Từ cái sự tầm thường quen thuộc trong đời sống hàng ngày của "Những truyện không muốn viết", tác phẩm của Nam Cao làm nổi bật vấn đề xã hội có ý nghĩa to lớn triết lý sâu sắc về con ngườ
Trang 1- Đề tài được ông chú ý đến
5. Quan niệm nghệ thuật về Con Nguời.
6. Quan niệm nghệ thuật về sự “sáng tạo” trong văn chương của Nam Cao thể hiện ở góc độ nào
7. Từ Tắt Đèn (NTT) đến Sống Mòn (NC): là bước tiến mới, là quá trình hiện đại
hóa (Những đóng góp trong quá trình HĐH)
8. Giá trị nội dung và nghệ thuật của Sống Mòn
II. NGUYỄN CÔNG HOAN
1. Tư tưởng nghệ thuật
2. Quan niệm nghệ thuật
3. Nội dung tư tưởng của tiếng cười
- Phản ánh mâu thuẫn giàu - nghèo, làm nổi bật sự bất công trong xã hội
- Về vấn đề luân lí, đạo đức:
4. Nghệ thuật trào phúng Nguyễn Công Hoan
- Nhân vật (thủ pháp “nghi binh”)
- Mâu thuẫn trào phúng
5. Tiếng cười kế thừa dân gian + hiện đại
III. XUÂN DIỆU
1. Tác giả
2. “Cái Tôi” Của Xuân Diệu Qua Thơ
- Một “cái tôi” cá nhân luôn muốn được khẳng định
- Cái tôi độc đáo, mang ý thức cá nhân mạnh mẽ, ham sống, yêu đời, khát khao
giao cảm với đời
- Một cái tôi buồn và cô đơn
3. Vì sao nhiều người khó chịu với thơ của XD bởi từ ngữ rất Âu hóa, Tây hóa Nhưng cũng có nhiều người rất yêu thích đọc thơ ông?
4. Xuân Diệu cũng ảnh hưởng chủ nghĩa tượng trưng
Trang 25. Đóng góp của XD
6. Quan niệm của XD
IV. HỒ CHÍ MINH
*Cổ điển – hiện đại: luôn xuyên thấm vào nhau
V. NGUYÊN HUY TƯỞNG
5. Thái độ của tác giả
6. Cách giải quyết mâu thuẫn
7. Ý nghĩa của tác phẩm (VB vở kịch + lời đề tựa)
2. Quan điểm nghệ thuật
- Quan điểm nghệ thuật "vị nhân sinh" Thời gian đầu lúc mới cầm bút, ông chịuảnh hưởng của văn học lãng mạn đương thời Dần dần nhận ra thứ văn chương
đó xa lạ với đời sống lầm than của người lao động, ông đã đoạn tuyệt với nó và
Trang 3tìm đến con đường nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa Tác phẩm Giăng
sáng (1942), phê phán thứ văn chương thi vị hóa cuộc sống đen tối, bất công –
Đó là thứ "Ánh trăng lừa dối" Nam Cao nhận thức nghệ thuật phải gắn bó với
đời sống, nhìn thẳng vào sự thật "tàn nhẫn", phải nói lên nỗi khốn khổ, cùngquẫn của nhân dân và vì họ mà lên tiếng
- Đời thừa (1943); khẳng định một tác phẩm văn học phải vượt lên trên tất cảcác bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người Nó phảichứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi;
ca tụng tình yêu, bác ái, công bằng và "Văn chương không cần đến sự khéo
tay, làm theo một cái khuôn mẫu Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo ra cái gì chưa có" Ông đòi hỏi nhà văn phải có lương tâm, có nhân cách xứng với nghề;
và cho rằng sự cẩu thả trong văn chương chẳng những là bất lương mà còn
là đê tiện
- Sau 1945, Nhật ký Ở rừng (1948) - tác phẩm có giá trị của văn xuôi thời kỳ
đầu kháng chiến chống Pháp - thể hiện quan niệm "sống đã rồi hãy viết" và
"góp sức vào công việc không nghệ thuật lúc này chính là để sửa soạn cho tôi
một nghệ thuật cao hơn".
3. Phong cách nghệ thuật
- Đề cao con người tư tưởng, đặc biệt chú ý tới hoạt động bên trong của conngười, coi đó là nguyên nhân của những hoạt động bên ngoài – Đây là phongcách rất độc đáo của Nam Cao Quan tâm tới đời sống tinh thần của con người,luôn hứng thú khám phá "con người trong con người"
- Tâm lý nhân vật trở thành trung tâm của sự chú ý, là đối tượng trực tiếp củangòi bút Nam Cao
- Thường viết về những cái nhỏ nhặt, xoàng xĩnh Từ cái sự tầm thường quen
thuộc trong đời sống hàng ngày của "Những truyện không muốn viết", tác
phẩm của Nam Cao làm nổi bật vấn đề xã hội có ý nghĩa to lớn triết lý sâu sắc
về con người, cuộc sống và nghệ thuật
- Giọng điệu riêng, buồn thương, chua chát Ông có phong cách nghệ thuật triết
lí trữ tình sắc lạnh Có nhà nghiên cứu đã ví ông với nhà văn Lỗ Tấn của TrungQuốc với phong cách Téc-mốt
4. Đặc Điểm Truyện Ngắn Nam Cao.
4.1. Cách tiếp cận, phản ánh hiện thực:
- Ông thường đề cập đến những chuyện vụn vặt trong cuộc sống
Vd: Chuyện ăn uống, cãi cọ của những ông giáo, chuyện đứa trẻ học quét nhà,
chuyện mua nhà, chuyện bà lão chết vì ăn quá no,…
*Vì sao ông thường đề cập đến những chuyện vụn vặt trong cuộc sống:
Hoàn cảnh xh lúc bấy giờ đang siết chặt sự kiểm duyệt tư tưởng của người cầmbút vì vậy ông hay viết những chuyện vụn vặt để khái quát lên thành nhữngvấn đề có ý nghĩa lớn lao, tránh được sự kiểm duyệt
- Ông phản ánh bi kịch của con người đằng sau những chuyện đời thường
Trang 4Vd: Qua câu chuyện anh mỏ tham lam (Tư cách mõ) nhà văn muốn nói lên bi
kịch của con người trong một môi trường đầy tị hiềm, ganh ghét, từ đó khái
quát lên những triết lý sâu sắc: “Hỡi ôi! Thì ra lòng khinh, trọng của chúng ta
có ảnh hưởng đến cái nhân cách của người khác nhiều lắm; nhiều người không biết gì là tự trọng, chỉ vì không được ai trọng cả; làm nhục người là một cách rất diệu để khiến người sinh đê tiện…”
4.2. Đề tài được ông chú ý đến:
Trước cách mạng T8 Nam Cao thường viết 2 đề tài chính: Người trí thức nghèo và
người nông dân nghèo Dù viết đề tài nào thì nhà văn cũng luôn nhất quán một
thái độ, một tư tưởng chung: đó là thái độ trân trọng và thể hiện niềm tin đối vớicon người
đi đồn điền cao su,… (Lão Hạc, Một bữa no…) , hoặc là phải chịu thảm cảnh
chia ly tan tác (Một đám cưới)
+ Nam Cao cũng hay viết về cái đói và miếng ăn Đây là một vấn đề lớn đốivới người nông dân trước cách mạng T8 Trước miếng ăn con người có thể vìlòng tự trọng mà cố giữ lấy nhân phẩm (như trường hợp Lão Hạc), hay chỉ vì
miếng ăn mà đánh mất nhân cách Bà cái tí trong Một bữa no) , anh Cu Lộ
(trong Tư cách mõ).
+ Nam Cao không chỉ miêu tả nhưng khổ đau của họ về vật chất mà còn phảnánh quá trình tha hoá của một bộ phận người nông dân bị xã hội thực dânphong kiến xô đẩy đến bước đường cùng phải phản ứng bằng con đường lưumanh hoá Nhân vật Chí Phèo là một minh chứng rõ nhất cho sáng tác về chủ
đề này của ông
+ Nhà văn dựng lên một bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam trước
1945 nghèo đói, xơ xác trên con đường phá sản, bần cùng, hết sức thê thảm;càng hiền lành, càng nhẫn nhục thì càng bị chà đạp, hắt hủi, bất công, lăngnhục tàn nhẫn; người nông dân bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh
hóa Nam Cao không hề bôi nhọ người nông dân, trái lại, đã đi sâu vào nội tâm
nhân vật để khẳng định nhân phẩm và bản chất lương thiện ngay cả khi bị vùidập, cướp mất cà nhân hình, nhân tính của người nông dân; Kết án đanh thépcái xã hội tàn bạo đó trước 1945
b.
Đề tài người trí thức:
+ Nam Cao miêu tả sâu sắc tấn bi kịch tinh thần của người trí thức nghèo trong
xã hội đương thời trước 1945, những "giáo khổ trường tư", những nhà vănnghèo, những viên chức nhỏ Họ là những trí thức có ý thức sâu sắc về giá trị
sự sống và nhân phẩm, có hoài bão, tâm huyết và tài năng, muốn xây dựng một
sự nghiệp tinh thần cao quý; nhưng lại bị gánh nặng áo cơm và hoàn cảnh xãhội ngột ngạt làm cho "chết mòn", phải sống như "một kẻ vô ích, một người
Trang 5thừa" Phê phán sâu sắc xã hội ngột ngạt, phi nhân đạo bóp ngẹt sự sống, tànphá tâm hồn con người, đồng thời nói lên khao khát một lẽ sống lớn, có ích, có
ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con người
+ Nhân vật Hộ trong Đời thừa, phải lo toan không dứt về vật chất để duy trì
cuộc sống Nhân vật người trí thức của Nam Cao là những người có lý tưởng,
có hoài bảo và từng ôm ấp những dự định lớn lao Hộ từng mơ ước viết một tácphẩm đạt giải Nobel Nhưng những ước mơ, hoài bảo đó lại không có mảnh đấtgieo trồng để nó biến thành hiện thực
5. Quan Niệm Nghệ Thuật Về Con Nguời.
- Con người tha hóa: sự biến đổi phẩm chất của con người từ tốt sang xấu bởi tác
động của hoàn cảnh (Lang Rận, người cha trong Trẻ con không ăn thịt khó, của
bà cái Đĩ trong Một bữa no…và với Chí Phèo, nó hiện thân trong nhân vật Chí
Phèo, Năm Thọ, Binh Chức.)
Vd: Trong tác phẩm Chí Phèo sự tha hóa của Chí Phèo bắt đầu khi hắn bước ra
khỏi ngưỡng cửa nhà tù trở về làng Vũ Đại Trong tác phẩm Một bữa no, nhân
vật bà nội Cái Đĩ chỉ vì một bữa ăn mà phải chịu cảnh tha hóa nhân cách của chính
bản thân mình Lang rận một thầy lang nghèo có tài chửa hiến muộn con cho mọi
người trong làng nhưng vẫn không có dc người yêu, và khi kiếm được cho mìnhtình yêu thì lại bị mọi người chối bỏ
*Quá trình tha hóa của Chí Phèo
Lương thiện -Con quỷ dữ
Vd: Cuộc đời Chí Phèo là một chuỗi ngày dài đầy bi kịch: bi kịch trong thân phận
một đứa trẻ mồ côi đi ở đợ; thèm được lương thiện nhưng không được, bị tha hóanhân hình, nhân tính
- Con người cô độc
Vd: Chí Phèo “người ta tránh hắn như tránh cái gì ghê ghớm”, tự nghiệm ra “Cô
độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau” Chí Phèo sống “ngật ngưỡng”
trong văn Nam Cao một kiếp sống cô độc: cô độc từ lúc sinh ra cho đến khi chết
đi, cô độc trong thời gian cho đến không gian sống, cô độc trong mọi mối quan hệngười Xuất hiện trên cõi đời, Chí Phèo là một đứa trẻ mồ côi, dù qua tay baongười nuôi nhưng cuối cùng cũng không có nổi một mái ấm gia đình Chí chưatừng có một mối quan hệ người nào đúng nghĩa Đau đớn biết bao khi ngỡ Thị Nở
sẽ là bàn tay “cứu chuộc” Chí ra khỏi nỗi cô đơn của cuộc đời “quỹ dữ” thì chínhbàn tay đó lại “ruồng bỏ” Chí, làm tan đi những ước mơ về mái gia đình và cuộcsống hòa nhập với con người
cướp bóc phá tan biết bao cơ nghiệp, mất đi ý thức
Trang 6- Con người tự ý thức: Ý thức là cái giúp phân biệt con người với loài vật Tự ýthức là trình độ cao của ý thức, thể hiện khi con người tự suy ngẫm, nhìn vào cõilòng mình để hướng tới sự hoàn thiện thường gặp ở đề tài người trí thức với nhân
vật Hộ trong “Đời thừa”, Điền trong “Trăng sáng”… Thế nhưng, đọc truyện ngắn
“Chí Phèo”, ta vẫn thấy thấp thoáng bóng dáng kiểu con người này ở nhân vật Chí
Phèo
- Vd:
+ Hộ trong tác phẩm Đời thừa – nhân vật Hộ là một nhà văn kiếm tiền bằng cáchsống nhờ nghề viết văn, nhưng Hộ luôn có ý thức đối vớivtác phẩm của mình.Như khi chàng chấp nhận Từ về làm vợ và phải chăm sóc cho gia đình thì cáchviết văn lúc trước đã không thể nào đủ tiền để chăm sóc cho nhiều miệng ăn nhưvậy Nhân vật Hộ luôn tự ý thức tự trách bản thân mình quá cẩu thả trong việcsáng tác, chỉ vì muốn có tiền để trang trải cuộc sống đã làm cho những tác phẩm
dễ bị lãng quen Chàng luôn tự trách bản thân mình
+ Chí Phèo vô thức sống cuộc đời bản năng của con quỹ dữ nhưng cũng có nhữngkhoảng lặng ý thức, tự ngẫm về cuộc đời mình Vì vậy, hắn khát khao lương thiện,hắn muốn làm hòa với mọi người Lần ý thức này mở ra trong Chí hi vọng, mơước, khát khao về những điều tốt đẹp.Thế nhưng, càng hi vọng bao nhiêu thì nỗiđau đớn tuyệt vọng khi không đạt được càng thẳm sâu bấy nhiêu Con người dùtha hóa đến mất nhân tính nhân hình như Chí Phèo thì vẫn có những phút lóe sáng
vẻ đẹp nhân cách Nam Cao không hề đánh mất niềm tin vào con người Chínhtrên bờ vực của sự tha hóa, sự tự ý thức đã kéo nhân vật đứng vững, không tăm tốimãi trong cuộc sống như thú vật
- Con người bản năng: hành động theo bản năng, đây không phải dạng thường thấy
của Nam Cao Vd: Trương Rự trong Nửa Đêm
- Con người vỡ mộng: Con người vỡ mộng là con người luôn có một ước mơ vềcuộc sống tương lai và họ coi cái đó như động lực để họ sinh tồn Nhưng không
thể thực hiện được, đau khổ vì ước mơ và hoài bão không còn nữa (Hộ “Đời
Thừa”, Điền “Găng sáng”)
Vd: Nhân vật Hộ trong tác phẩm Đời Thừa Hộ là một nhà văn luôn sáng tác bằng
chính sự ý thức của chính bản thân mình Luôn muốn có một tác phẩm để đờinhưng do hoàn cảnh nên đã ko thể nào thực hiện được và luôn chịu ám ảnh và tựtrách bản thân mình
+ Chí Phèo tuy là một đứa con hoang bị bỏ rơi ở cái lò gạch cũ như khi lớn lênchàng ta cũng có cái mơ ước là chồng cày vợ cấy tẩu một miếng đất để nuôi sốnggia đình, rồi khi gặp nở thì cái ước mơ đó vẫn còn xuất hiện như nó lại bị mất đicái giấc mộng đó trở thành một con quỷ của làng vũ đại và kết thúc là cái chết vàchôn theo cái giấc mơ đó
- Con người thừa: là những người sống mòn, chết mòn, sống mà như chết khônggiúp ích gì cho xã hội, không đóng góp được những điều tốt đẹp (là những trí thức,
là nhà văn, nhà giáo) quan niệm của nhà văn: phải biết sống có ích, sống có
hoài bảo, lý tưởng như Hộ luôn ước mơ sáng tác, sống phải có tình thương “kẻ
mạnh là kẻ nâng người khác trên chính đôi vai của mình”
Trang 7Vd: Hộ trong “Đời thừa” Điền trong truyện ngắn “Trăng sáng”
- Con người giai cấp – xã hội: Mang đặc điểm giai cấp –xh Con người thuộc tầnglớp trên: như Bá kiến, Bà Thủ, thể hiện rõ là một tầng lớp hách dịch và luôn đàn
áp những con người thuộc tầng lớp nhỏ bé khác, sống vì đồng tiền không quantâm gì đến mọi người xung quanh Còn con người thuộc tầng lớp thấp, chỉ vì cái
xh thối tha và bọn tầng lớp trên đã biến họ từ những con người hiền lành mà trởthành con quỹ hay một tư cách mõ tham ăn, hoặc một người đáng đổi cái nhâncách và lòng tự trọng để chỉ vì một bữa no cuối cùng chết như bà cái đĩ
6. Quan Niệm Nghệ Thuật Về sự “sáng tạo” trong văn chương của Nam Cao thể hiện ở góc độ nào
- Nghệ thuật:
+ Kết cấu tâm lý
+ Miêu tả tâm lý, đặc biệt chú ý đến quá trình tâm lý, bởi o6g quan niệm “conngười bên trong con người”, con người bên trong mới quan trọng
+ Nghệ thuật trần thuật: cách tân sáng tạo, điểm nhìn luân phiên
+ Ngôn ngữ cá tính, cá thể hóa, nhân vật nào thì ngôn ngữ ấy
- Nội dung
+ Giá trị hiện thực và nhân đạo
NC có phát hiện mới về đề tài người nông dân - một mảnh đất được cày đi xới lạinhiều lần, tưởng như không còn gì để nói, đó chính là nỗi khổ của con người về sự
tha hóa “từ khi chưa có CP người ta tưởng rằng chỉ có nổi khổ của CD, anh Pha
nhưng đến khi CP ngật ngưỡng bước ra từ những trang sách của NC, thì người ta liên nhận ra rằng đây mới là hiện thân đầy đủ những gì gọi là khốn khổ, tủi nhục nhất của con người”
+ Triết lý đậm chất nhân văn, tin tưởng vào sự lương thiện của con người
7. Từ Tắt Đẻn (NTT) đến Sống Mòn (NC): có bước tiến mới, là quá trình hiện đại hóa (Những đóng góp trong quá trình HĐH)
- Hiện đại: thi pháp
QNNT con người
Chi phối toàn bộ
TGNT đem đến
cái nhìn mới
Rất chú trọng con người bên trong con người
Ông quan niệm “sống tức là cảm giác và tư
tưởng…” chi phối cách xây dựng tác phẩm
• Miêu tả tâm lý nhânvật theo hướngngoại diện
• Xây dựng nhân vật tâm lý
• Chú ý miêu tả tâm lý, ít miêu tả ngoại hình Qua “độc thoại”, “đối thoại nội tâm, “tự đặt câu hỏi tự trả lời”
• Chủ yếu soi rọi vào đời sống nội tâm, khámphá thế giới tinh thần của nhân vật để tìm ratính cách của nhân vật Vì thế nhân vật củaông thường không hành động mà thiên về suy
tư và bộc lộ tâm lý
Vd: truyện Đời thừa
Trang 8giới nội tâm của
con người, đi
sâu khai thác
xung đột trong
thế giới nội tâm
của nhân vật
Nam Cao đã miêu tả thành công tâm trạng của
người trí thứ tiểu tư sản trước cách mạng Nam
Cao đã miêu tả tâm lý nhân vật Hộ rất thành
công trong cảnh túng quẩn và nghèo đói “đang
ngồi hắn đứng phắt dậy, mặt hầm hầm đi ra phố, vừa đi vừa nuốt nghẹn” Chỉ bằng một câu văn
ngắn mà Nam Cao đã miêu tả được sự bức báchtrong tâm trí Hộ Tâm lý ttra8n trở, đau đớn khi
để miếng cơm manh áo làm tha hóa dần conngười nhà văn trong Hộ Để có tiền mưu sinh Hộ
đã phải viết và nếu viết để có tiền thì Hộ phải
viết những “những tác phẩm người quên ngay
sau lúc đọc” đáp ứng nhu cầu của đám thị dân
lúc bấy giờ Những tâm huyết của một nhà văn
thật thụ trong Hộ dường như mất dần, anh ta cảm
thấy xấu hổ khi đọc lại những gì mình viết “hắn
đỏ mặt lên”…
Truyện Giăng sáng:
Nhân vật Điền đấu tranh giằng xé bên trong nội
tâm của nhân vật giữa bỏ đi và ở Anh đã từng
nghĩ đến “những người đàn bà nhàn hạ, ăn mặc
đẹp, tắm bằng một thứ nước thơm tho, ngã tấm thân mền mại trên chiếc ghế xích đu…” còn vợ
Điền thì “chỉ là một kẻ tục tằn Thị chẳng đáng
cho Điền yêu quý ”nên Điền nghĩ là mình phải
đi nhưng Điền lại nghe tiếng con khóc, tiếng vợgắt gỏng vì không có tiền mua thuốc cho con, lúc
ray rứt, giằng xé khiến Điền nhận ra rằng “Điền
không thể sung sướng khi con Điền khổ”
• Đi sâu vào ngỏ ngách tâm hồn thậm chí cònphát hiện ra những suy nghĩ sâu xa bên trongcon người Vd: Thứ khi nghe tin Đích ốm nặngThứ thầm mong Đích chết và ngay lúc ấy Thứ
đã khóc - là những tiếng khóc "khóc cho cáichết của tâm hồn"
Kết cấu • Truyền thống, cũng
theo phần, nhưngkhông đầy đủ vì cókết thúc mở
• Vì thế kết cấu được xây dựng theo kiểu kết cấutâm lý, theo dòng ý thức của nhân vật
• Câu chuyện thường không theo trình tự thờigian mà theo sự phát triển tâm lý của nhân vật,thường kể từ hiện tại rồi quay về qua khứ vàtiếp tục kể tiếp câu chuyện xảy ra trong hiệntại từ đó đi đến kết thúc
Vd : truyện ngắn Lão Hạc:
Trang 9Ý định bán chó của lão Hạc được đưa lên đầu tácphẩm, sau đó tác giả để cho nhân vật ông giáo kể
về người con trai của lão hạc, tiếp đến là nỗi đaubán cậu vàng của lão Hạc
• Trần thuật theo mạch tâm lý nhân vật chậm,
rề rà Ngôi kể t3, trao ngòi bút cho nhân vật,tác giả có cái nhìn hạn tri vì vậy phải dựa vàođiểm nhìn của nhân vật để bộc lộ nội tâm nhânvật gần gũi, như thật, đáng tin cậy Dịchchuyển điểm nhìn nhuần nhuyễn
Ngôn ngữ • Sử dụng nhiều từ
Hán, câu văn biềnngẫu (đây cũng làmột hạn chế)
• Cá thể hóa, nhân vật nào ngôn ngữ ấy Đưangôn ngữ đời sống vào, gần gũi
• Phức tạp, ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vậtchuyển hóa lẫn nhau
8. Giá trị nội dung và nghệ thuật của Sống Mòn
- Nội dung:
+ Chủ yếu nói về người trí thức: tập trung vào bi kịch tinh thần, đời sống tinh
thần hơn là nỗi khổ vật chất Quan điểm nghệ thuật của NC “Văn chương
không cần đến sự khéo tay, làm theo một cái khuôn mẫu Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo ra cái gì chưa có" Ngoài ra còn mở rộng nói đến mảng đề tài khác:
người nông dân, người dân nghèo thành thị
+ Kết cấu đa tuyến gồm nhiều tuyến chủ đề với những nhân vật tiêu biểu chotuyến chủ đề đó
Vì vậy bức tranh đời sống của ông đa dạng và phong phú hơn
+ KG – TG: tù động, dồn nén (KG tâm hồn, thành thị, nông thôn: nói chung,
đặc biệt rất vắng lặng hoang vu, sơ sát đói nghèo)
+ Kết cấu: vòng tròn, đa tuyến, theo dòng tâm lý, ý thức (chủ đạo), đối lập (ýthức – thực tế)
9. Nam Cao – Thạch Lam
Chú ý miêu tả qúa trình tâm lý của Nắm bắt tinh vi cảm giác của nhân vật,
Trang 10nhân vật
Vd: Chí Phèo, diễn biến nội tâm nhân
vật, dẫn dắt đi đến nội tâm nhân vật, đi
sâu vào ngóc ngách nội tâm con người
rất tinh vi
một cái gì đó mong manh mơ hồ
NGUYỄN CÔNG HOAN
1 Tư tưởng nghệ thuật:
- Quan điểm đạo đức phong kiến và quan điểm giàu nghèo là hai quan điểm cơ bản chiphối toàn bộ sáng tác của Nguyễn Công Hoan Ông luôn đứng về phía người nghèo bị ứchiếp bóc lột để lên án bọn giàu có quyền thế mà bất nhân bất nghĩa Ông thường đứngtrên quan điểm đạo đức phong kiến để nhìn nhận hiện thực Những gì trái với đạo đứcphong kiến đều là đối tượng phê phán của ông:
• Chỉ đến thời kỳ 1936-1939, được tiếp xúc với các đảng viên cộng sản vàsách báo tiến bộ, quan điểm giàu nghèo mới thực sự mở rộng và có bướcchuyển biến rõ rệt Nhiều tác phẩm đã đánh thẳng vào bọn thực dân vànhững chính sách xảo quyệt của chúng Phạm vi phản ánh hiện thực cũngđược mở rộng từ lớp dân nghèo thành thị, cho tới đời sống người nông dân,công nhân Mặt khác ông còn thấy được sức mạnh phản kháng của họ
Vd
: Sáng, chị phu mỏ đã quyết liệt chống lại tên chủ Tây dâm ác
Anh Pha ( Bước đường cùng ) đã dám phang đòn gánh vào đầu tên
Nghị Lại
• Đến thời kỳ 1939-1945, đây chính là thời kỳ sa sút và bế tắc về tư tưởngcủa NCH Ông vẫn tiếp tục viết truyện ngắn về đề tài xã hội nhưng phầnlớn bị kiểm duyệt không cho in
Sáng tác của NCH đã tạo nên một phong cách riêng hết sức độc đáo và tinh
tế, đặc biệt là truyện ngắn trào phúng
2 Quan niệm nghệ thuật:
- Quan điểm thẩm mỹ và quan niệm nghệ thuật về con người đã tạo nên một cảm hứngchủ đạo trong toàn bộ truyện ngắn NCH, đó là cảm hứng phê phán, đả kích sâu cay
- Quan niệm nghệ thuật về cuộc đời và con người của các nhà văn hiện thực phê phán nói
riêng và nhà văn Nguyễn Công Hoan nói chung là “nghệ thuật vị nhân sinh”
- Con người trong quan niệm của Nguyễn Công Hoan hoàn toàn bị tha hóa, thậm chí bịvật hóa, đồ vật hóa Từ vị quan huyện béo tốt, một bà lớn với khuôn mặt thịt nung núc,đến những đứa ăn mày, ăn xin, kẻ cắp, người trốn nợ, bà cụ nhà quê làm nổi bật nhữngmâu thuẫn giữa giàu và nghèo, giữa những người bị áp bức và những kẻ áp bức bóc lột
- NCH rất nhạy cảm khi phát hiện những mặt trái xấu xa của xã hội, ông quan niệm rằng:
“Cuộc đời là một sân khấu hài kịch mà ở đó cái gì cũng giả dối, lừa bịp, đáng khôi hài.
Tất cả từ đạo lý, công lý, đạo nghĩa con người trong các mối quan hệ đều trở thành trò
hề, trò bịp bợm…”, ông nhìn vào mặt trái của cuộc đời, của con người, để phỉ nhổ vào
những cái xấu xa, bỉ ổi của xã hội
3. Nội dung tư tưởng của tiếng cười
3.1. Phản ánh mâu thuẫn giàu - nghèo, làm nổi bật sự bất công trong xã hội
Trang 11- Miêu tả bọn nhà giàu hiện ra như một lũ sâu mọt Bọn nha lại, chức sắc chỉ biết ănbẩn, đục khoét, hút máu của nhân dân Chỉ có việc quan ăn tiền, ông đã viết thành
nhiều truyện để miêu tả thủ đoạn đê tiện của chúng (truyện Thịt người chết, Công
dụng của cái miệng, Gánh khoai lang … ):
• Khi miêu tả bọn qua lại, Nguyễn Công Hoan thương miêu tả chúng rất béo:
“Chà chà! Béo ơi là béo… Vì ông quan béo quá nên lỗ chân lông căng ra,
căng thẳng quá đến nỗi râu không có chỗ nào lách ra ngoài được” (Đồng hào có ma)
• Trong Cụ Bá Chánh mất giày là kiểu ăn cắp tinh vi của ông Chánh bá khi
ông đã dựng lân vở kịch mất giày để được đôi giày mới
• Hay trong truyện Đồng haò có ma, đó là kiểu ăn cắp với một thái độ bình
tĩnh và hết sức chuyên nghiệp của tên quan huyên khi lấy mất đồng hào củacon mẹ Nuôi
- Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan có những truyện viết về người nghèo ăn cắpnhưng họ ăn cắp vì quá đói nghèo Trong những trường hợp này Nguyễn Công Hoanthường đóng vai trạng sư để cãi trắng án cho họ Còn đối với bọn nhàu giàu ăn cắp thìông không khoan nhượng mà chỉ đích danh để cho người đọc thấy được bản chất củachúng
- Bọn nhà giàu cậy quyền ức hiếp dân nghèo:
• Trong truyện Thật là phúc, tên lính ngang vào nhà chọc ghẹo chị Tam, để
rồi khi anh Tam phát hiện lại đánh anh đến chảy máu mũi
• Trong Tinh thần thể dục bọn cậy quyền cậy thế lùng sục, tróc nã, bắt bớt
những người dân nghèo cho đủ số người đi xem đá bóng
- Khi phê phán bọn nhà giàu, Nguyễn Công Hoan đứng trên quan điểm đạo đức phongkiến nhằm vạch trần bản chất xấu xa, đểu giả của chúng Nguyễn Công Hoan đã đặtnhững kẻ giàu có trong mối quan hệ : mẹ - con; vợ - chồng; cậu – cháu … để phêphán bản chất vô đạo đức của chúng
• Báo hiếu trả nghĩa cha, đứa con giàu có làm giỗ cha linh đình, nhưng cấm
cửa mẹ không được vào nhà
• Trong truyện Mất cái ví, đứa cháu sẵn sàng dựng lên màn kịch mất cái ví y
như thật để ông cậu đừng lên chơi nhà mình nữa
- Nguyễn Công Hoan luôn có một lập trường nhất quán, luôn đứng về phía ngườinghèo khổ lép vế để lên xã hội Tây thời nhố nhăng, bất công
• Trong truyện Người ngựa ngựa người, anh kéo xe đang ế khách gặp một
cô gái giang hồ cũng ế khách
• Trong truyện Kép Tư Bền, anh kép tài hoa trên sân khấu diễn trò mua vui
cho thiên hạ trong khi anh phải đau đớn nghĩ đến cha bệnh nặng sắp chết.Khi anh hoàn thành vai diễn và nhận tiền cũng là lúc cha qua đời Đó làtình cảnh người nghệ sĩ phải phụ thuộc vào những ông chủ có tiền
Khi viết về mâu thuẫn giàu nghèo, Nguyễn Công Hoan đã góp phần vạch rõ bản chất
xã hội xấu xa đồi bại đương thời và nỗi khổ của những người thấp cổ bé họng, nhà văn đãcho bọn thống trị tự lột mặt nạ mình
Trang 123.2.Về vấn đề luân lí, đạo đức:
Nội dung này xoay quanh vấn đề luyến ái nam nữ, hôn nhân gia đình, các mối quan hệgia dình và xã hội Nguyễn Công Hoan đứng trên lập trường một nhà Nho phong kiến đểphê phán những gì trái với đạo đức phong kiến, trái với những gì thuộc nề nếp gia đìnhphong kiến, cái mà Nguyễn Công Hoan cho là nề nếp truyền thống tốt đẹp ngàn đời củadân tộc
- Đứng trên quan điểm đạo đức phong kiến:
+ Nhà văn đã lên án thói vô đạo đức, bất hiếu và những hành động đi ngược lạiluân lí
+ Phê phán phê phán bọn nhà giàu bất nhân, những kẻ giày đạp lên đạo đức phong
kiến chỉ vì danh vọng tiền tài: Báo hiếu trả nghĩa cha, báo hiếu trả nghĩa mẹ,
Xuất giá tòng phu
+ Lên án phong trào Âu hóa, lối sống mới, thường đề cập đến những đối tượng là
cô gái nhà giàu ăn diện, đua đòi, yêu đương tự do, suốt ngày chỉ biết mơ mộng:
Cô Kếu gái tân thời, Nỗi lòng ai tỏ
+ Phê phán tình yêu tự do, vì cho rằng nó phá vỡ nề nếp đạo đức phong kiến Ôngthường đặt nhân vật trong mói quan hệ nam- nữ, già -trẻ Ở những chuyện này nói
chung, ông đứng về phía người già và nam giới để phê phán chễ giễu: Oẵn tà
roằn, Cô Kếu gái tân thời, Nỗi vui sướng của thằng bé khốn nạn …
Qua những tác phẩm này bức tranh nhân tình thế thái hiện ra rõ rệt
4. Nghệ thuật trào phúng Nguyễn Công Hoan
4.1 Nhân vật
Có thể thấy Nguyễn Công Hoan vẫn phần nào chịu ảnh hưởng của lối xây dựng nhân vậttheo kiểu truyền thống khi thế giới nhân vật trong tác phẩm của ông phân làm hai tuyếnđối lập: chính diện và phản diện
Dùng thủ pháp nghi binh, dương đông kích tây Đánh lạc hướng người đọc, làm ngườiđọc không nghĩ là đang phê phán nhân vật đó (phê phán ông quan nhưng từ đầu tới cuốiluôn gọi ông đó là ngài rất trân trọng) làm bật lên tiếng cười giòn giã
Nhân vật chính diện
Phần lớn là những con người nghèo khổ, vì miếng cơm manh áo, đói rách làm
biến dạng những con người lương thiện, họ trở nên thảm thương Thằng ăn cắp,
Cái vốn để sinh nhai, Bữa no… đòn, Giá ai cho cháu một hào…
Vd: Nhân vật nó trong truyện ngắn “Hai cái bụng” : “Nó nằm vật ở lề đường.
Miệng há hốc ra vì đói Nó chỉ thèm được ăn” Cũng vì đói khát khiến cho nó
trở nên “như một con ma dại”, “đáng sợ, đáng tởm”
Trang 13Nhìn chung, khi miêu tả nhân vật chính diện, Nguyễn Công Hoan luôn hướng ngòi bútcủa mình đến những người nghèo, ông thường đứng về phía họ để bênh vực, bào chữa,thanh minh cho họ Trong không khí của thời kì Mặt trận Dân chủ 1936 – 1939, tư tưởng
và tình cảm của Nguyễn Công Hoan dành cho những người nghèo khổ cũng có sự trântrọng và tri âm hơn
Nhân vật phản diện
• Những bọn nhà giàu cậy quyền cậy thế áp bức bóc lột người nghèo (quan lại,
là địa chủ, là tư sản, là tiểu tư sản lớp trên, đám gái mới, phụ nữ đua đòi, hưhỏng)
• Những tên quan phụ mẫu thủ đoạn ăn tiền vừa xảo quyệt, vừa trắng
trợn: Đồng hào có ma, Thịt người chết, Cái nạn ô tô, Gánh khoai lang,
Chính sách nhân dân, Thằng ăn cướp
• Các ông chủ, bà chủ giàu có về tiền bạc lại bất nghĩa, bất hiếu tận độ: Mất
cái ví, Bà chủ mất trộm, Báo hiếu trả nghĩa cha mẹ
• Tầng lớp tiểu tư sản tham lam, mất hết nhân cách, trộm cắp như ranh, đầu cơ
xảo quyệt: Cái ví ấy của ai, Nhân tài, Ông chủ báo chẳng bằng lòng…
• Các cô gái mới, những phụ nữ tân thời với đủ sự xa hoa, ăn diện đua đòi và
nhất là thói dâm đãng bị Nguyễn Công Hoan lên án, tố cáo gay gắt trong Cô
Kếu, Gái tân thời, Oẳn tà roằn, Thế là mợ nó đi Tây
Nhân vật phản diện của Nguyễn Công Hoan trở thành một phương tiệnhữu hiệu để nhà văn khái quát hiện thực, vạch trần bộ mặt thối nát của xãhội đương thời
- Luôn có đặc điểm, khuôn mẫu chung, “công thức”: giống nhau
+ Cứ nhân vật xấu thì tìm đủ các nét nhơ bẩn mà tả về cả vật chất và tinh thần
“Tả một tên tri huyện tân học, thì phải là béo phì”
+ Nhân vật phản diện của Nguyễn Công Hoan thường có ngoại hình thô kệch,
xấu xí, bất thành nhân dạng Nó khiến người ta ghê sợ nó hoặc căm ghét nó
Gửi gắm vào đó thái độ phê phán và lên án gay gắt Ngoại hình đó là sảnphẩm của sự bóc lột tàn độc đối với nhân dân lao động, đó là thứ mỡ làmbằng máu, bằng nước mắt của người dân
Trang 14- Từ thế giới nhân vật phản diện toát lên quan niệm nghệ thuật của NguyễnCông Hoan về con người: con người tha hóa – vật hóa Nhà văn thường gọinhân vật là nó – đại từ dùng để gọi cả người và động vật
4.2 Mâu thuẫn trào phúng
Là những gì ngược đời trái tự nhiên có khả năng tạo tiếng cười
Có thể xếp những xng đột của truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan vào hai loạilớn:
Xung đột bên ngoài.
• Xung đột giữa hình thức - nội dung
- Truyện Xuất giá tòng phu, ngôn từ vô cùng đạo đức nhưng để đạt được mục
đích vô luân: chồng muốn thăng quan tiến chức bắt vợ hầu hạ quan trên “Là
vợ mà chồng bảo không nghe! Luân lí để đâu? Giáo dục để đâu?”
- Truyện Đồng hào có ma, viên tri huyện có bề ngoài rất oai nghiêm sang trọng
nhưng thực chất là ăn cáp vặt một cách ti tiện
- Tinh thần thể dục, mục đích mang tính chính nghĩa nhưng thực chất phi nghĩa
với chính sách thể thao, thể của dục bọn thực dân
• Xung đột giữa phúc - họa
Nhân vật trào phúng loại này được mô tả như những người gặp nhiều may mắnhạnh phúc nhưng thực ra lại luôn gặp phải tai họa khôn lường
Vd: Truyện Hé! Hé! Hé! Bà Chánh Tiền được vợ cụ lớn đầu tỉnh thân mật mời
chào, tưởng là may phúc Nhưng cuộc làm thân lại là một tai họa - vợ cụ lớn lợidụng sự thân mật để chuộc lợi
• Xung đột giữa nguyên nhân nhỏ- kết quả to lớn, nghiêm trọng
Vd: Thằng ăn cắp, một tên ăn mày ăn quịt tiền bún riêu, bị gọi là một thằng ăn cắp
bị mọi người đuổi đánh một cách dã man
Xung đột nội tâm nhân vật
Ở loại này, nhân vật thường tự diễn trò với chính mình, xung đột diễn ra trong nội tâmnhân vật với tiến cười chua chát, cười ra nước mắt
Vd:
+ Truyện Kép Tư Bền, anh kép hát phải cười, phải diễn những trò hề để mua
vui cho khán giả, nhưng trong lòng thì lại muốn khóc vì người cha bệnh nặngsắp chết Ở đây con người không được làm chủ ngay cả tiếng cười, tiếng khóccủa mình
+ Truyện Ngựa người người ngựa, anh phu xe hy vọng càng cao (kéo thêm
giờ đưa cô gái giang hồ đi kiếm được khách để được trả tiền công) thì thấtvọng càng lớn (qua giao thừa cô gái không kiếm được khách, tính kế chuồnmất, anh phu xe trở về tay không)
Trang 154.3 Các thủ pháp nghệ thuật trào phúng đặc sắc
Kết thúc đột ngột, bất ngờ (thủ pháp “nghi binh”)
Vd:
+ Truyện Đồng hào có ma, nhân vật quan huyện rất oai vệ gữa công đường lại lộ
nguyên hình là một thằng ăn cắp vặt một trăm phần trăm khi truyện kết thúc: “vẫn
tự nhiên như không, ông cúi xuống thò tay, nhặt đồng hào sáng loáng… rồi bỏ tọt vào túi” …
+ Cái ví ấy của ai, nhân vật là những người lịch sự, sang trọng, có học Khi nhảy
đầm họ nói với nhau bằng tiếng Tây Bỗng ông kĩ sư hóa học mất cái ví Trongtình huống này ai cũng nghĩ kẻ cắp chính là lũ đầy tớ đói rách vô học Nhưng kếtcục kẻ cắp lại là một trong số những người đẳng cấp quý phái ấy
Trong truyện trào phúng NCH, khi mâu thuẫn trào phúng bộc lộ, tiếng cười nổ rathì cũng là lúc câu chuyện kết thúc
Thủ pháp phóng đại
- Thủ pháp này đã góp phần tô đậm trên những bức chân dung biếm họa và làmcho mâu thuẫn trào phúng được đẩy lên cao
Vd:
+ Truyện Ngựa người và người ngựa tác giả đã tạo dựng xung đột hài kịch của
anh phu xe đồng thời dẫn dắt các tình huống nhằm phóng đại xung đột đó lêntheo lối tăng cấp: anh phung xe cố đón thêm chuyến khách để kím gạo về chogia đình ăn tết Nhưng đi mãi không có khách Đến lúc có khách lại gặpmột cô gái đi ăn sương Cô gái này thuê anh chạy theo giờ để đi kíêm kháchlàng chơi Đi hết một giờ vẫn không gặp khách nào Đi thêm hai giờ nữacũng vậy Cô gái còn vay anh xe hai hào để mua thuốc lá hút và hạt dưa cắn ănchơi Đi thêm giờ thứ ba vẫn không gặp một ai Sắp hết ba giờ anh xe đã hivọng có tiền về nhà ăn tết cùng vợ con 12 giờ đêm, cô gái định gán khăn áo,đồng hồ cho anh xe vì không có tiền Anh xe không nhận và đành kéo thêm giờvới hy vọng cô gái có khách Nhưng đến hai giờ sáng vẫn không gặp đượckhách làng chơi nào Cô gái tính chuyện gán thân mình cho anh xe Anh phải
“lạy, van” cô gái và đành kéo xe về nhà cô, hy vọng “có cái gì thì ta lấy, còn
hơn về không” Đi qua một nhà săm, cô gái vào vay tiền Anh xe chờ đợi, hy
vọng nhưng chờ mãi không thấy cô gái ra vì cô đã chuồn cửa sau mất tăm Anh
xe “choáng người”, nghe như một tiếng “sét đánh” Bởi vì không những mất
không 6 hào tiền công sau hơn 5 tiếng chạy xe giữa đêm giao thừa rét căm căn,anh mất thêm 2 hào cô gái “tạm ứng”
+ Truyện Kép Tư Bền, Nguyễn Công Hoan xây dựng xung đột trào phúng bi
hài giữa hoàn cảnh đáng khóc của anh kép hát có tên Tư Bền (bố anh ốm nặngchết) và tình thế buộc phải cười của anh (phải đóng vai hề làm trò mua vui chothiên hạ) Xung đột này được phóng đại lên nhiều lần bằng thủ pháp tăng cấp:
khi anh ở nhà đi đến rạp để diễn kịch thì bố anh đã “nguy lắm rồi”, khi đang
Trang 16diễn trò hề trong cảnh đầu, anh nhận được tin cha anh đã “cấm khẩu rồi”, diễn xong cảnh thứ hai anh lại nhận được tin báo “cha anh đã mê đặc, chân tay lạnh
cả rồi”, diễn xong cảnh cuối cùng tưởng được về ngay với cha thì anh lại phải
diễn lại theo yêu cầu của khán giả và của ông chủ rạp hát Xong buổi diễn,
trước khi rời kịch trường để về với cha, anh được tin cha anh đã “hỏng từ ban
nảy mất rồi” Như vậy các tình tiết của truyện đã được tác giả huy động nhằm
đẩy xung đột trào phúng đã phát triển dần theo lối tăng cấp
- Phóng đại hết cỡ nét ngoại hình đó của nhân vật, đặc biệt là các nhân vật phảndiện đều rất béo, thường làm cho nhân vật không còn giống con người, trở nênbiến dạng, xấu xí đến ghê tởm
Vd: Trong “Đồng hào có ma”, tên huyện Hinh được miêu tả như sau: “Chà!
Chà! Béo ơi là béo!… Nguyên cái da mặt ông nhỏ, mà có lẽ vì ông béo quá nên
lỗ chân lông căng ra, căng thẳng quá đến nỗi râu không còn chỗ nào lách ra ngoài được” Cách tả tỉ mỉ, chi tiết như tả một con vật ấy đã lột phắt cái mặt
nạ của tên quan phụ mẫu chi dân Vừa miêu tả ngoại hình nhân vật ông vừa tạtngang tạt dọc sang nói về tính cách và phẩm chất của nhân vật Sự tương phảngay gắt giữa ngoại hình, phẩm chất với cái danh hão làm nên gương mặt đầychâm biếm của nhân vật
Có thể nói miêu tả ngoại hình nhân vật là một trong những thành công của truyện ngắnNguyễn Công Hoan Dù là nhân vật chính diện hay phản diện thì cách miêu tả ngoại hìnhcủa nhà văn cũng là thô kệch hóa, lố bịch hóa Ở đó im đậm quan niệm về cuộc đời vàcon người của ông, đặc biệt là góp phần thể hiện tư tưởng phê phán, trào phúng của nhàvăn
Thủ pháp kể, tả kịch câm: Kịch câm: là những màn kịch không diễn tả bằng lời
mà bằng hành vi, hành động của nhân vật
- Ở đây tác giả xây dựng tính cách nhân vật thông qua hành động, cử chỉ, hành vi
Vd:
- Trong Đồng hào có ma, mỗi nhân vật chỉ nói một câu duy nhất: quan huyện
nói hai từ “vào đây” để gọi “con mẹ Nuôi”; còn “con mẹ Nuôi” thì cũng chỉ nói 4 tiếng “lạy quan lớn ạ” Nhưng màn kịch vẫn diến ra vô cùng sinh động
- Cô Kếu, gái tân thời, nhân vật tự làm đẹp bằng hàng loạt các cử chỉ, động tác
tự trang điểm, tự ngắm nghía, tự bình phẩm
Ngôn ngữ
Trang 17Ngôn ngữ trong truyện ngắn NCH rất trong sáng giản dị, bình dân, là lời ăn tiếngnói hằng ngày trong cuộc sống, vì vậy ngôn ngữ rất gần gũi Trong cách sử dụngcác biện pháp chơi chữ, lối so sánh, ví von độc đáo
Ví von: Mục đích của ví von là để đả kích thật mạnh vào nét tính cách xấu nào đó
của nhân vật
Vd:
- Truyện Thật là phúc, viên quan huyện nhìn chị bánh giò “hai con mắt sáng
quắt như hai ngọn đèn trời”
- Đào kép mới, đặc tả cái lố bịch của cô gái tân thời “xe thứ bảy thì một cô gái
xấu, nhưng tân thời, mặt phẫn má hồng môi đỏ, rẽ lệch, chiếc áo căng lườn trông tức anh ách như một bài thơ thất luận”
Chơi chữ:
- Tên truyện ngắn: Cô Kếu tân thời “tân thời” bị phá vỡ bởi cái tên Kếu
không lấy gì làm đẹp
- Trong Oẳn tà rằn, chơi chữ được thể hiện ở tên nhân vật- Phong và Nguyệt
hiểu theo nghĩa Việt là gió và trăng chế giễu việc trai gái quan hệ lăng
nhăng
5. Tiếng cười kế thừa dân gian + hiện đại
- Chủ yếu là hành động
- Sử dụng yếu tố châm biếm tạo tiếng
cưới
- Không kể tả những yếu tố ngoại cảnh
- Nghệ thuật trần thuật: một điểm nhìn
- Xây dựng dựa trên mâu thuẫn sv – ht,
6. QĐ thẩm mĩ: phê phán cái xấu chứ không phải khẳng định cái đẹp
QNNT về con người: con người xh (con người phải thuộc một gc nào đó trong xh, có
sự tác động của hoàn cảnh)
Châm biếm
Xung độtMâu thuẫn trào phúngThủ pháp:
Nghệ thuật
trào phúng
Đạo đức luân lý
Giàu nghèoQuan điểm
phê phán
Hiện tượng
Đối tượngTiếng cưới phê phán
Truyện ngắn
trào phúng