1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Phân tích đối chiếu cấu trúc dạng láy ABB giữa tiếng Việt và tiếng Hán

7 116 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng đi sâu nghiên cứu đối chiếu cấu trúc dạng láy ABB giữa tiếng Việt và tiếng Hán. Thông qua phân tích đối chiếu, tác giả đã tìm ra được những điểm tương đồng và khác biệt về mặt cấu tạo, ngữ âm, ngữ nghĩa của cấu trúc này trong hai ngôn ngữ.

Trang 1

PHÂN TÍCH ĐỐI CHIẾU CẤU TRÚC DẠNG LÁY ABB

GIỮA TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN

Ngô Th Hu

Trường Đại học Hà Nội

trong loại hình học ngôn ngữ Trong loại hình ngôn ngữ

ñơn lập như Tiếng Việt, tiếng Hán, láy là một phương

thức cấu tạo từ quan trọng Cấu trúc dạng láy ABB là

một trong những dạng láy thường gặp trong ñời sống

hàng ngày và trong các tác phẩm văn học Tuy nhiên

cấu trúc này vẫn chưa ñược giới Việt ngữ học quan

tâm Trong bài viết này, tác giả sử dụng phương pháp

nghiên cứu ñịnh tính và ñịnh lượng ñi sâu nghiên cứu

ñối chiếu cấu trúc dạng láy ABB giữa tiếng Việt và

tiếng Hán Thông qua phân tích ñối chiếu, tác giả ñã

tìm ra ñược những ñiểm tương ñồng và khác biệt về

mặt cấu tạo, ngữ âm, ngữ nghĩa của cấu trúc này trong

hai ngôn ngữ

T khóa: Đối chiếu; Việt Hán; cấu trúc dạng láy ABB

Abstract: Reduplication is a common feature of

linguistic typology, and an important method of

constructing new words in such isolating languages as

Vietnamese and Chinese, in which ABB reduplication is

one of the most commonly adopted reduplication styles

in daily lives and literature works However, ABB style

didn’t attain so much attention as it should deserve and

is not fully studied by the Vietnamese linguists This

paper incorporated the qualitative and quantitative

methods to deeply explore the similarities and

differences of Vietnamese and Chinese ABB style in

construction, pronuncation and meaning

Key words: Comparative Research of Vietnamese

and Chinese; Reduplication; ABB Style

Láy (Reduplication) là một hiện tượng hình

thái phổ biến trong loại hình học ngôn ngữ Trong

loại hình ngôn ngữ ñơn lập như tiếng Việt, tiếng

Hán, láy là một phương thức cấu tạo từ quan trọng

Cấu trúc dạng láy ABB1 do tổ hợp từ căn A kết

1 Cấu trúc ABB trong tiếng Hán ñược gọi là “tính từ láy

dạng ABB” Trong tiếng Việt, cho ñến nay vẫn chưa có

một thuật ngữ chính thức nào dành cho cấu trúc này Tuy

nhiên trong “Từ ñiển tiếng Việt” do Hoàng Phê (2000)

hợp với hình vị láy âm BB tạo thành (dưới ñây gọi tắt là tổ hợp ABB) là một trong những dạng láy thường gặp trong ñời sống hàng ngày và trong các tác phẩm văn học Tuy nhiên, cho ñến nay với tiếng Việt cấu trúc này dường như mới chỉ xuất hiện trong từ ñiển mà chưa ñược sự quan tâm của các học giả

Nghiên cứu ñối chiếu của chúng tôi dựa trên ngữ liệu do tác giả thu thập ñược từ 115 tổ hợp ABB thường dùng trong tiếng Việt và 298 tổ hợp ABB tiếng Hán từ bảng thống kê của cuốn “Tám trăm từ Hán ngữ hiện ñại ”(bản bổ sung) do Lục Thúc Tương (1999) chủ biên

1 Đối chiếu cấu tạo

Cấu trúc dạng láy ABB của tiếng Việt và tiếng Hán ñều do từ căn A kết hợp với hình vị láy âm

BB tạo thành Trong ñó từ căn A chủ yếu là tính

từ Với tiếng Việt, trong 115 tổ hợp ABB thì có

110 tổ hợp có A là tính từ, chiếm 96% Với tiếng Hán, trong 298 tổ hợp thì có 203 tổ hợp có A là tính từ, chiếm 68,12%

BB trong tổ hợp ABB của tiếng Việt thuộc từ láy hoàn toàn không xác ñịnh yếu tố gốc, trong

“Từ ñiển tiếng Việt” hoặc “Từ ñiển từ láy tiếng Việt” ñều có thể tìm thấy loại từ này BB là tính từ,

có thể ñứng ñộc lập thành từ và ñảm nhiệm vai trò

trung tâm ngữ như “Xe cộ nườm nượp như mắc

cửi”(ABB “ñông nườm nượp”) BB là phó từ

không thể dùng ñộc lập, chỉ xuất hiện trong tổ hợp

ABB “Căn phòng tối om om” (không thể nói “căn

phòng om om”) Ngược lại, BB trong tổ hợp ABB của tiếng Hán chỉ có một lượng nhỏ thuộc tính từ láy không xác ñịnh yếu tố gốc, có thể ñứng ñộc

chủ biên có xuất hiện các từ dạng láy ABB như “tối om

om, thơm phưng phức v.v ” và ñược ghi chú là tính từ Trong các bài tập tiếng Việt chọn từ thích hợp ñiền vào chỗ trống của học sinh tiểu học cũng thường xuất hiện loại từ này với tên gọi là “từ tượng hình”

Trang 2

lập, gồm 46/298, chiếm 15%, ví dụ “茫茫大海 茫茫

(mang mang ñại hải <ñại dương mênh mông>) /白

茫茫 (bạch mang mang <trắng mênh mông>),

旗飘飘 飘飘 (hồng kỳ phiêu phiêu <cờ ñỏ phấp phới>)/

轻飘飘 飘飘 (khinh phiêu phiêu <nhẹ thênh thênh>) ”,

còn phần lớn BB là hậu tố láy âm không ñứng ñộc

lập thành từ 145/298, chiếm 49%, ví dụ: “酸溜溜 溜溜

(toan lựu lựu <chua lòm lòm>), 圆乎乎 乎乎(viên hồ hồ

<tròn xoe xoe>)” vì thế loại BB là hậu tố không

ñứng ñộc lập thành từ này không xuất hiện trong

từ ñiển Đây là ñiểm khác biệt lớn nhất giữa hai

ngôn ngữ

Với tiếng Việt, cho ñến nay giới Việt ngữ học

phân ñịnh từ loại của BB vẫn chưa ñược rõ ràng

Có những trường hợp như “hun hút” (sâu hun hút),

sùng sũng (ướt sùng sũng), “Từ ñiển tiếng Việt ”

do Hoàng Phê (2000) chủ biên cho là tính từ,

nhưng “Từ ñiển từ láy tiếng Việt” do Hoàng Văn

Hành (1995) chủ biên cho là phó từ Ví dụ, với

BB là “tăm tắp”, “Từ ñiển từ láy tiếng Việt”cho là

phó từ và ñưa ra ví dụ sau: “Bà lão vội vàng ăn

ngay Nhưng họ ăn nhanh quá Mọi người ñều

lặng lẽ, cắm cúi, mải mốt Đôi ñũa này lên lại có ñôi

tăm tắp (Nam cao, Một bữa no)

Chúng tôi cho rằng, trong ví dụ nêu trên BB

“tăm tắp” ñảm nhiệm vai trò trung tâm ngữ trong câu vì thế nó là thực từ (tính từ) chứ không phải

hư từ (phó từ) Những ví dụ tương tự xuất hiện rất nhiều trong “Từ ñiển từ láy tiếng Việt”

Sở dĩ tồn tại vấn ñề phân loại chưa ñược tường minh là vì BB của tiếng Việt khó xác ñịnh là tính

từ hay phó từ, bởi ý nghĩa của nó tương ñối rõ ràng, sử dụng cũng rất linh hoạt Nếu là phó từ thì

BB cũng không giống như các phó từ chỉ mức ñộ như “rất, lắm, vô cùng…”, mà thiên về ñặc tính của tính từ, ñó cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu tồn tại những bất cập trong vấn ñề phân loại Trong tiếng Việt, ñại ña số AB có thể kết hợp thành từ Tác giả khảo sát 115 tổ hợp ABB thì có

85 trường hợp có thể kết hợp tạo thành tính từ song tiết AB, chiếm 74%.Trong tiếng Hán, tác giả khảo sát 298 tổ hợp ABB thì có 46 trường hợp có thể kết hợp tạo thành tính từ song tiết, chiếm 15%

So với tiếng Hán thì tổ hợp ABB của tiếng Việt có thể kết hợp thành từ song tiết AB nhiều hơn Như vậy BB, AB của tiếng Việt có thể ñứng ñộc lập thành từ, có nghĩa thực nhiều hơn so với tiếng Hán Điều ñó thể hiện tính chất ñơn lập của tiếng Việt

rõ ràng hơn tiếng Hán

Dưới ñây là những ví dụ ABB tồn tại dạng AB:

Tiếng Việt:

Tiếng Hán:

Trang 3

甜蜜蜜 (ñiềm mật mật <ngọt lìm lịm>) 甜蜜

Trong tiếng Việt có thể kết hợp thành AB

thường BB là phó từ Còn BB là tính từ thì có

trường hợp có thể tồn tại AB, có trường hợp

không thể tạo thành AB Ví dụ: BB “hun hút,

nườm nượp” là tính từ, có thể kết hợp với A tạo

thành ABB như “sâu hun hút, ñông nườm nượp”

nhưng không tồn tại AB “sâu hút, ñông nượp” v.v

Về mặt ngữ âm, sự biến ñổi ngữ âm (nếu có) ở

loại từ này trong hai ngôn ngữ ñều xảy ra với BB

Chỉ có ñiều sự biến ñổi ấy ở tiếng Hán tương ñối

tự do, còn ở tiếng Việt thì tương ñối phức tạp

Trong tiếng Việt, âm cuối và thanh ñiệu của BB

có những biến ñổi nhất ñịnh BB tuân thủ theo quy

luật ngữ âm bằng trắc ñan xen (一 ?), (一 ˊ),

(‵·), trường hợp BB mang thanh bằng sẽ không

có sự biến ñổi ngữ âm Âm cuối biến ñổi từ -p 、-t 、

-k (c、ch) sang:-m、-n、-ng (ng 、nh)

Quy luật biến ñổi ngữ âm xảy ra với âm cuối

của BB như sau

[ng←c]: im phăng phắc

[m←p]: ñầy ăm ắp

[n←t]: xanh ngăn ngắt

[nh←ch]: nặng trình trịch

Với tiếng Hán, trong khẩu ngữ có trường hợp

BB có sự biến ñổi thanh ñiệu, BB biến thành

thanh một (âm bình) Khác với tiếng Việt, âm cuối

của BB không có sự biến ñổi Ví dụ:

tēngtēng

rōngrōng

līnglīng

Lã Thúc Tương (1999) chỉ ra rằng, trong khẩu

ngữ tiếng Bắc Kinh thì BB thường ñọc thanh một,

trước ñây rất nhiều sách giáo khoa cũng quy ñịnh

BB ñọc thanh một Vương Khải Long (2003) cũng

cho rằng, phần lớn BB ñọc thành thanh một, ngay

cả với những trường hợp BB không phải là thanh một thì cũng vẫn ñược ñọc thành thanh một

Tác giả tiến hành khảo sát cuốn “Từ ñiển Hán Việt hiện ñại” của Thương Vụ Ấn Thư (Bản lần thứ năm) thấy rằng, trong từ ñiển có trường hợp ABB ñược ghi chú thành hai cách ñọc, ví dụ như

“沉 甸 甸 chén diàndiàn( khẩu ngữ ñọc chén diāndiān)、绿油油lǜ yóuyóu(khẩu ngữ ñọc lǜ yōuyōu)” v.v

Ví dụ trong cuốn “Thi trắc nghiệm trình ñộ tiếng Hán phổ thông” (NXB Thương Vụ Ấn Thư), trong

ñó có xuất hiện cấu trúc dạng láy ABB như sau:

晶 晶的银条儿;而那些冬夏常青的松树和柏树上,则 挂满了蓬松松沉甸甸 蓬松松沉甸甸 蓬松松沉甸甸的雪球儿……”。(峻青《第

沿着海边,慢慢地向前走去”。(峻青《海滨仲夏

Với những cấu trúc dạng láy ABB, phát thanh viên ñều ñọc BB là thanh một, như: máo rōngrōng、 liàng jīngjīng、péng sōngsōng、chén diāndiān、 hēi yōuyōu、ruǎn miānmiān Trên thực tế những hậu tố BB này (茸茸、甸甸、黝黝). vốn dĩ không phải là thanh một, nhưng trong khẩu ngữ có thể ñọc BB thành thanh một, sự biến ñổi ñó tương ñối

tự do

Sự biến ñổi ngữ âm của cấu trúc này trong hai ngôn ngữ ñều xảy ra với âm tiết BB Sự biến ñổi

ấy ở tiếng Việt phức tạp hơn so với tiếng Hán Trong tiếng Việt, BB ngoài thanh ñiệu có sự biến ñổi thì có trường hợp âm cuối cũng có sự biến ñổi

Ở tiếng Hán, sự biến ñổi ngữ âm chỉ trong khẩu ngữ, tương ñối tự do Ngược lại, trong tiếng Việt sự biến ñổi ngữ âm mang tính hệ thống và có quy luật

Trang 4

2 Đối chiếu ngữ nghĩa

2.1 Nghĩa hạt nhân

Như trên ñã nói, ABB của tiếng Việt và tiếng

Hán là do từ căn A kết hợp với hình vị láy âm BB

tạo thành Về mặt ngữ nghĩa, nghĩa hạt nhân của

tổ hợp này vẫn là ở từ căn A, BB có tác dụng nói

rõ bổ sung, phụ nghĩa cho A Nếu A ñơn thuần chỉ

là tính từ chỉ tính chất thì sau khi kết hợp với BB,

tổ hợp ABB trở thành tính từ biểu thị trạng thái và

thường mang hàm ý ở mức ñộ cao thậm chí là cao

nhất

Ví dụ tiếng Việt: “trắng phau phau”, nghĩa hạt

nhân vẫn là “trắng”, nhưng sau khi kết hợp với

BB (“phau phau” <tính từ láy không xác ñịnh yếu

tố gốc> biểu thị trắng ñều nhất loạt, không hề có

ñốm, có vết)thì ABB trở thành tính từ biểu thị

trạng thái trắng ở mức ñộ cao, rất trắng, không bị

pha tạp bởi các màu sắc khác

Ví dụ tiếng Hán: “热腾腾” (nhiệt ñằng ñằng

<nóng hôi hổi>), nghĩa hạt nhân là “nóng”, BB

“腾腾” là tính từ láy không xác ñịnh yếu tố gốc

biểu thị hơi ñang bốc lên, tổ hợp ABB biểu thị

trạng thái nóng ở mức ñộ cao, ñến mức như còn

nhìn thấy hơi nóng ñang bốc lên A “热” ñơn

thuần chỉ tính chất, kết hợp với BB trở thành tính

từ biểu thị trạng thái

Như vậy, trong tổ hợp ABB, BB không làm

thay ñổi nghĩa hạt nhân của A mà có tác dụng bổ

sung nói rõ trạng thái A ra sao Ngoài ra, mức ñộ

ý nghĩa của ABB so với A hoặc AB (nếu tồn tại)

ñều mạnh hơn, thậm chí là cực mạnh

2.2 Nghĩa sắc thái hình tượng

Tổ hợp ABB của tiếng Việt và tiếng Hán ñều

mang ý nghĩa sắc thái, hình tượng, nó khơi gợi

những liên tưởng phong phú của con người Nếu

chỉ ñơn thuần từ căn A sẽ không mang lại giá trị

như vậy Ví dụ chỉ nói “rét/lạnh”(冷) hay “rất

rét/rất lạnh” (很冷) sẽ không thể kích thích óc liên

tưởng của con người Nhưng khi nói “rét căm

căm ”(冷飕飕, lãnh sưu sưu)sẽ làm ta nghĩ ñến

cái rét rất ñậm, như có kim châm vào da thịt, ñến

mức phải run lên Với tiếng Hán BB “飕飕” còn là

từ láy tượng thanh biểu thị tiếng gió thổi, vì thế

sau khi kết hợp với A“冷” tạo thành “冷飕飕” khiến ta liên tưởng tới cảnh người co rúm lại trong gió lạnh và cái rét cắt da cắt thịt của mùa ñông Cho dù BB với tư cách là từ hay hậu tố, có nghĩa thực hay nghĩa ñã bị hư hóa, hoặc ñang trong quá trình hư hóa, thì sau khi kết hợp với A tạo thành ABB ñều biểu thị nghĩa hình tượng, sinh ñộng, cụ thể

Ngoài ra, ABB của tiếng Việt, tiếng Hán còn

có những ñiểm tương ñồng như cùng một BB có thể kết hợp với nhiều A khác nhau, cùng một A có thể kết hợp với nhiều BB khác nhau nhằm mô tả những trạng thái khác nhau, tu sức cho những ñối tượng khác nhau

a Cùng một A có thể kết hợp với nhiều BB khác nhau

Ví dụ: Với A là tính từ chỉ màu “ñỏ”, khi kết hợp với nhiều BB khác nhau, biểu thị nghĩa hạt nhân là màu ñỏ nhưng ñỏ với những sắc thái, trạng thái khác nhau, tu sức cho những ñối tượng khác nhau

Ví dụ tiếng Việt

“ñỏ rừng rực”ñể chỉ mặt trời ñỏ với ánh sáng

và sức nóng bốc lên mạnh lan tỏa ra xung quanh

“ñỏ phừng phừng” biểu thị khuôn mặt do uống

rượu hay nổi giận, bực tức mà ñỏ lên; “rừng rực”

và “phừng phừng” ñều mang theo lớp nghĩa là nhiệt lượng ñột nhiên tăng mạnh lên

“ñỏ chon chót” là ñỏ ở mức ñộ cao, gây chói

mắt, không thích mắt, thường dùng ñể miêu tả môi son, má ñỏ hay quả chín ñỏ v.v

“ñỏ hon hỏn” chỉ màu ñỏ của da thịt trẻ mới

sinh, màu ñỏ của sự sống mới trào ñời khỏe mạnh

và ñáng yêu

“ñỏ hây hây” là màu ñỏ phơn phớt với vẻ mỡ

màng, tươi tắn, ñầy sức sống, thường miểu tả má

ñỏ của trẻ nhỏ hay các cô gái

“ñỏ au au” là sắc ñỏ tươi của sự săn chắc, rắn

rỏi, gây cảm giác thích mắt, thường miêu tả nước

da khỏe mạnh của người già

Ví dụ tiếng Hán:

Trang 5

红灿灿” (hồng xán xán):BB“灿灿”là tính từ

láy không xác ñịnh yếu tố gốc, biểu thị ánh sáng

chói lọi, kết hợp với A tạo thành “红灿灿” thường

miêu tả mặt trời, ánh hoàng hôn với trạng thái ñỏ rực

“红艳艳” (hồng diễm diễm):BB “艳艳” là

tính từ láy không xác ñịnh yếu tố gốc, biểu thị ánh

sáng, màu sắc rực rỡ, ñẹp mắt 红艳艳 thường

miêu tả trạng thái ñỏ rực rỡ của mặt trời hay ñóa hoa

“红通通” (hồng thông thông): BB“通通”là phó

từ láy biểu thị toàn bộ, tất cả, mang nghĩa tăng

cường, kết hợp thành ABB biểu thị trạng thái ñỏ ở

mức ñộ cao, rất ñỏ, thường dùng ñể miêu tả khuôn

mặt, mặt trời, ngọn lửa

“红彤彤” (hồng ñồng ñồng):BB“彤彤” là hậu

tố láy âm không ñứng ñộc lập thành từ (彤 với

nghĩa là màu ñỏ), có tác dụng biểu thị nghĩa tăng

cường Tổ hợp “红彤彤” biểu thị mặt trời, khuôn

mặt với trạng thái rất ñỏ

“红扑扑” (hồng phốc phốc): BB “扑扑”là hậu

tố láy âm không ñứng ñộc lập thành từ (“扑” biểu

thị ñập, thoa, xoa), 红扑扑 làm ta liên tưởng tới

khuôn mặt như ñược thoa phấn hồng, biểu thị làn da,

ñôi má với trạng thái ñỏ hồng hào, tràn ñầy sự sống

红润润 (hồng nhuận nhuận): BB “润润”là hậu

tố láy âm không ñứng ñộc lập thành từ (“润” biểu

thị mịn màng, tươi sáng “红润润”thường miêu tả

khuôn mặt, nước da, ánh ñèn ở trạng thái ñỏ hồng,

mỡ màng, ñẹp mắt

Chúng tôi phát hiện, tổ hợp ABB biểu thị màu

sắc rất phong phú, dường như màu sắc cơ bản nào

cũng có thể tìm thấy trong tổ hợp này Vì sao hai

ngôn ngữ ñều sử dụng cấu trúc dạng láy ABB ñể

biểu thị trạng thái của sắc màu? Đó là vì thế giới

hiện thực rực rỡ muôn màu, nó cần có ngôn ngữ

hình tượng, âm thanh sinh ñộng ñể thể hiện thế

giới muôn sắc màu ấy Hơn nữa, tổ hợp ABB là

do A kết hợp với BB tạo thành, từ căn A biểu thị

tính chất của màu sắc, BB biểu thị trạng thái sắc

màu của A ra sao, do ñó, cùng là một sắc màu

nhưng khi kết hợp với BB không giống nhau sẽ

biểu thị trạng thái sắc màu khác nhau, tu sức cho

những ñối tượng khác nhau

b Cùng một BB có thể kết hợp với nhiều A khác nhau

Ví dụ tiếng Việt với BB là “ngăn ngắt”, có các

tổ hợp ABB như: “lạnh ngăn ngắt, vắng ngăn ngắt, ñắng ngăn ngắt, xanh ngăn ngắt, tím ngăn ngắt” Ở ñây cho dù A khác nhau nhưng ñều có

ñặc trưng giống nhau của BB, tức là “lạnh, vắng, ñắng, xanh, tím” ở trạng thái mức ñộ cao “lạnh ngăn ngắt, vắng ngăn ngắt, ñắng ngăn ngắt” ñều biểu thị trạng thái lạnh lẽo, vắng vẻ, nhạt nhẽo với hàm ý không thích, không mong muốn, không hài lòng của người nói; “xanh ngăn ngắt, tím ngăn ngắt” ñều biểu thị sắc xanh ñậm, tím ñậm lan tỏa rộng trong không gian chứ không phải một chấm nhỏ, hàm chứa màu sắc (xanh, tím) ở trạng thái mức ñộ cao

Ngoài BB là “ngăn ngắt”, tiếng Việt còn có một số BB có khả năng kết hợp với nhiều A khác

nhau như: xanh thăm thẳm, sâu thăm thẳm; ñỏ lòm lòm, chua lòm lòm…

Cho dù kết hợp với A ñể tạo thành tổ hợp ABB, nhưng BB trong tiếng Việt vẫn có một cơ cấu nghĩa của riêng mình, cũng như A vẫn có nghĩa ñộc lập với BB trong tổ hợp ABB [4, 394]

Trong tiếng Việt, cùng một BB có thể kết hợp với nhiều A khác nhau nhưng khả năng tổ hợp của

BB không mạnh Bởi ñại ña số BB của tiếng Việt

có nghĩa thực nên việc kết hợp với nhiều A khác nhau sẽ bị hạn chế

Ví dụ tiếng Hán:

Nhóm 1:

淋淋 (lâm lâm):湿淋淋 (thấp lâm lâm <ướt sùng sũng>), 雨淋淋 (vũ lâm lâm <mưa dầm dề>), 泪淋淋 (lệ lâm lâm <nước mắt ñầm ñìa>), 血淋淋 (huyết lâm lâm <máu toe toét>) v.v

Nhóm 2:

滋滋 (tư tư):乐滋滋 (lạc tư tư <sung sướng>), 美滋滋 (mỹ tư tư <vui sướng>), 喜滋滋 (hỉ tư tư

<vui sướng/ hân hoan>) v.v

Nhóm 3:

乎乎 (hồ hồ): 香乎乎 (hương hồ hồ <thơm phương phức>), 潮乎乎 (trào hồ hồ <ướt nhoen

Trang 6

nhoét>), 圆乎乎 (viên hồ hồ <tròn xoe xoe>), 光

乎乎 (quang hồ hồ <trọc lông lốc>), 油乎乎 (dầu

hồ hồ <nhớt nhèo nhèo>), 甜乎乎 (ñiềm hồ hồ

<ngọt lìm lịm>) v.v

巴巴 (ba ba):干巴巴 (can ba ba <khô không

khốc>), 淡巴巴 (ñạm ba ba <nhạt phèo phèo>), 短

巴巴 (ñoản ba ba <ngắn cùn cũn>), 紧巴巴 (khẩn

ba ba <chật ninh ních>) v.v

Nhóm 1 BB “淋淋” có nghĩa thực, có thể ñứng

ñộc lập thành từ, ñây là những tính từ láy không

xác ñịnh yếu tố gốc Sau khi kết hợp với A tạo

thành ABB thì ý nghĩa của BB vẫn tương ñối rõ

ràng

“淋淋” biểu thị nước, mồ hôi v.v… ñang nhỏ

giọt Khi BB kết hợp với A tạo thành các tổ hợp

ABB thì nghĩa hình tượng, cụ thể ấy của BB vẫn

tiềm ẩn, như: “湿淋淋” (ướt sùng sũng), “雨淋淋”

(mưa dầm dề), “泪淋淋” (nước mắt ñầm ñìa), “血

淋淋” (máu toe toét)

Nhóm 2 “滋滋” là hậu tố láy âm, không ñứng

ñộc lập thành từ “滋” mang nghĩa là “nảy, ñâm,

mọc (滋润: tươi nhuần, 滋养: bồi bổ)” Cho dù ý

nghĩa của BB ñã bị hư hóa hoặc ñang trong quá

trình hư hóa nhưng dường như nó vẫn hàm ẩn

trong tổ hợp ABB “乐滋滋 (sung sướng), 美滋滋

(vui sướng, ñắc chí), 喜 滋 滋 (hân hoan, vui

sướng)” khiến ta liên tưởng tới trạng thái hân hoan

vui sướng ñang lan tỏa và “thẩm thấu” trong tâm hồn

Nhóm 3 là hậu tố láy âm “乎乎, 巴巴”, không

ñứng ñộc lập thành từ Đây là hậu tố ñiển hình cho

cấu trúc dạng láy ABB của tiếng Hán Tiếng Việt

không có kiểu hậu tố này Nó có thể kết hợp ñược

với rất nhiều A khác nhau Ý nghĩa của nó về cơ

bản ñã bị hư hóa, rất khó ñể nhận biết nó bổ sung

nói rõ cái gì cho A, dường như chỉ có tác dụng cấu

tạo từ [14,21] Dù vậy khi kết hợp với A người ta

vẫn nhận thấy sắc thái hình tượng và ý nghĩa tăng

cường mà nó ñem lại Ví dụ: “傻乎乎” khiến

người ta nghĩ ñến vẻ ngốc nghếch một cách ñáng

yêu, “短巴巴” là trạng thái ngắn cũn cỡn, không

ñẹp mắt, gây khó chịu cho người nói v.v

Khả năng cùng một BB giống nhau có thể kết

hợp với nhiều A khác nhau của tiếng Việt không

mạnh như tiếng Hán Bởi ñại ña số BB của tiếng Việt có nghĩa thực, do ñó việc kết hợp với nhiều A khác nhau sẽ bị hạn chế Ngược lại BB của tiếng Hán thì ñang trong quá trình hư hóa hoặc ñã hư hóa, do ñó khả năng kết hợp với nhiều A khác nhau mạnh Khả năng tổ hợp của BB càng mạnh chứng tỏ mức ñộ ý nghĩa hư hóa càng cao còn khả năng tổ hợp của BB càng yếu chứng tỏ mức ñộ ý nghĩa hư hóa càng thấp

3 Kết luận:

Thông qua ñối chiếu cấu trúc dạng láy ABB giữa tiếng Việt và tiếng Hán, chúng tôi ñã tìm ra những ñiểm tương ñồng và khác biệt như sau: Tương ñồng:

ABB trong tiếng Việt và tiếng Hán ñều do từ căn A kết hợp với BB tạo thành Trong ñó phần lớn A là tính từ Ở tiếng Việt trong 115 tổ hợp ABB thì có 110 tổ hợp có A thuộc tính từ, chiếm 96% Tiếng Hán trong 298 tổ hợp ABB thì có 203

tổ hợp có A là tính từ, chiếm 68,12%

Trong tổ hợp ABB có một bộ phận BB là tính

từ láy không xác ñịnh yếu tố gốc, có thể ñứng ñộc lập thành từ

Trong tổ hợp ABB, cùng một A có thể kết hợp với nhiều BB khác nhau, cùng một BB có thể kết hợp với A khác nhau

Nghĩa hạt nhân của ABB là ở từ căn A BB không làm thay ñổi nghĩa hạt nhân của A mà có tác dụng nói rõ bổ sung, phụ nghĩa cho A

ABB mang ý nghĩa sắc thái hình tượng, cụ thể

và sinh ñộng, nó luôn khơi gợi những liên tưởng phong phú của con người Nếu chỉ ñơn thuần sử dụng A sẽ không có giá trị ñó, cho dù BB có thể ñứng ñộc lập cũng có những hạn chế nhất ñịnh Ý nghĩa sắc thái hình tượng ấy của ABB là do A kết hợp với BB tạo thành

Ngữ nghĩa của ABB thường bao hàm mức ñộ cao thậm chí là cao nhất, so với từ căn A hoặc song tiết AB (nếu tồn tại) thì mức ñộ của ABB càng cao Do ñó, trước ABB không ñược dùng phó từ chỉ mức ñộ cao như “rất, quá, cực kỳ (太,

很, 非常……) v.v

Trang 7

Khác biệt

Với tiếng Việt, BB trong tổ hợp ABB thuộc từ

láy hoàn toàn không xác ñịnh yếu tố gốc, là một

phần quan trọng của từ láy tiếng Việt, thông

thường trong “Từ ñiển tiếng Việt” hoặc “Từ ñiển

từ láy tiếng Việt” ñều có thể tìm thấy Ngược lại,

BB trong tổ hợp ABB của tiếng Hán chỉ có một

lượng nhỏ là tính từ láy hoàn toàn không xác ñịnh

yếu tố gốc, còn ñại ña số BB là hậu tố láy âm

không ñứng ñộc lập thành từ vì thế chúng không

xuất hiện trong từ ñiển Đây là ñiểm khác biệt lớn

nhất giữa hai ngôn ngữ

Trong tiếng Việt, ñại ña số AB có thể kết hợp

thành từ Tác giả khảo sát 115 tổ hợp ABB thì có

85 trường hợp có thể kết hợp tạo thành tính từ

song tiết AB, chiếm 74% Trong tiếng Hán, tác giả

khảo sát 298 tổ hợp ABB thì có 46 trường hợp có

thể kết hợp tạo thành tính từ song tiết, chiếm 15%

So với tiếng Hán thì tổ hợp ABB của tiếng Việt có

thể kết hợp thành từ song tiết AB nhiều hơn BB,

AB của tiếng Việt có thể ñứng ñộc lập thành từ,

có nghĩa thực nhiều hơn so với tiếng Hán Điều ñó

thể hiện tính chất ñơn lập của tiếng Việt rõ ràng

hơn tiếng Hán

Thanh ñiệu và âm cuối của BB trong tổ hợp

ABB của tiếng Việt có những biến ñổi ngữ âm

nhất ñịnh, sự biến ñổi này tuân thủ theo những

quy luật chặt chẽ Ngược lại, sự biến ñổi thanh

ñiệu của BB trong tổ hợp ABB của tiếng Hán chỉ

xuất hiện ở khẩu ngữ và tương ñối tự do

Trong tiếng Hán, “乎乎 (hồ hồ), 巴巴 (ba ba)”

là hậu tố láy âm ñiển hình cho tổ hợp ABB Nó có thể

kết hợp ñược với rất nhiều A khác nhau Tiếng Việt

không có kiểu hậu tố này

So với tiếng Hán thì khả năng cùng một BB

giống nhau có thể kết hợp với nhiều A khác nhau

của tiếng Việt yếu hơn Bởi ñại ña số BB của tiếng

Việt có nghĩa thực, do ñó việc kết hợp với nhiều A

khác nhau sẽ bị hạn chế Ngược lại, BB của tiếng

Hán thì ñang trong quá trình hư hóa hoặc ñã hư

hóa, do ñó khả năng kết hợp với nhiều A khác

nhau mạnh hơn Khả năng tổ hợp của BB càng

mạnh chứng tỏ mức ñộ ý nghĩa hư hóa càng cao

còn khả năng tổ hợp của BB càng yếu chứng tỏ mức ñộ ý nghĩa hư hóa càng thấp Đặc ñiểm trên ñây cũng phần nào phản ánh tính chất ñơn lập của tiếng Việt mạnh hơn tiếng Hán

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Tài Cẩn “Ngữ Pháp Tiếng Việt”, NXB Đại

học và trung học,1975

2 Mai Ngọc Chừ chủ biên, Nguyễn Thị Ngân Hoa,

Đỗ Việt Hùng…, Nhập môn ngôn ngữ học, NXB Giáo

Dục, 2007

3 Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trong

Phiến “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, NXB Giáo

dục, 2006

4 Hoàng Văn Hành “Những ñơn vị từ vựng kiểu như

au, ngắt trong ñỏ au, xanh ngắt ” trong “Tuyển tập ngôn ngữ học”, NXB Khoa học xã hội, 2010

5 Hoàng Văn Hành “Từ láy trong tiếng Việt”, NXB

Khoa học xã hội, 1985

6 Hoàng Văn Hành chủ biên “Từ ñiển từ láy tiếng Việt”, NXB Giáo dục, 1995

7 Ngô Thị Huệ “Tính phổ biến của phương thức lặp trong loại hình học ngôn ngữ dưới góc ñộ ngôn ngữ học tri nhận”, Tạp chí Ngôn ngữ số 8, 2014

8 Hồ Lê “Vấn ñề cấu tạo của từ của tiếng Việt hiện

ñại”, NXB Khoa học xã hội,1976

9 Hà Quang Năng “Dạy và học từ láy ở trường phổ thông”, NXB Giáo dục, 2003.

10 Hoàng Phê chủ biên “Từ ñiển tiếng Việt” (Viện

ngôn ngữ học), NXB Đà nẵng, 2000

11 Sapir.Edward 1921《语言论》(Language),陆桌

元 译,商务印书馆, 2010

1990

务印书馆,1999

学》,1990 年第一期

书研究》,1985 年 4 期

1996

大学出版社,2003

18 吴氏惠(Ngô Thị Huệ)《语言类型学视野下的 越南语,汉语形容词重叠对比研究》华东师范大学 博士论文,2013 年

19 朱德熙《现代汉语语法研究》,商务印书馆,1980

Ngày đăng: 13/11/2020, 07:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm