn nữa, hiện nay tỷ lệ lao động du lịch Việt Nam qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ về du lịch còn thấp, mới đạt khoảng 42% trong tổng số nguồn nhân lực của Ngành, trong đó chủ yếu ở trình độ sơ cấp và dưới ba tháng Đây cũng là một thách thức đối với phát triển nguồn nhân lực du lịch nói chung, với đào tạo du lịch nói riêng Phát triển nguồn nhân lực du lịch cần có nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó có giải pháp về đào tạo và sử dụng lao động du lịch Cần phải có sự vào cuộc quyết liệt hơn của nhà nước để nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo và sử dụng lao động du lịch Trong phạm vi bài viết, tác giả đề cập đến một số giải pháp cụ thể sau:

2.2.1 Nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của các bên liên quan trong mối quan hệ “nhà nước – nhà trường – nhà sử dụng lao động du lịch”

Nhà nước luôn phải đóng vai trò dẫn dắt, kết nối, chỉ huy hoạt động hợp tác giữa ba nhà “nhà nước – nhà trường – nhà sử dụng lao động” thông qua việc ban hành các cơ chế, chính sách hành lang pháp lý đảm bảo quyền và lợi ích, nghĩa vụ của các bên trong đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch Các chính sách tác động trực tiếp đến hoạt động đào tạo, đến hợp tác giữa nhà trường và nhà sử dụng lao động

du lịch cần phải được ban hành kịp thời đảm bảo tính hiệu lực hiệu quả, dễ tiếp cận cho các đối tượng có liên quan Trong đó chú trọng đến chính sách ưu đãi về vay vốn đối với nhà trường, người học và đối với nhà sử dụng lao động tham gia hoạt động đào tạo, sử dụng lao động du lịch Cần cụ thể hóa chính sách ưu đãi về thuế đối với các nhà sử dụng lao động tham gia trực tiếp hoạt động đào tạo du lịch như giảm thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, nguyên vật liệu, trang thiết bị gắn với hoạt động tham gia đào tạo của doanh nghiệp, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với những sản phẩm được tạo ra trong quá trình nhà sử dụng lao động du lịch tham gia hoạt động đào tạo, chính sách đối với chuyên gia, người có tay nghề cao trực tiếp tham gia giảng dạy, hướng dẫn nghề nghiệp cho người học Những nhà sử dụng lao động cam kết tham gia đào tạo nguồn nhân lực du lịch được ưu đãi tiếp cận vốn vay, được giảm lãi suất vay hoặc được nhà nước hỗ trợ lãi suất vay…, được ưu tiên tuyển dụng lao động du lịch đã qua đào tạo hoặc nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao Các Bộ/Ngành và địa phương cần chủ động lan tỏa, tạo kết nối nhà trường và nhà sử dụng lao động thông qua các chương trình hợp tác giữa nhà trường và nhà sử dụng lao động có sự tham gia trực tiếp của cơ quan nhà nước Cụ thể hóa các nội dung hợp tác bằng các hoạt động

cụ thể như phối hợp tổ chức ngày hội tư vấn tuyển sinh, ngày hội việc làm, hội nghị, hội thảo phát triển nguồn nhân lực du lịch…

Trong những trường hợp có biến cố lớn như dịch bệnh, thiên tai ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động của ngành Du lịch, nhà nước cần ban hành chính sách kịp thời hỗ trợ đối với nhà sử dụng lao động, người lao động và nhà trường để duy trì, phát triển hoạt động đào tạo nhằm ổn định nguồn nhân lực của Ngành như chính sách hỗ trợ chi phí đào tạo, hỗ trợ thất nghiệp, vạy vốn ưu đãi, giảm thuế, giãn BHXH… với các thủ tục tinh gọn, dễ tiếp cận

Cần tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức của các cơ quan có liên quan về vai trò đầu tàu, dẫn

Trang 5

dắt, kết nối bằng chính sách của nhà nước trong tương quan hợp tác nhà nước – nhà trường và nhà sử dụng lao động Khi nhận thức đầy đủ về vai trò, trách nhiệm của nhà nước trong việc dẫn dắt, kết nối của nhà nước, các cơ quan cơ liên quan sẽ tham mưu với các cấp, các ngành ban hành và thực thi hiệu quả các chính sách thúc đẩy hợp tác giữa nhà nước – nhà trường và nhà sử dụng lao động du lịch

Nhà trường đóng vai trò chính trong tổ chức thực hiện hoạt động đào tạo, hình thành cho người học những kiến thức, kỹ năng cơ bản, chuyên sâu và có thể tiếp cận được công việc thực tiễn tại doanh nghiệp Để hoạt động đào tạo du lịch của nhà trường gắn với hoạt động kinh doanh của nhà sử dụnglao động lao động du lịch thì “hai nhà” cần chủ động kết nối với nhau trong tất cả các hoạt động đào tạo và gắn với đào tạo như xây dựng chương trình đào tạo, xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề, tham gia giảng dạy, đánh giá kết quả học tập, tư vấn hướng nghiệp, tuyển sinh, nghiên cứu khoa học và đặt hàng đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp Đồng thời, nhà trường và nhà sử dụng lao động cần tăng cường tham mưu, đề xuất với nhà nước về các cơ chế, chính sách phù hợp, tạo động lực và kết nối chặt chẽ hơn nhà

sử dụng lao động với nhà trường Các nhà trường cần thay đổi quan điểm về chia sẻ kinh phí đào tạo với nhà sử dụng lao động trong trường hợp nhà sử dụng lao động đảm nhiệm một phần công việc trong kế hoạch đào tạo

Cần phải thay đổi nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của nhà sử dụng lao động trong mối quan hệ

ba bên “nhà nước – nhà trường – nhà sử dụng lao động” Trên quan điểm, đào tạo phải gắn với thực tiễn, thu hẹp khoảng cách giữa năng lực làm việc của người học khi tốt nghiệp với yêu cầu thực tiễn nghề nghiệp có thể thấy, môi trường làm việc trong doanh nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành năng lực làm việc thực tế cho người học Doanh nghiệp đóng vai trò là ngôi trường đào tạo thực tiễn cho người học Chuyên gia, người có tay nghề cao tại doanh nghiệp là “người thầy” trong thực tiễn của quá trình đào tạo Cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thêm chức năng phục vụ hoạt động đào tạo Với sự tham gia trực tiếp vào hoạt động đào tạo của các nhà

sử dụng lao động, cần phải nhận thức rõ rằng, nhà sử dụng lao động là một chủ thể không thể tách rời của quá trình đào tạo trong bối cảnh hiện nay và cần được chia sẻ kinh phí đào tạo xứng đáng với mức độ tham gia đào tạo.Nhà sử dụng lao động du lịch cần thay đổi quan điểm tuyển dụng, sử dụng lao động du lịch theo hướng “có trách nhiệm hơn” với nguồn lực xã hội, tức là nhà sử dụng lao động sẽ được ưu tiên trong tuyển dụng lao động du lịch khi tham gia đào tạo nguồn nhân lực du lịch và cần phải trả chi phí cho

cơ sở đào tạo khi tuyển dụng lao động du lịch qua đào tạo hoặc đóng góp vào quỹ phát triển nguồn nhân lực của địa phương/ngành

2.2.2 Nhà nước và nhà sử dụng lao động du lịch tăng cường công tác dự báo nhu cầu nguồn nhân lực, đẩy mạnh số hóa dữ liệu nguồn nhân lực du lịch

Để có cơ sở phát triển hoạt động đào tạo hiệu quả, cần phải có dữ liệu về nguồn nhân lực du lịch, đặc biệt là nhu cầu nguồn nhân lực mới cần bổ sung phục vụ hoạt động kinh doanh của các nhà tuyển dụng Ở phạm ngành, đia phương, công tác dự báo là nhiệm vụ quan trọng của cơ quan nhà nước Dự báo về số lượng, cơ cấu ngành nghề cụ thể, chất lượng nguồn nhân lực là cơ sở quan trọng để các nhà trường xây dựng kế hoạch tuyển sinh đào tạo, đào tạo mới Công tác dự báo dựa trên mục tiêu, định hướng phát triển

du lịch của ngành/địa phương, căn cứ vào chiến lược, kế hoạch kinh doanh dài hạn, ngắn hạn của doanh nghiệp Do đó, dự báo nhu cầu nhân lực cần phải có sự tham gia của cộng đồng các nhà sử dụng lao động Kết quả dự báo nhu cầu nguồn nhân lực du lịch cần được công khai và các nhà trường cần thiết phải có được thông tin dự báo nhu cầu nguồn nhân lực du lịch để quyết định phù hợp nhất đối với hoạt động đào tạo của nhà trường Để việc tiếp cận thông tin về nguồn nhân lực du lịch được thuận lợi, công bằng, đảm bảo tính minh bạch, cần phải số hóa dữ liệu nguồn nhân lực du lịch, gồm cả thông tin thực trạng và nhu

Trang 6

cầu bổ sung nguồn nhân lực du lịch, năng lực đào tạo của các nhà trường… Ở phạm vi cơ sở, các nhà sử dụng lao động du lịch cần phải có kế hoạch phát triển nguồn nhân lực cho chính doanh nghiệp Những thông tin về nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp thường gắn với nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp và phần lớn nhu cầu này cần phải được đáp ứng trong thời gian ngắn Trong những trường hợp này, các nhà trường cần kết hợp với doanh nghiệp thực hiện hoạt động hướng nghiệp, tư vấn việc làm cho người học trong quá trình đào tạo hoặc sau khi tốt nghiệp Việc dự báo cần thực hiện định kỳ, được cập nhật thường xuyên và đảm bảo tính khoa học, chính xác, kết quả dự báo phải gắn với mục tiêu phát triển ngành, gắn với kế hoạch kinh doanh của nhà sử dụng lao động Kết quả dự báo là cơ sở để nhà nước có

cơ chế, chính sách kịp thời cho phát triển nguồn nhân lực du lịch nói chung, đào tạo du lịch nói riêng

2.2.3 Tăng cường đặt hàng đào tạo chất lượng cao, liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học:

Đào tạo nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao có vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch Các chương trình đào tạo chất lượng cao, tiên tiến cần phải được nhà nước đầu tư thông qua đặt hàng xây dựng chuơng trình đào tạo du lịch chất lượng cao hoặc tiếp nhận chuyển giao từ nước ngoài Đồng thời đầu tư đồng bộ các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo như đào tạo đội ngũ cán

bộ quản lý đào tạo, giảng viên, đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ đào tạo Nhà nước cần tăng nguồn ngân sách đặt hàng đào tạo với những chương trình đào tạo du lịch chất lượng cao, đặc biệt là những chương trình đào tạo du lịch chuyển giao từ nước ngoài Những chương trình đào tạo du lịch theo đơn đặt hàng cần có sự tham gia trực tiếp của nhà sử dụng lao động du lịch thông qua hỗ trợ kinh phí đào tạo, tham gia trực tiếp quá trình đào tạo và được ưu tiên tuyển dụng khi người học tốt nghiệp Người học tham gia chương trình đào tạo du lịch đặt hàng phải cam kết thực hiện một số nội dung liên quan, trong đó có cam kết làm việc cho nhà tuyển dụng tham gia trực tiếp đào tạo

Cần đa dạng hóa các hình thức liên kết đào tạo giữa nhà trường – nhà sử dụng lao động Ngoài việc đặt hàng đào tạo theo địa chỉ của nhà sử dụng lao động, cần đẩy mạnh thực hiện liên kết thực hiện chương trình đào tạo theo hình thức phối hợp đào tạo, liên kết đặt lớp đào tạo Cụ thể, nhà sử dụng lao động du lịch trực tiếp tham gia giảng dạy, phối hợp quản lý quá trình đào tạo và bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị để thực hiện liên kết đào tạo, hoặc chỉ tham gia vào hoạt động giảng dạy trong chương trình liên kết đào tạo Với hình thức liên kết đặt lớp đào tạo, nhà sử dụng không tham gia giảng dạy, chỉ phối hợp quản lý và bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị để thực hiện liên kết đào tạo

Bên cạnh đó, nhà nước tăng cường đặt hàng nghiên cứu khoa học ứng dụng trong hoạt động đào tạo, gắn kết chặt chẽ giữa công tác nghiên cứu của các nhà trường với việc ứng dụng trong thực tiễn tại doanh nghiệp, gắn kết giữa các nhà nghiên cứu trong nhà trường với các nhà hoạt động thực tiễn tại doanh nghiệp

3 Kết luận

Trong phát triển nguồn nhân lực du lịch, đào tạo du lịch là một giải pháp trọng yếu Nâng cao hiệu quả công tác đào tạo du lịch có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch Việt Nam Việt Nam xác định phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, do đó cần thiết phải có lực lượng lao động “mũi nhọn” để đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành Bên cạnh đó, xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ và du lịch Việt Nam đang có những cơ hội và thách thức mới trong bối cảnh này Đào tạo nguồn nhân lực du lịch cũng đặt ra những yêu cầu mới, trong đó rất cần sự vào cuộc của nhà nước, nhà sử dụng lao động và nhà trường Sự vào cuộc của các bên hình thành mối quan hệ, hợp tác ba nhà “nhà nước – nhà trường và nhà sử dụng lao động” Nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của các bên liên quan trong mối quan hệ “Nhà nước – Nhà trường – Nhà sử dụng lao động du lịch, dự báo nhu cầu nguồn nhân lực và tăng cương đặt hàng đào tạo…là những nội dung trọng yếu trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Trang 7

Tài liệu tham khảo

[1] Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

[2] Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

[3] Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 28/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Chuyển giao các bộ chương trình đào tạo; đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề; đào tạo thí diểm các nghề trọng điểm cập độ khu vực ASEAN, quốc tế giai đoạn 2012-2015

[4] Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030

[5] https://bvhttdl.gov.vn/

[6] http://gdnn.gov.vn/AIAdmin/News/View/tabid/66/newsid/39164/seo/Hai-hinh-thuc-lien-ket-dao-tao-trong-giao-duc-nghe-nghiep/Default.aspx

[7] http://www.molisa.gov.vn/Pages/trangchu.aspx

[8] https://vietnamtourism.gov.vn/

Abstract:

"STATE – INSTITUTIONS – TOURISM EMPLOYERS" COOPERATION IN TOURISM HUMAN RESOURCES DEVELOPMENT TO MEET INTERNATIONAL INTEGRATION

REQUIREMENTS ON TOURISM

Developing tourism human resources has always been identified as a fundamental solution in Vietnam's tourism development The context of international integration has set new requirements and challenges for tourism human resources and tourism human resource training "State - Schools and Tourism Employers" are important, indispensable and inseparable entities in training and developing tourism human resources It is essential to identify the role of each entity, the connection among them to find solutions to improve the efficiency of training activities, contribute to the development of tourism human resources that are sufficient in quantity, assured in quality and reasonable in structure of profession Tourism training activities cannot be complete without the participation of all “the three entities” Therefore, it is necessary to have solutions to strengthen their linkages and trilateral cooperation in the context of globalization and international integration to meet the requirements of developing Vietnam's tourism industry into the key economic sector

Keywords: Tourism; Training, developing tourism human resources; international integration; State -

school - tourism employer cooperation

Ngày đăng: 14/10/2022, 18:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w