HỆ THỐNG THỂ LOẠI VÀ TÁC GIA TIÊU BIỂU VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 1900 1945 Hơn một nửa thế kỉ đã trôi qua, thời gian chưa thật nhiều cũng đủ để sàng lọc, để phủ nhận và khẳng định. Trước sự thẩm định của thời gian và của độc giả, chỉ những tác phẩm có giá trị đích thực mới có thể tồn tại được. Những tác phẩm của Nam Cao đã không bị thời gian phủ lên lớp bụi lãng quên, không bị độc giả đọc rồi quên ngay sau lúc đọc. Điều đó đã khẳng định những đóng góp lớn lao và giá trị đích thực của truyện ngắn Nam Cao, quả đúng là “càng thử thách, càng ngời sáng”. Ông đã góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp hiện đại hóa văn xuôi hiện đại Việt Nam đầu thế kỉ XX trên cả hai phương diện nội dung và hình thức và tạo nên phong cách riêng khó trộn lẫn.
Trang 1BÀI ĐIỀU KIỆNHỌC PHẦN: HỆ THỐNG THỂ LOẠI VÀ TÁC GIA TIÊU BIỂU VĂN HỌC
VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 1900 - 1945
Trang 2MỤC LỤC
I – ĐẶT VẤN ĐỀ 1
II – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1
1 Khái niệm hiện đại hóa văn học hiện đại Việt Nam 1
2 Nam Cao và vấn đề hiện đại hóa trong một số truyện ngắn của Nam Cao .4 2.1.Giới thiệu khái quát về Nam Cao 4
2.2.Hiện đại hóa trong một số truyện ngắn viết về người nông dân của Nam Cao…… 6
2.2.1 Đề tài 7
2.2.2 Cốt truyện, kết cấu 11
2.2.3 Xây dựng nhân vật 15
2.2.4 Nghệ thuật trần thuật 20
2.2.5 Giọng điệu trần thuật 23
2.2.6 Nhịp điệu trần thuật 28
2.2.7 Lời văn đa giọng 31
2.2.8 Độc thoại nội tâm 33
III – KẾT LUẬN 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3I – ĐẶT VẤN ĐỀ
Là nhà văn xuất hiện muộn trên văn đàn của dòng văn học hiện thực giaiđoạn 1930 – 1945, Nam Cao luôn ý thức sâu sắc: sự sống còn đối với mỗi cây bútgắn liền với yêu cầu cách tân sáng tạo trong văn chương Vì vậy, sự đào sâu, tìmtòi, “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có” là đặc điểmkhá nổi bật trong các sáng tác của ông Nam Cao đã thành công trên con đườnghiện đại hóa văn xuôi, có những đóng góp không nhỏ cho văn học nghệ thuật nướcnhà Sự hiện đại hóa trong truyện ngắn của Nam Cao mang tính toàn diện trên cảnội dung và hình thức, cụ thể là trên nhiều phương diện như đề tài, cốt truyện, nhânvật, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ… Ở bất cứ phương diện nào, ông cũng khônggiẫm lên những lối mòn đã có sẵn mà luôn tìm một con đường đi riêng của mìnhbằng tài năng và tâm huyết, bằng ý thức và cả lòng tự trọng của người nghệ sĩ chânchính
II – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Khái niệm hiện đại hóa văn học hiện đại Việt Nam
Trong cuốn “Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945”, giáo sư TrầnĐăng Suyền đã nêu ra khái niệm hiện đại hóa “là quá trình làm cho văn học ViệtNam có tính chất hiện đại, có thể nhịp bước và hòa nhập với nền văn học thế giới.Nói văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 đổi mới mạnh mẽtheo hướng hiện đại hóa tức là khẳng định nó thoát khỏi những đặc trưng của vănhọc trung đại, tạo nên được những đặc điểm, tính chất của một nền văn học hiệnđại” Theo đó, văn học hiện đại Việt Nam phải đổi mới toàn diện trên cả mặt nộidung và hình thức nghệ thuật, hướng tới một đối tượng lực lượng sáng tác khác vànhững công chúng văn học hoàn toàn mới Quá trình hiện đại hóa Việt Nam diễn raqua ba chặng và biểu hiện ở trên tất cả các thể loại văn học như tiểu thuyết, truyện
Trang 4ngắn, thơ ca… Tuy nhiên nếu như từ đầu thế kỉ XX đến khoảng những năm 20, vănhọc chỉ mới bước vào phạm trù hiện đại và đã có một số thành tựu bước đầu, nhưngdấu ấn của thời kì văn học trung đại còn khá sâu đậm, phải đến từ năm 1930 đến
1945, với một tốc độ phi thường, văn học Việt Nam phát triển mạnh mẽ với nhữngtên tuổi xuất sắc như Nam Cao để hoàn tất quá trình hiện đại hóa văn học, có thểhòa nhịp với văn học của thế giới
Vậy nguyên nhân nào dẫn đến sự hiện đại hóa của văn học? Từ đầu thế kỉ
XX, xã hội Việt Nam đã có những biến chuyển sâu sắc Đô thị phát triển, lớp côngchúng văn học mới ra đời và ngày càng đông đảo, ảnh hưởng của văn hóa phươngTây, báo chí và xuất bản phát triển; tất cả những điều đó đã thúc đẩy văn học phảinhanh chóng đổi mới theo hướng hiện đại hóa Hiện đại hóa văn học là một yêu cầukhách quan của thời đại Nó là một bộ phận, một phương diện quan trọng của côngcuộc hiện đại hóa nền văn hóa Việt Nam nói chung Hiện đại hóa văn học còn lànhu cầu tự thân của chính nền văn học nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần và thẩm mĩmới của xã hội
Mặt khác, mấy mươi năm đầu thế kỉ XX, xã hội Việt Nam vốn trì trệ trongmấy ngàn năm phong kiến bỗng bừng tỉnh khi được tiếp xúc với văn hóa, khoa họcphương Tây, nó như một làn gió mới, một cơn gió lạ tưới mát tâm hồn con người.Văn minh phương Tây tác động ngày một toàn diện, sâu sắc vào xã hội Việt Nam,thoạt đầu ở lĩnh vực sinh hoạt vật chất và đương nhiên kéo theo những thay đổi vềmặt tâm lý, tinh thần Một lớp người mới xuất hiện ngày một đông đảo ở các thànhthị với những nhu cầu, khát vọng sống thành thực, sống cho mình thật khác trước.Thứ thơ cổ, thơ cách luật trở thành chiếc áo quá chật, trở thành thứ xiềng xích tróibuộc tâm hồn con người
Có thể nói nhu cầu đổi mới văn học, phá bỏ luật lệ, khuôn thước, tạo nênmột cuộc cách mạng, một sự hiện đại hóa trong văn học giai đoạn 1930 – 1945 đã
Trang 5được nhóm lên, manh nha từ những năm 20 của thế kỉ, đã được ít người dè dặt thửnghiệm và thành công Như vậy, hiện đại hóa là nhu cầu tất yếu, khách quan củanền văn học trên cơ sở những tiền đề kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam nửa đầu thế
kỉ XX Hình thái kinh tế xã hội thay đổi từ phong kiến sang tư bản dưới hình thứcthuộc địa, từ đó dẫn đến sự phân hóa gia cấp mạnh mẽ làm thay đổi ý thức xã hội
Từ đó hình thành đội ngũ nhà văn, nhà thơ và công chúng văn học mới khác vớithời trung đại bao gồm trí thức Tây học, tiểu tư sản, thị dân, học sinh, sinh viên,…Tầng lớp nhà Nho không còn kéo theo đó là sự thay đổi nhanh chóng đời sống cánhân con người Thời điểm này, con người với ý thức cá nhân mạnh mẽ đã bị kìmnén lâu trong suốt cả nghìn năm trung đại đã được nước tràn bờ, trở nên mạnh dạnhơn khi thể hiện những khát khao tình yêu, những câu chuyện đời thường khôngđược nói trong văn học
Đồng thời, đây cũng là thời kì tính chất chuyên nghiệp hóa của hoạt độngsáng tác trở nên phổ biến trong đời sống văn học Viết văn trở thành một nghề kiếmsống, tác phẩm trở thành một món hàng hóa có thể kiếm ra tiền, trang trải đời sống.Vậy nên văn chương nghệ thuật càng phải đổi mới, hiện đại hóa để đáp ứng nhucầu của thời đại chứ không còn là đam mê, là giãi bày tâm sự, hay để giáo huấn, đểghi chép những câu chuyện lịch sữ nữa
Hơn nữa, đây cũng là thời kì văn học được tiếp xúc rộng rãi hơn với quầnchúng nhờ có các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động sáng tác, giới thiệu, truyền bátác phẩm như nhà in, nhà xuất bản, báo chí,… Cũng chính vì thế mà mô hình nhàvăn, nhà báo bắt đầu xuất hiện nhiều ở thời kì này như Hồ Biểu Chánh, ThạchLam, Nguyễn Công Hoan Chữ quốc ngữ dần thay thế chữ Hán và chữ Nôm, tạođiều kiện thuận lợi cho văn học tiếp cận gần hơn với lớp công chúng văn học nôngdân, nhân dân Trước đây, văn chương viết bằng chữ Hán, chữ Nôm chỉ để dànhcho người có học, biết chữ, còn bây giờ, văn chương đã trở thành thứ nghệ thuật
Trang 6giải trí, mua vui cho cả “những người đàn bà đẹp chuyên chăm sửa móng tay vàkhông làm gì cả”
Nội dung hiện đại hóa văn học diễn ra trên mọi mặt, ở nhiều phương diện, từ
sự thay đổi về quan niệm về văn học cho đến sự biến đổi các thể loại văn học vàđặc biệt là hiện đại hóa ngôn ngữ Điều đó là bởi vì nền văn học đã chuyển đổi mộtloạt kiểu nhà văn, người sáng tác từ tầng lớp Nho sĩ sang các tầng lớp thị dân, làmbiến đổi toàn diện và sâu sắc nền văn học Việt Nam
2 Nam Cao và vấn đề hiện đại hóa trong một số truyện ngắn của Nam Cao
2.1 Giới thiệu khái quát về Nam Cao
Nam Cao (1915/1917 – 28 tháng 11 năm 1951) là một nhà văn và cũng làmột chiến sĩ Việt Nam Ông là nhà văn hiện thực lớn (trước Cách mạng), một nhàbáo kháng chiến (sau Cách mạng), một trong những nhà văn tiêu biểu nhất thế kỷ
20 Nam Cao có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện phong cáchtruyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ 20 Nam Cao tên thật là TrầnHữu Tri (có nguồn ghi là Trần Hữu Trí) Quê ông tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà,huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam).Ông đã ghép hai chữ của tên tổng và huyện làm bút danh: Nam Cao Ông xuất thân
từ một gia đình Công giáo bậc trung Cha ông là ông Trần Hữu Huệ, làm nghề thợmộc và thầy lang trong làng Mẹ ông là bà Trần Thị Minh, vừa là nội trợ, làm vườn,làm ruộng và dệt vải
Nam Cao từng làm nhiều nghề, chật vật kiếm sống và đến với văn chươngđầu tiên vì mục đích mưu sinh Năm 18 tuổi vào Sài Gòn, ông nhận làm thư ký chomột hiệu may, bắt đầu viết các truyện ngắn Cảnh cuối cùng, Hai cái xác Ông gửi
in trên tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy, trên báo Ích Hữu các truyện ngắn Nghèo, Đui
mù, Những cánh hoa tàn, Một bà hào hiệp với bút danh Thúy Rư Có thể nói, các
Trang 7sáng tác "tìm đường" của Nam Cao thời kỳ đầu còn chịu ảnh hưởng của trào lưuvăn học lãng mạn đương thời Sau này, ông mới nhận ra con đường đi đúng đắncho ngòi bút của mình và từng bước trở thành nhà văn lớn nhất của trào lưu vănhọc hiện thực phê phán 1930 -1945 Trong số các nhà văn hiện thực, ông là cây bút
có ý thức sâu sắc nhất về quan điểm nghệ thuật của mình Ông phê phán khá toàndiện và triệt để tính chất thoát ly, tiêu cực của văn chương lãng mạn đương thời, coi
đó là thứ “ánh trăng lừa dối”, đồng thời yêu cầu nghệ thuật chân chính phải trở vềvới đời sống, phải nhìn thẳng vào sự thật, nói lên được nỗi thống khổ của hàng triệunhân dân lao động lầm than (Giăng sáng)
Xuất hiện trên văn đàn khi trào lưu hiện thực chủ nghĩa đã đạt được nhiềuthành tựu xuất sắc, Nam Cao ý thức sâu sắc rằng: “Văn chương chỉ dung nạp đượcnhững người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạonhững cái gì chưa có” (Đời thừa) Và Nam Cao đã thực sự tìm được cho mình mộthướng đi riêng trong việc tiếp cận và phản ánh hiện thực
Đồng thời, ông cũng là nhà văn của chủ nghĩa hiện thực tâm lý Sự chú ý đặcbiệt tới thế giới bên trong của con người đã quy ước hứng thú nghệ thuật ngày càngtăng của nhà văn đối với cá tính của con người, động cơ nội tại của hành vi nhânvật và quan hệ phức tạp của nó với hiện thực xung quanh Đối với Nam Cao, cáiquan trong hơn cả trong nhiệm vụ phản ánh chân thật cuộc sống là cái chân thật của
tư tưởng, của nội tâm nhân vật Xét tới cùng, cái quan trọng nhất trong tác phẩmkhông phải là bản thân sự kiện, biến cố tự thân mà là con người trước sự kiện, biến
cố Vì vậy, trong sáng tác của Nam Cao, hứng thú của những chi tiết tâm lý thườngthay thế cho hứng thú của chính bản thân các sự kiện, biến cố Như vậy, nguyên tắccác sự kiện, biến cố, tình tiết chỉ giữ vai trò “khiêu khích” các nhân vật, để chonhân vật bộc lộ những nét tâm lý, tính cách của mình Nam Cao mong muốn khaithác những vấn đề của cuộc sống không phải ở bề rộng mà là ở bề sâu Thoát khỏicách nói chút ít về tất cả, ông đã tập trung bút lực vào việc miêu tả nội tâm của
Trang 8nhân vật Nhà hiện thực chủ nghĩa Nam Cao đã mở rộng việc phản ánh hiện thựcbằng cách khai thác sâu sắc thế giới tâm hồn của con người Qua ngòi bút ông, thếgiới bên trong của con người, kể cả những “con người bé nhỏ” cũng là cả một vũtrụ bao la! Đối với Nam Cao, việc phân tích tâm lý nhân vật không tách rời việcphân tích cuộc sống xã hội nói chung Thông qua việc miêu tả, phân tích tâm lý đểthể hiện những mâu thuẫn, xung đột xã hội, Nam Cao đã mở ra một khuynh hướngphân tích mới cho phương pháp hiện thực chủ nghĩa trong văn học Việt Nam Cóthể nói, cảm hứng phân tích phê phán thấm nhuần trong toàn bộ sáng tác của NamCao Nó là một đặc điểm nổi bật, trở thành “linh hồn”, “cốt tuỷ” chủ nghĩa hiệnthực của Nam Cao.
Đặc biệt, cái gốc, nền tảng vững chắc của chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao
là chủ nghĩa nhân đạo Trong mỗi trang văn của Nam Cao đều bộc lộ tấm lòng củamột con người đau đời và thương đời da diết Nam Cao yêu thương những conngười bị cuộc đời đày đọa Xã hội cũ đã làm cho ông đau xót khi mà đa số nhữngnhân vật của ông bị đẩy vào cảnh khốn cùng, không đạt được gì trong cuộc đời,không có đủ điều kiện để phát huy những khả năng tiềm tàng ưu việt của mình
2.2 Hiện đại hóa trong một số truyện ngắn viết về người nông dân của Nam Cao
Nam Cao là một nhà văn hiện thực phê phán xuất sắc của nền văn học ViệtNam hiện đại ở chặng đường phát triển cuối cùng với những chỗ yếu và chỗ mạnhcủa nó Thành công của ông nổi bật nhất là ở thể tài truyện ngắn Vào những nămcuối của thập kỉ thứ ba và những năm 30, truyện ngắn Việt Nam đã có bước pháttriển mạnh mẽ và cũng có những cách tân mới mẻ thể hiện quá trình hiện đại hóavăn xuôi Việt Nam Truyện ngắn đã thực sự trở thành một thể loại chiếm vị trí quantrọng trong văn đàn lúc bấy giờ với những tác phẩm của Nguyễn Công Hoan,Thạch Lam, Nam Cao,… Tuy nhiên, sự cách tân triệt để và toàn diện phải kể đếnnhững tác phẩm của Nam Cao mới thực sự đáng kể và rõ nét
Trang 9Bản chất của văn chương nghệ thuật là sự kế thừa và sáng tạo Nam Caocũng không nằm ngoài qui luật đó Vì vậy, sự hiện đại hóa trong các truyện ngắncủa Nam Cao không phải và cũng không thể chối bỏ truyền thống Ngòi bút củaông có kế thừa và phát huy những yếu tố cách tân của các nhà văn đi trước, tiếp thu
có chọn lọc những tinh hoa của văn học nước ngoài Có thể khẳng định rằng, sẽkhông có một Nam Cao như đã có nếu như không có những Phạm Duy Tốn,Nguyễn Bá Học, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Thạch Lam và những nhà văncùng thời khác Sự hiện đại hóa trong truyện ngắn của Nam Cao đã cho thấy một sựchuyển mình đáng quý của nghệ thuật viết truyện ngắn trong văn học hiện đại ViệtNam với những sáng tạo độc đáo hơn so với văn học dân gian, văn học trung đạihay các nhà văn hiện đại cùng thời khác Hiển nhiên Nam Cao đã có thể thừahưởng rất nhiều điều từ tất cả những gì mà các tác giả văn xuôi Tự Lực văn đoàntừng tạo ra Chính họ đã hiện thực hóa cái phương án văn học mà khi đã thành "đạitrà" rồi thì nom có vẻ rất đơn giản, rất dễ làm: ấy là lấy mô hình tiểu thuyết Âu Tây
để tạo ra những tác phẩm với người và cảnh, cốt truyện và nhân vật xứ mình, kểbằng tiếng nói hàng ngày của người nước mình, và sau đó ghi tất cả bằng chữ quốcngữ la-tinh − thứ văn tự "ngoại nhập" mà đến lúc này đã được thừa nhận và trở nênthông dụng trong xã hội người Việt Mô hình này tạo nên những tác phẩm mà nếuđem so sánh với các tác phẩm tự sự truyền thống (ví dụ: cổ tích, truyện Nôm,truyện chương hồi…) thì nó hơi ít chất Việt, tuy không quá xa lạ Vì vậy, trong bàiluận nhỏ này, tôi xin làm rõ những điểm kế thừa, tiếp thu tinh hoa và những biểuhiện hiện đại hóa truyện ngắn của Nam Cao viết về đề tài người nông dân trướccách mạng tháng Tám 1945 trên nhiều phương diện
2.2.1 Đề tài
Truyện ngắn Nam Cao thường viết về người nông dân và người trí thứctrong xã hội phong kiến đương thời Đây là những đề tài hoàn toàn mới so với vănhọc trung đại Đặc biệt, đề tài người nông dân chiếm một số lượng lớn trong các
Trang 10sáng tác của ông Nếu như trong văn học trung đại, người nông dân và cuộc sống ởnông thôn chưa được các nhà văn chú ý thì trong văn học giai đoạn đầu thế kỉ XXđến năm 1945, lại là một đề tài được tập trung phản ánh Người nông dân trong vănhọc từ trước thế kỉ XX chỉ có dịp xuất hiện trong những bài ca dao, dân ca, văn họcdân gian được truyền miệng, còn văn học viết trung đại chỉ coi trọng những vấn đềlớn lao, cao cả, quy phạm, mực thước, cho nên không có chỗ dành cho những thânphận nông dân nghèo và không gian cây đa bến nước sân đình Đến văn học đầuthế kỉ XX, cũng viết về đề tài người nông dân nhưng văn học lãng mạn thường gắnvới những câu chuyện tình yêu của những anh phán Tây học, những nàng thôn nữtrên cái nền của bức tranh đồng quê thơ mộng Tuy nhiên, đứng trong hàng ngũ củacác nhà văn hiện thực phê phán, Nam Cao cũng có cái nhìn, cách phản ánh khácđối với đề tài người nông dân trong xã hội cũ Các nhà văn hiện thực như NguyễnCông Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng… thì vẽ nên một bức tranh cuộc sống khốnkhổ về vật chất của người nông dân và những phẩm chất tốt đẹp của họ, đồng thờiphê phán những bộ mặt xấu xa, bỉ ổi của tầng lớp quan lại, cường hào, ác bá ở nôngthôn
Là nhà văn thuộc lớp sau, Nam Cao đã tiếp nối, kế thừa và phát triển phươngpháp phản ánh của các nhà văn hiện thực trước mình: phản ánh chân thực về ngườinông dân và nông thôn Việt Nam trước cách mạng Tuy nhiên, khác với các nhàvăn cùng thời khác, Nam Cao miêu tả người nông dân không phải chỉ khổ sở về vậtchất mà còn là những người bị lăng nhục một cách bất công, tàn nhẫn Cái đói trởthành yếu tố đẩy người nông dân vào tình trạng bần cùng hóa, lưu manh hóa và còn
là một phép thử nhân cách Còn gì đau đớn hơn khi người đàn bà khốn khổ vì giàyếu, vì đói khát nên phải mượn cớ đi thăm cháu để được ăn một bữa cơm của nhà
bà chủ (Một bữa no) Bữa cơm cuối cùng trong cuộc đời của bà là một nỗi nhụcnhã bởi bà ăn trong sự lườm nguýt, xỉa xói của bà chủ, sự khinh bỉ của mọi người
và trong sự xấu hổ của đứa cháu Cái chết thê thảm của bà không làm nguôi nỗi
Trang 11giận dữ của bà chủ mà trở thành một tấm gương xấu để răn dạy lũ người ở: “Người
ta đói đến đâu cũng không thể chết, nhưng no một bữa là đủ chết Chúng mày cứliệu mà ăn tộ vào!” Vì miếng ăn mà người chồng, người cha trong tác phẩm “Trẻcon không được ăn thịt chó” đã đánh mất đi nhân cách của mình, trở thành một kẻích kỉ, tham lam và đê tiện Cái đói và miếng ăn đã khiến chị vợ Lúng trong truyệnngắn “Đòn chồng” trở thành một kẻ gian lận Chị ta đã cầm một lúc hai tấm bánh
ăn, để rồi bị bà bán hàng lăng nhục ngay giữa chợ, bị mọi người khinh bỉ, bị ngườichồng vũ phu đánh “thừa sống, thiếu chết” Chị làm việc đó bởi thường xuyên bịđói, thường xuyên thèm mà chẳng có tiền mua Phản ánh hiện tượng đó, Nam Cao
đã cất lên “tiếng kêu cứu lấy nhân cách, nhân phẩm và nhân tính của con ngườiđang bị cái đói và miếng ăn làm cho tiêu mòn đi, thui chột đi, hủy diệt đi”
Viết về đề tài người nông dân, Nam Cao còn cho thấy được sự hiện đại hóa ởchỗ ông tập trung phản ánh bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân vật Đó làhiện tượng con người bị chính đồng loại của mình ruồng bỏ, cự tuyệt quyền đượcsống như một thành viên trong cộng đồng Những nhân vật Chí Phèo, Thị Nở, Cu
Lộ trong “Tư cách mõ”, Lang Rận, Mụ Lợi trong “Lang Rận”… là những hìnhtượng điển hình cho bi kịch đó Từ đó Nam Cao cất lên tiếng nói phê phán xã hộithực dân nửa phong kiến Việt Nam Cùng viết về đề tài người nông dân nhưng NgôTất Tố hay Nguyễn Công Hoan chỉ chú ý phản ánh những nỗi khổ của nhân vật dotác động của hoàn cảnh gây nên và đó là nét nổi bật chỉ Nam Cao mới có
Một điều đáng chú ý nữa là khi viết về đề tài người nông dân, các nhà vănhiện thực khác chỉ tập trung vào việc phản ánh ở bình diện xã hội Đó là nhữngmâu thuẫn, những xung đột căng thẳng không thể dung hòa giữa giai cấp bóc lột vàgiai cấp bị bóc lột thì Nam Cao chú ý miêu tả, phân tích xã hội được thực hiện quaviệc phân tích nội tâm của nhân vật Đoạn mở đầu tác phẩm “Chí Phèo” là việcmiêu tả tiếng chửi của hắn Chí Phèo chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửinhững kẻ không chửi nhau với hắn, rồi chửi kẻ đẻ ra hắn Sau đó, nhà văn đi vào
Trang 12phân tích, giải thích, truy tìm nguyên nhân xã hội đã xô đẩy người nông dân vàocon đường lưu manh hóa Đẻ ra Chí Phèo với tư cách một con người là một ngườiđàn bà khốn khổ nào đó Những đẻ ra cái thằng lưu manh Chí Phèo là Bá Kiến, lànhà tù thực dân và là những định kiến xã hội Kẻ không cho Chí Phèo lấy Thị Nở,không cho anh ta quyền sống như một người lương thiện cũng chính là cái địnhkiến cổ hủ ấy Chí Phèo có thể giết chết Bá Kiến nhưng không thể thay đổi đượcnhững định kiến của xã hội Chính vì vậy mà anh ta phải tự giết mình Phản ánh bikịch của Chí Phèo, Nam Cao đã cho người đọc thấy hình ảnh một xã hội ngột ngạt,
vô nhân đạo Cái xã hội ấy đã xô đẩy những con người như Chí Phèo vào conđường tội lỗi “Giá trị hiện thực sâu sắc, khả năng khái quát cao độ, sức mạnh phêphán độc đáo của “Chí Phèo” trước hết được bộc lộ ở sự khám phá, phát hiện vàphân tích sâu sắc, thỏa đáng quy luật nghiệt ngã đó trong xã hội thực dân nửaphong kiến”
Một trong những cách tân sáng tạo của Nam Cao ở đề tài người nông dân là
sự phản ánh tình trạng con người bị tha hóa, bị lưu manh hóa mà vẫn khát khaoquay về làm người lương thiện Nếu như người nông dân trong những câu chuyện
cổ tích, ngụ ngôn truyền thống đã xấu thì rất xấu, đóng vai là kẻ phản diện từ đầuđến kết thúc truyện thì các nhà văn hiện đại đã biết khám phá chiều sâu bản tínhcon người Cho rằng bản tính con người không đơn giản, nhất phiến, một chiều.Viết về người nông dân trong xã hội hiện đại, các nhà văn đã cho họ những cuộcđời riêng và tính cách riêng Thế nhưng, người nông dân trong sáng tác của các nhàvăn đương thời là những con người dù trong bất kì hoàn cảnh nào cũng giữ đượcphẩm chất tốt đẹp của mình Chị Dậu trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố cũng bị đẩyđến bước đường cùng nhưng không vì thế mà đánh mất phẩm tiết Mợ Du trong tácphẩm cùng tên của Nguyên Hồng miêu tả như một con người bị biến chất Nhưng
sự lưu manh hóa của Tám Bính diễn ra ở thành thị, khi chị ta đã là một người thuộctầng lớp thị dân chứ không còn là nông dân Như vậy, người nông dân trong truyện
Trang 13ngắn từ xưa đến nay luôn là những con người biểu tượng cho nhân cách thật thà,chất phác, phẩm chất tốt đẹp và chỉ đến Nam Cao mới có những sự miêu tả xấu xínhư vậy ở người nông dân Việt Nam Trong truyện ngắn của Nam Cao, tình trạngngười nông dân bị lưu manh hóa đã trở thành một hiện tượng mang tính quy luật.
Đó là những Năm Thọ, Binh Chức, Chí Phèo và hậu duệ của Chí Phèo Đó cũngchính là Cu Lộ trong “Tư cách mõ”, là Đức trong “Nửa đêm”… Nhưng những conngười bị đẩy đến con người cùng ấy vẫn chưa hoàn toàn mất hết tính người Có thểnói, phát hiện mới mẻ của nhà văn về người nông dân là sự “khẳng định mạnh mẽbản chất đẹp đẽ của họ ngay cả khi họ bị vùi dập đến mất cả hình người, tínhngười” Bên trong cái ngoại hình méo mó, xộc xệch của “con quỷ dữ” Chí Phèo là
sự tiềm ẩn của nhân tính, nhân phẩm và nỗi khát khao có một cuộc sống bìnhthường, lương thiện, một gia đình nhỏ “Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải,chúng bỏ lại một con lợn nuôi để làm vốn liếng” Bên trong cái ngoại hình “ma chêquỷ hờn” của Thị Nở là một trái tim biết yêu thương, một nỗi khao khát hạnh phúc
và không ít biểu hiện của một tấm lòng nhân hậu
2.2.2 Cốt truyện, kết cấu
Trong các thể loại truyện trung đại hay tiểu thuyết chương hồi, cốt truyệnđóng vai trò quan trọng bậc nhất và không thể có chuyện nào không có cốt truyện.Trong truyện cổ, do cảm giác thời gian tuyến tính và chu kỷ song hành, nên cốttruyện thường có mô-típ: con người từ cõi trần lên cõi tiên, rồi từ cõi tiên trở lại cõitrần, từ thời gian tuyến tính đi lên thời gian chu ky rồi quay về thời gian tuyến tính.Truyện Từ Thức lên tiên sống với thế giới phi thời gian, sau đó trở về lại cõi trần vàthấy trăm năm đã trôi qua Đến ngòi bút của những nhà văn hiện thực như NguyễnCông Hoan, cốt truyện vẫn được đề cao Yếu tố tạo nên sức hấp dẫn trong các tácphẩm của ông chính là những tình huống truyện bất ngờ Trong các truyện ngắncủa Hồ Biểu Chánh, Tự lực văn đoàn, mạch truyện chỉ diễn biến theo dòng thờigian, cốt truyện, kết cấu tuy đã bỏ được cách viết kết cấu chương hồi như văn học
Trang 14trung đại nhưng vẫn còn rất đơn giản Thế nhưng, Nam Cao đã có những đổi kháctrong cách phản ánh hiện thực so với văn học trung đại hay các nhà văn cùng thời.Ông chú ý nhiều hơn tới cách thể hiện những suy ngẫm của mình trên cơ sở củaviệc phân tích hiện thực Vì vậy, cách tổ chức, sắp xếp câu chuyện hay cốt truyệncũng được Nam Cao sáng tạo, vượt thoát khỏi khuôn hình của truyện ngắn trước
đó Nhà văn đưa những cái hằng ngày vào trong văn học, đó là những suy nghĩ, tâm
lí đời thường của con người Vì vậy mà tính chất tự truyện khá rõ nét Yếu tố đểnhà văn dựng truyện là sự phân tích tâm lí nhân vật chứ không phải là các cốttruyện có thứ tự lớp lang Vì vậy, truyện ngắn của ông ít quan tâm đến vấn đề cốttruyện và thậm chí có những tác phẩm còn không có cốt truyện Ở một số tác phẩm,cốt truyện chỉ là cái cớ để nhà văn phân tích tâm lí con người Trong truyện ngắn
“Mua nhà”, nhà văn đã đi từ sự băn khoăn, mặc cảm của nhân vật “tôi” trước cáinhà lụp xụp, hôi hám của mình đến việc tìm ra lí do chính đáng để vay tiền muanhà mới, rồi đến những dằn vặt, hối hận về chuyện mua nhà Đặc điểm cốt truyệntheo tâm lí nhân vật này của Nam Cao đã phá vỡ những kiểu kết cấu quen thuộctrong truyện ngắn đương thời của Nguyễn Công Hoan, Bùi Hiển, Thanh Tịnh, NgôTất Tố… Trong truyện “Nhỏ nhen”, câu chuyện về cuộc sống của bốn anh chàngGiang, Tá, Du, Hồ chỉ là cái cớ để nhà văn triết lí về sự nhỏ nhen của con người vàđưa ra một nhận định: “Khi đã công nhiên bênh vực những cái nhỏ nhen thì lạikhông thể nhỏ nhen như người khác được” Như vậy, với kiểu kết cấu theo sự pháttriển tâm lí nhân vật đã tạo điều kiện cho nhà văn đi sâu vào những ngóc ngách củatâm hồn, khiến nhân vật của ông bộc lộ toàn bộ đời sống bên trong của mình
Đặc biệt, trong một số truyện ngắn của Nam Cao, chúng ta còn thấy đượchiện tượng đan cài, chồng chéo hai cốt truyện trong một tác phẩm Đây là một cáchtân mới mẻ của nhà văn ở phương diện cốt truyện góp phần không nhỏ vào quátrình hiện đại hóa Ở truyện ngắn “Lão Hạc”, cốt truyện người đọc có thể nhận rangay là số phận của Lão Hạc Nhưng ẩn sau đó là một cốt truyện khác: sự nhận biết
Trang 15về Lão Hạc Nhân vật vợ ông giáo nhìn Lão Hạc như một người lẩm cẩm; Binh Tưnhìn Lão Hạc như một tên trộm cắp và giả dối; cái nhìn của ông giáo thì là một quátrình: từ chưa hiểu đến hiểu, từ thái độ dửng dưng đến cảm thông và kính trọng…
Rõ ràng, ở cốt truyện thứ nhất, nhà văn mới chỉ phản ánh hiện thực, ở cốt truyệnthứ hai thì là sự phân tích, lí giải xã hội Đó mới là nội dung, tư tưởng mà tác giảmuốn gửi gắm
Điểm đặc biệt trong cốt truyện của Nam Cao hơn so với các nhà văn khác đó
là những hành động bên ngoài của nhân vật không phải là yếu tố chủ yếu để tạonên tác phẩm, mà chỉ đóng vai trò “khiêu khích” để nhân vật bộc lộ tính cách vàtình trạng tâm lí Vì vậy, ta ít gặp những biến cố thúc đẩy sự phát triển của hànhđộng, của cốt truyện Những biến cố thường được miêu tả trong mối quan hệ ảnhhưởng, tác động tới thế giới tâm hồn nhân vật Trong truyện ngắn “Mua nhà”, sựkiện được phản ánh là việc nhân vật “tôi” mua được một cái nhà rẻ Tuy nhiên,trong tác phẩm, nhà văn không miêu tả tỉ mỉ truyện mua nhà mà tập trung vào việcphản ánh tác động của sự kiện đó đối với cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật Khi biếtngười bán nhà cho mình định dùng tiền để gỡ gạc, anh ta đã can ngăn rồi lại ngẫmnghĩ: “Hắn đã muốn chết thì cho hắn chết… Hắn không bán cho tôi thì bán chongười khác” Thế nhưng, cái điệp khúc “Ta không mua thì người khác…” khônglàm cho anh ta vững tâm khi thấy đứa trẻ mồ côi tội nghiệp, con của chủ nhà” có vẻthù ghét tôi lắm” Và khi tiếng nức nở của đứa trẻ gọi người mẹ quá cố vang lên thìanh ta không còn tự an ủi mình được nữa Anh thấy “Tim tôi động một cái, giốngnhư bước hụt Rồi nó lại đập loạng choạng Tôi hơi lảo đảo” Anh tự dày vò mình
“Tôi ác quá! Tôi ác quá!” Đó là những xung đột tâm lí diễn ra trong nội tâm củanhân vật, những hối hận, những phân tích, lí giải để rồi rút ra một triết lí vừa đauđớn vừa sâu sắc: “Hạnh phúc chỉ là một cái chăn quá hẹp Người này co thì ngườikia bị hở”
Trang 16Những đặc điểm khác lạ của Nam Cao nói trên đã dẫn đến kết cấu cốt truyện
có nhiều thay đổi Kiểu kết cấu theo năm bước của tác phẩm tự sự nếu như là đặcđiểm chủ yếu của truyện ngắn đương thời, qua các tác phẩm của Nguyễn CôngHoan, Bùi Hiển, Thanh Tịnh, Ngô Tất Tố… thì đã bị phá vỡ trong truyện ngắn củaNam Cao Truyện của ông có thể nương theo trục thời gian, dõi theo cuộc đời nhânvật hay một chặng dài trong cuộc đời của nhân vật Nhiều tác phẩm của ông đượckết cấu theo quy luật phát triển tâm lí của nhân vật Kiểu kết cấu theo sự phát triểntâm lí của nhân vật đã tạo điều kiện cho nhà văn đi sâu vào những ngóc ngách củatâm hồn, khiến nhân vật của ông bộc lộ toàn bộ đời sống bên trong của mình
Ta cũng gặp kiểu kết cấu theo số phận nhân vật trong một số truyện ngắn củaông Nhà văn dõi theo những chặng đời của nhân vật để từ đó giúp người đọc rút ranhững đánh giá về nhân vật Truyện “Dì Hảo” được nhà văn chia làm ba phần, mỗiphần là một mảnh đời của nhân vật dì Hảo Phần đầu là lí do dì Hảo đến làm connuôi, quan hệ thân thiết của nhân vật “tôi” đối với dì Phần thứ hai là đoạn đời từkhi dì đi lấy chồng và người vợ lẽ Cả ba phần của tác phẩm hợp lại thành số phậncủa nhân vật Đó là nỗi khổ cực của những con người hiền lành chất phác Họ càng
cố gắng nhịn nhục thì lại càng phải gánh chịu thua thiệt trong cuộc sống
Kết cấu luận đề là một kết cấu được sáng tạo dựa trên truyện trung đại như
“Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ Nếu như Nguyễn Dữ sau khi kể xong mộtcâu chuyện thường có một đoạn kết bàn luận về ý nghĩa của câu chuyện thì ở cáctác phẩm của Nam Cao cũng có những câu văn mang tính chất luận đề, triết lí nhưvậy Tuy nhiên, nhà văn Nam Cao đã biết cách sáng tạo, vận dụng nhuần nhuyễnnhững câu văn luận đề trong khi miêu tả, khi kể chuyện Đặc biệt, tác phẩm đượcxây dựng trên cơ sở minh họa cho một tư tưởng có sẵn của nhà văn Nhiều khi đọccâu chuyện đó, chúng ta tự nhận ra triết lí của nhà văn ẩn đằng sau đó Đó là sự nhỏnhen đến mức khó tin của con người (Nhỏ nhen); là một quy luật: khi con người bị
Trang 17lăng nhục, bị cự tuyệt quyền làm người thì họ sẽ trở thành những kẻ lưu manh (Tưcách mõ)…
Truyện ngắn của Nam Cao còn có sự sáng tạo trong việc xây dựng theo kếtcấu vòng tròn như trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao, mở đầu câu chuyệnxuất hiện hình ảnh cái lò gạch cũ là nơi Chí Phèo được anh đi thả ống lươn nhặt về
và kết thúc cũng là hình ảnh cái lò gạch cũ thoáng xuất hiện trong đầu Thị Nở Vàcách xây dựng kết cấu vòng tròn này đã thể hiện được dụng ý nghệ thuật của NamCao trong tác phẩm
Như vậy, xét trên lĩnh vực cốt truyện, truyện ngắn của Nam Cao đã có nhữngbước tiến vượt bậc so với văn xuôi trung đại và truyện ngắn cùng thời Ông đã phá
vỡ những nguyên tắc thông thường của cốt truyện và đưa vào tác phẩm những lốikết cấu mới mẻ, độc đáo Nam Cao là nhà văn đầu tiên viết truyện ngắn như là tiểuthuyết trong văn học Việt Nam Các kiểu kết cấu đa dạng trong truyện ngắn củaông tiềm ẩn nhiều ý nghĩa và vì vậy, truyện ngắn của ông mang tính chất là những
“đoản tiểu thuyết”
2.2.3 Xây dựng nhân vật
Nhân vật là một yếu tố quan trọng của truyện ngắn Trong văn học dân gian,văn học trung đại, nhân vật thường xuất hiện là kiểu nhân vật chức năng với nhữnghoạt động chỉ nhằm thực hiện một số chức năng trong truyện Tác giả văn họctrung đại thường quan niệm “văn dĩ tải đạo”, vì vậy, văn chương xoay quanh nhữngchủ đề quen thuộc của đạo đức nhà Nho Con người xuất hiện trong dòng văn họcnày, lẽ dĩ nhiên là con người cộng đồng, con người quân quốc… mang lí tưởng “tríquân trạch dân”, mang khát vọng xây dựng một xã hội Nghiêu Thuấn Vì vậy, nhânvật trong truyện trung đại cũng là những con người cao cả, mang một chức năng xãhội nào đó Đặc biệt, tiếng nói của nhân vật là tiếng nói của nhà văn Nhân vật trởthành cái loa phát ngôn cho những tư tưởng giáo huấn của nhà Nho Đến thế kỉ
Trang 18XVIII – XIX, xuất hiện những nhân vật có sự cựa quậy về cái tôi bản ngã, phảnứng lại lễ giáo phong kiến; những con người mất dần niềm tin vào những giá trị củađạo đức nhà Nho, cảm nhận được sự cô độc, lạc lõng đồng thời không ngừng khátkhao về tình yêu và hạnh phúc Tuy nhiên, sự cựa quậy đó không nhiều, nhân vậtvẫn chưa có hình hài, tính cách mà đại diện cho những kiểu người, những chuẩnmực phẩm chất riêng và chịu sự chi phối sâu sắc bởi tư tưởng, ngòi bút của tác giả.Đầu thế kỉ XX, ở trong các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan có xây dựng các nhânvật loại hình như quan Huyện Hinh… để phản ánh tính cách, đạo đức của một loạingười nhất định, đó là tính cách “ăn bẩn” của bọn quan lại Tuy nhiên, đến ngòi bútcủa Nam Cao, ông đã xây dựng các nhân vật tính cách đạt đến mức độ có cá tínhcao và các nhân vật tự nhận thức Cách xây dựng kiểu nhân vật này đã cho thấy sựsáng tạo, tiếp thu văn học phương Tây để góp phần hiện đại hóa truyện ngắn ViệtNam, khiến cho các nhân vật truyện ngắn không còn đơn tuyến, một chiều, cứngnhắc, khô khan
Nếu như Nguyễn Công Hoan xây dựng nhân vật như những diễn viên trênsân khấu hài kịch, Thạch Lam xây dựng nhân vật với những bức tranh tâm trạngnhẹ nhàng, trữ tình man mác… thì Nam Cao không xây dựng nhân vật như các nhàvăn trước mình Ông tập trung vào xây dựng những tính cách điển hình trong sựphát triển tự thân của nhân vật Sự hiện đại hóa của truyện ngắn Nam Cao thể hiện
ở chỗ ông xây dựng các tính cách nhân vật có chiều sâu suy nghĩ, tâm lí, tư tưởng
và nhiều khi nó dễ bị thay đổi bởi những tác động của hoàn cảnh, môi trường xãhội Bằng ngòi bút phân tích, miêu tả tâm lí đặc sắc, Nam Cao đã xây dựng đượcnhững hình tượng nhân vật thú vị Nhân vật Cu Lộ trong “Tư cách mõ” được nhàvăn miêu tả như một điển hình của sự tha hóa Sự thay đổi tính cách của anh ta từngười lương thiện, người có lòng tự trọng đến sự đánh mất nhân cách là do tácđộng của môi trường xã hội Chính sự khinh bỉ, chế giễu của mọi người đã đẩy anh
ta vào sự trả thù bằng cách cố tỏ ra không biết nhục Nhà văn đã cay đắng mà thốt
Trang 19lên rằng: “Hỡi ôi! Thì ra lòng khinh, trọng của chúng ta có ảnh hưởng đến nhâncách của người khác nhiều lắm; nhiều người không biết gì là tự trọng, chỉ vì khôngđược ai trọng cả” Tuy nhiên, sự thay đổi tính cách của Cu Lộ còn là do sự tự vậnđộng của anh ta Từ sự xấu hổ, anh ta càng ngày càng lì lợm hơn Từ lúc “làm mõ”
vì mảnh vườn, anh đã chủ động trong việc lấy cỗ về cho vợ con ăn, tìm đủ mọicách để xoay người khác từ lượm lúa, đến bữa ăn, tiền phong bao trong ngày tết
“Cứ như vậy, hắn tiến bộ mãi trong nghề nghiệp mõ”
Tính cách nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao là một ví
dụ sinh động cho sự tác động của hai yếu tố hoàn cảnh Sự tha hóa của Chí Phèo làbởi tác động của hoàn cảnh, sự thức tỉnh của hắn cũng một phần là do hoàn cảnh,nhưng cũng là sự vận động tự thân của tính cách nhân vật Từ một kẻ lương thiện,
“lành như đất”, trải qua những năm tháng tù tội, Chí trở thành con quỉ của làng VũĐại, rồi Thị Nở xuất hiện như một biểu hiện của tình thương đã lại khơi lại conngười khát khao lương thiện trong Chí Là một đứa trẻ bị bỏ rơi, Chí được nhữngcon người lương thiện nuôi nấng, và khi trưởng thành, hắn hiền như cục đất Sựhiền lành và nhút nhát của Chí khiến Bà Ba, vợ Bá Kiến, bực tức mà bảo: “Màythực thà quá! Con trai gì hai mươi tuổi đã như ông già” Ấy vậy mà, sau khi ở tù ra,Chí đã biến đổi hẳn Hắn trở thành một thằng say rượu liều lĩnh, “Dám độc lực chọinhau với lí trưởng, Chánh tổng, Bá hộ, tiên chỉ làng Vũ Đại, Chánh hội đồng kìhào, huyện hào, Bắc kì nhân dân đại biểu, khét tiếng đến cả trong hàng huyện” Vàcùng với những cơn thèm rượu, với sự nham hiểm của Bá Kiến, Chí từng bước trởthành con quỷ của làng Vũ Đại, một kẻ mất hết tính người Nhưng cuộc đời củahắn, tính cách của hắn không phải mãi mãi là như vậy Lương tâm và nhân cáchcủa Chí Phèo đã thức tỉnh Sự thức tỉnh ấy có phần là do trận ốm đã làm thay đổisinh lí dẫn đến sự thay đổi tâm lí Đó cũng là do tâm lí sợ cô đơn đã khiến Chímuốn sống lương thiện, khát khao hòa mình với mọi người Nhưng yếu tố quantrọng nhất là do bản chất của Chí lương thiện Cái ước mơ bình dị mà đẹp đẽ của