Qua thực tiễn giảng dạy, chúng tôi thấy cần phải giúp học viên người Việt học tiếng Anh cũng như người nước ngoài học tiếng Việt, hiểu rõ được những điểm tương đồng và khác biệt trong cấ
Trang 1NGUYỄN THỊ THANH TÂM
ĐỐI CHIẾU CẤU TRÚC NGỮ PHÁP
CỦA CÚ BỊ BAO TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 2NGUYỄN THỊ THANH TÂM
ĐỐI CHIẾU CẤU TRÚC NGỮ PHÁP
CỦA CÚ BỊ BAO TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 62220110
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học
1 TS HUỲNH THỊ HỒNG HẠNH
2 TS NGUYỄN THỊ KIỀU THU
Phản biện độc lập
1 PGS.TS NGUYỄN HỮU ĐẠT
2 PGS.TS NGUYỄN THỊ VIỆT THANH
Phản biện 1: GS.TS NGUYỄN VĂN HIỆP Phản biện 2: PGS.TS NGUYỄN VĂN TÌNH Phản biện 3: PGS.TS NGUYỄN CÔNG ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 3MỤC LỤC
QUY ƯỚC TRÌNH BÀY ……… 5
PHẦN MỞ ĐẦU ……… 7
1 Lý do chọn đề tài ……… 7
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ……… 9
3 Mục đích nghiên cứu ……… 11
4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu ……… … 11
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 13
6 Phương pháp nghiên cứu ……… 15
7 Bố cục của luận án ……… 16
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÚ BỊ BAO ……… 17
1.1 Các quan điểm trong việc nghiên cứu cú bị bao ……… 17
1.1.1 Về việc nghiên cứu cú bị bao trong câu tiếng Việt ……… 17
1.1.2 Về việc nghiên cứu cú bị bao trong câu tiếng Anh ……… 29
1.2 Cú bị bao trong câu tiếng Việt ……… 34
1.2.1 Định nghĩa và các thuật ngữ ……… 34
1.2.2 Phân biệt cú bị bao, cú không bị bao, và danh ngữ ……… 36
1.2.3 Cú bị bao làm chủ ngữ ……… ……… 39
1.2.4 Cú bị bao làm vị ngữ ……… 40
1.2.5 Cú bị bao làm bổ ngữ……… 41
1.2.6 Cú bị bao làm định ngữ ……… 42
Trang 41.2.7 Cú bị bao làm trạng ngữ ……… 45
1.3 Cú bị bao trong câu tiếng Anh ……… 46
1.3.1 Định nghĩa và các thuật ngữ ……… 46
1.3.2 Phân biệt cú bị bao và cú không bị bao ……… 47
1.3.3 Cú bị bao làm chủ ngữ ….……… 49
1.3.4 Cú bị bao làm bổ ngữ ……… 53
1.3.5 Cú bị bao làm định ngữ ……… 56
1.4 Tiểu kết ……… 60
CHƯƠNG 2: ĐỐI CHIẾU CÚ BỊ BAO TRONG CÂU TIẾNG VIỆT VÀ CÂU TIẾNG ANH ……… 61
2.1 Cú bị bao làm thành phần trong câu tiếng Việt ……… 61
2.1.1 CBB làm chủ ngữ ……… 61
2.1.2 CBB làm vị ngữ ……… 66
2.1.3 CBB làm bổ ngữ ……… 67
2.1.4 CBB làm định ngữ ……… 73
2.1.5 CBB làm trạng ngữ ……… 75
2.2 CBB làm thành phần trong câu tiếng Anh ……… 77
2.2.1 CBB làm chủ ngữ ……… 77
2.2.2 CBB làm bổ ngữ ……… 81
2.2.3 CBB làm định ngữ ……… 89
2.3 Đối chiếu cấu trúc nội tại của CBB tiếng Việt và tiếng Anh …… 95
2.3.1 Sự tương đồng ……… 96
2.3.2 Sự khác biệt ……… 99
Trang 52.4 Đối chiếu CBB làm thành phần trong câu tiếng Việt
và tiếng Anh ……… 100
2.4.1 CBB làm chủ ngữ ……… 100
2.4.2 CBB làm vị ngữ ……… 105
2.4.3 CBB làm bổ ngữ ……… 106
2.4.4 CBB làm định ngữ ……… 109
2.4.5 CBB làm trạng ngữ ……… 112
2.5 Tiểu kết ……… 114
CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ CHUYỂN DỊCH CÂU CÓ CHỨA CÚ BỊ BAO TỪ VIỆT SANG ANH VÀ TỪ ANH SANG VIỆT…… 116
3.1 Dẫn nhập ……… 116
3.2 Chuyển dịch CBB làm chủ ngữ ……… 118
3.2.1 Chuyển dịch Việt – Anh (tV1 → tA2) ……… 118
3.2.2 Chuyển dịch Anh – Việt (tA1 → tV2 )……… 135
3.3 Chuyển dịch CBB làm vị ngữ ……… 139
3.4 Chuyển dịch CBB làm bổ ngữ ……… 143
3.4.1 Chuyển dịch Việt – Anh (tV1 → tA2) ……… 143
3.4.2 Chuyển dịch Anh – Việt (tA1→ tV2)……… 174
3.5 Chuyển dịch CBB làm định ngữ ……… 181
3.5.1 Chuyển dịch Việt – Anh (tV1 → tA2) ……… 181
3.5.2 Chuyển dịch Anh – Việt (tA1 → tV2) ……… 191
3.6 Chuyển dịch CBB làm trạng ngữ ……… 201
Trang 63.7 Tiểu kết ……… 207
KẾT LUẬN……… ……… 208
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ……… 211
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 212
Trang 7QUY ƯỚC TRÌNH BÀY
tA1: Bản gốc tiếng Anh
tA2 : Bản dịch tiếng Anh
/ : Phân chia chủ ngữ và vị ngữ của cú bị bao
// : Phân chia chủ ngữ và vị ngữ của câu
[x]: x: số thứ tự tài liệu tham khảo trong thư mục
[x, y]: x: số thứ tự tài liệu tham khảo trong thư mục
y: số trang của tài liệu tham khảo (x, y) x: số thứ tự của nguồn ngữ liệu minh họa trong thư mục
Trang 8y: số trang của ngữ liệu minh họa
<x> x : số thứ tự các câu ví dụ minh họa khảo sát dịch thuật
Trang 9và tồn tại tự nhiên trong tư duy của mỗi người bản ngữ Kết quả nghiên cứu của Doukas T [68] về khả năng phát triển ngôn ngữ ở trẻ em cho thấy rằng trẻ từ 2,5 đến 3 tuổi có thể hiểu và sử dụng câu phức tùy theo hoàn cảnh và mục tiêu giao tiếp Còn theo Phan Thiều [43], khi trẻ đến 4 – 5 tuổi thì việc nắm những vấn đề cơ bản của ngữ pháp tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp coi như hoàn thành Tất nhiên việc này có ảnh hưởng
ít nhiều đến việc học ngoại ngữ Có nhiều người sử dụng một ngoại ngữ nào đó hoàn toàn dựa trên cấu trúc ngữ pháp và văn phong của tiếng mẹ đẻ để kết nối các từ ngữ lại với nhau Điều này dẫn đến việc nói và viết sai ngữ pháp khi giao tiếp bằng ngoại ngữ
đang học Ví dụ như không ít sinh viên Việt Nam học tiếng Anh viết câu ‘Mưa lớn
hôm qua làm đường trơn trượt.’ bằng tiếng Anh như sau ‘It rained heavily yesterday made the roads slippery.’
Mà lẽ ra câu đúng phải là:
That it rained heavily yesterday made the roads slippery
hay: The yesterday’s heavy rain made the roads slippery
Trang 10Phải chăng những lỗi mà người học thường hay mắc phải này là do họ chưa nắm vững những cấu trúc cú pháp của câu tiếng Anh và quan trọng hơn là không nắm được đặc điểm tư duy của người bản ngữ nói tiếng Anh thể hiện trong ngôn ngữ Tuy câu tiếng Việt và tiếng Anh có một số cấu trúc giống nhau, nhưng vẫn có những điểm khác biệt trong câu ghép, câu phức, hoặc câu nhiều tầng Để khắc phục được những lỗi cú pháp, người học tiếng cần phải nắm vững cấu trúc câu của cả tiếng mẹ đẻ
và ngoại ngữ mà họ đang học
Qua thực tiễn giảng dạy, chúng tôi thấy cần phải giúp học viên người Việt học tiếng Anh cũng như người nước ngoài học tiếng Việt, hiểu rõ được những điểm tương đồng và khác biệt trong cấu trúc cú pháp của cả hai ngôn ngữ và biết cáchphân tích câu dựa vào các thành phần và những mối quan hệ của các thành phần trong câu, có thể nắm bắt cấu trúc cú pháp để sử dụng câu một cách hiệu quả, tích cực trong quá trình học tiếng Đây không chỉ là điều tâm huyết mà còn là nỗitrăn trở của các nhà ngôn ngữ học
1.2 Lý do khoa học
Chúng ta phải thừa nhận rằng việc nghiên cứu câu có chứa cụm chủ - vị làm thành phần là rất cần thiết và hữu ích cho việc thực hành sử dụng tiếng và phân tích cấu tạo của câu, nhất là với loại ngôn ngữ đơn lập, không biến hình như tiếng Việt
Vả lại, việc đưa một CBB vào làm thành phần câu cần phải có những quy tắc ngữ pháp bắt buộc, mang tính đặc thù của từng ngôn ngữ, và thường không giống nhau giữa các ngôn ngữ Vì vậy việc nghiên cứu đối chiếu CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh rất quan trọng trong việc dạy và học tiếng, cũng như dịch thuật Hơn thế nữa, trong chương trình ngữ pháp tiếng Việt mà nhà trường giảng dạy từ trước tới nay cấu trúc cú pháp cơ bản là cấu trúc chủ - vị
Trang 11Chúng tôi nhận thấy cần phải có công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn
về CBB trong tiếng Việt và tiếng Anh, phân tích cấu trúc cú pháp, so sánh, đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt của CBB trong hai ngôn ngữ nhằm giúp cho việc học tiếng dễ dàng hơn, hiệu quả hơn Đồng thời cũng cần phải có khảo sát dịch thuật CBB để góp phần vào lý thuyết dịch Việt-Anh, Anh-Việt đang ngày càng cần thiết trong quá trình phát triển và hội nhập toàn cầu hiện nay
So sánh, đối chiếu cấu trúc cú pháp của tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ đang học là một trong những cách tốt nhất giúp cho việc dạy và học tiếng hiệu quả hơn và đây là việc làm mang ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học
Tuy nhiên, trong chừng mực và giới hạn của luận án, chúng tôi chỉ
nghiên cứu cú bị bao (CBB), hay nói cách khác là cụm chủ - vị giữ chức năng chủ ngữ,
vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, và định ngữ trong câu
Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài luận án là “Đối chiếu
cấu trúc ngữ pháp của cú bị bao trong tiếng Việt và tiếng Anh”
Trang 12các nước, nên các nhà Việt ngữ học dần dần thay đổi quan điểm nghiên cứu Họ nghiên cứu cấu trúc câu tiếng Việt theo cách tiếp cận ngữ pháp truyền thống, phân tích câu dựa trên kết cấu chủ-vị và đặt biệt chú trọng đến các trường hợp kết cấu chủ-vị làm nòng cốt câu (CBB) Tiếng Việt phong phú và là ngôn ngữ đơn lập, không biến hình nên có một số câu không thể phân tích theo kết cấu chủ-vị Do đó, một số nhà Việt ngữ học chọn cách phân tích câu theo cách tiếp cận ngữ pháp chức năng Dù họ nghiên cứu theo quan điểm nào họ đều thừa nhận vai trò quan trọng của CBB trong cấu trúc câu
Các nhà Việt ngữ học đã có những nghiên cứu về CBB như: Phan Khôi [31] Trần Trọng Kim [31] Bùi Đức Tịnh [44] Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê [10], Lưu Vân Lăng [32, 33], Cao Xuân Hạo [19, 20, 21, 22], Nguyễn Tài Cẩn [8, 9], Mai Ngọc Chừ [11, 12], Vũ Đức Nghiệu [11, 37], Hoàng Trọng Phiến [11, 38], Nguyễn Thiện Giáp [14, 15, 16, 17, 18], Nguyễn Văn Hiệp [23, 24, 25, 37, 44], Nguyễn Minh Thuyết [17, 44, 45] , Diệp Quang Ban [2, 3, 4, 5, 6, 7], Nguyễn Chí Hòa [26], Vũ Thị
Ân, Nguyễn Thị Ly Kha [1], Đỗ Thị Kim Liên [34, 35], Nguyễn Thị Lương [36], Lê Xuân Thại [39], Nguyễn Kim Thản [40, 41], Phan Thiều [43]
Tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình nên việc phân tích cấu trúc câu và thành phần câu phải dựa trên cách biến thể của vị từ chính Nhiều nhà ngôn ngữ học cũng rất quan tâm đến câu và các thành phần bị bao trong câu tiếng Anh như Bas Aart [65], Collins Cobuild [67], Edward Finegan [70], George Yule [72], Howard Jackson [75], James David McCawley [77], Peter Collins and Carmelle Hollo [89], Michael Swan [86], Rodney Huddleston [91], Ronald Carter, Michael McCarthy [92], Robert D Borsley [93], Robert D Van Valin JR [94], Peter W Culicover [90], Roderick A Jacobs [95], Victoria Fromkin, Robert Rodman [96]… Họ cũng nghiên cứu CBB theo cách tiếp cận ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp chức năng
Nói tóm lại, cấu trúc câu và các thành phần trong câu là mối quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học Tuy nhiên, theo như tìm hiểu của chúng tôi thì chưa có nghiên cứu
Trang 13nào so sánh đối chiếu CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh trên phương diện cấu trúc
cú pháp và khảo sát việc dịch thuật Các nghiên cứu ngữ pháp trước đây chỉ đề cập đến CBB một cách ngắn gọn, hoặc một phần Chúng tôi thực hiện luận án này trên cơ sở kế thừa và tiếp bước các nghiên cứu ngữ pháp nhưng chuyên sâu hơn về CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh
3 Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi thực hiện luận án này với mục đích
- Khảo sát vị trí và chức năng của CBB trong câu tiếng Việt và câu tiếng Anh để biết được khả năng hành chức của CBB
- Phân tích và đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt trong cấu trúc
cú pháp của CBB nhằm giúp người học tiếng nắm vững cấu trúc cú pháp tinh tế và phức tạp của CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh
- Khảo sát cách chuyển dịch CBB Việt-Anh và Anh-Việt để khát quát hóa cách thức chuyển dịch CBB Việt-Anh và Anh-Việt
- Góp phần khẳng định sự ảnh hưởng của đặc điểm loại hình ngôn ngữ của tiếng Việt (ngôn ngữ đơn lập, không biến hình) và tiếng Anh (ngôn ngữ biến hình) đến
sự khác biệt trong kết cấu cú pháp của câu có chứa CBB trong hai ngôn ngữ
4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu
4.1 Ý nghĩa khoa học
Chúng tôi thực hiện luận án với mong muốn góp phần vào việc nghiên cứu, phân tích câu - đơn vị cú pháp quan trọng nhất trong bất kỳ ngôn ngữ nào
Trang 14Luận án này là một bước nghiên cứu nối tiếp các nghiên cứu về câu nhưng theo hướng chuyên sâu hơn về CBB, so sánh và đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt của CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh, bổ sung thêm tư liệu cho việc học tập, biên soạn sách ngữ pháp, nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt và tiếng Anh mà trong đó câu là đơn vị bậc cao nhất
Luận án chỉ ra sự khác biệt về loại hình được thể hiện trong cấu trúc ngữ pháp của câu chứa CBB trong tiếng Việt và tiếng Anh
Phần khảo sát dịch thuật CBB Việt – Anh và Anh – Việt trong các tác phẩm văn học có thể đóng góp thêm cho lý thuyết dịch thuật hiện đang được nhiều người quan tâm
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đối với ngôn ngữ biến hình như tiếng Anh, vị từ trong câu biến hình theo thức, thì, và thể của câu, ngôi và số của chủ ngữ thì việc xác định thành phần của câu ít gặp khó khăn Còn đối với tiếng Việt – ngôn ngữ đơn lập, không biến hình- thì việc xác định các thành phần câu đôi khi không đơn giản Chúng ta phải nhận biết và hiểu quan hệ cú pháp chúng ta mới có thể hiểu đúng câu, nói và viết được câu đúng Nhờ vào kết quả so sánh đối chiếu, người học tiếng thấy được những điểm tương đồng và khác biệt trong cấu trúc câu có chứa CBB của tiếng Việt và tiếng Anh để có thể sử dụng CBB một cách chính xác và hiệu quả khi giao tiếp
Luận án được thực hiện nhằm giúp cho người học tiếng có được kiến thức vững chắc về cấu trúc CBB mà người bản ngữ biết và sử dụng một cách tự nhiên, mặc định nhưng lại gây một số khó khăn nhất định đối với người đang học ngôn ngữ này như một ngoại ngữ, và giúp họ tránh được những lỗi sai khi sử dụng câu có từ hai kết cấu chủ-vị trở lên
Trang 15Luận án góp phần mang lại những ứng dụng thực tiễn trong công tác giảng dạy, học tập, và dịch thuật từ tiếng Việt sang tiếng Anh hay ngược lại
Bên cạnh đó hiện nay đất nước ta đang trong tiến trình hội nhập quốc tế, nhu cầu học ngoại ngữ ngày càng cao, đặc biệt là việc học tiếng Anh Trong quá trình hội nhập, vấn đề giữ gìn bản sắc dân tộc là điều rất quan trọng và chúng ta phải thực hiện một cách nghiêm túc Mà “ngôn ngữ là linh hồn của dân tộc” (W.Humboldt) Có kiến thức tiếng mẹ đẻ chuẩn xác, hiểu rõ những nét giống nhau và phân biệt được những sự khác nhau của tiếng Việt và ngoại ngữ đang học cũng là góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Dù kết quả nghiên cứu của chúng tôi chỉ là một phần trong vốn kiến thức ngữ pháp phong phú, phức tạp của tiếng Việt và tiếng Anh, chúng tôi mong muốn rằng luận
án này có thể góp phần giúp ích cho người học tiếng
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu cấu trúc cú pháp của CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh, phân tích CBB giữ chức năng chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ,
và định ngữ trong câu nhằm chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt của CBB trong hai ngôn ngữ này
Luận án hướng đến việc khái quát hóa cách chuyển dịch CBB từ tiếng Việt sang tiếng Anh và ngược lại
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong luận án này, chúng tôi dựa trên quan điểm của các tác giả Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (phần tiếng Việt) và Roderick A Jacobs (phần tiếng Anh) về CBB để nghiên cứu và phân tích vai trò, vị trí và chức năng của CBB trong
Trang 16câu vì các tác giả này có những nghiên cứu về CBB rất chi tiết so với các tác giả khác
Cụ thể là dựa trên quan điểm của các công trình sau:
- Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (1998), Thành phần câu
tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
- Roderick A Jacobs (1995), English Syntax – A grammar for English
Language Professionals, Oxford University Press
Để khát quát hóa cách chuyển dịch cấu trúc cú pháp CBB và CBB làm thành phần câu Việt-Anh và Anh-Việt, chúng tôi khảo sát và liệt kê các cách chuyển dịch trong các tác phẩm:
1/ Graham Greene (1980), The Quiet American, Penguin Books 2/ Graham Greene (Vũ Quốc Uy dịch) (2007), Người Mỹ trầm
đại Nam bộ (song ngữ) Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
6/ Wayne Karlin, Hồ Anh Thái (2004), Tình yêu sau chiến tranh,
Nhà xuất bản Hội nhà văn
7/ Wayne Karlin, Hồ Anh Thái (2003), Love after War, Curbston
Trang 17Luận án không bàn về vấn đề các loại câu có chứa CBB, không phân biệt các loại câu và tên gọi của câu có chứa CBB, và sự khác nhau về các thuật ngữ cũng như quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu, các tác giả về CBB mà chỉ nghiên cứu, phân tích cấu trúc cú pháp của CBB, sự hành chức của CBB trong câu, khái quát hóa cách dịch CBB Việt-Anh và Anh-Việt
Luận án này chỉ nghiên cứu CBB có vị từ biến ngôi trong tiếng Anh
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận án này, chúng tôi đã sử dụng ba phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ cơ bản là miêu tả cấu trúc cú pháp, so sánh đối chiếu, và cải biến
Luận án miêu tả và phân tích cấu trúc cú pháp và sự hành chức của CBB để giúp người học tiếng có thể nhận dạng câu có chứa CBB làm thành phần một cách dễ dàng hơn
Việc so sánh, đối chiếu CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt trong cấu trúc của hai ngôn ngữ sẽ giúp người học tiếng Việt hoặc tiếng Anh dễ tiếp thu khi học cách sử dụng CBB và tránh được lỗi sai do ảnh
hưởng của cú pháp tiếng mẹ đẻ Theo Diệp Quang Ban, ‘việc đưa CBB vào trong câu
bao chứa nó đòi hỏi những quy tắc ngữ pháp khá phức tạp và ít nhiều có tính chất đặc thù, thường không hoàn toàn giống nhau đối với các ngôn ngữ’ [6, 290]
Luận án sử dụng phương pháp cải biến để giúp nhận diện CBB, phân biệt CBB
và danh ngữ, biến đổi vị trí của CBB để biết được khả năng hành chức CBB và những thay đổi của cấu trúc câu
Trang 187 Bố cục của luận án
Chính văn của luận án được chia làm ba phần chính: mở đầu, các chương, và kết luận
- Chương 1: Tổng quan về cú bị bao
Đề cập đến vấn đề về giới thuyết của CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh
- Chương 2: CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh
Miêu tả và phân tích khả năng hành chức của CBB trong câu tiếng Việt
và tiếng Anh
Phân tích những điểm tương đồng và khác biệt trong cấu trúc nội tại của CBB và CBB làm thành phần trong câu tiếng Việt và tiếng Anh
- Chương 3: Vấn đề chuyển dịch câu có chứa cú bị bao Việt-Anh, Anh-Việt
Tổng hợp các cách chuyển dịch câu có chứa CBB Việt-Anh, Anh-Việt trong các tác phẩm văn học
Trang 19CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÚ BỊ BAO
1.1 Các quan điểm trong việc nghiên cứu cú bị bao
1.1.1 Về việc nghiên cứu cú bị bao trong câu tiếng Việt
Chúng ta có thể tạm chia các nghiên cứu về CBB như sau:
a/Nhóm tác giả chỉ nghiên cứu CBB làm chủ ngữ, bổ ngữ, và định ngữ:
Khoảng từ thập niên 30 đến 70 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu hầu như chỉ chủ yếu tập trung vào CBB làm chủ ngữ, làm bổ ngữ, hoặc định ngữ dựa trên quan điểm “cú bản vị” hoặc “từ tổ” Họ không bàn về vấn đề CBB làm vị ngữ và trạng ngữ
Từ năm 1936, trong quyển ‘Việt-nam Văn-phạm’, tác giả Trần Trọng Kim đã nghiên cứu cách thành lập câu với các mệnh đề, ông gọi cụm chủ-vị hay CBB là ‘mệnh đề’ Theo ông, mệnh đề có thể là một câu hay một vế trong câu Ông
nêu các ví dụ: ‘Con chim bay.’ là câu có một mệnh đề Trong câu ‘Ta đừng mong nó
giúp ta.’ có cụm chủ-vị làm bổ ngữ ‘nó giúp ta’ là mệnh đề bổ túc Ông cũng nghiên
cứu CBB làm định ngữ trong danh ngữ và gọi CBB làm định ngữ là ‘mệnh đề chỉ
định’, ông cho rằng câu ‘Con ngựa mà anh ta nói hôm nọ hôm nay thi được giải nhất.’
có CBB ‘mà anh ta nói hôm nọ’ là mệnh đề chỉ định [31]
Tác giả Phan Khôi đã bắt đầu nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt và phân tích thành phần câu từ năm 1955 Ông giới thiệu quyển ‘Việt ngữ nghiên cứu’ [30] với quan điểm “cú bản vị”, phải lấy tổ chức câu làm gốc, làm thành phần chính trong việc dạy văn pháp Ông gọi CBB làm chủ ngữ là ‘chủ từ tổng hợp’ Ông cho ví
dụ ‘Đoàn chủ tịch không đến đủ mặt làm cho không thể khai hội được.’ [30, 135] và
Trang 20phân tích ‘Đoàn chủ tịch không đến đủ mặt’ là câu làm ‘chủ từ’ của vị từ ‘làm cho’
Ông nói: “Khi lấy một câu làm chủ từ thì coi cả câu ấy như một danh từ, trong ngữ
pháp gọi là ‘danh từ cú’ Cái trường hợp ấy thông dụng trong các thứ tiếng ngoại quốc
mà cũng thông dụng trong tiếng ta nữa Bởi vì trong khi không thể phân tích một ngữ, một cú ra lấy một danh từ nào làm chủ từ được, người ta buộc phải lấy cả một ngữ, một cú làm chủ từ ” [30, 135] Ông khẳng định rằng chúng ta phải dùng ‘chủ từ tổng
hợp’ hay CBB làm chủ ngữ vì trong tiếng Việt không có những danh từ chỉ những ‘sự’,
‘việc’ tương ứng và đưa ra một số ví dụ tiếng Pháp để minh họa
Tác giả Bùi Đức Tịnh cũng đề cập đến CBB trong quyển ‘Văn phạm Việt Nam’ (1952) nhưng chỉ xét CBB làm chủ ngữ, bổ ngữ, và định ngữ trong danh ngữ Ông gọi CBB là ‘mệnh đề chỉ định’ khi CBB được dùng để thêm nghĩa cho
các danh từ hay bổ túc ngữ trong mệnh đề khác Ông cho ví dụ câu: ‘Việc anh vừa nói
đó chính là việc mà chúng tôi tiên đoán.’ có hai mệnh đề chỉ định là ‘anh vừa nói’ và
‘mà chúng tôi tiên đoán’ CBB được gọi là ‘mệnh đề bổ túc’ khi bổ nghĩa cho động từ, với câu minh họa: ‘Buồn trông gió cuốn mặt duềnh.’ và ‘gió cuốn mặt duềnh’ là
mệnh đề bổ túc của vị từ ‘trông’ Ông nêu các trường hợp của CBB làm thành phần
như sau :
- Mệnh đề bổ túc làm bổ túc ngữ thuộc động từ: Các mệnh
đề này thường được nối với động từ bằng các giới ngữ: rằng, cho, sao … Nhưng các giới ngữ ấy không phải là luôn luôn cần thiết Ta chỉ dùng nó khi không thể bỏ được
Ví dụ: Chúng tôi mong rằng anh sẽ thành công
- Mệnh đề bổ túc làm phụ thích ngữ cho danh từ: Tôi đi đến
đó, với cái hy vọng rằng cuộc xung đột sẽ có thể dàn xếp được
- Mệnh đề bổ túc làm bổ túc ngữ của tính từ: các mệnh đề
bổ túc làm bổ túc ngữ cho tính từ thường được giới ngữ ‘cho đến nỗi’ nối lại với tính
từ Ví dụ: ‘Bà ấy hà tiện cho đến nỗi khắp trong vùng ai cũng đều biết tiếng’
Trang 21- Mệnh đề bổ túc làm thuộc ngữ: (không có giới ngữ) Ví
dụ: ‘Sự thật là anh đã phản bội quyền lợi quốc gia.’
- Mệnh đề bổ túc làm chủ ngữ: Ví dụ: ‘Anh thành công như thế khiến mọi người cảm phục.’ [46, 358-359]
Trong quyển ‘Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, xuất bản năm
1963 ở Đại học Huế, Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê viết "Cú pháp là phần
quan trọng hơn cả trong ngữ pháp Việt” [10, 209], hai ông nghiên cứu cả cách cấu tạo
câu và cách cấu tạo từ kết Hai ông cũng gọi CBB là ‘cú’ và cho rằng "Trong cùng một
câu diễn tả nhiều sự tình, thì mỗi tổ hợp dùng dể diễn tả một sự tình, chúng tôi gọi là
cú Câu diễn tả một sự tình là câu đơn cú, câu diễn tả nhiều sự tình là câu phức cú,
chúng tôi gọi tắt là câu đơn và câu phức " [10, 479]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Tài Cẩn, trong quyển ‘Ngữ pháp tiếng Việt’ [9], giới thiệu những khái lược về đoản ngữ và xét CBB làm định tố trong danh ngữ Ông chia danh ngữ như sau: Bộ phận trung tâm do danh từ đảm nhiệm, và các thành tố phụ gọi là định tố - được chia làm hai phần: phần đầu của danh ngữ và phần
cuối của danh ngữ Ông cũng nhấn mạnh CBB làm định tố cho danh ngữ “nêu lên một
việc dùng để giải thích thêm cái nội dung của điều nói ở trung tâm’’ [9, 245] và ông
Trang 22Theo ông, “Khi Đề hoặc Thuyết bậc 1 do một cấu trúc Đề – Thuyết bậc 2 (tiểu cú) cấu
tạo, ta có câu hai bậc ” và “những câu mà thành phần chính được tổ chức như một tiểu cú (câu nhỏ trong câu) mới xứng đáng được gọi là câu phức” [19, 87] Ông cho ví
dụ CBB làm vị ngữ ‘Mẹ tôi // tóc / đã bạc.’
Tác giả Lưu Vân Lăng [32] phân tích câu theo ‘ngữ đoạn tầng bậc
có hạt nhân’ với quan điểm “ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu được tổ chức sắp xếp
thành tầng, lớp, có cấp bậc, có hạt nhân, có chuyển hóa, ở mặt biểu đạt cũng như mặt được biểu đạt, ở hình thức kết cấu cũng như trong nội dung ý nghĩa.” và câu được tạo
thành do những yếu tố nòng cốt làm hạt nhân phát triển thêm yếu tố phụ Ông gọi CBB
là ‘cú con’ Ông cũng có cùng quan điểm với Diệp Quang Ban khi cho rằng “Có dựa
vào cú mới xác định được các loại câu về mặt cấu trúc, mới vạch được ranh giới giữa câu đơn và câu kép.” [32, 26] Ông cho ví dụ minh họa cách phân tích câu như sau:
Ai cũng biết Mỹ thua đã rõ ràng
cú con cú con [32, 29-30]
Theo ông, “Phân tích ngữ đoạn tầng bậc sẽ giúp ta phân biệt được kết cấu các loại câu
đơn, câu kép, thấy rõ câu đơn thuần túy hay có cú con Đứng trên quan điểm ‘ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân’ ta có thể thấy được mối quan hệ và chỗ khác nhau giữa ngôn ngữ và lời nói, giữa kết cấu trừu tượng bên trong và biểu hiện cụ thể bên ngoài, giữa bản tính và chức năng, giữa các hiện tượng từ vựng, ngữ pháp tu từ, giữa tiêu chuẩn và thói quen trong ngôn ngữ.” [32, 30]
Hoàng Trọng Phiến viết “kết cấu chủ-vị là đơn vị cú pháp nhỏ
nhất của tiếng Việt” [38, 80] Ông gọi kết cấu chủ -vị làm thành phần câu là ‘câu con’,
“Các câu con (hay là các kết cấu chủ-vị) khi được dùng để mở rộng thành phần câu,
thành phần đoản ngữ chúng vẫn giữ đặc điểm của câu về mặt cấu trúc.” Ông gọi việc
Trang 23sử dụng CBB làm thành phần câu là ‘quá trình phức tạp hóa câu đơn’ và viết “quá
trình phức tạp hóa câu đơn thường bao gồm nhiều tầng, nhiều lớp.” [38, 186] Ông
đưa ra các mô hình khi sử dụng CBB làm thành phần câu như sau: [38, 192-195]
C
V (c-v)
CBB làm trạng ngữ
B B B
C – V – ––––– C – V – rằng – ––––– C – V – là – –––––
(c-v) (c-v) (c-v) CBB làm bổ ngữ
Trang 24
C – ––––– – V C – V – B ––––––
(c-v) (c-v) CBB làm định ngữ
Trong các nghiên cứu về câu, Diệp Quang Ban, trong quyển ‘Ngữ pháp tiếng Việt’ [6, 288-291], đã vạch rõ vị trí và chức năng của CBB là để phân biệt câu ghép và câu phức, ông gọi CBB là ‘câu bị bao’ Ông xét ‘câu bị bao’ với phần có liên quan với nó là quan hệ cú pháp – ngữ nghĩa bên trong một câu, chứ không phải quan hệ giữa hai câu Ông cho rằng, dạng câu là một bộ phận nằm bên trong một câu hay bị bao bên trong một câu làm thành một câu phức; và mỗi dạng câu có tính độc lập tương đối, chúng ghép lại với nhau, không câu nào bao câu nào, làm thành câu ghép Ông minh họa ‘câu bị bao’ bằng sơ đồ ví dụ như sau:
Câu bị bao Câu nằm ngoài cùng
Chuột chạy làm vỡ đèn Câu bị bao
Nhưng trong quyển ‘Ngữ pháp Việt Nam’ xuất bản năm 2009 [7], Diệp Quang Ban không dùng thuật ngữ ‘câu bị bao’ nữa mà gọi là ‘mệnh đề bị bao’
Ông viết: “Giữa các mệnh đề có hai kiểu phân biệt nhau khá rõ
Trang 25i) Các mệnh đề nằm ngoài nhau, hay không bao nhau;
ii) Một mệnh đề nằm ngoài bao mệnh đề bên trong nó, mệnh đề này là bị bao
Hai kiểu mệnh đề là cơ sở để phân biệt câu ghép và câu phức ” [7, 208] và định nghĩa
câu phức và câu ghép dựa trên ‘mệnh đề bị bao’ “Câu phức là một cấu tạo ngôn ngữ
gồm một mệnh đề nằm ngoài cùng mang tính tự lập và một (hoặc hơn một) mệnh đề bị bao hoạt động với tư cách một (hay những) bộ phận phụ thuộc bên trong tổ chức của mệnh đề nằm ngoài cùng” [7, 211] “Câu ghép là một cấu tạo ngôn ngữ do hai (hoặc hơn hai) mệnh đề kết hợp với nhau theo kiểu không mệnh đề nào bao chứa mệnh đề nào, mỗi mệnh đề trong đó có tính tự lập tương đối và giữa chúng có những kiểu quan
hệ nhất định’ [7, 214]
Trong khi vấn đề có hay không có câu bị động trong tiếng Việt là vấn đề đang gây tranh cãi và vẫn chưa thể kết luận câu bị động có phải là câu phức có chứa CBB hay không vì có nhiều ý kiến khác nhau về hai từ ‘bị’ và ‘được’, thì Diệp
Quang Ban khẳng định câu bị động là câu phức có “vị ngữ là một mệnh đề bị bao,
trong đó chủ ngữ có thể vắng mặt, vị tố trong mệnh đề bị bao chứa động từ ngoại động Chủ ngữ của mệnh đề nằm ngoài cùng và của mệnh đề bị bao không trùng nhau.” [7, 213] Ông cũng có ý kiến khác với các tác giả khác như Đỗ Thị Kim Liên
[34], Nguyễn Chí Hòa [26] … khi cho rằng mệnh đề bị bao làm yếu tố phụ miêu tả (định ngữ) của danh từ không thuộc bậc câu, cho nên không được coi là thành phần câu, nhưng câu có chứa mệnh đề bị bao dạng này lại là câu phức [7, 213-214] Trong
quyển ‘Ngữ pháp tiếng Việt’ (2005) [6], ông phân tích câu ‘Cây này // lá / vàng’ là câu phức có vị ngữ là CBB ‘lá / vàng’, nhưng trong quyển ‘Ngữ pháp Việt Nam’ (2009) [7], ông lại thay đổi quan điểm và phân tích câu ‘Cây này lá // vàng’ là câu đơn, có đề ngữ là ‘Cây này’, ‘lá’ là chủ ngữ, ‘vàng’ là vị tố [7, 210-211] Ông viết, “Mệnh đề bị
Trang 26bao có thể là một yếu tố thuộc bậc câu như chủ ngữ, bổ ngữ, đề ngữ, và gia ngữ.”[7,
210]
Cũng cùng quan điểm với Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp
[16] cho rằng câu đơn là câu chỉ gồm một kết cấu C-V, ví dụ: ‘Tôi // làm việc.’, câu
phức là câu có 2 kết cấu C-V trở lên, trong đó chỉ 1 kết cấu C-V là nòng cốt còn những kết cấu C-V khác bị giáng cấp làm bộ phận của kết cấu nòng cốt, ví dụ:
- Em / đến // là anh / mừng
- Cây này // hoa / rất thơm
- Nó // ngắm con chim / bay trên trời
và câu ghép là câu hình thành bằng cách liên kết 2 câu trở lên Trong các câu được ghép như vậy không có câu nào mất cương vị câu, không bị giáng cấp để trở thành một
bộ phận của câu khác Câu ghép chính phụ: nguyên nhân – kết quả, điều kiện – giả thiết, nhượng bộ, mục đích Câu ghép đẳng lập: liên hợp (rồi … thì, và … còn), chuỗi (dùng dấu phẩy) [16, 294]
Cùng nghiên cứu kết cấu chủ-vị như các nhà ngữ học khác, tác giả
Lê Xuân Thại [39] lập một hệ thống các kiểu cấu trúc chủ-vị tiếng Việt, trong đó có một số cấu trúc có CBB làm chủ ngữ hoặc vị ngữ:
Loại 1 Chủ ngữ + Vị ngữ có kết từ Ví dụ
1 Thể /kết từ + thể/ Cha tôi là công nhân
2 Thể /kết từ + trạng/ Nguyện vọng của tôi là đi học
3 Trạng /kết từ + thể/ Không tiếp thu phê bình là thái độ khinh miệt quần chúng
4 Trạng /kết từ + trạng/ Thi đua là yêu nước
Trang 275 C-V /kết từ + thể/ Anh không đi là một điều hay
6 C-V /kết từ + trạng/ Nó đi là theo đuôi quần chúng
7 Thể /kết từ + C-V/ Điều quan trọng là anh
1 Thể Thể Anh ấy ba mươi tuổi
2 Thể Trạng Nhân dân ta rất anh hùng
Trang 28hay mất đi và chỉ còn trở thành một vế của câu, gọi là đoạn câu Đoạn câu trong câu phức hợp khác từ tổ tường thuật (định ngữ của từ tổ danh từ) làm thành phần của câu đơn giản hay của từ tổ là ở chỗ nó chỉ có quan hệ về ý nghĩa ngữ pháp với đoạn câu khác để cùng nhau tạo thành một đơn vị hoàn chỉnh của lời nói, chứ không phải phụ thuộc vào một từ nào hay có quan hệ với một thành phần nào Câu phức hợp được chia thành 2 loại: câu phức hợp liên hợp và câu phức hợp có quan hệ qua lại [40, 582]
So với các tác giả khác thì Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp trình bày cụ thể và chi tiết hơn về CBB làm thành phần câu trong quyển ‘Thành phần câu tiếng Việt’ [44] Các tác giả đã liệt kê trường hợp chủ ngữ là CBB khi vị ngữ
là các động từ biểu thị các hành vi tác động đến đối tượng (đập, phá, đánh, tạo, mở …)
và phân loại chủ ngữ, vị ngữ, và bổ ngữ theo cấu tạo nội bộ với những trường hợp
CBB có thể làm chủ ngữ, vị ngữ, và bổ ngữ Hai ông phân tích ví dụ ‘Tay xách cái
nón, chị bước lên thềm nhà.’, có CBB làm trạng ngữ, và viết “trường hợp đó là một dạng câu kép đặc biệt mà chúng tôi gọi là câu kép lồng Đặc trưng tuyến tính của nó là một vế, có thể được chen, lồng vào vế kia và trật tự của hai vế là trật tự tự do” (Chị
bước lên thềm nhà, tay xách cái nón Hoặc: Tay xách cái nón, chị bước lên thềm
nhà.) [44, 313]
Nguyễn Văn Hiệp phân tích các trường hợp CBB có thể làm thành phần trong câu trong quyển ‘Cú pháp tiếng Việt’ [25] Ông phân loại chủ ngữ, vị ngữ,
và bổ ngữ theo cấu tạo và cho ví dụ các thành phần câu là CBB:
Cô ấy ra đi khiến tôi buồn (CBB làm chủ ngữ)
Ông ấy bao giờ cũng miệng nói tay làm (CBB làm vị ngữ) Tôi im lặng là tôi đồng ý (CBB làm bổ ngữ) [25, 141-156]
Ông xem xét bổ ngữ trong kết cấu câu cầu khiến Ông nêu hai ví
dụ ‘Bố luôn bắt tôi // cố gắng học tập.’ và ‘Anh ta nhờ tôi // trông coi ngôi nhà.’ Theo
Trang 29ý ông, “Một số sách ngữ pháp trước đây cho rằng bổ ngữ trong các câu này là một kết
cấu C-V (tôi // cố gắng học tập, và tôi // trông coi ngôi nhà) Chúng tôi cho rằng cách
phân tích này không thuyết phục, do không phân biệt được quan hệ logic-ngữ nghĩa và quan hệ ngữ pháp trong câu [25, 181] Ông cho rằng CBB là phạm vi để xác định câu
phức, “câu phức là những câu có ít nhất một trong những thành phần nòng cốt của nó
có dạng kết cấu C-V ” [25, 355] Cũng giống như tác giả Phan Khôi, ông đồng ý với
quan điểm danh hóa kết cấu chủ-vị bằng những từ ‘sự’ và ‘việc’
Cô ấy ra đi khiến tôi buồn vô hạn
→ Sự ra đi của cô ấy khiến tôi buồn vô hạn
→ Việc cô ấy ra đi khiến tôi buồn vô hạn [25, 358]
Trong khi các nhà ngữ học khác cho rằng câu có chứa CBB là câu phức thì Đỗ Thị Kim Liên nói câu có chứa CBB là câu đơn, có thành phần mở rộng là
một kết cấu chủ-vị, với ví dụ “Gần sáng // là lúc người ta / ngủ say nhất” Tác giả
cũng cho rằng “cụm từ chủ-vị là cụm từ mà giữa hai thành phần chủ-vị có tác động qua lại lẫn nhau, tồn tại nương tựa nhau và cùng mang ý nghĩa tường thuật, là một đơn vị có cấu trúc cao hơn từ, gần giống trúc câu bình thường nhưng chưa thành câu –
Cô gái mà anh / gặp hôm qua // rất vui tính. ” [34, 79]
Tác giả Nguyễn Chí Hòa [26] gọi câu có chứa CBB là ‘câu đơn phức tạp hóa’ và CBB là ‘mệnh đề’ Ông xét CBB làm chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, và định ngữ của danh ngữ Ông dẫn ra hàng loạt ví dụ và các trường hợp sử dụng CBB, ông liệt kê các nhóm vị từ có bổ ngữ là CBB Ông ủng hộ quan điểm CBB có thể làm
vị ngữ trong câu Những tác giả khác như Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Minh Thuyết,
Hoàng Trọng Phiến xem CBB đứng sau vị từ ‘là’, ‘trở thành’, ‘trở nên’ là bổ ngữ thì
Nguyễn Chí Hòa phân tích CBB ở vị trí này là vị ngữ Ông viết:
Trang 30“Vị ngữ trong câu đồng nhất được mở rộng thành mệnh đề:
Có một điều rất kỳ lạ là những con người man rợ này / lại biết vẽ
Vị ngữ có thể là kết cấu: trở thành / trở nên + (C-V): Hiện
nay, Việt Nam đang trở thành một trong những thị trường hàng không của khu vực Đông Nam Á được nhiều nước chú ý ” [26, 350-351]
Có thể nói Nguyễn Chí Hòa nghiên cứu cú pháp tiếng Việt dựa trên cú pháp tiếng Anh
khi ông cho ví dụ câu: ‘Người lính đứng cạnh binh trạm trưởng đang giở sổ ra ghi.’ và cho rằng câu có CBB làm định ngữ ‘người / đứng cạnh binh trạm trưởng’ bổ nghĩa cho danh từ trung tâm ‘người lính’ và ông viết: “trong mệnh đề định ngữ có thể có một bộ
phận nào đó đồng sở chỉ với danh từ trung tâm Bộ phận này lại giữ chức năng nhất định trong định ngữ Trong tất cả những vị trí này danh từ đồng sở chỉ bị loại bỏ bên trong mệnh đề định ngữ.” [26, 361] Ông không đồng ý với cách phân tích ‘Người lính đứng cạnh binh trạm trưởng’ là CBB làm chủ ngữ và vị ngữ là ‘đang giở sổ ra ghi’.[26, 361] Và theo ông “mệnh đề định ngữ có tính phân bổ tự do”[26, 361], trong
khi đó các tác giả khác như Nguyễn Tài Cẩn [8], [9], Diệp Quang Ban [6], [7], Nguyễn
Văn Hiệp [25] … khẳng định CBB làm định ngữ có tính cố định
Các nhà ngôn ngữ học nước ngoài cũng rất quan tâm đến nghiên cứu ngũ pháp tiếng Việt, và điển hình là V.S.Panfilov Trong quyển “Cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt” của ông, chương XII ‘Câu có thành phần lồng ghép’ viết về CBB, ông gọi CBB là ‘thành phần lồng ghép’ hay là ‘mệnh đề được lồng ghép’ Ông tập hợp các
chức năng cú pháp của CBB thành hai nhóm: nhóm thứ nhất là “mệnh đề được lồng
ghép có chức năng vị từ”, gọi các vị ngữ là “mệnh đề (mệnh đề vị ngữ) và định ngữ là mệnh đề (mệnh đề định ngữ)” và nhóm thứ hai là “mệnh đề lồng ghép có chức năng thể từ bao gồm mệnh đề chủ ngữ và mệnh đề bổ ngữ” [56, 180-188]
Trang 31Mặc dù các nhà Việt ngữ học có ý kiến khác nhau về thuật ngữ, cách phân loại câu có chứa CBB, và hướng nghiên cứu CBB, nhưng họ đều thừa nhận
vị trí quan trọng của CBB trong câu tiếng Việt
1.1.2 Về việc nghiên cứu cú bị bao trong câu tiếng Anh
Về mặt thuật ngữ, các nhà Anh ngữ học hầu như thống nhất với nhau và cùng dùng tên gọi “Embedded Clause” (CBB) Họ đều cho rằng câu có chứa CBB là câu phức (complex sentence)
Các nhà nghiên cứu Anh ngữ nghiên cứu CBB theo 3 cách tiếp cận chủ yếu: ngữ nghĩa, ngữ pháp chức năng, và ngữ pháp truyền thống
Anne Seaton [63] xem xét các CBB trong ngữ cảnh Bà đưa ra các ví dụ
về CBB và cho nhận xét Tác giả liệt kê một số vị từ có bổ ngữ là CBB và các tính từ
mà sau nó là CBB
MAK Halliday có viết hai chương, chương 6 và 7, trong quyển
‘Functional Grammar’ [84] rất chi tiết về CBB, nhưng ông chỉ nghiên cứu chức năng của CBB, và cho rằng những chức năng của CBB là bổ nghĩa, chi tiết hóa, và mở rộng câu
Trong câu tiếng Anh, CBB chỉ giữ chức năng chủ ngữ, bổ ngữ, và định ngữ Các nhà nghiên cứu Anh ngữ theo hướng tiếp cận ngữ pháp truyền thống có 3 quan điểm khác nhau:
a/ Cú bị bao có thể giữ chức năng trạng ngữ
Trong khi các nhà Anh ngữ khác cho rằng CBB chỉ có làm chủ ngữ, bổ ngữ, hay định ngữ trong câu thì Jeffrey P Kaplan [79] cho rằng các CBB
có thể kết nối với các cú khác để tạo thành câu phức (“Embedded clauses can be
Trang 32conjoined with others to form compound sentences.”), [79, 299-300] và CBB có thể bổ
nghĩa cho cụm chủ-vị, ngữ danh từ, ngữ tính từ, ngữ giới từ và ngữ vị từ [79, 301]
Hai tác giả Ronald Carter và Michael Mc Carthy [92] cũng
có quan điểm về CBB giống như Jeffrey P Kaplan Họ cho rằng mệnh đề trạng ngữ (adverbial clauses) có liên từ cũng là CBB [92, 564]
b/ Cú bị bao theo cấu trúc WH-word-EVER + C + V là
‘Nominal relative clause’
‘Nominal relative clause’ là CBB làm định ngữ trong
danh ngữ bắt đầu bằng các đại từ ở dạng WH-word-EVER (ví dụ như: whoever,
whatever, và whichever…)
Các tác giả theo quan điểm này gồm có Anne Seaton,
Michael Swan, và Collins Cobuild Anne Seaton cho ví dụ: Whoever (= The person
who) broke into the apartment left the fingerprints everywhere (Bất kỳ ai đột nhập
vào căn hộ cũng phải để lại dấu tay khắp nơi.), và tác giả đề cập đến cú quan hệ đẳng kết (Co-ordinate relative clauses) trong trường hợp phải đặt thêm đại từ quan hệ [63, 467-477] Cũng cùng quan điểm với Anne Seaton, Michael Swan [86, 493] cho ví dụ:
Take whatever you want và phân tích whatever tương đương với anything that, nên
CBB whatever you want là ‘Nominal relative clause’ Collins Cobuild không đồng ý
với ý kiến cho rằng những CBB bắt đầu bằng ‘what’ là ‘noun clause’ (CBB có chức
năng như một danh ngữ) Cùng quan điểm với Anne Seaton và Michael Swan, ông gọi những CBB dạng này là ‘Nominal relative clause’ Tuy nhiên ông chỉ cho ví dụ và gọi tên nhưng không phân tích thêm
- What he / really needs // is a cup of tea (Cái mà anh ta thật sự cần
tới là một tách trà.)
Trang 33- They // did not like what he / wrote (Họ không thích những gì hắn
viết.) [67, 616-617]
c/ Cú bị bao theo cấu trúc WH-word-EVER + C + V được xem
như cú danh ngữ (noun clause) làm chủ ngữ hoặc bổ ngữ
Nhiều nhà nghiên cứu Anh ngữ theo hướng tiếp cận ngữ
pháp truyền thống cho rằng CBB có cấu trúc WH-word-EVER + C + V là cú danh ngữ
và có thể giữ chức năng chủ ngữ hoặc bổ ngữ trong câu
Howard Jackson [75] đưa ra ý kiến là trong tiếng Anh khi CBB giữ chức năng chủ ngữ, người ta thường sử dụng chủ ngữ giả IT ở vị trí của chủ ngữ và CBB được đặt ở cuối câu vì tiếng Anh có khuynh hướng đặt những thành phần
câu dài, nhiều từ ở cuối câu, theo nguyên tắc ‘trọng hậu’ (“When a that-clause fuctions
as subject, it is normally the case that a dummy IT funtions in subject position, and the that-clause is extraposed … English tends to consign long and weighty elements to the end of a clause, according to the principle of end-weight ”) [75, 35] Howard Jackson
chú trọng đến CBB có vị từ không biến ngôi hơn CBB có vị từ biến ngôi
Lynn M Berk [83] cùng quan điểm với nhà nghiên cứu Việt ngữ Lưu Vân Lăng khi nghiên cứu CBB theo tầng, bậc của câu Lynn xem CBB như một ngữ danh từ và quan tâm đến cấu trúc nội tại của CBB, vị từ của CBB làm bổ ngữ bị chi phối bởi vị từ chính của câu Tác giả cho rằng có hai loại CBB làm bổ ngữ
là ‘factive’ và ‘non-factive’, tùy theo nội dung của CBB
Trong khi các nhà ngữ pháp tiếng Anh cho rằng đại từ quan
hệ (relative pronoun) that không thể được sử dụng trong CBB làm định ngữ không hạn
định thì Rodney Huddleston có ý kiến hoàn toàn ngược lại Ông đưa ra ví dụ: “The
Trang 34suggestion, that he should resign, was outrageous.” (Lời đề nghị ông ấy nên từ chức
đã xúc phạm đến ông ấy), nhưng không giải thích quan điểm của mình [91, 162]
Betty Schrampfer Azar [66] cho khá nhiều ví dụ về CBB làm bổ ngữ, bà liệt kê các vị từ và các cụm từ (common expressions) có bổ ngữ là CBB, bà viết rõ về CBB làm định ngữ của danh ngữ nhưng bà không đề cập đến CBB làm chủ ngữ
Khi bàn về CBB làm định ngữ tác giả Martin Hewings [85] khẳng định CBB làm định ngữ không hạn định (non- restrictive relative clause) bổ nghĩa cho một danh từ sở chỉ xác định không được sử dụng thường xuyên trong văn
nói hằng ngày, nhưng lại được sử dụng rất nhiều trong văn viết (“We don’t use
non-defining relative clauses or non-restrictive clauses often in everyday speech, but they occur frequently in written English.”) [85,142] Trong khi các tác giả khác ủng hộ việc
sử dụng đại từ quan hệ that thay cho who, whom hoặc which để không cần phải phân biệt CBB làm định ngữ bổ nghĩa cho danh từ chỉ người hay chỉ vật thì Martin Hewings khuyên không nên sử dụng that (“It is probably safer not to use it.”) [85, 142] Tác giả
cho rằng nên bỏ tác tử phụ ngữ hóa that trong CBB làm bổ ngữ của một số vị từ chỉ sự
phát biểu như ‘agree’ (đồng ý), ‘mention’ (đề cập), ‘notice’ (chú ý), ‘promise’ (hứa),
‘say’ (nói), ‘think’ (nghĩ) nhất là trong cách nói không trang trọng; tuy nhiên, không
nên bỏ tác tử phụ ngữ hóa that sau những vị từ như ‘complain’ (phàn nàn), ‘confide’ (tự tin), ‘deny’ (phủ nhận), ‘grumble’ (càu nhàu), ‘speculate’ (suy đoán), ‘warn’ (cảnh báo), sau cách nói trang trọng, sau vị từ ‘answer’ (trả lời), ‘argue’, ‘reply’ (trả lời), và khi CBB làm bổ ngữ không đứng ngay sau vị từ (“After the more common reporting
verbs such as ‘agree’, ‘mention’, ‘notice’, ‘promise’, ‘say’, ‘think’ we often leave out
‘that’ particular in informal speech However, it is less likely to be left out after less common reporting verbs such as complain, confide, deny, grumble, speculate, warn; and also in formal writing; and after the verbs ‘answer’, ‘argue’, ‘reply’ We are also
Trang 35more likely to include it if the that-clause doesn’t immediately follow the verb.”) [85,
88]
A.J Thomson và A.V Martinet [57] lại cho rằng có 3 loại CBB: hạn định, không hạn định, và liên kết (connective) [57, 69]; và CBB làm định
ngữ liên kết chính là CBB làm định ngữ của cả câu Họ cho ví dụ: ‘They played the
drum all night, which annoyed us all.’ [57, 77] Họ cũng có ý kiến khác với các tác giả
khác khi cho rằng what cũng là đại từ quan hệ (relative pronoun) Họ cho ví dụ ‘Tell
me what he said’ và phân tích ‘ what he said’ là CBB làm định ngữ Điều này hoàn
toàn trái ngược với ý của các nhà ngữ học khác vì họ đều phân tích đó là CBB làm bổ ngữ [57, 73] Họ viết ‘What he needs is a steady job.’ [57, 77] có CBB ‘ What he needs’ làm CBB làm định ngữ và không đồng ý đó là CBB làm chủ ngữ trong câu như
các tác giả khác Họ đặc biệt quan tâm đến CBB làm bổ ngữ trong các cấu trúc It – Be
– Tính từ – CBB, It – Be – Danh từ / Danh ngữ – CBB, và Chủ ngữ – Be – Tính từ – CBB [57, 261] Họ liệt kê một số vị từ có bổ ngữ là CBB [57, 262]
So với các tác giả khác thì Roderick A Jacobs [95] viết về CBB chi tiết hơn Ông xem CBB như một thành tố của vị ngữ giữ chức năng bổ ngữ, dùng sơ đồ cây (tree diagram) để phân tích câu chứa CBB có cấu trúc ‘IT-Clefts’ và
‘WH-Clefts’ [95, 178], hai cấu trúc nhấn mạnh chủ ngữ, bổ ngữ, hoặc trạng ngữ Ông đưa các cách biến đổi cấu trúc câu có chứa CBB, và phân tích các tác tử phụ ngữ hóa (complemenntizers) được sử dụng để phân biệt cú độc lập và CBB trong câu tiếng Anh Ông nghiên cứu các CBB có vị từ chính không được chia (non-finite embedded clauses) Sau khi xem xét các mối quan hệ ngữ pháp nội tại của các CBB, ông cho rằng
vị từ của CBB tiếng Anh thường là vị từ tình thái (modal verbs) hoặc các vị từ thường (ordinary verbs) được chia theo thì hiện tại hoặc quá khứ [95, 61] Jacobs cũng phân tích khi sử dụng CBB trong câu tiếng Anh cần phải có Filler ‘IT’ làm ‘extraposition
Trang 36subject’ (chủ ngữ giả) vì tiếng Anh là ngôn ngữ thiên chủ ngữ và khẳng định rằng không phải ngôn ngữ nào cũng có Filler ‘IT’
Trên đây là ý kiến của một số tác giả có nghiên cứu đến vấn đề CBB trong câu
tiếng Việt và tiếng Anh mà chúng tôi đã khảo sát được Cho dù ý kiến của họ còn đôi chỗ khác nhau, nhưng đóng góp của họ trong quá trình nghiên cứu cú pháp tiếng Việt
Cụm chủ-vị có thể xuất hiện với tư cách là nòng cốt câu hoặc với tư cách
là một bộ phận trong câu
Ví dụ: Bé ngủ khiến bà vui
c v c v
C V B [37, 328]
Theo Diệp Quang Ban, “khi một kết cấu chủ-vị làm thành phần trong
câu – chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, hay định ngữ – nó “bị bao” trong câu chứa
Trang 37nó Cụm chủ-vị đảm nhiệm chức năng của một yếu tố nào đó bên trong một câu, tự nó không có tư cách của một câu tự lập Quan hệ giữa kết cấu chủ-vị bị bao với phần có liên quan là quan hệ cú pháp, ngữ nghĩa bên trong một câu, chứ không phải quan hệ giữa hai câu.” [6, 289]
Về mặt thuật ngữ, CBB có 3 cách gọi phổ biến là mệnh đề, cú, và câu Thuật ngữ ‘mệnh đề’ bắt đầu từ các tác giả như Trần Trọng Kim [31], Bùi Đức Tịnh [46] về sau có Diệp Quang Ban [7], Nguyễn Chí Hòa [26], V.S Panfilov [56] Cú được khởi xướng từ quan điểm ‘cú bản vị’ của Phan Khôi [30] Một số tác giả khác cũng gọi CBB là cú như Lưu Vân Lăng (cú con) [32], Cao Xuân Hạo, Hoàng Xuân Tâm, Vũ Văn Bằng, Bùi Tất Tươm (tiểu cú) [20], Hoàng Văn Vân (cú bị bao) [50], Vũ Thị Ân, Nguyễn Thị Ly Kha (tiểu cú) [1]… CBB còn được gọi là câu bởi các tác giả Diệp Quang Ban (câu bị bao) [6], Hoàng Trọng Phiến (câu con) [38]…
Do có nhiều cách gọi tên khác nhau của cụm chủ vị làm thành phần trong
câu như đã liệt kê ở trên, nên trong luận án chúng tôi chọn cách gọi “Cú bị bao”
(CBB), theo tác giả Hoàng Văn Vân, dịch từ cụm từ “Embedded Clauses” trong quyển
Dẫn luận ngữ pháp chức năng (Functional Grammar) của MAK Halliday [55] cho đối
tượng mà luận án nghiên cứu
Nguyễn Thiện Giáp [15, 206] cũng nói về CBB như sau: “Cú là một
nhóm từ có chủ ngữ và vị ngữ của mình, nằm trong một câu rộng hơn Câu có thể được
mở rộng bằng cách “nối” (conjoining) lẫn bằng cách “bao” (embedding) “Nối” là ghép hai cú bình đẳng với nhau và “bao” là đưa một cú vào một câu (cú chính) để phụ nghĩa cho cú chính” Lưu Vân Lăng cũng có ý kiến về cách gọi ‘cú’, “Cú là ngữ đoạn thuyết tính chưa kết thúc ‘Thuyết tính’ làm cho cú khác đơn vị cấp dưới là ngữ ‘Chưa kết thúc’ phân biệt cú với đơn vị trên là câu Cú là đơn vị chuyển tiếp từ ngữ sang câu.” và “ dựa vào cú mới định được các loại câu về mặt cấu trúc mới vạch được ranh giới giữa các câu.” [32, 87]
Trang 38Khi cụm chủ - vị làm thành phần câu, bản thân nó chưa là một câu trọn
vẹn, ví dụ như trong câu ‘Anh nói thế là không đúng’, cụm chủ - vị ‘Anh nói thế’, có
chủ ngữ là ‘Anh’ và vị ngữ là ‘nói thế’, nhưng xét về nghĩa thì nó chưa thể là câu vì
chưa trọn vẹn nghĩa, nó không thể là một câu độc lập Do vậy, chúng tôi chọn cách gọi
“Cú” vì những lý do được trình bày trên
Các nhà nghiên cứu chưa thống nhất về cách phân loại câu có chứa CBB
Một số tác giả cho rằng câu có chứa CBB là câu đơn như Lưu Vân Lăng [33], Hoàng
Trọng Phiến [38], Nguyễn Chí Hòa [26], Đỗ Thị Kim Liên [34] Trong khi đó, theo các nhà nghiên cứu khác như Diệp Quang Ban [6] [7], Cao Xuân Hạo [19], Vũ Thị Ân, Nguyễn Thị Ly Kha [1], Nguyễn Thiện Giáp [17], Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn
Hiệp [44]… thì câu có chứa CBB là câu phức Ngoài ra còn có ý kiến khác như V.S Panfilov [56] gọi là câu có thành phần lồng ghép
Các nhà nghiên cứu Việt ngữ cũng chưa thống nhất với nhau về cách phân chia thành phần câu Đa số các nhà ngôn ngữ học cho chủ ngữ và vị ngữ là thành phần chính của câu, nòng cốt của câu đơn song phần bao giờ cũng chỉ là chủ ngữ và vị ngữ Một số nhà ngôn ngữ học như V.S Panfilov [56] Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp [25], [44] cho rằng thành phần chính của câu là chủ ngữ, vị ngữ và bổ ngữ tạo nên nòng cốt câu Nguyễn Thị Lương [36], Nguyễn Kim Thản [41] và Hoàng Tuệ [48] cho rằng thành phần chủ yếu của câu là chủ ngữ và vị ngữ, các thành phần còn lại
là thành phần phụ hay thứ yếu Cho dù các nhà nghiên cứu theo quan điểm nào thì chủ ngữ và vị ngữ cũng được xem là thành phần chính của câu
1.2.2 Phân biệt cú bị bao, cú không bị bao, và danh ngữ
a/ Phân biệt cú bị bao và cú không bị bao
*** Phương thức hình thành của CBB là phương thức lồng
(embedding), và không có liên từ đứng trước CBB Một câu có thể có nhiều CBB
Trang 39CBB có tính độc lập tương đối, có những CBB có thể tách thành câu đơn độc lập, nhưng có những CBB không thể tách thành câu đơn độc lập, tùy theo nghĩa của câu
Ví dụ: Cô ấy / bỏ đi // khiến chúng tôi / buồn lắm
- Câu có 2 CBB: CBB ‘Cô ấy / bỏ đi’ làm chủ ngữ,
và CBB ‘chúng tôi / buồn lắm’ làm bổ ngữ
- 2 CBB này có thể tách thành câu đơn độc lập
Ví dụ: Anh / cứ nói thế // làm mẹ / buồn lắm
- Câu có 2 CBB: CBB ‘Anh / cứ nói thế’ làm chủ ngữ, và CBB ‘mẹ / buồn lắm’ làm bổ ngữ
- CBB ‘Anh / cứ nói thế’ không có thể tách thành
câu đơn độc lập nếu không dựa vào ngữ cảnh và văn cảnh
- CBB ‘mẹ / buồn lắm’ có thể tách thành câu đơn
độc lập
*** Phương thức hình thành của cú không bị bao là phương thức
nối (conjoining) Hai hay nhiều cú không bị bao kết hợp với nhau, nằm ngoài nhau,
mỗi cú không bị bao có tính độc lập tương đối và có thể tách thành câu riêng Các cú không bị bao thường được ghép với nhau bằng liên từ
Ví dụ: Mặc dù các bác sĩ / đã tận tình cứu chữa nhưng
ông ấy / vẫn không qua khỏi
- Câu có 2 cú không bị bao ‘các bác sĩ / đã tận tình
cứu chữa’ và ‘ông ấy / vẫn không qua khỏi’
- Các cú không bị bao ghép với nhau bằng liên từ
‘Mặc dù … nhưng’
Trang 40b/ Phân biệt cú bị bao và danh ngữ
Vì tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình nên việc phân biệt CBB và danh ngữ rất phức tạp và cần thiết để tránh nhầm lẫn giữa CBB và danh ngữ
có định ngữ là một vị từ
CBB
C (Danh từ) – V (Vị từ)
Danh ngữ (Dt trung tâm – Định ngữ là vị từ)
mối quan hệ qua lại, quy định lẫn nhau,
để xác định chủ ngữ phải dựa trên vị
Xu hướng mua sắm các thiết bị kỹ thuật số
Dt trung tâm Định ngữ