Ngoài một số bài viết và luận án tiến sĩ có đề cập đến việc so sánh tục ngữ, chẳng hạn, luận án tiến sĩ “Cấu trúc cú pháp – ngữ nghĩa của tục ngữ Việt trong sự so sánh với tục ngữ của mộ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và dẫn chứng đưa ra trong luận án là hoàn toàn trung thực và không sao chép từ bất kì một công trình nào
Tác giả luận án
Trang 2Trang
MỤC LỤC i
DẪN NHẬP 1
1 Đối tượng nghiên cứu và lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Nhiệm vụ luận án 17
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 18
5 Những đóng góp của luận án 20
6 Bố cục luận án 21
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Các quan niệm về tục ngữ 24
1.2 Tục ngữ và một số khái niệm hữu quan 30
1.2.1 Tục ngữ – thành ngữ 30
1.2.2 Tục ngữ – ngạn ngữ 38
1.2.3 Khái niệm “yết hậu ngữ”, “quán dụng ngữ” trong tiếng Hán 44
1.3 Một số đặc điểm của tục ngữ 55
1.3.1 Tính lịch sử 55
1.3.2 Tính dân tộc 56
1.3.3 Tính biến thể 59
1.4 Tiểu kết 61
Chương 2: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CÚ PHÁP TỤC NGỮ HÁN HIỆN ĐẠI VÀ TỤC NGỮ VIỆT 2.1 Sơ lược cấu trúc cú pháp tiếng Hán và tiếng Việt 64
2.1.1 Sơ lược cấu trúc cú pháp tiếng Hán 64
2.1.2 Sơ lược cấu trúc cú pháp tiếng Việt 69
2.2 Cấu trúc cú pháp tục ngữ Hán và tục ngữ Việt 75
2.2.1 Cấu trúc cú pháp tục ngữ Hán 76
2.2.2 Cấu trúc cú pháp tục ngữ Việt 88
2.2.3 So sánh cấu trúc cú pháp tục ngữ Hán và tục ngữ Việt 91
Trang 32.3 Một số cấu trúc đặc thù của tục ngữ Hán và tục ngữ Việt 99
2.3.1 Cấu trúc sóng đôi của tục ngữ Hán và tục ngữ Việt 99
2.3.2 Cấu trúc vần của tục ngữ Hán và tục ngữ Việt 110
2.4 Tiểu kết 115
Chương 3: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA TỤC NGỮ HÁN HIỆN ĐẠI VÀ TỤC NGỮ VIỆT 3.1 Ngữ nghĩa tục ngữ 117
3.1.1 Khái quát về ngữ nghĩa tục ngữ 117
3.1.2 Nghĩa biểu trưng của tục ngữ 128
3.1.3 Mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và hình ảnh biểu trưng trong tục ngữ Hán và tục ngữ Việt 128
3.2 So sánh ngữ nghĩa tục ngữ Hán và tục ngữ Việt 144
3.2.1 Tục ngữ Hán và tục ngữ Việt có nội dung ý nghĩa giống nhau, hình ảnh biểu trưng giống nhau 145
3.2.2 Tục ngữ Hán và tục ngữ Việt có nội dung ý nghĩa giống nhau, hình ảnh biểu trưng khác nhau 155
3.2.3 Tục ngữ Hán và tục ngữ Việt có hình ảnh biểu trưng giống nhau, nội dung ý nghĩa khác nhau 171
3.2.4 Nhóm tục ngữ âm Hán Việt 175
3.3 Tiểu kết 183
KẾT LUẬN 185
TÀI LIỆU THAM KHẢO 190
DANH MỤC BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 200
PHỤ LỤC Phụ lục 1: Tục ngữ âm Hán Việt 1
Phụ lục 2: Tục ngữ Hán và Việt - nghĩa biểu trưng giống nhau, hình ảnh biểu trưng giống nhau 10
Phụ lục 3: Tục ngữ Hán và Việt - nghĩa biểu trưng giống nhau, hình ảnh biểu trưng khác nhau 20
Trang 41 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay việc nghiên cứu tục ngữ trong giới ngôn ngữ học của hai nước Việt Nam và Trung Quốc rất được coi trọng Số lượng học giả cũng như những thành quả trong việc nghiên cứu tục ngữ ngày càng nhiều Hệ quả của điều này là sự xuất hiện rất đa dạng các chuyên khảo cũng như các từ điển về tục ngữ Về các từ điển tục ngữ Hán có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như “Hán ngữ tục ngữ đại từ điển” do Ôn Đoan Chính chủ biên [132], “Tục ngữ từ điển” của Từ Tông Tài, Ứng Tuấn Linh [142], v.v Ở Việt Nam có “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan [89], “Tục ngữ Việt Nam” của nhóm Chu Xuân
Nam” của Nguyễn Lân [69], “Từ điển thành ngữ - tục ngữ - ca dao Việt Nam” của Việt Chương [16], v.v
So với sự xuất hiện rất đa dạng, phong phú các từ điển tục ngữ, những công trình chuyên về nghiên cứu tục ngữ nói chung cũng như các công trình đối chiếu tục ngữ Hán - Việt, Việt - Hán còn rất ít Ngoài một số bài viết và luận án tiến sĩ có đề cập đến việc so sánh tục ngữ, chẳng hạn, luận án tiến sĩ “Cấu trúc cú pháp – ngữ nghĩa của tục ngữ Việt trong sự so sánh với tục ngữ của một số dân tộc khác” (2001) của Nguyễn Quí Thành, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và so sánh ngữ nghĩa cũng như cấu trúc giữa tục ngữ Hán và tục ngữ Việt Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng tiến hành nghiên cứu, đối chiếu tục ngữ Hán và tục ngữ Việt là việc làm có ý nghĩa và có giá trị nhất định
Ngôn ngữ và văn hoá có quan hệ mật thiết với nhau Hệ thống ngôn ngữ của
Trang 5một dân tộc, trong đó tục ngữ là một bộ phận cấu thành, không những truyền tải văn hoá của dân tộc đó, xét về góc độ lịch sử, còn là tinh hoa về văn hoá của dân tộc Tục ngữ Hán cũng như tục ngữ Việt đều mang đậm tính nhân văn Nó phản ánh một cách sâu sắc và toàn diện cuộc sống văn hoá xã hội của dân tộc Hán và dân tộc Việt Tục ngữ là kết tinh trí tuệ của quần chúng nhân dân qua nhiều thế hệ, là sự tổng kết kinh nghiệm sản xuất và cuộc sống xã hội của quảng đại quần chúng, và còn là sự thể hiện sâu sắc, sinh động văn hoá dân tộc Việt và Hán Vị trí địa lí và lịch sử giao lưu văn hoá lâu đời của nhân dân hai nước Việt –Trung khiến cho tục ngữ Hán và tục ngữ Việt trong sự phát triển và hình thành của mình đã có sự ảnh hưởng, thúc đẩy lẫn nhau Do đó nghiên cứu tục ngữ Hán và tục ngữ Việt là việc làm có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu văn hoá dân tộc hai nước, việc đối chiếu tục ngữ Hán và Việt có giá trị tham khảo quan trọng
Việc nghiên cứu tục ngữ Hán cũng như tục ngữ Việt đã được giới nghiên cứu tiến hành từ lâu và càng ngày càng nhận được nhiều quan tâm Với nội dung phong phú, bao quát nhiều lĩnh vực, với cấu trúc đặc thù, nhiều loại hình, tục ngữ không chỉ là đối tượng nghiên cứu của ngành văn học dân gian, như quan niệm của một số tác giả trước đây, mà trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác như triết học, dân tộc học, tâm lý học, xã hội học, đặc biệt là ngôn ngữ học Tục ngữ không chỉ được tìm hiểu ở phương diện giá trị phản ánh đời sống, nhận thức; ở những đúc kết kinh nghiệm về tự nhiên, về xã hội mà còn được khai thác ở nhiều góc độ khác
Đứng từ phương diện ngôn ngữ học, luận án này xác định đối tượng nghiên cứu là phương diện ngôn ngữ của tục ngữ và những vấn đề liên quan mật thiết
Trang 6với phương diện này Những vấn đề cơ bản về tục ngữ như cấu trúc cú pháp, các mô hình ngữ nghĩa, nghĩa biểu trưng trong tục ngữ được đặc biệt chú ý Vì nhiều
lí do, luận án chỉ tập trung tìm hiểu những phương diện trên thể hiện trong tục ngữ Hán và tục ngữ Việt
Thông qua luận án này, chúng tôi mong muốn được góp một phần sức lực của mình vào việc so sánh đối chiếu, tìm ra những nét tương đồng, dị biệt giữa tục ngữ hai nước Việt – Trung Chúng tôi hy vọng đây sẽ là một tài liệu tham khảo tin cậây, có giá trị cho những người muốn nghiên cứu, tìm hiểu tục ngữ Hán Những nội dung của luận án cũng sẽ góp phần nhất định vào việc gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1 Tình hình nghiên cứu tục ngữ ở Trung Quốc
Theo chuyên khảo nghiên cứu tục ngữ tiếng Hán ở thế kỉ XX [135], từ “tục ngữ” xuất hiện sớm nhất trong “Sử kí” của Tư Mã Thiên Nếu từ “tục ngữ” trong
“Sử kí” là từ thông thường, chỉ cách nói lưu truyền trong dân gian, thì từ “tục ngữ” trong “Thuyết uyển” của Lưu Hướng đã mang tính thuật ngữ, chỉ những ngữ cố định lưu truyền trong dân gian Vào thời Tiên Tần và thời nhà Hán, tục ngữ và ngạn ngữ thuộc về cùng một khái niệm, cho nên sau này còn có tên gọi là “tục ngạn” Nếu tính từ thế kỉ XVIII, có thể nói là việc sưu tầm và chú thích tục ngữ ở Trung Quốc cũng khá rầm rộ và đạt được những kết quả nhất định Những đầu sách tiêu biểu là “Thông tục biên”, “Hằng ngôn lục”, “Cổâ dao ngạn”, “Thường ngữ lục nguyên”, v.v Tuy nhiên, những sách về tục ngữ của thời kì này chủ yếu thiên về sưu tầm, thu thập các câu tục ngữ, không mang tính chất lí luận, nghiên cứu Ngay cả nhận thức về vấn đề cơ bản nhất “tục ngữ là
Trang 7gì” cũng rất mơ hồ Nhận định về việc nghiên cứu tục ngữ trong giai đoạn này, tác giả cho rằng: “我国古代的俗语研究虽然取得了不少成就,但总的来说,还是处在不自觉的朦胧状态 (nghiên cứu tục ngữ thời cổ của nước ta tuy đạt được một số thành tựu, nhưng tóm lại vẫn ở trong tình trạng mông lung, không rõ ràng)” [135, tr.32]
Sau khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời (1949), công việc nghiên cứu và thu thập, chỉnh lí tục ngữ đạt được rất nhiều thành quả và có những bước phát triển mới Những chuyên khảo nghiên cứu lí luận về tục ngữ được triển khai toàn diện Có thể kể đến “Ngạn ngữ” của Ôn Đoan Chính [134]; “Tục ngữ” của Mã Quốc Phàm, Mã Thúc Tuấn [127]; “Trung Hoa ngạn dao nghiên cứu” của Vũ Chiêm Khôn [138]; “Tục ngữ” của Từ Tông Tài [141] và nhiều bài nghiên cứu khác đăng trên tạp chí khoa học
Nhìn chung, phạm vi nghiên cứu tục ngữ ngày nay tương đối sâu, rộng Các tác giả không những chỉ chú ý đến tính chất, nội dung và hình thức của tục ngữ mà còn chú ý nghiên cứu phương diện ngữ dụng, tính khái quát của tục ngữ
2.1.1 Nghiên cứu tục ngữ từ góc độ cấu trúc cú pháp
Như trên đã nói, các sách nghiên cứu tục ngữ Hán hiện nay đa số đều đề cập đến nhiều khía cạnh của tục ngữ Nhưng cũng có thể nhận thấy khuynh hướng đi sâu nghiên cứu tục ngữ ở một số lĩnh vực của một số tác giả Chú ý phân tích cấu trúc cú pháp tục ngữ có Mã Quốc Phàm, Mã Thúc Tuấn [127], Vũ Chiêm Khôn [138] Đồng tình với quan điểm chung của các nhà Hán học, cho rằng tục ngữ tương đương với đơn vị câu, tác giả Mã và Vũ đều phân tích tục ngữ theo quan điểm ngữ pháp truyền thống của tiếng Hán [x chương 2] Theo họ, cấu trúc cú pháp tục ngữ cũng có các kiểu câu đơn, câu ghép và một số cấu trúc đặc thù
Trang 8Trong các tài liệu chúng tôi khảo sát không thấy có ý kiến khác biệt, không thấy khuynh hướng nghiên cứu khác về cấu trúc cú pháp tục ngữ, các nhà nghiên cứu hoặc không phân tích sâu, hoặc đều phân tích chúng theo cấu trúc cú pháp truyền thống
2.1.2 Nghiên cứu tục ngữ từ góc độ ngữ nghĩa
Các nhà Hán học nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nắm vững ngữ nghĩa tục ngữ vì nó liên quan trực tiếp đến việc lí giải và vận dụng tục ngữ một cách chính xác Ngoài ra họ còn đề cập cụ thể đến những vấn đề như: nghĩa mặt chữ và nghĩa thực tế của tục ngữ; tính đơn nghĩa và tính đa nghĩa của tục ngữ; tục ngữ đồng nghĩa và tục ngữ phản nghĩa
Theo Ôn Đoan Chính [134], nghĩa mặt chữ (字面意义 tự diện ý nghĩa) của tục ngữ là nghĩa được suy ra trực tiếp từ những từ và quan hệ ngữ pháp bao hàm trong tục ngữ Nghĩa thực tế (实际意义 thực tế ý nghĩa)của tục ngữ chỉ nghĩa được sử dụng trong thực tế của tục ngữ Sau khi phân tích mối quan hệ giữa nghĩa mặt chữ và nghĩa thực tế, tác giả phân chúng thành ba nhóm sau:
(1) Nghĩa mặt chữ và nghĩa thực tế giống nhau, nghĩa mặt chữ là nghĩa đen (2) Nghĩa mặt chữ và nghĩa thực tế không giống nhau Nghĩa mặt chữ không có tác dụng biểu ý, nghĩa thực tế trong câu mới là nghĩa được sử dụng
(3) Có hai nghĩa thực tế, một nghĩa giống nghĩa mặt chữ, còn một nghĩa là nghĩa phái sinh
Về tính đơn nghĩa và đa nghĩa của tục ngữ, tác giả Ôn cho rằng tục ngữ đơn nghĩa là một câu tục ngữ chỉ truyền thụ tri thức ở một lĩnh vực nào đó, những tri thức đó được xác nhận và chỉ có một cách giải thích Tục ngữ đa nghĩa là tục ngữ có từ hai ý nghĩa trở lên Trong tục ngữ không hiếm hiện tượng “nhất ngữ đa
Trang 9ngôn”, có tục ngữ có hai nghĩa thực tế – nghĩa đen và nghĩa phái sinh, từ đó hình thành hiện tượng cùng tồn tại tầng nghĩa bề mặt (浅层义 thiển tầng nghĩa) và tầng nghĩa bên trong (深层义 thâm tầng nghĩa) Tuy có thể đa nghĩa, nhưng khi sử dụng trong ngữ cảnh cụ thể, mỗi câu tục ngữ thường cũng chỉ mang một nghĩa nhất định
Cùng quan điểm trên còn có Từ Tông Tài [141], ngoài việc đề cập tới tính đơn nghĩa và đa nghĩa của tục ngữ, ông còn đưa ra một loại nữa là tính thiên nghĩa (偏义性) Tục ngữ thiên nghĩa là dạng thức tục ngữ do hai bộ phận tạo thành, trong đó một bộ phận là chính, một bộ phận là phụ Bộ phận chính biểu thị nghĩa chính của tục ngữ, bộ phận phụ biểu thị nghĩa phụ, nó có tác dụng so sánh và làm rõ nghĩa mà tục ngữ muốn biểu đạt Câu tục ngữ “饭多伤胃,话多
hại người), trong đó cơm nhiều hại dạ dày là nghĩa phụ để nhấn mạnh, làm nổi rõ nghĩa chính lời nhiều hại người
Thực ra, nghĩa mặt chữ hay nghĩa thực tế (dùng theo thuật ngữ các nhà Hán học) cũng tương đương với nghĩa đen hay nghĩa bóng hoặc nghĩa biểu trưng trong tục ngữ Việt (x 0.2.2) Thiết nghĩ, đó cũng là những đặc điểm chung về mặt ngữ nghĩa của tục ngữ nhiều dân tộc
2.2 Tình hình nghiên cứu tục ngữ ở Việt Nam
Việc sưu tầm biên soạn tục ngữ ở Việt Nam cũng xuất hiện từ rất sớm Chỉ tính trong khoảng 40 năm nửa đầu thế kỉ XX, khá nhiều sách về tục ngữ được biên soạn, xuất bản Cuốn sách biên soạn tục ngữ in bằng chữ quốc ngữ đầu tiên là “Tục ngữ cổ ngữ gia ngôn”, tác giả là Huỳnh Tịnh Của, xuất bản năm 1896 [dẫn theo 68, tr.28] Ngoài ra có thể kể đến một số sách khác như “Nam ngạn
Trang 10chích cẩm” của Phạm Quang Sán (1918), “Việt Nam ngạn ngữ phương ngôn thư” của Nguyễn Văn Lễ (1931), v.v Những sách này chủ yếu dừng lại ở mức thu thập, biên soạn, cùng lắm là có thêm phần chú giải tục ngữ Tuy nhiên, những tư liệu thu thập tục ngữ đó rất có giá trị về phương diện bảo tồn phong tục tập quán, nói rộng hơn là bảo tồn và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam Chúng ta có thể nhận thấy điều này trong lời tựa của “Nam âm sự loại”: “Nước Nam ta phương ngôn tục ngữ cùng là lời ca, câu dở, câu hay cũng đều truyền cả Câu hay để cho người bắt chước, câu dở để cho người răn chừa, không mất tiền mua, đáng trăm quan quý” [dẫn theo 74, tr 509]
Năm 1975, miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất Trang sử mới của nước nhà tạo cơ hội tốt cho sự phát triển của nhiều ngành khoa học tự nhiên cũng như xã hội Nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm nghiên cứu tục ngữ và một số công trình chuyên khảo về tục ngữ được ra đời Những chuyên khảo này không đơn thuần chỉ là sưu tầm và chú giải tục ngữ, mà còn tìm hiểu tục ngữ từ nhiều khía cạnh, trong đó cấu trúc và ngữ nghĩa của tục ngữ được các tác giả đi sâu khai thác, nghiên cứu
Chúng ta có thể kể đến những công trình nghiên cứu về tục ngữ như: “Tục ngữ Việt Nam” của nhóm Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri [27];
“Tục ngữ Việt Nam, cấu trúc & thi pháp” của Nguyễn Thái Hòa [59], “Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam” của tác giả Phan Thị Đào [35] và hàng loạt các bài
nghiên cứu tục ngữ đăng trong các tạp chí: Ngôn ngữ, Văn hoá dân gian, Văn học
cùng một số luận án tiến sĩ nghiên cứu về tục ngữ trong mấy năm gần đây
Ở Việt Nam, có thể thấy cách tiếp cận nghiên cứu tục ngữ theo các khuynh hướng sau:
Trang 112.2.1 Tiếp cận cấu trúc cú pháp tục ngữ theo quan điểm ngữ pháp chức năng
Theo quan điểm ngữ pháp chức năng, cấu trúc câu là mô hình Đề –Thuyết Quan điểm phân tích cú pháp tục ngữ theo mô hình đề thuyết đầu tiên có thể kể
đến tác giả Cao Xuân Hạo trong Ngữ pháp chức năng tiếng Việt [54] Theo ông,
mô hình đề thuyết có thể phân nhỏ thành câu một bậc (kiểu câu mà cả Đề lẫn Thuyết đều không thể chia tiếp thành hai phần đề và thuyết ở bậc thấp hơn) và câu nhiều bậc (kiểu câu mà Đề hoặc/ và Thuyết bậc trên được cấu tạo bằng một cấu trúc đề thuyết bậc dưới) Ông dùng biểu đồ hình cây biểu diễn cấu trúc cú pháp tiếng Việt trong đó bao gồm cấu trúc cú pháp tục ngữ Việt [54, tr.72,73] Ngoài ra để có thể dễ dàng phân định ranh giới giữa Đề và Thuyết, các tác giả còn đưa ra một số từ giữ vai trò là phương tiện phân giới Đề – Thuyết Đó chủ yếu là các từ “thì”, “là”, “mà”
Nguyễn Đức Dương trong “Tìm về linh hồn tiếng Việt” [32] cùng một quan điểm về mô hình đề-thuyết Ông đã sử dụng cách biểu diễn cấu trúc cú pháp
bằng biểu đồ hình cây của Cao Xuân Hạo để tiến hành phân tích cấu trúc cú pháp tục ngữ Theo ông, vận dụng mô hình đề-thuyết giúp nhận diện cấu trúc cú pháp của mọi đơn vị tục ngữ dễ dàng, mau lẹ
Có thể tìm thấy cùng chung cách tiếp cận tục ngữ từ góc độ ngữ pháp chức năng trong luận án tiến sĩ “So sánh cấu trúc – chức năng của thành ngữ và tục
ngữ tiếng Việt” của Hoàng Diệu Minh [79] Theo tác giả trong tiếng Việt, câu có cấu trúc đề-thuyết, tục ngữ cũng vậy Hoàng Diệu Minh dùng cách phân tích câu và dựa vào các dấu hiệu hình thức và các tác tử phân giới thì, là, mà để phân
tích và phân loại tục ngữ theo cấu trúc câu đơn, câu ghép Vấn đề được nghiên cứu trong luận án về ngữ pháp chức năng đối với cú pháp tục ngữ là sự tiếp thu
Trang 12những thành tựu các công trình đi trước Bằng cách nhìn của phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại, liên quan chặt chẽ với lí thuyết ngữ pháp chức năng, luận án giúp chúng ta có thể nhận rõ mối quan hệ tất yếu giữa ba bình diện: Kết học, Nghĩa học và Dụng học Đó là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, mục đích và phương tiện
Cách tiếp cận cấu trúc cú pháp tục ngữ Việt theo quan điểm ngữ pháp chức năng có nhiều thuận lợi và cũng có những cơ sở thuyết phục (như các tác giả đã chứng minh), nhất là đối với những kiểu chuỗi câu rút gọn thường xuất hiện trong
tục ngữ như: Chó treo mèo đậy; Nhất vợ, nhì trời; Bố gậy tre, mẹ gậy vông, v.v
2.2.2 Tiếp cận cú pháp tục ngữ từ góc độ cấu trúc lôgích - ngữ nghĩa
Đi theo hướng khảo sát, phân tích tục ngữ từ góc độ lôgích, Nguyễn Đức Dân [25] gợi mở hướng nghiên cứu cấu trúc tục ngữ theo quan điểm lô gích – ngữ nghĩa Tác giả đưa ra những dẫn chứng cụ thể cho thấy rằng tục ngữ có những cấu trúc đặc thù ít thấy ở câu thông thường Bằng những cấu trúc lô gích - ngữ nghĩa khái quát, tác giả chứng minh rằng một số câu tục ngữ tuy dùng những
phương thức biểu đạt ngôn ngữ khác nhau nhưng lại có cấu trúc lô gích như nhau
Giải mã nghĩa tục ngữ theo kiểu này tương đối chặt chẽ và chuẩn xác Chúng ta có thể hiểu rằng cấu trúc lô gích là bất biến ngữ nghĩa của hai hay nhiều câu tục ngữ Đặc trưng của mối quan hệ giữa các quan hệ và thuộc tính của chúng đã tạo ra nghĩa cơ bản của tục ngữ Thực tế cho thấy một số câu tục ngữ là những biến thể ngôn ngữ của một bất biến ngữ nghĩa, bất biến ngữ nghĩa chính là nghĩa khái quát hay nghĩa biểu trưng của tục ngữ
Gần đây, Nguyễn Quí Thành trong luận án tiến sĩ Cấu trúc cú pháp – ngữ nghĩa của tục ngữ Việt trong sự so sánh với tục ngữ của một số dân tộc khác [95]
Trang 13tập trung nghiên cứu cấu trúc cú pháp tục ngữ xuất phát từ đặc điểm nội dung khái quát nhất của tục ngữ để tìm hiểu các cấu trúc đặc thù một cách có hệ thống Từ việc phân tích nội dung, hình thức của từng câu tục ngữ Việt, tiếp thu quan điểm của cấu trúc lôgích – ngữ nghĩa, tác giả rút ra ba cặp mệnh đề ngữ nghĩa khái quát nhất phản ánh nhận thức chung của dân gian về thế giới Đó là: (1) Cái này thì có/ không có đặc điểm này; (2) Cái này thì tương đương/ không tương đương cái kia; (3) Cái này thì dẫn tới cái kia tương hợp/ không tương hợp Theo tác giả, ba cặp mệnh đề ngữ nghĩa khái quát này có thể gọi là cấu trúc cú pháp – ngữ nghĩa (cấu trúc nghĩa lô gích trong mối quan hệ với cấu trúc cú pháp của tục ngữ) Mỗi cấu trúc nghĩa khái quát lại bao gồm các mệnh đề lô gích ngữ nghĩa cụ thể hơn Các mệnh đề ngữ nghĩa khái quát được thể hiện trong các hình thức cú pháp chứa đựng tín hiệu định hướng nghĩa, có thể gọi là những cấu trúc ngữ nghĩa – cú pháp của tục ngữ Tác giả trình bày trong luận án của mình 116 mô hình ngữ nghĩa - cú pháp của tục ngữ Việt
Luận án của tác giả đã đưa ra một hướng tiếp cận mới, có tính khả thi đối với việc phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của tục ngữ
2.2.3 Tiếp cận cú pháp tục ngữ từ các kiểu khuôn hình tục ngữ
Nguyễn Thái Hòa trong “Tục ngữ Việt Nam – cấu trúc & thi pháp” [59] phân
tích cú pháp tục ngữ theo những yếu tố hình thức của tục ngữ: vần, nhịp, kiến trúc sóng đôi Về ngữ nghĩa tục ngữ, tác giả cho rằng một phần gắn với quan hệ cú pháp và phần khác gắn liền với cảnh huống giao tiếp cụ thể, tương đương với kết cấu vừa bề mặt, vừa bề sâu thường thấy của một câu tục ngữ Trên cơ sở phân tích cơ cấu ngữ nghĩa – cú pháp, kết hợp với cấu trúc đặc thù của tục ngữ, Nguyễn Thái Hoà đi sâu phân loại tục ngữ theo các kiểu khuôn hình tục ngữ, cụ
Trang 14thể là ba kiểu câu cơ bản của những khuôn hình tục ngữ: kiểu câu có quan hệ hạn định trực tiếp; kiểu câu so sánh; kiểu câu phối thuộc Trong mỗi kiểu lại còn có thể chia thành những kiểu nhỏ hơn
Tuy nghiên cứu cú pháp tục ngữ theo những khuôn hình cơ bản riêng, nhưng tác giả vẫn phần nào gắn kết các kiểu câu với cấu trúc cú pháp truyền thống (cấu trúc C - V) Phương pháp mô hình hoá cấu trúc tục ngữ của tác giả cho thấy các câu tục ngữ đa số được triển khai theo các khuôn hình sẵn có, từ giản đơn đến phức hợp Hướng nghiên cứu này vừa có tính vĩ mô vừa có tính vi mô, từ những mô hình khái quát, tường tận đến cả những mô hình mang tính chất cá biệt Tục ngữ gắn liền với lời ăn tiếng nói của quần chúng nhân dân, để thống kê đầy đủ kho tàng tục ngữ dân tộc và qui nạp theo từng mô hình thứ, bậc là một việc làm hết sức công phu và đòi hỏi nhiều thời gian mới có thể chu đáo được
2.2.4 Tiếp cận nghiên cứu tục ngữ từ góc độ ngữ nghĩa
Tục ngữ đặc biệt phong phú trong lĩnh vực đúc kết kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất Nhiều câu tục ngữ có tính khái quát cao, mang đậm nét triết lí, thậm chí có những câu tục ngữ còn được coi như chân lí, là kim chỉ nam soi rọi và dẫn dắt con người trong lĩnh vực đối nhân xử thế Chu Xuân Diên trong cuốn
“Tục ngữ Việt Nam” [27, tr.149] khẳng định: “Mỗi câu tục ngữ là nội dung của một kinh nghiệm nhất định” Song không phải trong bất cứ trường hợp nào, nội dung kinh nghiệm của một câu tục ngữ cũng được hiểu một cách bất biến Trong quá trình vận dụng, những nội dung mà tục ngữ biểu đạt thường được mở rộng
“khiến cho ý nghĩa của kinh nghiệm ấy có khả năng bao hàm được cả nhận thức về bản chất và tính qui luật của nhiều hiện tượng trong thế giới khách quan” [27, tr.142] “Nội dung nhất định” mà tác giả đề cập đến có thể hiểu đó chính là
Trang 15nghĩa đen của tục ngữ, còn “kinh nghiệm có khả năng bao hàm được cả nhận thức về bản chất và tính qui luật của nhiều hiện tượng trong thế giới khách quan” có thể hiểu đó là nghĩa bóng của tục ngữ Tác giả kết luận: “Trong vốn tục ngữ của người Việt, bên cạnh những câu có một nghĩa – nghĩa đen, còn có rất nhiều câu có hai nghĩa – nghĩa đen và nghĩa bóng” [27, tr.142]
Từ góc độ ngữ nghĩa học, Hoàng Văn Hành [50, tr.59] nhận định rằng trong mỗi câu tục ngữ không chỉ có cấu trúc ngữ pháp, mà còn có cấu trúc ngữ nghĩa Cấu trúc này bao gồm cả những yếu tố thuộc về nội dung miêu tả hiện thực (chức năng định danh) cũng như dụng ý thông báo (chức năng thông tin) Theo tác giả, cấu trúc ngữ nghĩa của tục ngữ giống với cấu trúc ngữ nghĩa của mọi câu nói thông thường vì với nghĩa đen nó cũng biểu thị một cảnh huống (các sự vật hay hiện tượng trong những mối quan hệ với nhau), sự khác nhau giữa chúng là nghĩa đen của tục ngữ thường chỉ dừng lại ở sự đúc kết kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất, thiên văn, v.v Nhưng ở nhiều trường hợp, ngữ nghĩa tục ngữ sẽ được chuyển hóa trong những câu tục ngữ có khả năng ẩn dụ, ngữ nghĩa những câu tục ngữ thuộc loại này đã không chỉ dừng lại ở tầng nghĩa cơ sở (tầng nghĩa đen) mà còn được hiểu theo nghĩa bóng Cũng theo Hoàng văn Hành “tục ngữ nào càng miêu tả đúng những chi tiết, những sự kiện và hoàn cảnh điển hình, thì giá trị tổng kết của nó càng cao và phạm vi ứng dụng của nó càng rộng Bởi vì chi tiết và hoàn cảnh điển hình do tục ngữ miêu tả ở tầng nghĩa cơ sở trong trường hợp đó đã tạo tiền đề cho những mối liên hội ngữ nghĩa về sau, khiến người ta liên hội từ những mối quan hệ tất yếu giữa các sự kiện cụ thể trong thiên nhiên đến những mối quan hệ tương tự trong đời sống xã hội” [50, tr.59] Ở đây chúng ta có thể thấy, tuy không biểu đạt một cách cụ thể nhưng tác giả cũng
Trang 16đã gián tiếp thừa nhận tính nhiều nghĩa của tục ngữ, chí ít cũng là nghĩa đen (tầng nghĩa cơ sở) và nghĩa bóng (nghĩa liên hội)
Bàn về nghĩa của tục ngữ, xuất phát từ những tiêu chí khác nhau, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra kết quả phân loại nghĩa tục ngữ theo quan điểm của riêng mình Song tựu trung lại, đa số đều thống nhất về tính hai tầng nghĩa của tục ngữ Theo họ, nghĩa các câu câu tục ngữ phần lớn mang hai tầng nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng, cũng có học giả còn chỉ ra nghĩa khái quát, nghĩa biểu trưng của tục ngữ
Trần Mạnh Thường trong “Tục ngữ ca dao Việt Nam chọn lọc” nhận định:
“Về hình thức, tục ngữ thường dùng hình ảnh, sự việc, hiện tượng cụ thể có thực trong đời sống xã hội và thiên nhiên để khái quát thành ý niệm trừu tượng Nói khác đi, tục ngữ thường dùng cái riêng lẻ, cá biệt để nói lên cái phổ biến Do đó mỗi câu tục ngữ bao giờ cũng bao hàm hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng Cái cụ thể riêng lẻ sẽ tạo thành nghĩa đen, cái trừu tượng, phổ biến tạo thành nghĩa bóng” [102, tr.5]
Cùng quan điểm với Trần Mạnh Thường, Hoàng Tiến Tựu và Bùi Mạnh Nhị nhấn mạnh đến tính đa nghĩa của tục ngữ Hoàng Tiến Tựu, trong “Văn học dân gian Việt Nam” [104, tr.132], viết: “Có những câu tục ngữ chỉ có một nghĩa, [ ] nhưng bộ phận tục ngữ đa nghĩa chiếm tỉ lệ khá lớn, chất lượng khá cao và là bộ phận tiêu biểu nhất của thể loại này” Theo ông, có loại tục ngữ được dùng với cả hai nghĩa song song (nghĩa đen – nghĩa trực tiếp và nghĩa bóng – nghĩa gián tiếp) Một số không nhiều câu tục ngữ có thể lúc đầu chỉ mang nghĩa đen, nhưng về sau lại chủ yếu được dùng với nghĩa bóng Ông cho rằng loại tục ngữ nói về các hiện tượng và qui luật tự nhiên có tính khái quát cao, phần lớn đều có thể
Trang 17được dùng theo nghĩa bóng để nói về những hiện tượng và qui luật xã hội, đến đây tác giả cũng có những gợi ý về nghĩa ngữ dụng của tục ngữ “[ ] Nói chung tính chất ngụ ý không nằm trong dụng ý sáng tác ban đầu của tác giả dân gian, mà nảy sinh về sau trong cách hiểu của người sử dụng”, “Nội dung ý nghĩa của mỗi câu tục ngữ không chỉ lệ thuộc vào cách hiểu của những người sáng tác ban đầu, mà còn lệ thuộc rất nhiều vào quan niệm và cách dùng của những người sử dụng về sau”, nhưng ông cũng chú thích thêm rằng “hiện tượng này chỉ có thể diễn ra đối với những câu có tiềm ẩn khả năng mở rộng nghĩa” “Tiềm ẩn khả năng mở rộng nghĩa” mà ông nói ở đây chính là nói đến nghĩa khái quát (nghĩa bóng) của tục ngữ, có thể được sử dụng trong nhiều hoàn cảnh cụ thể khác nhau
kiến của mình: “Nghĩa bóng đã tạo cho tục ngữ khả năng vận dụng năng động vào các trường hợp, và cứ mỗi lần được sử dụng ở những văn cảnh khác nhau thì nội dung, ý nghĩa, kinh nghiệm, những lớp nghĩa nằm bên trong và bên ngoài từ ngữ của nó lại giàu thêm ” Cũng theo ông, một câu tục ngữ có thể ứng dụng trong hàng ngàn trường hợp cụ thể khác nhau Quá trình vận dụng tục ngữ là quá trình tạo nghĩa không ngừng
Phan Thị Đào trong “Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam” [35, tr.117] khi bàn về nghĩa của tục ngữ cũng khẳng định “Mỗi câu tục ngữ có ít nhất là một nghĩa Những câu có một nghĩa thì hầu hết là nghĩa đen [ ] Phần còn lại của tục ngữ là những câu đa nghĩa [ ] trong quá trình giao tiếp, nghĩa được sử dụng của chúng là nghĩa bóng [ ] nghĩa đen chỉ là nền để nẩy sinh nghĩa bóng, để hiểu
nghĩa bóng mà thôi”, tác giả cũng nhấn mạnh ý nghĩa khái quát của tục ngữ
Đương nhiên tục ngữ không chỉ mang ý nghĩa khái quát khô khan, sở dĩ tục ngữ
Trang 18đi vào lòng người và có sức sống mãnh liệt qua các thời đại còn bởi ngôn ngữ giàu hình tượng và tính nhân văn sâu sắc của nó
Không đồng ý với quan điểm tục ngữ nhiều nghĩa hoặc đa nghĩa như hầu hết các nhà nghiên cứu tục ngữ nêu trên, Nguyễn Xuân Đức trong một số bài viết
đăng trong Tạp chí Văn hóa dân gian [34, 35, 36] đã kiên trì quan điểm của mình
là nên coi tục ngữ chỉ có một nghĩa (nghĩa gắn liền với môi trường ứng dụng) Tiếp cận tục ngữ từ bình diện ngữ dụng học, tác giả cho rằng tục ngữ là một hiện tượng đặc biệt xét từ tính ứng dụng Qua phân tích nghiên cứu của một số học giả ông cho rằng tuy nói tục ngữ mang nhiều nghĩa (đa nghĩa) nhưng những tác giả này cũng chỉ đưa ra được hai nghĩa mà thôi (nghĩa đen và nghĩa bóng) Cũng theo ông việc xác định nghĩa của câu tục ngữ trên văn bản không phải bao giờ cũng đạt được kết quả chính xác và đầy đủ bởi nghĩa tục ngữ còn gắn liền với ngữ cảnh lúc phát ngôn, tục ngữ gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân
dân hơn cả, tuy nhiên nghĩa tục ngữ của mỗi lần sử dụng chỉ là một trong tổng
thể nghĩa của nhiều lần phát ngôn, như vậy một tục ngữ có thể được ứng dụng trong hàng ngàn trường hợp khác nhau, quá trình vận dụng tục ngữ là quá trình tạo nghĩa không ngừng Ông kết luận: “Không nên nói tục ngữ có nhiều nghĩa, lại càng không nên nói tục ngữ đa nghĩa [ ] Tục ngữ trên văn bản có từ một đến hai nghĩa, nhưng xét trong môi trường ứng dụng, tức là trong môi trường lưu truyền và tồn tại đích thực thì với mỗi lần phát ngôn chỉ có một nghĩa (có thể là nghĩa đen hay nghĩa bóng) – tức là nghĩa đang được ứng dụng theo mục đích phát ngôn” Về việc tính một nghĩa của tục ngữ gắn với từng hoàn cảnh phát ngôn cụ thể như quan điểm của Nguyễn Xuân Đức không phải là không có lí Bùi Mạnh Nhị [86, tr.246] đã từng khẳng định nhiều hình ảnh trong tục ngữ là
Trang 19những quan sát khoa học, nhưng những hình ảnh này còn mở ra ý nghĩa về sự tương xứng, phù hợp giữa hiện tượng với hoàn cảnh, môi trường và ý nghĩa này sẽ được người sử dụng tục ngữ dùng để nói về nhiều trường hợp trong các văn cảnh khác nhau Cái thực cụ thể ban đầu đã uyển chuyển đi tới những cái thực tương đồng khác Hoàng Tiến Tựu [104, tr.133] cũng đã chỉ ra: Hầu hết những câu tục ngữ nhiều nghĩa đều có phần “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời) Mà cái phần “ý ở ngoài lời” lại là phần chính thức của những câu tục ngữ ấy “Ý nghĩa mở phù
hợp với hoàn cảnh” của Bùi Mạnh Nhị, hoặc “ý ở ngoài lời” của Hoàng Tiến Tựu xét cho cùng cũng chính là nghĩa ngữ dụng mà Nguyễn Xuân Đức đề cập Ở đây có thể hiểu rằng các nhà nghiên cứu đã tiếp cận tục ngữ từ các góc độ, các bình diện khác nhau
Nguyễn Văn Nở với luận án tiến sĩ Biểu trưng trong tục ngữ Việt Nam [88] đã
tiếp cận nghĩa tục ngữ từ góc độ nghĩa biểu trưng Tác giả đi sâu nghiên cứu về nghĩa và các biện pháp tạo nghĩa biểu trưng thường dùng trong tục ngữ qua các chất liệu dùng làm tín hiệu biểu trưng trong tục ngữ Việt Nam Với hướng nghiên cứu này, tác giả đã tiến hành khảo sát một cách có hệ thống những loại hình ảnh thường được dùng làm tín hiệu biểu trưng trong tục ngữ
Đóng góp mang ý nghĩa thực tiễn của luận án tập trung ở phần khảo sát biểu trưng trong tục ngữ qua môi trường vận dụng, qua đó còn thấy được sự mở rộng nghĩa, những nét nghĩa biểu trưng khác nhau của tục ngữ trong từng trường hợp vận dụng cụ thể và cụ thể hoá được biểu trưng của tục ngữ trong những tình huống giao tiếp nhất định
Riêng về lĩnh vực so sánh, đối chiếu tục ngữ Việt với tục ngữ Hán thì các công
Trang 20trình nghiên cứu vẫn còn khá khiêm tốn Việc đối chiếu giữa tục ngữ Hán và tục ngữ Việt có thể thấy được chủ yếu tập trung ở phần giới thiệu trong một vài cuốn từ điển tục ngữ Hán - Việt như “Từ điển thành ngữ, tục ngữ Hoa - Việt” của Lê Khánh Trường, Lê Việt Anh [103]; “Từ điển thành ngữ, tục ngữ Hán - Việt” của Nguyễn Bích Hằng, Trần Thanh Liêm [52] Về cơ bản, nội dung các công trình này chủ yếu là dịch nghĩa các câu tục ngữ, thành ngữ từ tiếng Hán sang tiếng Việt, chưa chuyên sâu nghiên cứu cấu trúc cú pháp cũng như đặc điểm ngữ nghĩa của chúng Luận án tiến sĩ của Nguyễn Quý Thành [95] nghiên cứu về cấu trúc, ngữ nghĩa của tục ngữ Việt trong sự so sánh với tục ngữ của một số dân tộc, trong đó có dân tộc Hán Mặc dù có phần so sánh với tục ngữ Hán (Hoa), nhưng luận án cũng chỉ dừng ở mức độ minh hoạ chứ chưa tiến hành chuyên sâu đối chiếu Chúng tôi hy vọng công trình nghiên cứu của mình sẽ tạo thêm một bước tiến mới trong lĩnh vực đối chiếu cấu trúc – ngữ nghĩa giữa tục ngữ Hán với tục ngữ Việt, góp phần tích cực vào công việc nghiên cứu tục ngữ nói chung và công việc đối chiếu so sánh tục ngữ Hán, tục ngữ Việt nói riêng Hoàn thành nhiệm vụ đặt ra, luận án sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị cho những công trình kế tiếp và những
công trình nghiên cứu hữu quan khác
3 NHIỆM VỤ LUẬN ÁN
Sau khi xác định rõ đối tượng nghiên cứu, với tinh thần kế thừa các thành tựu nghiên cứu về tục ngữ Hán và tục ngữ Việt đồng thời trên cơ sở vận dụng líù thuyết ngôn ngữ học hiện đại, nhiệm vụ luận án đặt ra:
(i) Khảo sát cấu trúc cú pháp tục ngữ Hán hiện đại và tục ngữ Việt trên cơ sở cấu trúc cú pháp của tiếng Hán hiện đại và tiếng Việt, trong đó nhấn mạnh
Trang 21đến một số cấu trúc cú pháp đặc thù của tục ngữ
(ii) Đối chiếu cấu trúc cú pháp tục ngữ Hán hiện đại và tục ngữ Việt để tìm những nét tương đồng dị biệt
(iii) Khảo sát ngữ nghĩa tục ngữ Hán hiện đại và tục ngữ tiếng Việt trên cơ sở nghĩa biểu trưng của tục ngữ Luận án đặt trọng tâm vào các kiểu nghĩa biểu trưng của tục ngữ Hán hiện đại và tục ngữ Việt
(iv) Đối chiếu ngữ nghĩa giữa tục ngữ Hán hiện đại và tục ngữ Việt để tìm những nét tương đồng, dị biệt thông qua nghĩa biểu trưng; từ đó có thể thấy được bức tranh văn hóa của hai dân tộc thể hiện qua tục ngữ
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Với đối tượng và nhiệm vụ được xác định như trên, luận án chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
4.1.1 Phương pháp thống kê
Thông qua phương pháp thống kê, luận án khảo sát nguồn dữ liệu tục ngữ Hán và tục ngữ Việt để tìm hiểu cấu trúc khái quát và ý nghĩa biểu trưng đặc thù của tục ngữ từng dân tộc; thống kê các dạng thức, mô hình cấu trúc cũng như các nhóm nghĩa của tục ngữ hai nước Phương pháp này nhằm nâng cao tính khách quan trong việc miêu tả để đưa ra những kết luận mang tính khoa học đáng tin cậy
Luận án có đưa ra một số bảng, biểu thống kê số lượng, tỉ lệ về cấu trúc cũng như các loại hình ảnh biểu trưng khi đối chiếu cấu trúc – ngữ nghĩa tục ngữ Hán và tục ngữ Việt
Trang 224.1.2 Phương pháp miêu tả - phân tích
Từ nguồn dữ liệu thu thập được, luận án tiến hành miêu tả - phân tích các loại cấu trúc cú pháp cũng như nghĩa biểu trưng, hình ảnh biểu trưng, từ đó rút ra được những nét tương đồng, dị biệt về cấu trúc cú pháp, ngữ nghĩa của tục ngữ hai dân tộc
4.1.3 Phương pháp qui nạp
Trên cơ sở thống kê, phân tích ngữ liệu, luận án hướng tới việc khái quát, tổng hợp các loại hình cấu trúc cú pháp, ngữ nghĩa của tục ngữ, đồng thời tập hợp lại những loại câu có cùng cấu trúc, cùng hình ảnh biểu trưng, cùng nội dung ngữ nghĩa; hoặc cùng nội dung ngữ nghĩa nhưng hình ảnh biểu trưng khác nhau; hoặc cùng hình ảnh biểu trưng nhưng nội dung ngữ nghĩa khác nhau
4.1.4 Phương pháp đối chiếu
Đối chiếu là phần trọng tâm của luận án Sử dụng phương pháp đối chiếu, luận án nhằm rút ra những nét tương đồng, dị biệt về cấu trúc cũng như ngữ nghĩa giữa tục ngữ Hán và tục ngữ Việt Khi tiến hành đối chiếu, chúng tôi lấy cấu trúc, ngữ nghĩa tục ngữ tiếng Hán hiện đại làm cơ sở để từ đó so sánh với cấu trúc, ngữ nghĩa của tục ngữ Việt
4.2 Nguồn ngữ liệu
Lấy đối tượng nghiên cứu những vấn đề gắn với phương diện ngôn ngữ của tục ngữ Hán và tục ngữ Việt (như đã xác định ở mục 1), luận án tập trung vào việc khai thác nguồn ngữ liệu ở vốn tục ngữ Hán và tục ngữ Việt hiện đại Nhìn chung, nguồn ngữ liệu lựa chọn khảo sát được lấy ở các từ điển tục ngữ Hán, tục ngữ Việt hiện hành Trong đó, các số liệu dùng để khảo sát, thống kê trong luận
Trang 23án chủ yếu dựa vào Từ điển tục ngữ (tiếng Hán) của Từ Tông Tài, Ứng Tuấn Linh [142] với 10.300 câu tục ngữ Hán và Tổng tập văn học dân gian người Việt
(tập 1, 2: chuyên về tục ngữ) của tác giả Nguyễn Xuân Kính (chủ biên) [68] với
10 625 câu tục ngữ Việt
Đây là hai công trình sưu tầm tục ngữ tiếng Hán và tục ngữ tiếng Việt xuất bản trong thời gian gần đây nhất và chúng có số lượng khá lớn: trên mười nghìn câu tục ngữ Chúng tôi nghĩ, việc thống kê, phân tích trên số liệu như vậy sẽ có những thuận lợi nhất định và kết quả đạt được sẽ có tính khách quan và độ tin cậy cao hơn
5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
5.1 Đóng góp lý luận
Luận án đưa ra cái nhìn tổng quan về việc nghiên cứu tục ngữ và những vấn đề hữu quan
Khác với hướng tiếp cận của các công trình nghiên cứu về tục ngữ trước đây – hoặc nghiên cứu cấu trúc cú pháp từ góc độ ngữ pháp chức năng/ đề-thuyết (Cao Xuân Hạo, Nguyễn Đức Dương, Hoàng Diệu Minh), hoặc từ góc độ cấu trúc lôgích - ngữ nghĩa (Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quý Thành), hoặc từ các khuôn mẫu cấu trúc (Nguyễn Thái Hòa) – luận án này nghiên cứu cấu trúc cú pháp tục ngữ từ quan điểm của ngữ pháp truyền thống (cấu trúc C – V) Ngoài ra luận án cũng khảo sát một số cấu trúc đặc thù (cấu trúc điệp và đối, cấu trúc vần) của tục ngữ Hán và tục ngữ Việt
Luận án chọn khảo sát, thống kê một số hình ảnh thường được dùng làm chất liệu biểu trưng trong tục ngữ về bốn phương diện: động vật (thú), thực vật, món
Trang 24ăn, đồ dùng Qua đó có thể thấy được bức tranh đậm nét bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc ẩn chứa trong tục ngữ
Từ phương diện ý nghĩa biểu trưng, thông qua các ví dụ cụ thể, luận án đã so sánh ngữ nghĩa tục ngữ Hán và tục ngữ Việt Cách làm này có thể cho ta dễ dàng nhận biết được nét tương đồng và dị biệt về ngữ nghĩa giữa tục ngữ hai dân tộc Việt, Hán, cũng không khó khăn để nhận biết được những tục ngữ Việt và Hán đồng nghĩa với nhau mặc dù hình ảnh biểu trưng của chúng khác nhau Qua khảo cứu, luận án thống kê được một số lượng không nhỏ (267 câu) tục ngữ âm Hán – Việt, đồng thời đưa ra những phân tích cụ thể để chứng minh người Việt đã từng dùng âm Hán – Việt để sáng tạo tục ngữ
5.2 Đóng góp thực tiễn
Luận án chỉ ra được những nét khác biệt và tương đồng về cấu trúc và ngữ nghĩa giữa tục ngữ Hán và tục ngữ Việt Điều này sẽ đóng góp thiết thực và có ý nghĩa nhất định cho việc học tập cũng như giảng dạy ngôn ngữ hai dân tộc Hy vọng luận án là tài liệu đáng tin cậy cho những người quan tâm, hoặc có thể là
cơ sở cho những bước nghiên cứu tiếp theo Phần phụ lục của luận án cũng có thể coi là nguồn ngữ liệu tham khảo có ích cho những nghiên cứu chuyên sâu về tục ngữ sau này
6 BỐ CỤC LUẬN ÁN
Với đề tài “Đối chiếu cấu trúc – ngữ nghĩa tục ngữ tiếng Hán hiện đại và tiếng Việt”, căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ đặt ra, luận án được sắp xếp thành các phần sau: phần chính văn có dung lượng 199 trang, bao gồm phần dẫn nhập, kết luận, ba chương nội dung và tài liệu tham khảo (chương 2, chương 3 là hai
Trang 25chương trọng tâm của luận án); ngoài ra còn 30 trang phụ lục Trình tự sắp xếp các phần của chính văn được tóm tắt như sau:
Phần Dẫn nhập: trình bày đối tượng nghiên cứu và lí do chọn đề tài; lịch sử vấn đề; phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu; nhiệm vụ của luận án; đóng góp của luận án; bố cục luận án
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương này chủ yếu điểm lại khái quát các quan điểm về tục ngữ và một số khái niệm hữu quan của các nhà Hán học và Việt học Ngoài ra còn nêu ra một số đặc điểm của tục ngữ Đó là tính lịch sử, tính dân tộc, tính biến thể
Chương 2: Đối chiếu đặc điểm cấu trúc cú pháp tục ngữ Hán hiện đại và tục ngữ Việt
Trước khi tiến hành so sánh cấu trúc cú pháp tục ngữ Hán và tục ngữ Việt, để có cái nhìn khái quát về cấu trúc cú pháp hai ngôn ngữ, luận án giới thiệu một cách sơ lược cấu trúc cú pháp của tiếng Hán hiện đại và tiếng Việt Tiếp theo, luận án lần lượt trình bày cấu trúc cú pháp tục ngữ Hán và tục ngữ Việt rồi mới tiến hành đối chiếu
Chương 3: Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa tục ngữ Hán hiện đại và tục ngữ ViệtChương này được triển khai theo hai phần Phần một (3.1) giới thiệu các kiểu loại ngữ nghĩa tục ngữ Luận án đi sâu phân tích nghĩa biểu trưng của tục ngữ, chỉ ra mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và hình ảnh biểu trưng trong tục ngữ nói chung, trong tục ngữ Hán, Việt nói riêng Phần hai (3.2) đối chiếu ngữ nghĩa tục ngữ Hán và tục ngữ Việt trên cơ sở phân tích hình ảnh biểu trưng của tục ngữ
Trang 26được tiến hành theo phương pháp biểu trưng Phần đối chiếu được chia làm ba phần: (i) Tục ngữ Hán, Việt có hình ảnh biểu trưng giống nhau, nội dung ý nghĩa giống nhau; (ii) Tục ngữ Hán, Việt có hình ảnh biểu trưng khác nhau, nội dung ý nghĩa giống nhau; (iii) Tục ngữ Hán, Việt có hình ảnh biểu trưng giống nhau, nội dung ý nghĩa khác nhau Phần 3.2.4 chúng tôi dành riêng phân tích sâu thêm
“Nhóm tục ngữ âm Hán – Việt”
Trang 27Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN
Việc nghiên cứu tục ngữ đã được tiến hành từ rất sớm trên thế giới và nhìn chung, có hai khuynh hướng cơ bản Khuynh hướng thứ nhất, chủ yếu từ phần lớn các nước châu Âu, đặt trọng tâm nghiên cứu vào những đặc điểm hình thức của các câu tục ngữ, vào nội dung ngữ nghĩa của chúng, và/ hoặc vào quan hệ lôgích giữa các thành phần của tục ngữ (chẳng hạn, [150], [152], v.v.) Khuynh hướng thứ hai, chủ yếu ở Anh và Mỹ, tập trung nghiên cứu vai trò của tục ngữ trong giao tiếp, trong môi trường hành chức của nó Khuynh hướng này đặc biệt nhấn mạnh vai trò của các thông tin ngữ cảnh trong việc định nghĩa, xác định ý nghĩa của tục ngữ (chẳng hạn, [149], [154], [156], v.v.) Từ những hướng nghiên cứu khác nhau đó, các trường phái, học giả đã xây dựng hệ thống công cụ, thuật ngữ riêng trong việc nghiên cứu tục ngữ Dù có những khác biệt nhất định trong nội hàm các khái niệm cụ thể, các trường phái, học giả đều quan tâm đến việc xây dựng hệ thống thuật ngữ Những vấn đề thiết yếu như xây dựng một định nghĩa cho tục ngữ, xác định vị trí, quan hệ của tục ngữ với các khái niệm hữu quan, phân loại tục ngữ, xác định các chức năng, đặc điểm tục ngữ, v.v trở thành những vấn đề lý luận cơ bản cho việc tìm hiểu, nghiên cứu tục ngữ
Trang 281.1 CÁC QUAN NIỆM VỀ TỤC NGỮ
Không ai có thể phủ nhận vai trò quan trọng của tục ngữ trong sinh hoạt hàng ngày và những giá trị của nó trong đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc Trải qua những năm tháng lịch sử, từ thế hệ này sang thế hệ khác tục ngữ không những không bị quên lãng mà ngược lại đã không ngừng được gìn giữ, trau chuốt và lưu truyền Tuy nhiên, việc tìm ra một định nghĩa mang tính khoa học, khả chấp, cũng như việc chỉ ra những đặc điểm của nó ở nhiều phương diện thì lại chưa đạt được kết quả mong đợi
A Taylor, trong cuốn “The Proverb”, một tác phẩm được coi là kinh điển về
tục ngữ, đã phải thừa nhận:
“Việc định nghĩa tục ngữ là công việc rất khó; và chúng ta cần phải kết hợp vào trong định nghĩa tất cả những nhân tố cần thiết và phải dành cho chúng (từng nhân tố) một sự nhấn mạnh riêng Chúng ta thậm chí không thể xác định rõ ràng các tiêu chí để đưa ra định nghĩa Một đặc tính khó nói bằng lời, mơ hồ cho chúng
ta biết rằng câu này là tục ngữ câu kia là không phải.” [158, tr.3] Như vậy, theo tác giả, việc nhận diện câu tục ngữ thường dựa trên những cơ sở nghiêng về cảm tính, trực giác (intuitive) Trong toàn bộ công trình này, ông cũng chú ý đến việc miêu tả các đặc điểm của tục ngữ hơn là đi tìm một định nghĩa
Việc khó khăn để đưa ra một định nghĩa được chia sẻ bởi nhiều nhà nghiên cứu khác Các tác giả này thường chỉ cố gắng đưa ra một số đặc điểm tiêu biểu với hi vọng nhận diện đối tượng để làm việc ([151]; [72]) J Lyons (1971) đã phải xếp tục ngữ vào chung với một nhóm với các hình thức diễn đạt khác mà gọi chung là các phát ngôn ‘tạo sẵn’ (ready-made utterences), và cho rằng những diễn đạt đó “không cho phép mở rộng và biến thể” [72, tr.177]
Trang 29Fergusson (1983), trong nỗ lực tìm ra một định nghĩa có sức giải thích cho việc lựa chọn ngữ liệu đưa vào cuốn từ điển về tục ngữ của mình, cho rằng:
“Một câu tục ngữ là một phát biểu ngắn gọn, dễ nhớ chứa đựng lời khuyên, lời cảnh báo, một suy đoán hay một quan sát có tính phân tích Hình thức của nó thường là ngắn gọn, có hình ảnh, giàu tính ẩn dụ và phần lớn có vần điệu, có tính thơ (poetic).” Có thể định nghĩa này chưa phải là hoàn hảo nhưng nó thường được trích dẫn và được coi là một trong những định nghĩa tốt nhất bởi nó đã thể hiện được những thuộc tính cơ bản và điển hình cả về hình thức và nội dung của tục ngữ
Trong các tiểu mục dưới, luận án tập trung vào việc trình bày quan niệm của giới nghiên cứu tục ngữ Hán, tục ngữ Việt và đề xuất khái niệm tục ngữ làm cơ sở cho việc khảo sát trong các phần, chương tiếp theo
1.1.1 Trong giới nghiên cứu tục ngữ Việt, theo thống kê của chúng tôi, có đến vài chục định nghĩa về tục ngữ được nêu ra Có thể khái quát các lối định nghĩa trên thành một số khuynh hướng sau
i Chú ý ở phương diện cấu trúc và đặc điểm nội dung của tục ngữ
Quan niệm này được chia sẻ bởi nhiều tác giả ([90], [23], [59], [66], v.v.) Chẳng hạn, Đinh Gia Khánh (2003) cho rằng: “Tục ngữ là những câu nói ngắn, gọn, có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỉ Bằng những câu nói ngắn gọn, súc tích, “tục ngữ diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm xã hội – lịch sử của nhân dân lao động” [66, tr.16] Tác giả cũng giải thích rõ tục ngữ là tri thức thông thường của nhân dân lao động về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Tục ngữ vừa tổng kết những kinh nghiệm sống, vừa thể hiện lí tưởng sống của nhân dân trong một hình
Trang 30thức đặc thù mang tính nghệ thuật của ngôn ngữ dân gian Tục ngữ là tấm gương phản ánh, qua lời nói hàng ngày, mọi biểu hiện của đời sống dân tộc và quan niệm của người dân về lao đông, về các hiện tượng lịch sử xã hội, về đạo đức, tôn giáo, v.v
Nguyễn Đức Dân mặc dù tập trung việc nghiên cứu tục ngữ từ phương diện lô gích cú pháp ngữ nghĩa nhưng cũng đưa ra một định nghĩa tương tự Tác giả nhận thấy: “Tục ngữ là những đơn vị ngôn ngữ ổn định về hình thức, phản ánh những lối nói, lối suy nghĩ đặc thù của một dân tộc Tục ngữ phản ánh các quan niệm, những suy nghĩ, những tri thức và cách tư duy của một dân tộc về các hiện tượng, các qui luật tự nhiên và xã hội” [23]
ii Chú ý ở cả phương diện đặc điểm hình thức, cấu trúc, đặc điểm nội dung và cả phạm vi sử dụng của tục ngữ
Ngoài việc nêu ra những đặc điểm về nội dung và hình thức cấu trúc như quan niệm của các tác giả đề cập ở tiểu mục (ii) trên, một số nhà nghiên cứu chú
ý đến cả môi trường hành chức của tục ngữ Các tác giả sách giáo khoa Ngữ văn lớp 7 (2004) định nghĩa: “Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh, thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt (tự nhiên , lao đông, sản xuất, xã hội), được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ và lời ăn tiếng nói hàng ngày” [91] Quan niệm này cũng thấy rõ trong các công trình nghiên cứu về tục ngữ của một số tác giả khác ([27], [40], [86])
1.1.2 Trong giới nghiên cứu tục ngữ Hán, cũng như trong giới nghiên cứu tục ngữ tiếng Việt, các nhà Hán học cũng chưa có được một định nghĩa thống nhất, rõ ràng và cặn kẽ về tục ngữ Học giả Ôn Đoan Chính đã thừa nhận:
Trang 31định thế nào là tục ngữ, đương nhiên là một vấn đề khó; Giải thích tục ngữ như thế nào, lại là một vấn đề còn khó hơn) [126, tr.5] Thậm chí, ngay cả tên gọi
cũng chưa có sự thống nhất, ngoài thuật ngữ tục ngữ, hàng loạt thuật ngữ như hương ngôn, truyền ngôn, thường ngôn, cổ ngữ, tục ngôn, ngạn ngữ, dân ngôn, tục thoại, cổ thoại, v v cũng được dùng để chỉ cùng một đối tượng
Để có cái nhìn cụ thể hơn về cách hiểu khái niệm tục ngữ trong giới nghiên cứu tiếng Hán, dưới đây chúng tôi sẽ trình bày một số quan niệm về tục ngữ trong một số từ điển lớn của Trung Quốc và của một số học giả nghiên cứu ngôn ngữ nổi tiếng của Trung Quốc
2、 具有鲜明的口语性和通俗性。 俗语是通过群众世代口耳相传而流传开的,所以口语性很强,总离不开一个“俗” 字。
3、 具有相对的定型性。俗语不能是长篇,而是简明凝练的;也不是自由组合的语句,而是约定俗成,具有定型性的特点。但俗语在结构上又有很大的灵活性,同一个俗语可以有很多变体,有的可以调换部分词语,改变说法;有的可以增加一部分,有的可以颠倒语序。所以俗语的定型性只能是相对的,不是绝对的。
(Tục ngữ có ba đặc điểm sau:
1 Vốn có tính quần chúng Đại đa số tục ngữ là do quần chúng nhân dân sáng tạo ra, không có tác giả cụ thể Tục ngữ do quần chúng nhân dân sáng tạo
Trang 32ra, đương nhiên được quần chúng thích nghe, thích nói
2 Vốn có tính khẩu ngữ và tính đại chúng một cách rõ ràng Tục ngữ được lưu truyền rộng rãi từ đời này sang đời khác qua lời ăn tiếng nói của quần chúng cho nên tính khẩu ngữ của nó rất mạnh, không thể tách rời chữ “tục”
3 Vốn có tính định hình tương đối Tục ngữ không thể là trường thiên (đoạn văn dài), mà là những câu ngắn gọn súc tích; cũng không phải là những ngữ cú được tạo ra một cách tự do, màø được hình thành do thói quen của quần chúng từ lâu đời, có đặc điểm định hình Về mặt kết cấu, tục ngữ lại có tính linh hoạt rất lớn, cùng một tục ngữ có thể có rất nhiều biến thể, có tục ngữ có thể thay đổi từng bộ phận tục ngữ, thay đổi cách nói; có tục ngữ lại có thể tăng thêm một bộ phận, có tục ngữ lại có thể thay đổi trật tự từ Cho nên tính định hình của tục ngữ chỉ là tương đối, không phải tuyệt đối.) [132, tr.2]
(3)什么是俗语:只要是语言通俗,反映出人民的心愿,记录了社会生活和人生经验,这些话早已被群众广泛使用,道理深刻,意思新鲜,说得形象生动简炼透辟,这样的语句一般是既定型而又灵活的,人们把它叫做俗语,俗话,老俗话,大俗话。
(Tục ngữ là gì: chỉ cần ngôn ngữ thông tục, phản ánh được tâm nguyện của nhân dân, ghi lại được cuộc sống xã hội và kinh nghiệm nhân sinh, những lời này được dân chúng sử dụng rộng rãi từ lâu đời, đạo lí sâu sắc, ý tứ rõ ràng, lời nói có hình tượng, sinh động, ngắn gọn súc tích, những câu nói như vậy nói chung vừa định hình vừa linh hoạt, mọi người gọi đó là tục ngữ, tục thoại, lão tục thoại, đại tục thoại) [143, tr.4]
Tục ngữ quả là một loại hình độc đáo về cấu trúc cũng như ngữ nghĩa trong ngôn ngữ, chính vì lẽ đó định nghĩa khái quát về tục ngữ cho thật đầy đủ, hoàn
Trang 33chỉnh mọi mặt không phải là chuyện đơn giản Những định nghĩa về tục ngữ của các nhà Việt ngữ cũng như Hán ngữ nêu ở trên tuy có những nội dung cơ bản như nhau nhưng mỗi định nghĩa còn mang thêm nét riêng biệt cho dù là rất nhỏ Việc tìm ra một định nghĩa phản ánh đầy đủ những thuộc tính cơ bản của khái niệm là công việc không dễ, cần thời gian, và sự góp sức của nhiều người Để đáp ứng nhiệm vụ mà luận án đặt ra, chúng tôi xác lập một định nghĩa tạm
thời làm cơ sở để khảo sát, nghiên cứu như sau: “Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu hình ảnh đúc kết kinh nghiệm, tri thức dân gian của một dân tộc về thế giới khách quan, tự nhiên cũng như xã hội, có tính cố định tương đối, chủ yếu do quần chúng nhân dân sáng tác”
1.2 TỤC NGỮ VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM HỮU QUAN
1.2.1 Tục ngữ - thành ngữ
Trước khi tìm hiểu sự khác nhau giữa thành ngữ, tục ngữ, chúng tôi sẽ điểm qua một số quan niệm về thành ngữ qua giải thích của một số nhà nghiên cứu Việt Nam, Trung Quốc
Theo từ điển Từ Hán Việt của Phan Văn Các thì “Thành ngữ là nhóm từ cố định nói lên một ý, thường hiểu với nghĩa bóng” [5]
“Thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa thường không thể giải thích một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó” [90]
“成语: 长期习用的固定词组,有意义完整、结构定型、表现力强等特点;有些成语不能从字面上明白它的意思。” - 应用汉语词典 - 郭良夫(主编)- 商务印书馆
2000 年。
(Thành ngữ là những từ tổ cố định được dùng quen lâu dài, có đặc điểm ý nghĩa hoàn chỉnh, kết cấu định hình, sức biểu hiện mạnh v v.; một số thành ngữ
Trang 34không thể giải thích ý nghĩa của nó qua mặt chữ biểu hiện) [116]
1.2.1.1.Phân biệt tục ngữ - thành ngữ trong tiếng Việt
Để tìm hiểu, đi sâu nghiên cứu bản chất của tục ngữ, nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập đến sự khác biệt giữa thành ngữ và tục ngữ
Ngay từ những năm 40 của thế kỉ XX, Dương Quảng Hàm đã đưa ra ý kiến của mình, ông viết: “Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn hoặc chỉ bảo điều gì; còn thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè” [47, tr.15] Tuy tiêu chí phân biệt thành ngữ, tục ngữ của ông chưa được rõ ràng nhưng nó là những gợi ý quí báu cho các nhà nghiên cứu sau này
Ý kiến của Vũ Ngọc Phan trong “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” có hàm
ý phân biệt thành ngữ, tục ngữ theo hai tiêu chí tương đối cụ thể: tiêu chí về nội dung và cấu trúc ngữ pháp Theo ông: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là một sự phê phán Còn thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn” [89, tr.31]
Cùng với thời gian và sự phát triển các ngành khoa học ngày càng toàn diện, tục ngữ ngày càng được nhiều các học giả nghiên cứu sâu sắc hơn, họ phân tích
tỉ mỉ cấu trúc cũng như ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ nhằm đưa ra những tiêu chí phân biệt hai đối tượng này một cách cụ thể hơn và chuẩn xác hơn Nguyễn Văn Mệnh khi “Bàn về ranh giới giữa thành ngữ, tục ngữ” có viết” giữa thành ngữ, tục ngữ, v.v có thể tìm ra những đặc điểm khu biệt khá rõ ràng ở cả hai phương diện: nội dung và hình thức Về nội dung, thành ngữ giới thiệu một
Trang 35hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, một tính cách, một thái độ, tục ngữ thì khác hẳn, nó không dừng lại ở mức độ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng [ ], mà đi đến một nhận định cụ thể, một kết luận chắc chắn, một kinh nghiệm sâu sắc, một lời khuyên răn, một bài học về tư tưởng, đạo đức.” [77, tr.12] Tác giả cũng nhận thấy nội dung của thành ngữ “mang tính chất hiện tượng”, còn nội dung của tục ngữ nói chung “mang tính chất qui luật” Từ sự khác nhau cơ bản về mặt nội dung dẫn đến sự khác nhau về hình thức ngữ pháp, về năng lực hoạt động trong chuỗi lời nói Về hình thức ngữ pháp, nói chung mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh Đơn vị tục ngữ tối thiểu phải là một câu
Cho rằng giải thích sự khác nhau giữa thành ngữ, tục ngữ chỉ dựa vào hai mặt nội dung và hình thức như Nguyễn Văn Mệnh là chưa thật xác đáng, Cù Đình Tú viết: “[ ] Xét về nội dung, tục ngữ cũng như thành ngữ đều là sự đúc kết kinh nghiệm, là kết tinh trí tuệ của quần chúng, đều từ sự khái quát hoá hiện thực để rút ra bản chất qui luật mà có” [106, tr.39] Theo ông: “Thành ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ Tục ngữ xét về một mặt nào đó cũng là một hiện tượng ngôn ngữ Giải quyết các hiện tượng ngôn ngữ cần phải dựa vào những căn cứ ngôn ngữ học [ ] sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là sự khác nhau về chức năng Thành ngữ là những đơn vị có sẵn mang chức năng định danh, nói khác đi, dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hành động Về mặt này mà nói, thành ngữ là những đơn vị tương đương như từ,ø [ ] đọc thành ngữ lên, chưa thấy thành một câu, chưa thấy diễn đạt trọn vẹn một ý – nói khác đi, chưa phải là một thông báo Tục ngữ đứng về mặt ngôn ngữ học có chức năng khác hẳn thành ngữ Tục ngữ [ ] đều là các thông báo [ ] Do vậy mỗi tục ngữ đọc
Trang 36lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng ” [106, tr.39]
Cù Đình Tú kết luận: có thể dựa vào ba tiêu chí để phân biệt thành ngữ, tục
ngữ Đó là: chức năng, cấu tạo, cách vận dụng trong lời nói của thành ngữ, tục
ngữ Điểm mới Cù Đình Tú đưa ra là về mặt cấu tạo, đại bộ phận các thành ngữ có kết cấu một trung tâm, tục ngữ có kết cấu hai trung tâm
Nhóm Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri cho rằng: “Cần phải xét thành ngữ và tục ngữ không phải chỉ như là hai hiện tượng ngôn ngữ, mà chủ
yếu như là một hiện tượng ngôn ngữ và một hiện tượng ý thức xã hội”, cho nên
tiêu chí gốc cần phải dựa vào để tìm ra sự phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ,
theo họ chính là tiêu chí về nhận thức luận; theo đó, “xem xét tục ngữ chủ yếu
như là một hiện tượng ý thức xã hội, còn thành ngữ thì chủ yếu như là một hiện tượng ngôn ngữ” Các tác giả này khẳng định: “Sự khác nhau cơ bản về nội dung của thành ngữ và tục ngữ [ ] là sự khác nhau về nộâi dung của hai hình thức tư
duy khác nhau, là khái niệm và phán đoán Sự khác nhau đó [ ] tất yếu sẽ dẫn
đến sự khác nhau về chức năng của hai hình thức ngôn ngữ chứa đựng hai hình thức tư duy đó, đến sự khác nhau về cấu tạo ngữ pháp và vị trí trong lời nói của hai hình thức ngôn ngữ đó” [27, tr.26]
Dựa vào các hình thức tư duy trong khoa học lôgích, coi đó là những cơ sở của nhận thức luận, nhóm Chu Xuân Diên tiếp tục phân tích, xác định đặc điểm, mối quan hệ giữa thành ngữ, tục ngữ Đó là mối quan hệ giữa các hình thức khái niệm và phán đoán Họ kết luận: “Sự giống nhau giữa thành ngữ và tục ngữ là ở chỗ cả hai đều là những sản phẩm của sự nhận thức của nhân dân về các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan, đều chứa đựng và phản ánh trí thức của nhân dân Sự khác nhau là ở chỗ những tri thức ấy khi được rút lại thành những
Trang 37khái niệm thì ta lại có thành ngữ, còn khi được trình bày, được diễn giải thành những phán đoán thì ta có tục ngữ” Nhóm này đã đưa ra những ví dụ cụ thể như: để chỉ khái niệm“sự uổng công”, có thể đưa ra thành ngữ “công dã tràng”, và khái niệm đó được thể hiện thành phán đoán, được diễn đạt thành “Dã tràng xe cát biển đông, nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì”, đó là tục ngữ
Nguyễn Thái Hoà khi nghiên cứu sâu về bản chất tục ngữ đã đặc biệt quan tâm đến khái niệm “phát ngôn” chứ không phải là “câu” mà nhiều nhà ngôn ngữ học đã phân biệt từ những năm 50 của thế kỉ XX Theo đó ông quan niệm: tục ngữ là những phát ngôn, nhưng không phải là những phát ngôn làm sẵn
thông thường, mà là những phát ngôn đặc biệt Ông cho rằng tục ngữ cũng bao
gồm ba yếu tố cơ bản của phát ngôn, đó là: ngữ điệu, tổ hợp nghĩa, và chủ đề làm thành một chỉnh thể phục vụ cho giao tiếp Qua phân tích, đối chiếu với những cụm từ cố định có chức năng liên kết hoặc đưa đẩy, tồn tại trong ngôn ngữ cộng đồng như: “như vậy, thế là, suy cho cùng, v.v.”, ông cho rằng “thành ngữ không phải là phát ngôn làm sẵn”, mà nó là một đơn vị ngôn ngữ tương đương với từ về mặt ý nghĩa và về chức năng ngữ pháp Cũng theo ông, tục ngữ dù có cấu tạo như một cụm danh từ, cụm động từ, v.v nhưng vẫn là câu mang ý nghĩa trọn vẹn Vì tục ngữ không thích hợp với sự phân tích ngữ pháp thông thường của mô hình câu, không phải tất cả tục ngữ đều được cấu tạo như một câu theo quan niệm ngữ pháp thông thường (có đầy đủ nòng cốt C – V), cho nên
theo ông tục ngữ là những phát ngôn, nhưng đó là những phát ngôn đặc biệt Ông
kết luận: “Sự phân biệt thành ngữ, tục ngữ là sự phân biệt giữa hai cấp độ: từ vựng và cú pháp Về mặt từ vựng, thành ngữ là đơn vị lớn hơn từ, có ý nghĩa và chức năng của từ, tục ngữ là tổ hợp của những chức năng cú pháp khác nhau có
Trang 38vị ngữ tính [ ] Nói vắn tắt: một cụm từ cố định có khả năng tách thành hai thành phần cú pháp khác nhau thì đó là tục ngữ Còn thành ngữ không có khả năng đó” [59, tr.40]
Đứng ở góc độ lô gích học, thông qua các phạm trù lô gích – ý nghĩa, Nguyễn Đức Dân khảo sát, nghiên cứu nghĩa biểu trưng của hàng loạt thành ngữ, tục ngữ Sau khi phân tích, chứng minh bằng những ví dụ cụ thể về sự hình thành nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ông kết luận: “Sự khác nhau về đặc điểm cơ bản của chúng, thành ngữ phản ánh các khái niệm, tục ngữ phản ánh các phán đoán, đã dẫn tới sự khác nhau cơ bản trong việc hình thành nghĩa: Nghĩa của thành ngữ được hình thành qua sự biểu trưng nghĩa của cụm từ Nghĩa của tục ngữ được hình thành qua sự biểu trưng nghĩa của một câu Hầu hết các câu đều có quan hệ đề-thuyết Chính cặp đề-thuyết này biểu thị một quan hệ Vậy là, nghĩa của tục ngữ được hình thành qua sự biểu trưng các quan hệ Các thành ngữ không có thuộc tính ấy” Theo ông, một tiêu chí quan trọng để phân biệt thành ngữ, tục ngữ là “Những câu nào có thể biểu thị nghĩa theo một quan hệ thì câu đó là tục ngữ” [19, tr.1] Điểm này cũng phù hợp với quan niệm thành ngữ có cấu tạo một trung tâm, còn tục ngữ có cấu tạo hai trung tâm của Cù Đình Tú
Qua những ý kiến của các nhà nghiên cứu được nêu trên, dù đứng ở góc độ của văn học dân gian, của ngôn ngữ học hay khoa học lôgích, và dù diễn đạt bằng cách này hay cách khác, chúng ta cũng có thể nhận thấy các học giả có những ý kiến tương đối thống nhất là: thành ngữ tương đương với từ (khái niệm; chủ yếu có cấu tạo một trung tâm), còn tục ngữ tương đương với câu (phán đoán; cấu trúc hai trung tâm)
Trên thực tế, thành ngữ và tục ngữ có những quan hệ gần gũi, chúng đều do
Trang 39dân gian sáng tạo và được lưu truyền từ đời này sang đời khác Có lẽ chính từ
“tính dân gian” đó mà giữa thành ngữ, tục ngữ có những điểm giao thoa Chúng
ta có thể nhận thấy sự giao thoa đó qua các ví dụ cụ thể sau:
i Cả thành ngữ và tục ngữ đều xuất hiện những từ tương đồng:
Bảng 1.1 THÀNH NGỮ – TỤC NGỮ
Ếch ngồi đáy giếng Ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung
Dì ghẻ con chồng Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng Công dã tràng Dã tràng xe cát biển đông
Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì
ii Một số thành ngữ có kết cấu theo hình thức cụm C –V:
(1) Ếch ngồi đáy giếng
(2) Cá nằm trên thớt
(3) Nước mắt chảy xuôi
iii Cấu trúc có sự thay đổi: khái niệm → phán đoán (thành ngữ → tục ngữ):
(1) Trứng chọi với đá → Trứng mà đòi chọi với đá
(2) Miệng ăn núi lở → Miệng mà ăn thì núi cũng phải lở
(3) Chó chê mèo lắm lông → Chó mà lại còn chê mèo lắm lông
Những ví dụ nêu ở trên chỉ là một vài trường hợp đại biểu cho từng loại giao thoa giữa thành ngữ, tục ngữ Trên thực tế số lượng các hiện tượng giao thoa cũng không nhiều Theo chúng tôi có thể giải thích những hiện tượng đó như sau
Trường hợp 1: Do tục ngữ rút ngắn lại Tục ngữ sau khi được lưu truyền rộng
rãi, dân chúng đã nắm được bản chất của hiện tượng, khái quát lên thành khái niệm Điểm này cũng phù hợp với luật tiết kiệm của ngôn ngữ
Trang 40Trường hợp 2: Tuy có cấu trúc theo hình thức C – V, nhưng có thể lí giải đó
là cụm chủ vị chứ chưa phải một câu hoàn chỉnh, hoặc giải thích theo Nguyễn Thái Hoà là “có một lí do khác khiến cho các thành ngữ này không thể trở thành tục ngữ, không thể là một thông báo trọn vẹn”, “không thể trở thành một phán đoán độc lập”, bởi vì những đơn vị này kết hợp một cách hạn chế [59, tr.40] Cũng có thể hiểu là trong những cụm C – V đó đã ẩn chứa tiền ngôn (tiền giả định ngôn ngữ):
(1) Ếch ngồi đáy giếng → Y như ếch ngồi đáy giếng
(2) Nước mắt chảy xuôi → Bao giờ nước mắt cũng chảy xuôi
(3) Cá nằm trên thớt → Lâm vào cảnh cá nằm trên thớt
Trường hợp 3: Từ cấu trúc một trung tâm, thêm vào một số từ nối, từ dẫn trở
thành cấu trúc hai trung tâm Những hiện tượng này không nhiều, chủ yếu thiên về tính khẩu ngữ nhất thời, được dùng trong những tình huống cụ thể Ví dụ:
Mèo già hóa cáo → Mèo già thì sẽ hóa cáo
→ Đúng là mèo già hóa cáo
1.2.1.2 Phân biệt tục ngữ – thành ngữ trong tiếng Hán
Nếu như trong tiếng Việt, sự khác nhau giữa tục ngữ – thành ngữ còn có những điểm chưa rõ ràng và được nhiều người quan tâm, nghiên cứu thì trong tiếng Hán sự khác biệt này về cơ bản tương đối rõ và thường nhận được sự nhất trí ở những đặc điểm sau:
- Thành ngữ, tục ngữ đều là những ngữ cố định, là loại hình ngôn ngữ sống động, giàu hình tượng, được quần chúng thường xuyên sử dụng trong giao tiếp Về cấu trúc, thành ngữ là một ngữ, cũng biểu thị khái niệm và được sử dụng như