1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối chiếu cấu trúc ngữ pháp của cú bị bao trong tiếng việt và tiếng anh (TT)

23 546 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 569,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Jacobs [95], Victoria Fromkin, Robert Rodman [96] Họ cũng nghiên cứu CBB theo cách tiếp cận ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp chức năng Nói tóm lại, cấu trúc câu và các thành phần trong

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NCS NGUYỄN THỊ THANH TÂM

ĐỐI CHIẾU CẤU TRÚC NGỮ PHÁP CỦA CÚ BỊ BAO TRONG TIẾNG VIỆT

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN – TP HỒ CHÍ MINH

CB hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ HUỲNH THỊ HỒNG HẠNH

Tiến sĩ NGUYỄN THỊ KIỀU THU

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: _

Trang 3

và viết sai ngữ pháp khi giao tiếp bằng ngoại ngữ đang học Những lỗi mà người học thường hay mắc phải này là do họ chưa nắm vững những cấu trúc cú pháp của câu tiếng Anh và quan trọng hơn là không nắm được đặc điểm tư duy của người bản ngữ nói tiếng Anh thể hiện trong ngôn ngữ Để khắc phục được những lỗi cú pháp, người học tiếng cần phải nắm vững cấu trúc câu của

cả tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ mà họ đang học

1.2 Lý do khoa học

Việc đưa một CBB vào làm thành phần câu cần phải có những quy tắc ngữ pháp bắt buộc, mang tính đặc thù của từng ngôn ngữ, và thường không giống nhau giữa các ngôn ngữ Vì vậy việc nghiên cứu đối chiếu CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh rất quan trọng trong việc dạy và học tiếng, cũng như dịch thuật Hơn thế nữa, trong chương trình ngữ pháp tiếng Việt mà nhà trường giảng dạy từ trước tới nay cấu trúc cú pháp cơ bản là cấu trúc chủ - vị

Chúng ta cần phải có công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn về CBB trong tiếng Việt và tiếng Anh, phân tích cấu trúc cú pháp, so sánh, đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt của CBB trong hai ngôn ngữ nhằm giúp cho việc học tiếng dễ dàng hơn, hiệu quả hơn Đồng thời cũng cần phải có khảo sát dịch thuật CBB để góp phần vào lý thuyết dịch Việt-Anh, Anh-Việt đang ngày càng cần thiết trong quá trình phát triển toàn cầu hiện nay

So sánh, đối chiếu cấu trúc cú pháp của tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ đang học là một trong những cách tốt nhất giúp cho việc dạy và học tiếng hiệu quả hơn, mang ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học

Tuy nhiên, trong chừng mực và giới hạn của luận án, chúng tôi chỉ nghiên cứu cú bị bao (CBB), hay nói cách khác là cụm chủ - vị giữ chức năng chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, và định ngữ trong câu

Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài luận án là “Đối chiếu cấu trúc ngữ pháp

của cú bị bao trong tiếng Việt và tiếng Anh”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cú pháp giữ vai trò rất quan trọng trong việc nghiên cứu, giảng dạy và học ngôn ngữ,

mà trong đó câu là thành phần cốt lõi Do chịu ảnh hưởng của ngữ pháp truyền thống châu Âu, suốt một thời gian dài, các nhà Việt ngữ học đ tập trung vào việc khảo sát từ loại mà ít chú ý đến cú pháp Nửa sau thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu đ bắt đầu nhận ra đặc thù của tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập, không biến hình và trật tự từ trong câu giữ một vai tr rất quan trọng trong việc chi phối nghĩa của câu Từ đó, việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt đ chuyển trọng tâm từ nghiên cứu từ loại sang nghiên cứu câu

Các trường phái ngữ pháp truyền thống, tạo sinh, miêu tả hay chức năng đều nghiên cứu câu và các thành phần của câu Với những cấu trúc đa dạng và phức tạp, câu trong tiếng Việt luôn là đối tượng thu hút sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Các nghiên cứu về CBB uất hiện vào khoảng thập niên 30 của thế kỉ XX với các tác giả như Trần Trọng Kim, B i Kỷ, Phan Khôi Có thể nói nghiên cứu câu tiếng Việt lúc này chịu ảnh hưởng các khuôn mẫu của ngữ pháp châu Âu và cấu trúc câu tiếng Pháp rất nhiều Về sau, do tiếp thu được nhiều thành tựu

Trang 4

nghiên cứu ngôn ngữ học ở các nước, nên các nhà Việt ngữ học dần dần thay đổi quan điểm nghiên cứu Họ nghiên cứu cấu trúc câu tiếng Việt theo cách tiếp cận ngữ pháp truyền thống, phân tích câu dựa trên kết cấu chủ-vị và đặt biệt chú trọng đến các trường hợp kết cấu chủ-vị làm n ng cốt câu (CBB) Tiếng Việt phong phú và là ngôn ngữ đơn lập, không biến hình nên có một số câu không thể phân tích theo kết cấu chủ-vị Do đó, một số nhà Việt ngữ học chọn cách phân tích câu theo cách tiếp cận ngữ pháp chức năng D họ nghiên cứu theo quan điểm nào họ đều thừa nhận vai tr quan trọng của CBB trong cấu trúc câu

Các nhà Việt ngữ học đ có những nghiên cứu về CBB như: Phan Khôi [31] Trần Trọng Kim [31] B i Đức Tịnh [44] Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê [10], Lưu Vân Lăng [32, 33], Cao Xuân Hạo [19, 20, 21, 22], Nguyễn Tài Cẩn [8, 9], Mai Ngọc Chừ [11, 12], Vũ Đức Nghiệu [11, 37], Hoàng Trọng Phiến [11, 38], Nguyễn Thiện Giáp [14, 15, 16, 17, 18], Nguyễn Văn Hiệp [23, 24, 25, 37, 44], Nguyễn Minh Thuyết [17, 44, 45] , Diệp Quang Ban [2, 3, 4, 5, 6, 7], Nguyễn Chí H a [26], Vũ Thị Ân, Nguyễn Thị Ly Kha [1], Đỗ Thị Kim Liên [34, 35], Nguyễn Thị Lương [36], Lê Xuân Thại [39], Nguyễn Kim Thản [40, 41], Phan Thiều [43]

Tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình nên việc phân tích cấu trúc câu và thành phần câu phải dựa trên cách biến thể của vị từ chính Nhiều nhà ngôn ngữ học cũng rất quan tâm đến câu và các thành phần bị bao trong câu tiếng Anh như Bas Aart [65], Collins Cobuild [67], Edward Finegan [70], George Yule [72], Howard Jackson [75], James David McCawley [77], Peter Collins and Carmelle Hollo [89], Michael Swan [86], Rodney Huddleston [91], Ronald Carter, Michael McCarthy [92], Robert D Borsley [93], Robert D Van Valin JR [94], Peter W Culicover [90], Roderick A Jacobs [95], Victoria Fromkin, Robert Rodman [96] Họ cũng nghiên cứu CBB theo cách tiếp cận ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp chức năng

Nói tóm lại, cấu trúc câu và các thành phần trong câu là mối quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học Tuy nhiên, theo như tìm hiểu của chúng tôi thì chưa có nghiên cứu nào so sánh đối chiếu CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh trên phương diện cấu trúc cú pháp và khảo sát việc dịch thuật Các nghiên cứu ngữ pháp trước đây chỉ đề cập đến CBB một cách ngắn gọn, hoặc một phần Chúng tôi thực hiện luận án này trên cơ sở kế thừa và tiếp bước các nghiên cứu ngữ pháp nhưng chuyên sâu hơn về CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh

3 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi thực hiện luận án này với mục đích

- Khảo sát vị trí và chức năng của CBB trong câu tiếng Việt và câu tiếng Anh để biết được khả năng hành chức của CBB

- Phân tích và đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt trong cấu trúc cú pháp của CBB nhằm giúp người học tiếng nắm vững cấu trúc cú pháp tinh tế và phức tạp của CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh

- Khảo sát cách chuyển dịch CBB Việt-Anh và Anh-Việt để khát quát hóa cách thức chuyển dịch CBB Việt-Anh và Anh-Việt

- Góp phần khẳng định sự ảnh hưởng của đặc điểm loại hình ngôn ngữ của tiếng Việt (ngôn ngữ đơn lập, không biến hình) và tiếng Anh (ngôn ngữ biến hình) đến sự khác biệt trong kết cấu cú pháp của câu có chứa CBB trong hai ngôn ngữ

4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu

4.1 Ý nghĩa khoa học

Chúng tôi thực hiện luận án với mong muốn góp phần vào việc nghiên cứu, phân tích câu

- đơn vị cú pháp quan trọng nhất trong bất kỳ ngôn ngữ nào

Trang 5

Luận án này là một bước nghiên cứu nối tiếp các nghiên cứu về câu nhưng theo hướng chuyên sâu hơn về CBB, so sánh và đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt của CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh, bổ sung thêm tư liệu cho việc học tập, biên soạn sách ngữ pháp, nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt và tiếng Anh mà trong đó câu là đơn vị bậc cao nhất

Luận án chỉ ra sự khác biệt về loại hình được thể hiện trong cấu trúc ngữ pháp của câu chứa CBB trong tiếng Việt và tiếng Anh

Phần khảo sát dịch thuật CBB Việt – Anh và Anh – Việt trong các tác phẩm văn học có thể đóng góp thêm cho lý thuyết dịch thuật hiện đang được nhiều người quan tâm

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nhờ vào kết quả so sánh đối chiếu, người học tiếng thấy được những điểm tương đồng

và khác biệt trong cấu trúc câu có chứa CBB của tiếng Việt và tiếng Anh để có thể sử dụng CBB một cách chính xác và hiệu quả khi giao tiếp

Luận án được thực hiện nhằm giúp cho người học tiếng có được kiến thức vững chắc về cấu trúc CBB mà người bản ngữ biết và sử dụng một cách tự nhiên, mặc định nhưng lại gây một

số khó khăn nhất định đối với người đang học ngôn ngữ này như một ngoại ngữ, và giúp họ tránh được những lỗi sai khi sử dụng câu có từ hai kết cấu chủ-vị trở lên

Luận án góp phần mang lại những ứng dụng thực tiễn trong công tác giảng dạy, học tập,

và dịch thuật từ tiếng Việt sang tiếng Anh hay ngược lại

Luận án góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

4.1 Ý nghĩa khoa học

Chúng tôi thực hiện luận án với mong muốn góp phần vào việc nghiên cứu, phân tích câu

- đơn vị cú pháp quan trọng nhất trong bất kỳ ngôn ngữ nào

Luận án này là một bước nghiên cứu nối tiếp các nghiên cứu về câu nhưng theo hướng chuyên sâu hơn về CBB, so sánh và đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt của CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh, bổ sung thêm tư liệu cho việc học tập, biên soạn sách ngữ pháp, nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt và tiếng Anh mà trong đó câu là đơn vị bậc cao nhất

Luận án chỉ ra sự khác biệt về loại hình được thể hiện trong cấu trúc ngữ pháp của câu chứa CBB trong tiếng Việt và tiếng Anh

Phần khảo sát dịch thuật CBB Việt – Anh và Anh – Việt trong các tác phẩm văn học có thể đóng góp thêm cho lý thuyết dịch thuật hiện đang được nhiều người quan tâm

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu cấu trúc cú pháp của CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh, phân tích CBB giữ chức năng chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, và định ngữ trong câu nhằm chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt của CBB trong hai ngôn ngữ này

Luận án hướng đến việc khái quát hóa cách chuyển dịch CBB từ tiếng Việt sang tiếng Anh và ngược lại

5.2 Phạ i nghiên cứu

Trong luận án này, chúng tôi dựa trên quan điểm của các tác giả Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (phần tiếng Việt) và Roderick A Jacobs (phần tiếng Anh) về CBB để nghiên cứu và phân tích vai trò, vị trí và chức năng của CBB trong câu vì các tác giả này có những nghiên cứu về CBB rất chi tiết so với các tác giả khác Cụ thể là dựa trên quan điểm của các công trình sau:

Trang 6

- Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (1998), Thành phần câu tiếng Việt,

Nhà uất bản Đại học Quốc gia Hà Nội

- Roderick A Jacobs (1995), English Syntax – A grammar for English Language Professionals, Oxford University Press

Để khát quát hóa cách chuyển dịch cấu trúc cú pháp CBB và CBB làm thành phần câu Việt-Anh và Anh-Việt, chúng tôi khảo sát và liệt kê các cách chuyển dịch trong các tác phẩm:

1/ Graham Greene (1980), The Quiet American, Penguin Books

2/ Graham Greene (Vũ Quốc Uy dịch) (2007), Người Mỹ trầm lặng, Nhà xuất bản Lao

động

3/ Stephenie Meyer (Tịnh Thủy dịch) (2006), Trăng non, Nhà xuất bản Trẻ

4/ Stephenie Meyer (2006), New Moon, Little Brown Company

5/ Nguyễn Thị Kiều Thu (2013) Đón nhận - Truyện ngắn đương đại Nam bộ (song

ngữ) Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh

6/ Wayne Karlin, Hồ Anh Thái (2004), Tình yêu sau chiến tranh, Nhà xuất bản Hội

nhà văn

7/ Wayne Karlin, Hồ Anh Thái (2003), Love after War, Curbston Press

Luận án đ tiến hành khảo sát câu tiếng Việt và tiếng Anh có chứa CBB trong 20 truyện ngắn hay năm 2002 của báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật và 20 truyện ngắn hay 2002 của Mỹ (The best American short stories 2002) trên tạp chí US and Canada Magazine Mỗi truyện ngắn dài khoảng từ 3 500 đến 4.000 từ để lấy nguồn ngữ liệu phân tích và miêu tả cấu trúc cú pháp và khả năng hành chức của CBB

Luận án không bàn về vấn đề các loại câu có chứa CBB, không phân biệt các loại câu và tên gọi của câu có chứa CBB, và sự khác nhau về các thuật ngữ cũng như quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu, các tác giả về CBB mà chỉ nghiên cứu, phân tích cấu trúc cú pháp của CBB, sự hành chức của CBB trong câu, khái quát hóa cách dịch CBB Việt-Anh và Anh-Việt

Luận án này chỉ nghiên cứu CBB có vị từ biến ngôi trong tiếng Anh

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận án này, chúng tôi đ sử dụng ba phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ cơ bản là miêu tả cấu trúc cú pháp, so sánh đối chiếu, và cải biến

7 Bố cục của luận án: Chính văn của luận án được chia làm ba phần chính: mở đầu, các

chương, và kết luận

Chương 1: Tổng quan về cú bị bao - Đề cập đến vấn đề về giới thuyết của CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh

Chương 2: CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh - Miêu tả và phân tích khả

năng hành chức của CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh Phân tích những điểm tương đồng

và khác biệt trong cấu trúc nội tại của CBB và CBB làm thành phần trong câu tiếng Việt và tiếng Anh

Chương 3: Vấn đề chuyển dịch câu có chứa cú bị bao từ Việt sang Anh, từ Anh sang Việt

- Tổng hợp các cách chuyển dịch câu có chứa CBB Việt-Anh, Anh-Việt trong các tác phẩm văn học

CHƯƠNG 1

Trang 7

TỔNG QUAN VỀ CÚ BỊ BAO

1.1 Các quan điể trong iệc nghiên cứu cú bị bao

1.1.1 Về iệc nghiên cứu cú bị bao trong câu tiếng Việt

Chúng ta có thể tạm chia các nghiên cứu về CBB như sau:

a/Nhóm tác giả chỉ nghiên cứu CBB làm chủ ngữ, bổ ngữ, và định ngữ:

Khoảng từ thập niên 30 đến 70 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu hầu như chỉ chủ yếu tập trung vào CBB làm chủ ngữ, làm bổ ngữ, hoặc định ngữ dựa trên quan điểm “cú bản vị” hoặc “từ tổ” Họ không bàn về vấn đề CBB làm vị ngữ và trạng ngữ Các tác giả tiêu biểu gồm:Trần Trọng Kim [31], Phan Khôi [30], B i Đức Tịnh [46], Nguyễn Tài Cẩn [9], Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê [10]

b/Nhóm tác giả nghiên cứu CBB làm chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, và định ngữ

Từ thập niên 80 các nhà nghiên cứu Việt ngữ nghiên cứu CBB theo hai hướng tiếp cận: ngữ pháp chức năng và ngữ pháp truyền thống

Cao Xuân Hạo [19] là người đi đầu trong nghiên cứu và phân tích câu theo hướng tiếp cận ngữ pháp chức năng ng đề cập đến CBB trong quyển Ngữ pháp chức năng tiếng Việt (tập

1) : Câu trong tiếng Việt’

Các tác giả tiêu biểu nghiên cứu CBB làm chức năng chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ,

và định ngữ theo hướng tiếp cận ngữ pháp truyền thống Lưu Vân Lăng [32] phân tích câu theo ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân’ Hoàng Trọng Phiến [38] gọi việc sử dụng CBB làm thành phần

câu là quá trình phức tạp hóa câu đơn’ và viết “quá trình phức tạp hóa câu đơn thường bao gồm nhiều tầng, nhiều lớp.” [38, 186] Diệp Quang Ban [6], xét CBB với phần có liên quan với

nó là quan hệ cú pháp – ngữ nghĩa bên trong một câu, chứ không phải quan hệ giữa hai câu

Nguyễn Thiện Giáp [16] cho rằng câu đơn là câu chỉ gồm một kết cấu C-V câu phức là câu có 2

kết cấu C-V trở lên, trong đó chỉ 1 kết cấu C-V là nòng cốt còn những kết cấu C-V khác bị giáng cấp, bị bao, làm bộ phận của kết cấu nòng cốt Cùng nghiên cứu kết cấu chủ-vị như các nhà ngữ học khác, tác giả Lê Xuân Thại [39] lập một hệ thống các kiểu cấu trúc chủ-vị tiếng Việt, trong

đó có một số cấu trúc có CBB làm chủ ngữ hoặc vị ngữ Trong quyển Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt’ [40], Nguyễn Kim Thản cũng phân tích câu theo kết cấu chủ-vị và CBB làm thành phần, ông cho rằng câu phức hợp có hai bộ phận trở lên, mỗi bộ phận đó vốn là một câu đơn giản, nhưng nay tính độc lập của nó đ bị hạn chế hay mất đi và chỉ còn trở thành một vế của câu, gọi là đoạn câu So với các tác giả khác thì Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp trình bày cụ thể và chi tiết hơn về CBB làm thành phần câu trong quyển Thành phần câu tiếng Việt’ [44] Các tác giả đ liệt kê trường hợp chủ ngữ là CBB khi vị ngữ là các vị từ biểu thị các hành

vi tác động đến đối tượng và phân loại chủ ngữ, vị ngữ, và bổ ngữ theo cấu tạo nội bộ với những trường hợp CBB có thể làm chủ ngữ, vị ngữ, và bổ ngữ Nguyễn Văn Hiệp phân tích các trường hợp CBB có thể làm thành phần trong câu trong quyển Cú pháp tiếng Việt’ [25] Đỗ Thị Kim

Liên [34] nói “cụm từ chủ-vị là cụm từ mà giữa hai thành phần chủ-vị có tác động qua lại lẫn nhau, tồn tại nương tựa nhau và cùng mang ý nghĩa tường thuật, là một đơn vị có cấu trúc cao hơn từ, gần giống trúc câu bình thường nhưng chưa thành câu.” [34, 79] Chúng ta có thể nói

tác giả Nguyễn Chí H a [26] nghiên cứu cú pháp tiếng Việt dựa trên cú pháp tiếng Anh khi ông

cho ví dụ câu: Người nh đứng cạnh inh trạm trư ng đang gi ổ ra ghi.’và cho rằng câu có

Trang 8

CBB làm định ngữ người đứng cạnh inh trạm trư ng’ bổ nghĩa cho danh từ trung tâm người nh’

Các nhà ngôn ngữ học nước ngoài cũng rất quan tâm đến nghiên cứu Việt ngữ, và điển hình là V.S.Panfilov [56] Trong quyển “Cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt” của ông, chương XII Câu

có thành phần lồng ghép’ viết về CBB, ông gọi CBB là thành phần lồng ghép’ hay là mệnh đề được lồng ghép’

Mặc dù các nhà Việt ngữ học có ý kiến khác nhau về thuật ngữ, cách phân loại câu có chứa CBB, và hướng nghiên cứu CBB, nhưng họ đều thừa nhận vị trí quan trọng của CBB trong câu tiếng Việt

1.1.2 Về iệc nghiên cứu cú bị bao trong câu tiếng Anh

Các nhà nghiên cứu Anh ngữ nghiên cứu theo 3 cách tiếp cận chủ yếu: ngữ nghĩa, ngữ pháp chức năng, và ngữ pháp truyền thống

Avram Noam Chomsky, nhà ngôn ngữ học người Mỹ, nổi tiếng với quyển sách

“ yntactic tructures” viết năm 1957 [64] ng cũng nghiên cứu cấu trúc CBB nhưng đặt trọng tâm vào nghĩa của câu Trong khi đó, Anne Seaton [63] xem xét các CBB trong ngữ cảnh

MAK Halliday có viết hai chương, chương 6 và 7, trong quyển Functional Grammar’ [84] rất chi tiết về CBB, nhưng ông chỉ nghiên cứu chức năng của CBB, và cho rằng những chức năng của CBB là bổ nghĩa, chi tiết hóa, và mở rộng câu

Trong câu tiếng Anh, CBB chỉ giữ chức năng chủ ngữ, bổ ngữ, và định ngữ Các nhà nghiên cứu Anh ngữ theo hướng tiếp cận ngữ pháp truyền thống có 3 quan điểm khác nhau:

a/ CBB có thể giữ chức năng trạng ngữ

Trong khi các nhà Anh ngữ khác cho rằng CBB chỉ có làm chủ ngữ, bổ ngữ, hay định ngữ trong câu thì Jeffrey P Kaplan [79] cho rằng các CBB có thể kết nối với các cú khác để tạo thành câu phức và CBB có thể bổ nghĩa cho cụm chủ-vị, ngữ danh từ, ngữ tính từ, ngữ giới từ và ngữ vị từ Hai tác giả Ronald Carter và Michael Mc Carthy [92] cũng có quan điểm về CBB giống như Jeffrey P Kaplan Họ cho rằng mệnh đề trạng ngữ (adverbial clauses) có liên từ cũng

là CBB

b/ CBB theo cấu trúc WH-word-EVER + C + V là ‘No inal relati e clause’

Nominal relative clause’ là CBB làm định ngữ trong danh ngữ bắt đầu bằng các đại

từ ở dạng WH-word-EVER (ví dụ như: whoever, whatever, và whichever…)

Các tác giả theo quan điểm này gồm có Anne Seaton [63], Michael Swan [86], và

Collins Cobuild [67]

c/ CBB theo cấu trúc WH-word-EVER + C + V được xe như cú danh ngữ (noun clause) làm chủ ngữ hoặc bổ ngữ

Nhiều nhà nghiên cứu Anh ngữ theo hướng tiếp cận ngữ pháp truyền thống cho rằng

CBB có cấu trúc WH-word-EVER + C + V là cú danh ngữ và có thể giữ chức năng chủ ngữ

hoặc bổ ngữ trong câu

Các tác giả theo quan điểm này gồm có Howard Jackson [75], Lynn M Berk [83], Rodney Huddleston [91], Betty Schrampfer Azar [66], Martin Hewings [85], A.J Thomson và A.V Martinet [57], Roderick A Jacobs [95]

Trang 9

Cho d ý kiến của họ c n đôi chỗ khác nhau, nhưng đóng góp của họ trong quá trình nghiên cứu cú pháp tiếng Việt và tiếng Anh là rất lớn

Nói tóm lại, cấu trúc câu và các thành phần trong câu là mối quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học Tuy nhiên, theo như tìm hiểu của chúng tôi thì chưa có nghiên cứu nào so sánh đối chiếu CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh trên phương diện cấu trúc cú pháp và khảo sát việc dịch thuật Các nghiên cứu ngữ pháp trước đây chỉ đề cập đến CBB một cách ngắn gọn, hoặc một phần Chúng tôi thực hiện luận án này trên cơ sở kế thừa và tiếp bước các nghiên cứu ngữ pháp nhưng chuyên sâu hơn về CBB trong câu tiếng Việt và tiếng Anh

1.2 Cú bị bao trong câu tiếng Việt

1.2.1 Định nghĩa à các thuật ngữ

- Cụm chủ-vị là một loại cụm từ có 2 thành tố: một thành tố đóng vai tr chủ ngữ và một thành tố đóng vai tr vị ngữ Chủ ngữ là đối tượng hay sự việc mà vị ngữ tường thuật về đặc trưng của nó như: hoạt động, trạng thái, tính chất, hay chủng loại, và vị ngữ là thành phần tường thuật về chủ ngữ

- Cụm chủ-vị có thể uất hiện với tư cách là n ng cốt câu hoặc với tư cách là một bộ phận trong câu Khi cụm chủ-vị làm bộ phận trong câu được gọi là cú bị bao’

- Về mặt thuật ngữ, CBB có 3 cách gọi phổ biến là Mệnh đề, Cú, và Câu Khái niệm mệnh đề bắt đầu từ các tác giả như Trần Trọng Kim [31], B i Đức Tịnh [46] về sau có Diệp Quang Ban [7], Nguyễn Chí H a [26], V Panfilov [56] Cú được khởi ướng từ quan điểm

cú ản vị’ của Phan Khôi [30] Một số tác giả khác cũng gọi CBB là cú như Lưu Vân Lăng (cú con) [32], Cao Xuân Hạo, Hoàng Xuân Tâm, Vũ Văn Bằng, B i Tất Tươm (tiểu cú) [20], Hoàng Văn Vân (cú ị ao) [50], Vũ Thị Ân, Nguyễn Thị Ly Kha (tiểu cú) [1] CBB c n được gọi là câu bởi các tác giả Diệp Quang Ban (câu ị ao) [6], Hoàng Trọng Phiến (câu con) [38]

- Do có nhiều cách gọi tên khác nhau của cụm chủ vị làm thành phần trong câu như đ

liệt kê ở trên, nên trong luân án chúng tôi chọn cách gọi “Cú bị bao” (CBB), theo tác giả Hoàng

Văn Vân, dịch từ cụm từ “Embedded Clauses” trong quyển Dẫn uận ngữ pháp chức năng (Functional Grammar) của MAK Halliday [55] cho đối tượng mà luận án nghiên cứu

- Các nhà nghiên cứu chưa thống nhất về cách phân loại câu có chứa CBB Một số tác

giả cho rằng câu có chứa CBB là câu đơn như Lưu Vân Lăng [33], Hoàng Trọng Phiến [38],

Nguyễn Chí H a [26], Đỗ Thị Kim Liên [34] Trong khi đó, theo các nhà nghiên cứu khác như Diệp Quang Ban [6] [7], Cao Xuân Hạo [19], Vũ Thị Ân, Nguyễn Thị Ly Kha [1], Nguyễn

Thiện Giáp [17], Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp [44] thì câu có chứa CBB là câu phức Ngoài ra c n có ý kiến khác như V Panfilov [56] gọi là câu có thành phần ồng ghép

1.2.2 Phân biệt cú bị bao, cú không bị bao, à danh ngữ

a/ Phân biệt cú bị bao à cú không bị bao

*** Phương thức hình thành của CBB là phương thức ồng (embedding), và không có

liên từ đứng trước CBB Một câu có thể có nhiều CBB CBB có tính độc lập tương đối, có những CBB có thể tách thành câu đơn độc lập, nhưng có những CBB không thể tách thành câu đơn độc lập, t y theo nghĩa của câu

*** Phương thức hình thành của cú không bị bao là phương thức nối

(conjoining) Hai hay nhiều cú không bị bao kết hợp với nhau, nằm ngoài nhau, mỗi cú không bị bao có tính độc lập tương đối và có thể tách thành câu riêng Các cú không bị bao thường được ghép với nhau bằng liên từ

Trang 10

b/ Phân biệt cú bị bao à danh ngữ

Vì tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình nên việc phân biệt CBB và danh ngữ rất phức tạp và cần thiết để tránh nhầm lẫn giữa CBB và danh ngữ có định ngữ là một vị từ

CBB

C (Danh từ) – V (Vị từ)

Danh ngữ (Dt trung tâm – Định ngữ là ị từ)

- Chủ ngữ là danh từ ác định hoặc danh

từ riêng

- Quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ là mối

quan hệ qua lại, quy định lẫn nhau, để ác

định chủ ngữ phải dựa trên vị ngữ và chủ

ngữ quy định loại vị ngữ nào Vị ngữ tác

động đến toàn câu và có ảnh hưởng đến

1.2.3 Cú bị bao là chủ ngữ

Chúng tôi dựa vào tiêu chí ác định chủ ngữ mà các nhà ngữ học thường d ng để ác định CBB làm chủ ngữ Đó là tiêu chí trật tự: chủ ngữ là thành phần đứng đầu câu hoặc trước vị ngữ; tiêu chí đặt câu hỏi: chủ ngữ là thành tố cú pháp có thể trả lời cho các câu hỏi Ai ? Cái gì ? Con gì?; và tiêu chí ác định chủ ngữ thông qua việc ác định vị ngữ: vị ngữ là bộ phận của câu truyền đạt thông báo chính và bắt đầu bằng động từ tình thái, phủ định từ hoặc hư từ chỉ phương

thức tồn tại của hành động hay tính chất như đã, đang, ẽ, cũng, vẫn, đều c n chủ ngữ là bộ

phận của câu chỉ sự vật được miêu tả ở vị ngữ CBB làm chủ ngữ đáp ứng được với 3 tiêu chí

tôi, tiêu chí này không thỏa đáng khi vị ngữ là một CBB Ví dụ trong câu: Cây này // lá / vàng.’

không thể thêm phó từ biểu thị thời, thể trước CBB làm vị ngữ lá / vàng

Câu có CBB làm vị ngữ thuộc kiểu câu chứa quan hệ chỉnh thể - bộ phận, chủ ngữ chỉ chỉnh thể Vị ngữ nêu đặc trưng của chỉnh thể thông qua đặc trưng của bộ phận [6, 293]

1.2.5 Cú bị bao là bổ ngữ

Khi bàn về bổ ngữ, Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp [44,155] cho rằng bổ ngữ

là thành phần câu được các sách ngữ pháp tiếng Việt đề cập từ rất sớm, nhưng là một trong những thành phần câu mà các nhà nghiên cứu có nhiều quan điểm bất đồng

Theo Nguyễn Thiện Giáp, “ Bổ ngữ à thành phần cú pháp ổ nghĩa cho vị từ ”[18, 91]

V Panfilov định nghĩa “Bổ ngữ à thành phần trong chu cảnh tối ưu của động từ, không có quan hệ vị ngữ với hạt nhân ” [56,371]

Về cấu tạo, bổ ngữ có thể là một từ, một ngữ, hay một CBB CBB có thể làm bổ ngữ

trực tiếp hoặc bổ ngữ gián tiếp

Trang 11

1.2.6 Cú bị bao là định ngữ

CBB có thể làm định ngữ của câu, định ngữ của danh từ hoặc danh ngữ

CBB làm định ngữ trong danh ngữ tiếng Việt có thể bắt đầu bằng những kết từ như mà,

do, về, của Tuy nhiên, những từ này có thể được tỉnh lược t y theo nghĩa của câu Kết từ mà và

do được d ng để nhấn mạnh CBB và có thể tỉnh lược mà không làm thay đổi nghĩa của câu Có

một số trường hợp ta có thể d ng của, mà hay do đều được CBB làm định ngữ câu thường bắt

đầu với các phụ từ như: với, cứ, cứ như, theo, theo như và được đánh dấu bằng từ thì

1.2.7 Cú bị bao là trạng ngữ

Trạng ngữ có thể là một từ, một ngữ, hay một CBB Khi trạng ngữ là một CBB thì chủ ngữ của câu và chủ ngữ của CBB làm trạng ngữ có quan hệ chỉnh thể - bộ phận, diễn đạt một sự việc, và giữa kết cấu chủ-vị nòng cốt và CBB làm trạng ngữ không nối bằng một liên từ mà cách

nhau bằng dấu phẩy

1.3 Cú bị bao trong câu tiếng Anh

1.3.1 Định nghĩa à thuật ngữ

Trong tiếng Anh, cụm chủ-vị được bao chứa trong câu có thể làm chủ ngữ, bổ ngữ, hay định ngữ, đó là những CBB

Các nhà Anh ngữ học hầu như thống nhất với nhau trong quan điểm về CBB, và c ng

d ng tên gọi Embedded Clause, chỉ riêng Victoria Fromkin và Robert Rodman [85], gọi là Embedded Sentence (câu bị bao)

CBB trong câu tiếng Anh có thể giữ chức năng chủ ngữ, bổ ngữ và định ngữ

1.3.2 Phân biệt cú bị bao à cú không bị bao

Roderick A Jacobs [95] phân biệt các loại cú như sau: Cú có thể đứng một mình như một câu gọi là cú chính hay cú độc lập Cú phụ thuộc (gồm có CBB và cú phụ), ngược lại, không thể đứng một mình như câu

Chúng ta cũng cần phân biệt CBB và cú phụ trong tiếng Anh Cú phụ được em như trạng ngữ chỉ thời gian, có thể tỉnh lược mà không làm cú chính sai ngữ pháp

1.3.3 Cú bị bao là chủ ngữ

Trong các ngôn ngữ biến hình như tiếng Anh, chủ ngữ chi phối vị ngữ, quy định mặt hình thức về ngôi, giống và số của vị ngữ Theo Bas Aarts [65], chủ ngữ của một câu thường được định nghĩa là một đơn vị để chỉ ai, cái gì đang tham gia vào một hành động được ác định bởi vị từ và cũng là một đơn vị thể hiện nội dung của câu

Trong một câu phải có một vị từ chính được chia theo thì, thể, số, và ngôi hợp với chủ ngữ Do đó, chủ ngữ của câu hay cú được ác định bằng hình thức ngữ pháp của vị từ chính Vị

từ chính trong câu có CBB làm chủ ngữ phải chia theo số ít

CBB làm chủ ngữ phải bắt đầu bằng: Tác tử phụ ngữ hóa (That, If, Whether), hoặc introducers (What/Whatever, Which/Whichever, Who/Whoever, Where/Wherever, When/Whenever, Why, How)

WH-1.3.4 Cú bị bao là bổ ngữ

Từ điển Longman Dictionary of Language Teaching and Applied Linguitics định nghĩa

bổ ngữ tiếng Anh như sau: Bổ ngữ là danh từ, ngữ danh từ, hay cú, hoặc đại từ trong câu với các

vị từ ngoại động, theo cách miêu tả truyền thống, bị tác động bởi hành động của vị từ Bổ ngữ

Ngày đăng: 20/02/2016, 09:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tổng hợp các cấu trúc câu tiếng Việt có CBB làm thành phần - Đối chiếu cấu trúc ngữ pháp của cú bị bao trong tiếng việt và tiếng anh (TT)
Bảng t ổng hợp các cấu trúc câu tiếng Việt có CBB làm thành phần (Trang 13)
Bảng so sánh: - Đối chiếu cấu trúc ngữ pháp của cú bị bao trong tiếng việt và tiếng anh (TT)
Bảng so sánh: (Trang 14)
Bảng tổng hợp các cách chuyển dịch CBB - Đối chiếu cấu trúc ngữ pháp của cú bị bao trong tiếng việt và tiếng anh (TT)
Bảng t ổng hợp các cách chuyển dịch CBB (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w