Ứng xử ngôn ngữ trong hành động giao tiếp phù hợp với quan hệ liên cá nhân trong một tình huống giao tiếp cụ thể đảm bảo được yêu cầu lịch sự trong giao tiếp.. Nhưng nghiên cứu quan hệ l
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN HUYỀN ANH
QUAN HỆ LIÊN CÁ NHÂN CHI PHỐI HÀNH ĐỘNG XIN LỖI, CẢM ƠN TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM
VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60220102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Tiến Dũng
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn nghiên cứu khoa học của TS.Vũ Tiến Dũng Các số liệu, kết quả
nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng có ai công bố trong bất
kỳ một công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Huyền Anh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Vũ Tiến Dũng, người thầy
đã tận tình hướng dẫn cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Em cũng xin cảm tạ Ban Giám hiệu Trường Đại học Tây Bắc, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Khoa Ngữ văn thuộc Trường Đại học Tây Bắc cùng các Thầy, cô giáo đã dành mọi tâm huyết và những kiến thức quý báu để đồng hành cùng chúng em trong thời gian học tập và nghiên cứu
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên tôi, là động lực giúp tôi thực hiện đam mê và trách nhiệm của mình
Sơn La, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Nguyễn Huyền Anh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 4
3.1 Mục đích 4
3.2 Nhiệm vụ 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Ý nghĩa của luận văn 5
5.1 Ý nghĩa lí luận 5
5.2 Ý nghĩa thực tiễn 6
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 6
6.1 Phương pháp nghiên cứu 6
6.1.1 Phương pháp khảo sát, thống kê 6
6.1.2 Phương pháp phân tích 6
6.1.3 Phương pháp miêu tả 6
6.2 Nguồn ngữ liệu 7
7 Cấu trúc của luận văn 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 8
1.1 Hoạt động giao tiếp và văn hóa ứng xử của người Việt trong hoạt động giao tiếp 8
1.1.1 Hoạt động giao tiếp 8
1.1.2 Văn hóa ứng xử trong tương tác của người Việt 20
1.2 Lí thuyết hành động nói 23
1.2.1 Khái niệm hành động nói 23
Trang 51.2.2 Điều kiện của một hành động tại lời 24
1.3 Một số khái niệm nền tảng của lí thuyết hội thoại 25
1.3.1 Hội thoại và một số khái niệm cơ bản 25
1.3.2 Các nguyên tắc hội thoại 28
1.4 Quan hệ liên cá nhân chi phối đến việc lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ trong phát ngôn, diễn ngôn 30
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35
CHƯƠNG 2 QUAN HỆ QUYỀN LỰC VÀ KHOẢNG CÁCH XÃ HỘI CHI PHỐI ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CÁC YẾU TỐ NGÔN NGỮ TRONG HÀNH ĐỘNG XIN LỖI 36
2.1 Quan hệ quyền lực chi phối đến việc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ trong hành động xin lỗi 36
2.1.1 Quan hệ quyền lực 36
2.1.2 Quan hệ quyền lực chi phối đến việc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ trong hành động xin lỗi 39
2.2 Quan hệ khoảng cách xã hội chi phối đến viếc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ trong hành động xin lỗi 57
2.2.1 Khoảng cách xã hội 57
2.2.2 Quan hệ khoảng cách xã hội với sử dụng các yếu tố ngôn ngữ trong hành động xin lỗi 59
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 65
CHƯƠNG 3 QUAN HỆ QUYỀN LỰC VÀ KHOẢNG CÁCH XÃ HỘI CHI PHỐI ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CÁC YẾU TỐ NGÔN NGỮ TRONG HÀNH ĐỘNG CẢM ƠN 66
3.1 Quan hệ quyền lực chi phối việc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ trong hành động cảm ơn 66
3.1.1 Hành động cảm ơn 66
Trang 63.1.2 Các điều kiện để thực hiện và nhận diện hành động cảm ơn, kiểu hành
động cảm ơn trong giao tiếp 67
3.1.3 Hành động cảm ơn được khảo sát qua một số tác phẩm truyện văn học Việt Nam hiện đại 68
3.2 Quan hệ khoảng cách xã hội chi phối đến việc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ trong hành động cảm ơn 82
3.2.1 Ngữ liệu và phương pháp 82
3.2.2 Kết quả khảo sát qua các tác phẩm truyện văn học Việt Nam hiện đại 83
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 89
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Thống kê số lượng cuộc thoại phân theo kiểu dạng hành động xin lỗi 45 Bảng 2.2: Thống kê nhóm hành động xin lỗi xét trong quan hệ với mục đích giao tiếp 45 Bảng 2.3: Thống kê số lượng kiểu dạng hành động xin lỗi gắn với yếu tố quyền lực 47 Bảng 2.4: Thống kê nội dung cuộc thoại hành động xin lỗi gắn với yếu tố quyền lực 47 Bảng 2.5: Thống kê số lượng các kiểu dạng hành động xin lỗi gắn với yếu tố khoảng cách 60 Bảng 2.6: Thống kê các nội dung cuộc thoại có hành động xin lỗi gắn với yếu
tố khoảng cách 61 Bảng 3.1: Thống kê số lượng cuộc thoại phân theo kiểu dạng hành động cảm
ơn 69 Bảng 3.2: Thống kê nhóm hành động cảm ơn xét trong quan hệ với mục đích giao tiếp 70 Bảng 3.3: Thống kê số lượng kiểu dạng hành động cảm ơn gắn với yếu tố quyền lực 71 Bảng 3.4: Thống kê nội dung cuộc thoại hành động cảm ơn gắn với yếu tố quyền lực 71 Bảng 3.5: Thống kê số lượng kiểu dạng hành động cảm ơn gắn với yếu tố quan
hệ khoảng cách xã hội 83 Bảng 3.6: Thống kê các nội dung cuộc thoại có hành động cảm ơn gắn với yếu tố khoảng cách xã hội 83
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Giao tiếp là một quá trình tiếp xúc và trao đổi thông tin, thông qua
đó người ta tương tác lẫn nhau, làm tăng cường hay giảm bớt khả năng thích ứng hành động lẫn nhau Bất kỳ một hoạt động giao tiếp nào cũng là mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các chủ thể, trong giao tiếp mỗi người
có động cơ của riêng mình, thông qua các công cụ phương tiện, con người nhận thức được về nhau, về thế giới xung quanh, tác động qua lại lẫn nhau để sáng tạo ra nhau
1.2 Trong hội thoại, nhân vật giao tiếp (thoại nhân) là một yếu tố quan trọng để hình thành nên ngữ cảnh (context)
Nhân vật giao tiếp bao gồm vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân Quan
hệ liên cá nhân theo R.Brown và A.Gilman, đó là quan hệ quyền lực (power)
và khoảng cách (distance) xã hội hay còn gọi là quan hệ thân hữu (solidarity) Quan hệ liên cá nhân sẽ chi phối đến việc lựa chọn ngôn ngữ (từ ngữ, câu) của mỗi cá nhân trong hoạt động giao tiếp
1.3 Các nghiên cứu về ngữ dụng học đang quan tâm một cách đáng kể
về quan hệ liên cá nhân trong hoạt động giao tiếp Ở đó mỗi con người tham gia vào hoạt động giao tiếp bộc lộ những kinh nghiệm ứng xử, khả năng ứng
xử để góp phần tạo dựng nên sự thành công (hay thất bại) của mỗi cuộc giao tiếp
1.4 Ứng xử ngôn ngữ trong hành động giao tiếp phù hợp với quan hệ liên cá nhân trong một tình huống giao tiếp cụ thể đảm bảo được yêu cầu lịch
sự trong giao tiếp Ứng xử lịch sự cũng góp phần tạo nên thành công trong mỗi cuộc giao tiếp
1.5 Nghiên cứu hành động xin lỗi, cảm ơn trong tiếng Việt cũng đã được một số công trình nghiên cứu đề cập và đã có những kết luận khoa học
Trang 9với những cách thức tiếp cận khác nhau Nhưng nghiên cứu quan hệ liên cá nhân chi phối đến các yếu tố ngôn ngữ trong phát ngôn của các nhân vật giao tiếp mà hẹp hơn là hành động xin lỗi, cảm ơn trong các tác phẩm văn chương vẫn còn những khoảng trống nhất định Đó chính là lý do để tác giả luận văn
lựa chọn đề tài: “Quan hệ liên cá nhân chi phối hành động xin lỗi, cảm ơn
trong một số tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại”
2 Lịch sử vấn đề
Trên thế giới, ngành ngữ dụng học ra đời rất sớm Năm 1938 trong công trình “Những cơ sở của lý thuyết kí hiệu”, nhà kí hiệu học người Mĩ Morris lần đầu tiên đã đưa ra lý thuyết ba bình diện khi xem hệ thống kí hiệu ngôn ngữ với tư cách bộ môn kí hiệu học, đó là: bình diện kết học, bình diện nghĩa học và bình diện dụng học và đây là thời gian được xem là mốc ra đời của ngữ dụng học Mặc dù ra đời khá sớm nhưng phải đến năm 1962 khi cuốn sách “How to do things with words” của J.L.Austin được xuất bản, lý thuyết hành động nói ra đời thì ngữ dụng học mới thực sự được các nhà ngôn ngữ học quan tâm và nó ngày càng được phát triển mạnh
Trên tinh thần tiếp thu có chọn lọc và có phê phán một số quan điểm của J.L.Austin, năm 1969, J.Searle đã cho xuất bản cuốn “Speech Acts” thì đến lúc này, ngữ dụng học thực sự ổn định Trong cuốn sách của mình, J.Searle đặc biệt quan tâm đến hành động ngôn trung (Illocutionary act) Theo ông, hành động ngôn trung là đơn vị giao tiếp bằng lời nhỏ nhất Ông cho rằng việc giao tiếp bằng lời cũng chịu sự chi phối của các quy tắc chung thể hiện qua hành động ngôn trung Vì vậy hành động ngôn trung là hành động
mà ngữ dụng học cần quan tâm, cần đi sâu nghiên cứu nhất Đặc biệt, quan hệ liên cá nhân đã được một số nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước quan tâm nghiên cứu R.Brown và A.Gilman đã nghiên cứu quan hệ liên cá nhân chi phối đến việc sử dụng đại từ xưng hô trong một số ngôn ngữ phương Tây
Trang 10như tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, Theo hai nhà nghiên cứu này, ở đâu người ta tôn trọng quyền lực thì ở đó người ta xưng hô theo đại từ V (vos), còn ở đâu quan hệ thân hữu nổi lên thì người ta xưng hô theo đại từ T (tu)
Ở trong nước, các giáo trình nghiên cứu về ngữ dụng học đều viết khá
rõ về quan hệ liên cá nhân trong giao tiếp Đỗ Hữu Châu cho rằng trong giao tiếp, mỗi cá nhân chúng ta đều chịu ảnh hưởng của quan hệ quyền uy và quan
hệ thân cận (hay còn gọi là quan hệ dọc và quan hệ ngang) Các quan hệ này
sẽ tác động đến lời ăn tiếng nói của mỗi cá nhân khi tham gia hoạt động giao tiếp
Các công trình nghiên cứu trên là cơ sở lý thuyết quan trọng và vô cùng cần thiết trong quá trình triển khai đề tài của mình Bên cạnh đó phải kể đến hàng loạt các bài viết, luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ của các nghiên cứu sinh là những nguồn tài liệu tham khảo quan trọng trong quá trình thực hiện
đề tài này Có thể kể đến các công trình của các tác giả như:
Lê Thị Thu Hoa (1996) với đề tài luận văn Thạc sĩ “Cấu trúc ngữ nghĩa của động từ nói năng: nhóm “khen”, “chê”; Nguyễn Thị Ngân (1996) với đề tài “Cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm động từ nói năng”; nhóm Thông tin Đinh Thị Hà (1996) với đề tài “Cấu trúc nghĩa của động từ nói năng: nhóm “bàn”,
“tranh luận”, “cãi” Các tác giả này đã xây dựng được cấu trúc ngữ nghĩa của một số động từ nói năng cụ thể và bước đầu đề cập đến vấn đề kiến thức ngữ
vi, song chưa xác đinh được vai trò của biểu thức ngữ vi trong biểu đạt và nhận diện một hành động ngôn ngữ
Tác giả Nguyễn Quang (1999) với luận án Tiến sĩ “Một số khác biệt giao tiếp lời nói Việt - Mĩ trong cách khen và tiếp nhận lời khen” đã đặt hành động khen và tiếp nhận lời khen trong sự đối sách để tìm ra sự khác biệt trong sử dụng hành động này giữa người Việt và người Mĩ Tác giả đi sâu nghiên cứu cách sử dụng chứ không mô tả cụ thể cấu trúc của những biểu thức ngữ vi
Tác giả Vũ Tố Nga (2000) với đề tài luận văn Thạc sĩ “Phát ngôn cam
Trang 11kết, biểu thức ngữ vi cam kết và tiếp nhận cam kết” đã đặt hành động ngôn ngữ trong tương tác hội thoại để nghiên cứu và đã xác lập được biểu thức ngữ
vi, các phát ngôn ngữ vi cho hành động cam kết
Cùng thời gian này, các tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến, Hà Thị Hải Yến với đề tài về “Hành động chê, cảm thán” cũng đã xác lập được các biểu thức ngữ vi và các phát ngôn ngữ vi cho các hành động này”
Năm 2005 với đề tài luận án Tiến sĩ “Phương thức biểu hiện hành động lời từ chối, lời cầu khiến trong tiếng Anh” (liên hệ với tiếng Việt), tác giả Trần Chi Mai đã xác định được các phương thức, phương tiện biểu hiện hành động từ chối lời cầu khiến trong tiếng Anh và tiếng Việt Từ đó tác giả đã chỉ
ra nét tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ này, đồng thời cũng đã đưa
ra sự phân biệt hành động từ chối với một số hành động khác
Năm 2008, tác giả Hoàng Thị Hồng Vân trong đề tài “Khảo sát hành động chê và hồi đáp chê trong tác phẩm của Ma Văn Kháng” đã xác định được biểu thức ngữ vi chê nguyên cấp trong tác phẩm, xác lập được cấu trúc của biểu thức và phân biệt các biểu thức của hành động chê với một số hành động khác
Các nghiên cứu trước đây về quan hệ liên cá nhân mới dừng lại ở tính
lý luận hoặc vận dụng những lí luận đó vào giải thích một vài hiện tượng sử dụng ngôn ngữ của cá nhân khi tham gia vào hoạt động giao tiếp Các nghiên cứu chuyên biệt về quan hệ liên cá nhân chi phối đến các yếu tố ngôn ngữ trong một hành động ngôn ngữ cụ thể vẫn còn bỏ ngỏ
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Luận văn hướng tới mục đích là hệ thống hóa lí luận về quan hệ liên cá nhân và quan hệ liên cá nhân có tác động như thế nào đến việc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ của hành động xin lỗi, cảm ơn trong tương tác của người Việt
Trang 123.2 Nhiệm vụ
Từ mục đích như trên, luận văn hướng tới các nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa lý luận về quan hệ liên cá nhân dựa trên những kết quả nghiên cứu khoa học đáng tin cậy đã được công bố
- Xây dựng được các mô thức tiêu biểu về hành động xin lỗi, cảm ơn (nghi thức xin lỗi, cảm ơn) trong giao tiếp tiếng Việt
- Chỉ ra sự tác động của quan hệ liên cá nhân đến việc sử dụng các yếu
tố ngôn ngữ của các nhân vật giao tiếp trong một số tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại
- Phân tích được các yếu tố ngôn ngữ thể hiện tính lịch sự của hành động xin lỗi, cảm ơn trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu các lời thoại mà hẹp hơn là nghiên cứu lời xin lỗi, cảm ơn của các nhân vật giao tiếp trong một số truyện văn học Việt Nam hiện đại
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quan hệ liên cá nhân được thể hiện qua quan hệ quyền lực (vai hàng trên, vai hàng ngang, vai hàng dưới) và quan hệ khoảng cách (quan hệ thân sơ) sẽ tác động như thế nào đến việc lựa chọn sử dụng các yếu tố ngôn ngữ trong hành động xin lỗi, cảm ơn của các nhân vật giao tiếp trong một số tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại
5 Ý nghĩa của luận văn
5.1 Ý nghĩa lí luận
Phân tích một cách có hệ thống các yếu tố chi phối đến việc lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ trong phát ngôn của hoạt động giao tiếp tiếng Việt
Xác định một cách có căn cứ quan hệ quyền lực và khoảng cách xã hội
sẽ chi phối đến việc lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ của hành động xin lỗi, hành
Trang 13động cảm ơn trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nếu kết quả nghiên cứu của luận văn công bố có tính khả thi thì đây sẽ
là tài liệu tham khảo có ý nghĩa khoa học, bổ sung vào việc giảng dạy Ngữ dụng học trong nhà trường
Kết quả nghiên cứu giúp cho mọi người, nhất là nam nữ thanh niên trong cách ứng xử, đặc biệt là ứng xử bằng ngôn ngữ sẽ tinh tế, lịch sự hơn, góp phần giúp họ thành công trong mỗi cuộc giao tiếp
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
6.1 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, để giải quyết được một số nhiệm vụ cũng như công việc đã đề ra, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
6.1.1 Phương pháp khảo sát, thống kê
Phương pháp này được sử dụng để tiến hành khảo sát một số tác phẩm Văn học Việt Nam hiện đại liên quan đến đề tài và sau đó thống kê lại toàn bộ nội dung đã được khảo sát Việc sử dụng phương pháp này giúp cho chúng ta thống kê được nhiều nguồn dữ liệu một cách chính xác và có hiệu quả; giúp ta nắm bắt được những vấn đề nào còn khuyết thiếu để từ đó chúng ta tiến hành
bổ sung hoàn chỉnh lại vấn đề
6.1.2 Phương pháp phân tích
Phương pháp này được người viết sử dụng trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu các tài liệu về hành động xin lỗi, cảm ơn; phân tích mổ xẻ vấn đề theo nhiều chiều khác nhau để thấy rõ được những biểu hiện của quan hệ liên
cá nhân chi phối hành động xin lỗi, cảm ơn trong một số tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại
6.1.3 Phương pháp miêu tả
Đây là phương pháp nghiên cứu đặt lời thoại trong những ngữ huống
Trang 14giao tiếp cụ thể để giải mã ý nghĩa của phát ngôn
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn gồm 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết
Chương 2: Yếu tố quyền lực và khoảng cách xã hội chi phối đến việc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ trong hành động xin lỗi
Chương 3: Yếu tố quyền lực và khoảng cách xã hội chi phối đến việc sử
dụng các yếu tố ngôn ngữ trong hành động cảm ơn
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Hoạt động giao tiếp và văn hóa ứng xử của người Việt trong hoạt động giao tiếp
1.1.1 Hoạt động giao tiếp
1.1.1.1 Khái niệm
Giao tiếp là hoạt động liên cá nhân nhằm trao đổi tư tưởng, tình cảm, nhận thức và thể hiện thái độ, tâm trạng của mỗi cá nhân giữa người này với người khác Nó là “một hoạt động diễn ra khi ít nhất có hai nhân vật cùng luân phiên sử dụng cùng một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ để trao đổi với nhau những nhận thức, những tình cảm và những ý muốn của mình nhằm đạt đến một mục đích nào đó” [6;tr.10] Tâm lí học cũng định nghĩa, giao tiếp là “sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi thông tin, biểu cảm, kích thích hành động và định hướng giá trị” [5;tr.97] Nói cách khác, giao tiếp là quá trình xác lập mối quan hệ người – người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác
Hoạt động giao tiếp có thể được tiến hành bằng nhiều phương tiện khác nhau như: ngôn ngữ, nét mặt, dáng điệu, cử chỉ… Trong đó, giao tiếp bằng ngôn ngữ là phổ biến và tiện lợi hơn cả Không chỉ thế, ngôn ngữ còn là phương tiện giao tiếp có hiệu quả, nó giúp con người bộc lộ và truyền đạt được mọi điều trong khi các phương tiện giao tiếp khác có sự hạn chế hơn Giao tiếp mang tính chất xã hội Nó được thể hiện ở việc hình thành và phát triển trong xã hội và được sử dụng các phương tiện do con người làm ra, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Ngoài ra, giao tiếp còn mang tính
cá nhân Tính cá nhân thể hiện ở nội dung, phạm vi, nhu cầu, phong cách, kỹ năng, giao tiếp của mỗi người là khác nhau
Giao tiếp có chức năng trao đổi, truyền đạt tri thức, kinh nghiệm với
Trang 16nhau Giao tiếp là nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống con người bởi vì không ai có thể sống cô độc, lẻ loi mà không cần giao tiếp với người khác Mỗi cá nhân vừa là nguồn phát thông tin vừa là nơi tiếp nhận thông tin Giao tiếp không chỉ bộc lộ cảm xúc mà còn tạo ra những ấn tượng, những cảm xúc mới giữa các chủ thể Trong giao tiếp, mỗi chủ thể tự bộc lộ quan điểm, tư tưởng, thái độ, thói quen… của mình, do đó các chủ thể có thể nhận thức được về nhau làm cơ sở đánh giá lẫn nhau Nó còn có chức năng điều hành hành vi, giúp nhận thức lẫn nhau, đánh giá lẫn nhau và tự đánh giá được bản thân trong giao tiếp Cuối cùng nó có chức năng phối hợp hoạt động Nhờ có quá trình giao tiếp, con người có thể phối hợp hoạt động để cùng nhau giải quyết nhiệm vụ nào đó nhằm đạt tới mục tiêu chung
1.1.1.2 Các nhân tố của hoạt động giao tiếp
Hoạt động giao tiếp đó chịu sự chi phối, tác động của những nhân tố nhất định mà Đỗ Hữu Châu gọi là nhân tố giao tiếp Khi giao tiếp với một
người nào đó, ta thường nảy sinh những câu hỏi như: Người giao tiếp với
mình nói cái gì? Họ nói như thế nào? Tại sao lại nói như vậy mà không nói khác đi? luôn đặt ra trong những suy nghĩ của ta Đây là những vấn đề
thuộc về nhân tố giao tiếp mà ngữ dụng học quan tâm và tìm cách giải quyết
Nó được xem là một trong ba khái niệm nền tảng của ngữ dụng học Chúng luôn có mặt trong các cuộc giao tiếp và chi phối cuộc giao tiếp đó về nội dung
và hình thức Vì vậy mà cuộc giao tiếp thành công hay thất bại là tùy thuộc người giao tiếp có ứng xử phù hợp với các nhân tố có mặt trong cuộc giao tiếp ấy không Cũng như khi xem xét một phát ngôn nào đó ta cũng cần phải biết được phát ngôn đó do ai nói, nói trong hoàn cảnh nào, nói cái gì và nói để làm gì Nếu trả lời được những câu hỏi trên là ta đã có thể hiểu được điều mà người phát ngôn muốn nói Các nhân tố giao tiếp được hiểu là các nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp, chi phối cuộc giao tiếp đó và chi phối diễn ngôn
Trang 17về hình thức cũng như nội dung Có thể thấy điều này trong các công trình nghiên cứu về ngữ dụng học của Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Đức Dân Hai tác giả này đều xem ngữ cảnh là một trong những khái niệm nền tảng không thể thiếu trong một công trình nghiên cứu về ngữ dụng học Vì vậy khi xem xét bất cứ một phát ngôn nào ta cũng cần phải chú ý tới các nhân tố chi phối phát ngôn đó
Các nhân tố giao tiếp bao gồm: nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp, phương tiện giao tiếp và cách thức giao tiếp
- Hoàn cảnh giao tiếp là nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp mang tính động, thay đổi trong quá trình diễn ra cuộc giao tiếp Bất kì cái gì muốn trở thành hoàn cảnh của một cuộc giao tiếp cần phải được nhân vật giao tiếp ý thức Nó gồm: hoàn cảnh giao tiếp rộng (hay còn gọi là tri thức văn hoá nền) bao gồm toàn bộ những hiểu biết về lịch sử, văn hoá, chính trị, kinh tế, tôn giáo, khoa học, nghệ thuật, ở thời điểm và không gian trong đó đang diễn ra cuộc giao tiếp Tất cả những hiểu biết trên tạo thành tiền giả định bách khoa
và nó được huy động một cách khác nhau tùy theo các nhân vật giao tiếp và tùy theo từng cuộc giao tiếp cụ thể Và hoàn cảnh giao tiếp hẹp (thoại trường)
là không gian, thời gian cụ thể mà cuộc giao tiếp diễn ra Không gian, thời gian thoại trường có những đặc trưng chung đòi hỏi các nhân vật giao tiếp phải có những ứng xử phù hợp với nó
- Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp Nhân vật giao tiếp là nhân tố đóng vai trò chủ động, tích cực trong hoạt động giao tiếp
- Nội dung giao tiếp là tất cả những yếu tố vật chất, xã hội, văn hoá, được nói đến trong diễn ngôn của một cuộc giao tiếp; hay có thể là những sản phẩm tinh thần của tư duy con người, có thể là cả những tình cảm, cảm xúc và
Trang 18thái độ của con người đối với điều được nói đến Xem xét một phát ngôn/diễn ngôn là đúng hay sai, có nghĩa hay vô nghĩa là phụ thuộc vào thế giới khả hữu
mà diễn ngôn quy chiếu Theo Đỗ Hữu Châu thì “về nội dung, diễn ngôn có hai thành tố: nội dung thông tin, bị quyết định bởi tính đúng – sai logic, cũng
là nội dung trí tuệ, hình thành do quan hệ giữa diễn ngôn và hiện thực được nói tới Thứ hai là nội dung liên cá nhân bao gồm tất cả các nội dung của diễn ngôn không bị qui định bởi tính đúng – sai logic Hai thành tố nội dung này
có thể hiện diện một cách tường minh trong diễn ngôn, qua câu chữ của diễn ngôn, nó cũng có thể tồn tại một cách hàm ẩn, những người giao tiếp phải suy
từ nội dung tường minh của diễn ngôn mới nắm bắt được nó” [3;tr.37]
- Mục đích giao tiếp là cái mà người nói hướng tới trong quá trình giao tiếp Mục đích của các hoạt động giao tiếp có thể khác nhau trong từng hoàn cảnh khác nhau và “ý định hay mục đích giao tiếp sẽ cụ thể hóa thành đích của diễn ngôn thông qua các thành tố nội dung của diễn ngôn Nói một cách tổng quát, diễn ngôn có đích tác động Người nói nói ra một diễn ngôn là nhằm tác động đến người nghe của mình qua các thành tố nội dung của diễn ngôn” [3;tr.37] Mục đích tác động có thể chia làm ba loại: tác động về mặt nhận thức: giao tiếp nhằm mục đích thể hiện những hiểu biết, những nhận thức của người nói (viết) và truyền đạt nó đến người nghe (đọc), làm thay đổi trạng thái nhận thức của nhau Thứ hai, tác động về mặt tình cảm: giao tiếp nhằm mục đích bộc lộ những cảm xúc, thái độ, tình cảm của con người xác lập hay củng cố những mối quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp Thứ ba là tác động về mặt hành động: giao tiếp nhằm tác động đến người nghe (đọc) làm cho người đó phải thực hiện những hành động cần thiết
- Phương tiện giao tiếp và cách thức giao tiếp là tất cả những yếu tố mà chúng ta dùng để thể hiện thái độ, tình cảm, mối quan hệ và những tâm lý khác của mình trong một cuộc giao tiếp Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp
Trang 19chủ yếu của con người, bằng ngôn ngữ con người có thể truyền đi bất cứ một loại thông tin nào, như diễn tả tình cảm, ám chỉ, miêu tả sự vật Ngoài ra còn
có yếu tố phi ngôn ngữ như: nét mặt giúp biểu lộ thái độ cảm xúc của con người; nụ cười để biểu lộ tình cảm, thái độ của mình Con người có bao nhiêu kiểu cười thì có bấy nhiêu cá tính; ánh mắt giúp phản ánh trạng thái cảm xúc, bộc lộ tình cảm, tâm trạng và ước nguyện của con người Trong giao tiếp, nó phụ thuộc vào vị trí xã hội của mỗi bên;…
ấy làm lời chàng trai và cô gái thân mật, trang nhã, đầy ẩn ý, vừa kín đáo, tế nhị nhất là trong cách bày tỏ tình cảm, vừa nhanh nhạy đáp lại một cách hết sức khôn khéo, thông minh
Ở đây lại xin đi sâu tiếp vào nhân tố nhân vật giao tiếp Nhân vật giao tiếp là nhân tố đóng vai trò chủ động, tích cực trong hoạt động giao tiếp Đỗ Hữu Châu đã định nghĩa về nhân vật giao tiếp như sau: “Nhân vật giao tiếp là người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo
ra các lời nói, các diễn ngôn qua đó mà tác động vào nhau Đó là tương tác bằng ngôn ngữ” [3;tr.15] Giữa các nhân vật giao tiếp có mối quan hệ liên cá nhân và quan hệ vai giao tiếp :
Trang 20- Quan hệ vai giao tiếp là sự phân vai trong cuộc giao tiếp đối với chính
sự phát hay nhận tin Trong giao tiếp hội thoại các nhân vật cùng có mặt và thường xuyên chuyển đổi vai cho nhau: mỗi người lúc đóng vai người nói (viết), lúc đóng vai người nghe (đọc) Nó thường phân thành “vai phát ngôn – Sp1 (nói/viết) và vai nhận ngôn – Sp2 (nghe/đọc)” [14] Vai phát ngôn là vai
mà nhiệm vụ các nhân vật phải làm là sử dụng ngôn ngữ (ở hai dạng nói và viết) để truyền tin gọi là người nói hay người viết thì chúng tôi tùy theo hình thức ngôn ngữ sử dụng Vai nhận ngôn có nhiệm vụ sử dụng ngôn ngữ để tiếp nhận các thông tin được truyền đến qua ngôn bản Khi tham gia giao tiếp, các vai giao tiếp đều có ý định hay còn gọi là đích giao tiếp và niềm tin (tin điều mình nói ra là đúng, tin điều mình nói ra người nghe chưa biết, tin người nghe sẵn sàng nghe lời mình, ) Trong một cuộc giao tiếp hội thoại, hai vai phát tin và nhận tin sẽ có sự chuyển đổi vai theo một quy tắc nhất định để duy trì cuộc hội thoại
Ví dụ (2):
Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay!
Ba đồng một mớ trầu cay, Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng, Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ, Chim vào lồng biết thủa nào ra? [27;tr.48]
Trong bài ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa”, khi biết tin cô gái đã lấy chồng, chàng trai đau khổ nên đã giải bày tâm sự luyến tiếc qua vai phát tin -
Trang 21mở đầu Chàng nhắc lại những kỉ niệm gắn bó với tình yêu của hai người đầy nuối tiếc khôn nguôi Sau khi thực hiện xong vai nhận tin thì cô gái lại đóng vai phát tin nói lên tình cảnh của mình Cô gái đồng cảm với tình yêu và sự nuối tiếc muộn màng của chàng trai nhưng tỏ ý phàn nàn, trách móc về sự thiếu chủ động của chàng trai đồng thời nàng cũng bày tỏ cảnh ngộ của mình đầy thống thiết, xót xa Khi chàng trai đóng vai người phát tin thì cô gái đóng vai người nhận tin và ngược lại khi cô gái đóng vai người phát tin thì chàng trai đóng vai người nhận tin Như vậy trong cuộc giao tiếp này các nhân vật giao tiếp có sự chuyển đổi vai giao tiếp cho nhau Nhờ đó mà cuộc thoại được diễn ra theo một trình tự logic và cả hai nhân vật đều đạt được đích giao tiếp
- Quan hệ liên cá nhân:
Trong cuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp ngoài quan hệ vai giao tiếp
ra còn có một quan hệ khác cũng không kém phần quan trọng là quan hệ liên
cá nhân Quan hệ này sẽ giúp cho cuộc giao tiếp được tiến hành thuận lợi theo chiều hướng tốt hay xấu, thậm chí thất bại Quan hệ liên cá nhân là “quan hệ
so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau” [5] Khi giao tiếp, các nhân vật giao tiếp sẽ xác lập vị thế giao tiếp cao thấp khác nhau tùy vào địa vị xã hội Địa vị xã hội có thể do nhiều yếu tố quyết định như: tuổi tác, chức quyền, nghề nghiệp, trình độ hiểu biết, kinh nghiệm sống, giai cấp, đồng hoặc khác cảnh ngộ, giàu hoặc nghèo,
xa hay gần thân hoặc sơ,…
Để giao tiếp có hiệu quả thì các nhân vật giao tiếp phải hiểu biết lẫn nhau
về các mặt sau:
+ Hiểu biết về vị thế: Vị thế ở đây được hiểu là vị thế xã hội và vị thế giao tiếp Nói đến vị thế xã hội là nói các nhân vật giao tiếp ở vị trí nào trong
xã hội Cao hay thấp? Trên hay dưới? Bình đẳng hay không bình đẳng? Vị thế
xã hội được quy định bởi tuổi tác, chức vụ, nghề nghiệp, giai cấp, Nói đến
vị thế giao tiếp của nhân vật giao tiếp tức là xem các nhân vật giao tiếp ở vào
Trang 22thế chủ động hay bị động trong điều hành hoạt động giao tiếp Nhìn chung vị thế xã hội và vị thế giao tiếp không phải lúc nào cũng đồng nhất Không phải
cứ người ở vị thế cao là nắm quyền chủ động trong giao tiếp và ngược lại + Hiểu biết về mức độ thân cận (quan hệ thân sơ): mức độ thân cận có thể tỉ lệ thuận với mức độ hiểu biết về nhau của những người tham gia giao tiếp nhưng không nhất thiết là đã hiểu nhau thì sẽ thân nhau (có khi kẻ thù lại hiểu nhau rất kĩ) Trong tiến trình giao tiếp, mức độ thân sơ có thể thay đổi (kéo gần lại hay càng giãn xa hơn) Mức độ gần gũi hay khoảng cách trong giao tiếp bao gồm hai khía cạnh: một, về phương diện vật lý, ở nhiều nơi, gặp nhau, người ta thường ôm nhau và hôn má nhau (hoặc hai hoặc bốn cái, tùy nền văn hóa); hai, về phương diện tâm lý, nó được thể hiện rõ nhất là qua cách xưng hô với việc dùng hay không dùng danh xưng và việc gọi tên hoặc gọi họ của người mình đang đối thoại Hai khía cạnh này không phải lúc nào cũng song hành với nhau Ví dụ, so với nhiều người Tây phương khác, người
Úc thường giữ khoảng cách vật lý khi gặp gỡ (ít ôm và hôn má nhau), nhưng lại rất gần gũi nhau trong cách xưng hô (ngay cả giới lãnh đạo cao nhất nước cũng đề nghị người khác gọi mình bằng tên thay vì tên họ)
+ Hiểu biết về trình độ tri thức (tri thức cuộc sống và tri thức khoa học) Trong một cuộc giao tiếp, các nhân vật tham gia giao tiếp phải xây dựng các hình ảnh tinh thần về nhau nhờ đặc điểm, trạng thái năng lực, vị thế, trình độ tri thức, quan hệ thân sơ, Những yếu tố thuộc về quan hệ liên cá nhân này chi phối nhiều đến việc lựa chọn đề tài, nội dung giao tiếp, phương tiện giao tiếp,
Quan hệ liên cá nhân được thể hiện ở sơ đồ sau [7]:
Power (quyền lực)
Solidarity (thân hữu) Distance (khoảng cách)
Trang 23Ở sơ đồ trên, ta thấy quan hệ liên cá nhân bao gồm quan hệ theo chiều ngang và quan hệ theo chiều dọc giữa các nhân vật giao tiếp Đỗ Hữu Châu gọi mối quan hệ theo chiều ngang là trục khoảng cách hay trục thân cận và mối quan hệ theo chiều dọc là trục quyền uy hay trục vị thế xã hội
+ Trục quyền uy: khi giao tiếp các nhân vật giao tiếp sẽ xác lập vị thế giao tiếp cao thấp khác nhau tùy vào địa vị xã hội Mà địa vị xã hội có thể do: tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ hiểu biết, kinh nghiệm sống… mà có Người ở
vị thế giao tiếp cao có quyền quyết định nội dung giao tiếp Chẳng hạn, một
cô giáo trẻ khi giảng dạy cho một lớp bồi dưỡng, mặc dù học trò là những người lớn tuổi hơn nhưng cô vẫn có vị thế giao tiếp cao hơn, vị thế đó do trình độ hiểu biết và định ước xã hội mà có được
+ Trục khoảng cách: trục này có hai cực là thân tình và xa lạ với những mức độ khác nhau Khi giao tiếp các nhân vật giao tiếp có thể gần gũi mà cũng có thể xa cách nhau Và khoảng cách đó có thể được rút ngắn hay kéo xa
ra trong quá trình giao tiếp Vì hai cực trên trục thân cận đối xứng nhau nên thông thường trong quá trình giao tiếp nếu người nói dịch gần lại người nghe thì người nghe cũng dịch lại gần người nói (trừ trường hợp có người không cộng tác) và ngược lại
Ví dụ (8): Để hiểu rõ những vấn đề trên chúng tôi xin chỉ ra quan hệ
liên cá nhân trong một bài viết ca dao đối đáp quen thuộc, được nhiều người yêu mến Đó là bài viết ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa”:
Trèo lên cây bưởi hái hoa, Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay!
Ba đồng một mớ trầu cay, Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Trang 24Bây giờ em đã có chồng, Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ, Chim vào lồng biết thủa nào ra? [27;tr.37]
Quan hệ liên nhân của cô gái và chàng trai ở đây là người yêu cũ, trong đó: cô gái đã lấy chồng, chàng trai thì vẫn cô đơn với sự đau khổ trong tình duyên nhưng bất lực, chỉ biết gặp người thương để giải bày tâm sự luyến tiếc cao độ của mình Ở đây quan hệ liên nhân của họ khá đặc biệt Tuy không có sai khác về vị thế quyền lực song có sự khác biệt về khoảng cách thân hữu
Họ vừa thân quen lại vừa ở trạng thái xa cách Vì đã từng yêu nhau nên chàng trai gọi cô gái là “em” Cô gái cũng gọi chàng trai là “anh” và thể hiện sự đồng cảm với tình yêu Song vì giờ cô gái đã lấy chồng, khoảng cách tình cảm của họ bị kéo dài (nếu không muốn nói là kết thúc), họ đành coi nhau là những người xa lạ Chàng trai chỉ biết nhắc lại những kỉ niệm gắn bó với tình yêu của hai người cùng với những lời trần tình, nuối tiếc khôn nguôi của mình Còn cô gái trách móc về sự thiếu chủ động và chậm trễ của chàng trai đồng thời nàng cũng bày tỏ cảnh ngộ của mình hiện giờ Như vậy trong cuộc giao tiếp này mối quan hệ giữa các nhân vật làm nên một tình cảnh giao tiếp
éo le, đau buồn Chàng trai và cô gái đều thấu hiểu được tâm tư, tình cảm của nhau cũng như hiểu được cảnh ngộ trái ngang hiện giờ để cả hai cùng có được cái nhìn cảm thông, chia sẻ cho nhau trước sự đổ vỡ không mong muốn Nội dung bài như vừa thương cảm cho tình yêu chậm trễ, vừa khuyên chúng ta phải tích cực, chủ động trong tình yêu của bản thân mình, đừng để nó mất mới tiếc nuối Mỗi con người trong tình yêu đã tự tìm thấy bài học qua bài ca dao này Đó là mục đích tác động của quan hệ liên cá nhân giúp ta hiểu đươc nội dung giao tiếp của mỗi cuộc hội thoại
Ví dụ (9): Trong bài thơ “Tôi yêu em” [47;tr.102], nhà thơ Puskin đã gọi
Trang 25người ông từng yêu là “em” và xưng “tôi” Điều này cũng cho thấy vai giao tiếp đặc biệt của nhà thơ với cô gái Nhà thơ đứng ở vị trí người thầm yêu nhưng không được cô gái đáp lại Quan hệ liên nhân của nhà thơ với cô gái vừa muốn gần lại vừa xa Cách gọi “em” muốn kéo gần, nhưng cách xưng
“tôi” lại như làm quan hệ hai người xa cách
Xuất phát từ sự tương tác, nhất là tương tác về vai giao tiếp, có thể nhận thấy ít nhất là có hai nhóm khác nhau Nhóm thứ nhất, xuất phát từ những hành động hoàn toàn có tính chất tự nguyện từ phía S, thường dễ tạo ra không khí giao tiếp cởi mở, chan hoà, và đặc điểm dễ thấy là thể diện và vị thế giao tiếp của người nói, người nghe được đề cao Nói cách khác, tự bản chất nhóm này đã hàm chứa sự lịch sự, được cả cộng đồng đánh giá cao theo hướng tích cực Thậm chí trong một số trường hợp, chúng có khi được coi là những nhân
tố dùng để cứu vãn hoặc bù đắp thể diện khi có sự bất hoà, có thể kể như cảm
ơn, mời, xin lỗi Nhóm thứ hai, về bản chất là đi ngược với nhóm thứ nhất Chúng dễ đụng chạm đến lợi ích, lãnh địa, thể diện của người khác, kết quả thường dẫn đến không khí tương tác không được tự nhiên, nếu không khéo léo có thể dẫn đến sự xung đột, mâu thuẫn, thậm chí dẫn đến những cuộc tương tác bất thành
Dựa vào các điều trên, ta có thể xây dựng bảng sau [32]
(chú thích:
VTGT – M: vị thế giao tiếp mạnh;
VTGT – Y: vị thế giao tiếp yếu;
VTGT – NB: vị thế giao tiếp ngang bằng;
CT: chủ động trong cuộc thoại;
MT: mở thoại;
MT (+): chủ động trong mở thoại; MT (-): bị động trong mở thoại; DT: duy trì, dẫn dắt cuộc thoại;
Trang 2711 Sp1: MT(+)/(-)
CT chào hỏi thông thường
12 Sp1: MT(+)/(-)
CT gồm hai lượt lời
1.1.2 Văn hóa ứng xử trong tương tác của người Việt
1.1.2.1 Người Việt tôn trọng tôn ti, thứ bậc trong giao tiếp
Người Việt có cách cư xử theo những chuẩn mực nhất định, quy ước
và yêu cầu về tôn ti, thứ bậc đã được mọi người coi là thích hợp nhất Những chuẩn mực, quy ước đó chính là nội dung của cách xử thế được thể hiện qua phép lịch sự trong đối xử hàng ngày
Ví dụ (3): Khi thấy người già người trên, hơn mình về tuổi tác về địa vị
xã hội, về thứ bậc trong gia đình, dòng họ thì chúng ta thường cúi chào nói:
Cháu chào ông, chào bà Đó là chuẩn mực mới được xã hội chấp nhận Kính trọng người trên là thể hiện sự hiểu biết, sự kính trọng và nhìn
nhận những điều họ được hưởng: kính trọng người có tuổi, kính nể địa vị xã hội của họ… Kính trọng ai là giúp đỡ người ấy được giới thiệu theo một hình ảnh tốt và đầy đủ về bản thân họ Ví dụ giới thiệu người có lòng nhân ái hay
Trang 28giúp đỡ người nghèo, người thương binh đã hy sinh thân mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, tỏ lòng kính trọng giới thiệu một nhân viên cấp dưới đã hết lòng tận tuỵ với công việc Mỗi người chú ý đến trật tự xã hội và tự giới thiệu một hình ảnh đúng đắn về bản thân
1.1.2.2 Người Việt luôn tìm cách ứng xử khéo léo, khiêm nhường, đúng mực,
lễ phép
Để đạt được mong muốn trong mỗi cuộc giao tiếp, người Việt luôn tìm cách ứng xử khéo léo, khiêm nhường Đó là phép lịch sự được biểu hiện ra trong cách giao tiếp với người xung quanh Những nghi thức lịch sự đó không phải là những ứng xử máy móc mà là những hành động linh hoạt, nhiều vẻ, gắn với hoàn cảnh, môi trường cụ thể, tuỳ theo đối tác gặp gỡ Nó nói lên cách xử thế của mỗi cá nhân trong các trường hợp giao tiếp khác nhau Khi giao tiếp với người khác, người Việt thường “xưng khiêm hô tôn”, chú ý tới mặt tốt của đối tượng, tránh cách nói và hành động kì thị, phân biệt Ngay cả người cấp trên, người tài giỏi cũng tỏ ra khiêm tốn với người chung quanh, với người cấp dưới, chủ động chào hỏi, chuyện trò với họ, chứng tỏ mình đánh giá cao đối tác có giáo dục
Ví dụ (4): Trong hầu hết những bài viết ca dao biểu hiện quan hệ giàu nghèo thì phần lớn là chàng trai có gia cảnh nghèo hơn cô gái tức là theo lẽ thường thì chàng trai có vị thế giao tiếp thấp hơn nhưng cũng phần nhiều các chàng trai là người mở lời trước:
Gặp em giữa chốn vườn đào
Kẻ giàu người khó làm sao nên tình
Thế gian chuộng của chuộng tài
Em đây chuộng nghĩa chẳng nài giàu sang [27;tr.51]
Thông thường những người giàu thường có vị thế giao tiếp cao và có quyền chủ động nêu lên đề tài của diễn ngôn, lái cuộc thoại theo hướng của
Trang 29mình, điều hành việc nói năng của những người cùng giao tiếp với mình Ở đây tuy chàng trai có vị thế giao tiếp thấp hơn nhưng lại là người mở lời trước Điều này cũng đúng và dễ hiểu thôi, vì theo lẽ thường thì người con trai
sẽ là người chủ động trước Trong hoàn cảnh này mặc dù chàng trai có vị thế giao tiếp thấp hơn nhưng lẽ thường đó không hề thay đổi Điều này chứng tỏ trong tình yêu của họ không hề có sự phân biệt giàu nghèo
1.1.2.3 Người Việt giao tiếp theo phương châm “hòa đồng”, lấy sự “dĩ hòa
vi quý” làm mục tiêu chủ yếu trong mỗi cuộc giao tiếp
Điều này thể hiện qua việc mỗi cá nhân thừa nhận và tôn trọng những quy tắc và giá trị chung của các mối giao tiếp và liên hệ xã hội Mỗi cá nhân tham gia, hoà đồng vào xã hội và thích ứng được với cuộc sống cộng đồng Mỗi người thừa nhận mình là một thành viên của một tập thể, một cộng đồng nhất định, mà không phải là một cá nhân duy nhất vượt trội, sống tách biệt với người khác Biết thích ứng, đó là yêu cầu cơ bản đảm bảo cho cá nhân tham gia và hoà đồng vào xã hội Để có thể sống với người khác và sống thoải mái với họ, cần thiết phải thích ứng với những luật tục thông thường đang diễn ra
chung quanh mình Ví dụ: Khi đến dự một cuộc họp, một buổi kỷ niệm, ta cần
ăn mặc chỉnh tề, nói năng lịch sự, trong khi đến gia đình gặp người quen có
thể chuyện trò vui vẻ, gọi nhau anh/ chị, mày/tao Đến dự đám tang, không
ăn mặc loè loẹt, không nói chuyện ồn ào, cần nói khẽ, nói ít, tỏ thái độ kính trọng, thương tiếc người đã mất
Hơn nữa, người Việt thường có sự trao đổi và sự quan tâm lẫn nhau trong đối xử xã hội Người ta không nhận gì hết nếu không cho lại cái gì, dù
là tượng trưng (thái độ kính nể, trò chuyện bình đẳng, ) Người ta cảm ơn cô bán hàng đã tiếp đón mình, trả lời thư khi nhận được Sự cân bằng đem lại cho người ta cảm giác về sự công bằng, sự bền vững và sự thoải mái trong giao tiếp xã hội Sự hài hoà giúp cho việc thực hiện được sự cân bằng và thích
Trang 30ứng Ví dụ như thích ứng với một môi trường mới, đến nơi ở mới và thiết lập được những quan hệ láng giềng tốt Chú ý tạo sự cân bằng trong quan hệ với người khác (người ta giúp mình, mình quan tâm giúp đỡ họ lại ) đó là sống hài hoà với họ
1.2 Lí thuyết hành động nói
1.2.1 Khái niệm hành động nói
Hành động nói là “hành động được thực hiện bằng cách nói ra một điều
gì đó, trong trường hợp này là nói ra một yêu cầu” [8;tr.125] Ví dụ: câu nói
Đóng giúp tôi cửa sổ để thực hiện hành động sai khiến Lí thuyết về hành
động nói được khởi xướng bởi J.L.Austin Ông đã phát hiện ra bản chất hành động của ngôn ngữ Nói cũng là làm – nói năng cũng là một dạng hành động Khi nói năng là ta cũng thực hiện một hành động như thực hiện các hành động vật lí khác Hỏi, sai khiến, cầu xin, hứa hẹn, cam kết, tuyên bố, xin lỗi, cảm ơn,… cũng là những hành động, được thực hiện bằng lời nói Từ đó, ta sẽ
có một số kiểu hành động nói thường gặp như: trình bày, đe doạ, hứa hẹn, bộc
lộ cảm xúc, tuyên bố, báo tin,…
Ví dụ (5):
+ Bác trai đã đỡ rồi chứ? (để hỏi)
+ Bảo bác ấy có trốn đi đâu thì trốn (để điều khiển)
+ Phải giục anh ấy ăn mau đi (để điều khiển)
Theo Austin, có ba loại hành động nói, đó là hành động tạo lời, hành động mượn lời và hành động tại lời
- Hành động tạo lời chính là việc tạo ra một phát ngôn (tức phát ngôn thành phẩm) với một dạng thức cụ thể và một ý nghĩa ít nhiều xác định Hay nói rõ hơn, hành động tạo lời là hành động sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ theo một quan hệ cú pháp nhất định thành các câu để tạo nên một phát ngôn có nghĩa phù hợp về hình thức và nội dung
Trang 31của một cộng đồng ngôn ngữ nào đó Người ta có thể phát ngôn ra cùng một câu mà không nhất thiết phải nói cùng một nội dung, và họ có thể nói cùng một nội dung mà không nhất thiết phải phát ngôn ra cùng một câu
- Hành động mượn lời là hành động mượn phương tiện ngôn ngữ, nói đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngôn ngữ nào đó, như biến đổi trong nhận thức, trong tâm lý, trong hành động vật lý có thể quan sát được ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói
- Hành động tại lời là những hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng là gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng ở người nhận Nó được chia ra hành động ở lời trực tiếp và hành động ở lời gián tiếp:
+ Hành động tại lời trực tiếp là những hành động ngôn ngữ được thực hiện đúng với đích ở lời và đúng với điều kiện sử dụng chúng
+ Hành động tại lời gián tiếp là hành động ngôn ngữ trong đó người nói thực hiện một hành vi ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ suy ra hiệu lực ở lời của một hành động khác
1.2.2 Điều kiện của một hành động tại lời
Điều kiện của một hành động tại lời bao gồm:
1.2.2.1 Điều kiện ban đầu
Điều kiện ban đầu bao gồm tất cả những sự tình nào đó được xem là cần phải có để nếu muốn chúng ta có thể sẵn sàng thực hiện được Như vậy là
có thể có đủ điều kiện nhưng vẫn không thực hiện hành động Ví dụ:
Ra lệnh: Hành động chưa được thực hiện:
- Người nói: có cương vị, vị thế cho phép điều khiển, chi phối hành vi của người nghe
- Người nói cho rằng người nghe có khả năng thực hiện
Trang 32- Nếu không ra lệnh thì không chắc chắn người nghe sẽ tự động thực hiện hành động
1.2.2.2 Điều kiện hiện thực (điều kiện chân thành)
Điều kiện hiện thực (điều kiện chân thành) gắn với trạng thái tâm lí đặc trưng Khác với điều kiện chân thực về mặt logic: tính đúng – sai của mệnh đề được nói ra
1.2.2.3 Điều kiện cơ bản
Điều kiện cơ bản tức là mục đích chính mà hành vi nhằm đạt tới
1.3 Một số khái niệm nền tảng của lí thuyết hội thoại
1.3.1 Hội thoại và một số khái niệm cơ bản
Giao tiếp có thể diễn ra ở dạng nói hoặc dạng viết, tuy nhiên dạng nói
là phổ biến và chủ yếu Trong giao tiếp dạng nói thì hội thoại là hình thức giao tiếp phổ biến Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, căn bản phổ biến của ngôn ngữ và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hình thức căn bản này
Đơn vị cơ sở của hội thoại gồm:
- Ngôn bản hội thoại: là đơn vị lớn nhất của hội thoại bao gồm nhiều cuộc thoại có nội dung hoàn chỉnh xoay quanh một chủ đề nhất định
- Cuộc thoại: là đơn vị lớn thứ hai của hội thoại, là toàn bộ cuộc đối đáp giữa các nhân vật từ khi khởi động cho đến khi kết thúc hội thoại
- Đoạn thoại: là một bộ phận của cuộc thoại, là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa và ngữ dụng
- Cặp thoại: là lượt lời có quan hệ với nhau về chức năng, nội dung và có thể liền kề hoặc dãn cách
- Sự trao lời: là vận động mà người nói nói lượt lời của mình ra và hướng lượt lời của mình về phía người nghe nhằm làm cho người nghe nhận
Trang 33biết được lượt lời đó dành cho người nghe
Nó tạo thành cấu trúc hội thoại gồm: cấu trúc tĩnh và cấu trúc động Ta
có thể thấy qua bảng sau [16]:
Đặc điểm
Cấu trúc tĩnh của hội thoại Cấu trúc động của hội thoại
Đơn vị
cơ sở
- Ngôn bản hội thoại: là
đơn vị lớn nhất của hội thoại bao gồm nhiều cuộc thoại có nội dung hoàn chỉnh xoay quanh một chủ
đề nhất định
Ví dụ: Một cuộc thảo luận xoay quanh vấn đề bảo vệ môi trường
- Cuộc thoại là đơn vị lớn
thứ hai của hội thoại, là toàn bộ cuộc đối đáp giữa các nhân vật từ khi khởi động cho đến khi kết thúc hội thoại
- Đoạn thoại: là một bộ
phận của cuộc thoại, là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa và ngữ dụng
- Sự trao lời: là vận động mà
người nói nói lượt lời của mình
ra và hướng lượt lời của mình
về phía người nghe nhằm làm cho người nghe nhận biết được lượt lời đó dành cho người nghe
Ví dụ: An đã nằm xuống gối đầu lên đùi chị, mi mắt sắp sửa rơi xuống, còn dặn với:
- Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé!
- Sự tranh lời: là sự ngắt lời
của người đối thoại khi người đối thoại chưa kết thúc lượt lời của họ
Trang 34- Cặp thoại: là lượt lời có
quan hệ với nhau về chức năng, nội dung và có thể liền kề hoặc dãn cách
Ví dụ: Cậu con rón rén đi ra cửa không may bắt gặp bố, liền nói:
- Phát ngôn là đơn vị nhỏ
nhất của hội thoại Là một câu cụ thể trong thực tiễn giao tiếp
- Sự tương tác: thể hiện ở chỗ
các nhân vật ảnh hưởng lẫn nhau, tác động qua lại lẫn nhau làm cho hội thoại biến đổi
- Sự tự hòa phối: là sự phối
hợp sự tự hòa phối của từng nhân vật Nói cách khác, sự liên hòa phối là sự phối hợp của người nói người nghe trong quá trình trao đáp sao cho phù hợp với tình hình diễn biến của cuộc thoại
Ví dụ: Nhiều bạn bè cũng tỏ ý ngờ vực:
- Trông bà như tư sản mà
không bị học tập cũng lạ nhỉ?
Cô tôi trả lời thật nhẹ nhàng:
- Các bà không biết nhưng nhà
nước lại rất biết
(Nguyễn Khải - Một người Hà Nội)
Trang 351.3.2 Các nguyên tắc hội thoại
Nguyên tắc đầu tiên là tôn trọng thể diện của người đối thoại Khi nói năng hành động phải cân nhắc lựa chọn cho phù hợp, “uốn lưỡi bảy lần” trước khi nói, đặc biệt phải chú ý đến ngôi thứ, địa vị của người đối thoại để xưng hô cho phù hợp Nguyên tắc chung là quan hệ trên dưới tôn kính, quan
hệ cha con chí hiếu, quan hệ vợ chồng ân tình, quan hệ anh em thuận hoà, quan hệ bạn bè tình nghĩa Trong giao tiếp hằng ngày, người lịch sự bao giờ cũng nói năng nhẹ nhàng, từ tốn Một người đã phát ngôn những lời nói đúng mực, hoà nhã thì sẽ được đáp lại bởi sự tôn trọng của người khác Trong giao tiếp tránh tình trạng nói không tôn trọng người khác, có thể gây nên hậu quả xấu
Nguyên tắc cộng tác cũng rất quan trọng Nguyên tắc cộng tác hội thoại
do Grice đề ra năm 1967 Nguyên tắc được phát biểu tổng quát như sau: “ Hãy làm cho phần đóng góp của anh (vào cuộc thoại) đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn (của cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện phù hợp đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh đã chấp nhận tham gia vào.” [18] Nguyên tắc cộng tác hội thoại bao gồm:
- Phương châm về lượng: Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đúng như đòi hỏi của đích của hội thoại
- Phương châm về chất: Hãy cố gắng làm cho phần đóng góp của anh là đúng
- Phương châm cách thức: Hãy tránh lối nói tối nghĩa, mập mờ, mơ hồ
về nghĩa Hãy nói ngắn gọn, có trật tự
- Phương châm quan hệ: Hãy làm cho phần đóng góp của anh có liên quan đến nội dung cuộc thoại đang diễn ra
Nguyên tắc khiêm tốn cũng trở thành thói quen đẹp trong hội thoại của người Việt Khi hội thoại, người nói và người nghe đều không bao giờ biểu lộ
sự tự mãn về những gì mình có, mình biết Nhờ vậy dễ tạo được sự đồng cảm
Trang 36và mối quan hệ thân thiện với người khác trong giao tiếp, nên kết giao được với nhiều người Khiêm tốn thể hiện khả năng tự chủ cao, kiểm soát bản thân tốt, chiến thắng “cái tôi” Khiêm tốn giúp ta nhìn nhận bản thân đúng đắn, ý thức được “Nhân vô thập toàn”, không ảo tưởng để bị cuốn theo những tham vọng cá nhân Khiêm tốn là phương thức tốt nhất giúp ta tránh xa thói kiêu căng, tự mãn
Ví dụ (6): Không ít những trường hợp khi yêu nhau các chàng trai thường dùng mọi cách để có được người mình yêu, kể cả việc che dấu thân phận, nói dối đối phương…còn sau khi đạt được mục đích rồi thì hậu quả ra sao cũng được Chàng trai trong bài ca dao dưới đây không phải là người như vậy Mở đầu cuộc giao tiếp, chàng trai đã thành thật bày tỏ cùng cô gái hoàn cảnh khó khăn của mình Điều này cho thấy chàng trai không chỉ là người thành thật mà còn là một người khiêm tốn:
Anh đây thật khó không giàu
Có lời nói trước kẻo sau em phàn nàn [27;tr.57]
Trước lời nói chân thật của chàng trai, cô gái đã nói những lời chí tình chí lí, thể hiện sự tôn trọng thể diện chàng trai cũng như sự thấu hiểu tình cảnh của chàng Cô gái nói nhiều là vì muốn chàng trai hiểu được lòng mình chứ nàng đâu có ý muốn lên lớp chàng trai hay muốn thể hiện vị thế giao tiếp của mình
Trang 371.4 Quan hệ liên cá nhân chi phối đến việc lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ trong phát ngôn, diễn ngôn
Theo Đinh Trọng Lạc, ta đặc biệt coi trọng vai và quan hệ vai của
những người tham gia giao tiếp ông xem nó là nhân tố quan trọng nhất có tác dụng quyết định đến việc lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ trong giao tiếp Ngoài
ra Đinh Trọng Lạc còn xem xét hoàn cảnh theo nghi thức và hoàn cảnh không theo nghi thức trong mối quan hệ với nhân tố vừa nêu trên (vai và quan hệ vai) Tác giả này cho rằng quan hệ cùng vai có cả hoàn cảnh theo nghi thức và hoàn cảnh không theo nghi thức và đây là nhân tố thứ hai có ảnh hưởng nhiều đến việc lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp Sau cùng là mục đích thực tiễn trong giao tiếp Đây là những nhân tố quyết định có tác dụng tốt trong việc rèn luyện sử dụng ngôn ngữ theo phong cách Mỗi người trong những trường hợp giao tiếp khác nhau phải luôn luôn tự hỏi mình: Nói, viết đây là với tư cách gì? Trong quan hệ thế nào? Với ai? Giao tiếp theo nghi thức hay không theo nghi thức? Nhằm mục đích gì?
Quả thực, quan hệ liên cá nhân của người phát ngôn luôn chi phối và để lại dấu ấn trong ngôn ngữ giao tiếp Giao tiếp chịu sự chi phối rất lớn của
quan hệ liên cá nhân, đặc biệt là trong tiếng Việt Quan hệ liên cá nhân chi
phối về nhiều mặt như: tiến trình giao tiếp, nội dung và hình thức của diễn ngôn Việc lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ cho phù hợp với quan hệ liên nhân
sẽ góp phần thành công trong mỗi cuộc giao tiếp Qua giao tiếp, người nghe nhận biết được người nói đã xác định quan hệ vị thế và quan hệ thân cận giữa hai người như thế nào Việc phát ngôn đòi hỏi hai yêu cầu là lời nói phải đúng vai xã hội (tức cương vị của một người, những yêu cầu, những mong đợi của
xã hội đối với cương vị đó) và lời nói phải phù hợp với trình độ của người nghe Đây là hai yêu cầu cần thiết trong giao tiếp Chính bởi quan hệ liên cá nhân chi phối mạnh cách giao tiếp cho nên các nhân vật giao tiếp cũng thường
Trang 38thay đổi cách hội thoại để thử nghiệm hoặc bày tỏ ý muốn thay đổi quan hệ liên cá nhân
Ví dụ (10): Trong “Hội nghị Diên Hồng” (Lê Vân) [44;tr.14], vua đứng
ở vị trí cao nhất nên luôn nói giọng đĩnh đạc, chậm rãi, từ ngữ trang trọng,
xưng “ta”: “Nước Đại Việt ta tuy là nước nhỏ ở phương Nam nhưng luôn bị
nước ngoài nhòm ngó Từ cổ xưa tới giờ thật chưa có giặc nào mạnh và hung hãn như ngày nay Chúng sẽ kéo sang năm mươi vạn quân…Vậy nên liệu tính sao đây?” Các bô lão ở vị trí người dân sẽ nói với nhà vua một cách cung
kính, xưng với nhà vua là “bệ hạ”, câu từ có dạ thưa: “Xin bệ hạ cho đánh!”,
“Thưa chỉ có đánh!”
Điều này thể hiện rõ nhất trong việc xưng hô Trong các ngôn ngữ như
tiếng Việt sử dụng từ xưng hô là một chiến lược thiết lập quan hệ liên cá nhân trong hội thoại Xưng hô là những đơn vị từ, ngữ dùng để chỉ vai người nói và vai người nghe trong hoạt động giao tiếp Trong đó xưng là người nói dùng phương tiện ngôn ngữ để chỉ mình trong giao tiếp Còn hô là người nói dùng ngôn ngữ để gọi người thứ hai trong hoạt động giao tiếp Cách sử dụng từ xưng hô “không đơn thuần chỉ dùng để người nói hoặc người nghe với tư cách là hai chủ thể của hoạt động giao tiếp ngôn ngữ mà còn được dùng để biểu thị mối tương quan vị thế giữa họ và thái độ của họ đối với nhau” [12;tr.34] Trong giao tiếp phải tùy theo tuổi tác, địa vị, mức độ tình cảm, hoàn cảnh giao tiếp mà người nói chọn lựa phương tiện để xưng và phương tiện để gọi người đối thoại cho thích hợp Đó chính là sự tương ứng xưng hô: xưng thế nào thì hô thế ấy Xưng hô là vấn đề rất quan trọng trong giao tiếp bằng ngôn ngữ Trong suốt cuộc giao tiếp, xưng hô có tác dụng định hướng, duy trì cuộc giao tiếp
Ví dụ (11): Khi nhân vật trữ tình xưng “thiếp” gọi “chàng” thì trong một
số trường hợp người con gái chủ động mong muốn gắn bó lâu dài:
Trang 39Trầu vàng, cau trắng, chay vàng, Cơi trầu bịt bạc thiếp mời chàng ăn
Trầu này trầu mẹ trầu cha Hay là trầu bạn đưa ta hỡi nàng
“Thiếp” ở phát ngôn thứ nhất là lời tự xưng của người con gái, “chàng”
là lời người con gái hô gọi người con trai Còn “nàng” ở phát ngôn thứ hai là lời hô gọi cô gái của chàng trai Qua cách xưng hô “thiếp - chàng” của cô gái ,
ta thấy mối quan hệ tình cảm giữa họ là thân thiết khăng khít Nàng đã xem mình như một người yêu, người vợ của chàng trai Những bài viết ca dao có
sử dụng cặp từ xưng hô “chàng - nàng/thiếp” đều là những bài ca dao bày tỏ tình yêu hoặc khẳng định tình yêu đã có Cho nên cặp từ xưng hô này biểu thị mối quan hệ khăng khít, gần gũi giữa các nhân vật giao tiếp” [27;tr.59]
Ví dụ (12): Một đứa bé đang trong tuổi tập nói, thường sẽ gọi “mẹ”, hoặc
“bà” đầu tiên Nó thể hiện quan hệ liên nhân giữa đứa bé với bà và mẹ là quan
hệ ruột thịt Dù lời gọi “mẹ”, “bà” cất lên rất đơn giản song thực sự nó làm mối quan hệ tình cảm giữa đứa bé với mẹ và bà trở nên gắn bó khăng khít vô cùng Mẹ hoặc bà đứa bé nghe thấy tiếng gọi ấy cũng vô cùng hạnh phúc Song cũng có trường hợp, người giúp việc thay thế hoàn toàn việc trông nom
bé nên đứa bé lại không gọi “mẹ” đầu tiên mà gọi “bác” hoặc “chị”…(chỉ người giúp việc) Từ hô gọi đầu tiên của đứa bé rõ ràng thể hiện tình cảm gắn
bó gần gũi hơn với người giúp việc
Giao tiếp của người Việt thường tăng cường các mối quan hệ liên nhân
Nó thể hiện qua việc người Việt bao giờ cũng chú trọng đến cách xưng hô Bởi lẽ xưng hô có thể được coi là một yếu tố để đánh giá khả năng ứng xử và trình độ văn hóa của một người Chúng ta không có hệ thống đại từ nhân xưng chuyên biệt (kiểu “I” để chỉ ngôi thứ nhất số ít; “we” chỉ ngôi thứ nhất
số nhiều; “you” cho ngôi thứ hai,…) mà chỉ có đại từ chỉ cụ thể mối quan hệ
Trang 40thân tộc, chức vụ,…để làm đại từ tạm thời; các đại từ tạm thời này thay đổi theo từng quan hệ, thậm chí, tình cảm của người phát ngôn
Ví dụ (13): Tương đương với chữ “I” trong tiếng Anh, ngoài chữ “tôi”
(và tao, ta, tớ, mình) tương đối phổ biến nhưng chỉ được dùng với một số điều
kiện nhất định, chúng ta còn có: anh, em, bác, chú, cô, dì, (tùy theo quan hệ với người nghe) Tương đương với chữ “you”, chúng ta có: anh, chị, em, ba,
mẹ, chú, bác, cô, dì, ông, bà, v.v (tùy theo quan hệ với người nói)
Từ xuất phát điểm đó, cách xưng hô trong tiếng Việt nặng tính đẳng cấp, bao gồm ba khía cạnh chính: vai vế trong gia đình, tuổi tác và chức vụ trong
xã hội Hệ thống danh từ chỉ thân tộc tiếng Việt phân biệt nặng nề về phái tính
và tuổi tác Về phái tính: số lượng từ vựng chỉ phái nam - và bên nội - nhiều hơn phái nữ và bên ngoại Ví dụ, với phái nam, chúng ta có “bác” và “chú”, nhưng với phái nữ, chúng ta chỉ có một từ “cô” chỉ cả chị lẫn em của
bố/ba/cha; với bên nội, chúng ta phân biệt anh hay em của bố/ba/cha; nhưng
với bên ngoại, anh hay em chỉ có một chữ: “cậu” (cho phái nam) và “dì” (cho phái nữ) Về vai vế và tuổi tác cùng cha mẹ, nhưng lớn hơn chúng ta, chúng ta phân biệt “anh” và “chị”, nhưng nhỏ hơn chúng ta thì chỉ có một từ: “em”; ở bậc ngang hàng với cha mẹ, chúng ta có “bác”, “chú”, “cô”, “cậu” và “dì”, nhưng dưới đó thì chỉ có “con” và „cháu” (bao gồm cả cháu ruột - grandchildren, lẫn cháu họ - niece hay nephew) Ngoài hệ thống danh từ chỉ thân tộc, người Việt Nam cũng dùng hệ thống danh từ chỉ chức danh hay chức
vụ để xưng hô (thầy/cô/giáo , /bác sĩ/tiến sĩ,): Bản thân các từ này đều có tính đẳng cấp
Song bên cạnh đó, quan hệ liên nhân trong giao tiếp của người Việt cũng làm cho xưng hô phải làm sao đảm bảo được tính tự nhiên, chân thành, lịch sự
và có văn hóa Có thể nói, trong sự tương tác, qua cách xưng hô dựa trên quan
hệ thân tộc và chức vụ cũng như chức danh, người Việt Nam vừa gần gũi lại vừa xa cách Thông qua cách xưng hô mà tình cảm và mối quan hệ của những