1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tái cơ cấu Tây Ninh

146 362 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong mấy năm gần đây, nông nghiệp cả nước nói chung và tỉnh Tây Ninh nói riêng thường bị các nguy cơ đe dọa, trong đó đáng kể nhất là những nguy cơ như: dịch bệnh; Các thị trường tiêu t

Trang 1

SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN



ĐỀ ÁN TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP TỈNH TÂY NINH THEO HƯỚNG NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẾN NĂM 2020,

TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

 

Năm 2016

Trang 2

SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN



ĐỀ ÁN TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP TỈNH TÂY NINH THEO HƯỚNG NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ

Năm 2016

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

_ _

I SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

1 Tỉnh Tây Ninh, sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, ngành nông nghiệp đã và đang có những bước phát triển mạnh, đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên, thực trạng phát triển nông nghiệp trong thời gian qua vẫn còn nhiều điều bất cập: tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng, thiên về thâm dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn; quy trình sản xuất nói chung còn lạc hậu, chưa ứng dụng đồng bộ và hiệu quả các tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất, chưa có thay đổi thực sự về phương thức sản xuất… nên giá trị và hiệu quả chưa cao, không đáp ứng được nhu cầu của người dân và các ngành kinh tế khác trong tình hình mới; thực trạng này đòi hỏi phải tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững

2 Trong mấy năm gần đây, nông nghiệp cả nước nói chung và tỉnh Tây Ninh nói riêng thường bị các nguy cơ đe dọa, trong đó đáng kể nhất là những nguy cơ như: dịch bệnh; Các thị trường tiêu thụ nông sản ngày càng yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm, trong đó đặc biệt là yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm đòi hỏi người sản xuất phải sản xuất theo quy trình GAP, ứng dụng công nghệ cao; biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng đã và đang thực sự ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân; trong đó, nông nghiệp, nông dân và nông thôn đang là những đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Để đối phó với những nguy cơ này, sản xuất nông nghiệp cần phải có sự thay đổi cả về định hướng, quy trình công nghệ, loại hình tổ chức, định hướng thị trường,… đó cũng là những yêu cầu của tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững

3 Ngày 10/6/2013, Thủ tướng Chính Phủ có quyết định số 899/QĐ-TTg phê duyệt đề án TCC ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững Ngày 26/9/2013, tại hội nghị triển khai đề án, bộ trưởng bộ Nông nghiệp

và PTNT đề nghị: “Mỗi địa phương phải có đề án riêng”

Từ những yêu cầu cấp bách nêu trên, UBND tỉnh Tây Ninh đã chấp thuận về chủ trương và phê duyệt đề cương, dự toán đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Tây Ninh theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và giao cho Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp với cơ quan tư vấn triển khai xây dựng đề án

Trong quá trình xây dựng đề án, cơ quan tư vấn đã phối hợp với các Sở, Ban, ngành, UBND các huyện, thành phố Tây Ninh thảo luận và thống nhất các nội dung của đề án Nội dung đề án đã được hội thảo 2 lần với các Sở, Ban ngành trực thuộc UBND tỉnh và xin ý kiến các Viện, Trường, các cơ quan trực thuộc Bộ Nông nghiệp PTNT… Tiếp thu ý kiến đóng góp tại hội thảo và các ý kiến góp ý bằng văn bản, Sở Nông nghiệp và PTNT cùng đơn vị tư vấn đã chỉnh sửa và hoàn thiện báo cáo Nay, tài liệu đã hoàn thành, xin kính trình hội nghị và rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của quý vị đại biểu

Trang 4

II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI CỦA ĐỀ ÁN.

II.1 Mục tiêu của đề án

Mục tiêu tổng quát của đề án là xác định các luận cứ khoa học và thực tiễn để

đề xuất mô hình tăng trưởng mới trong nông nghiệp tỉnh Tây Ninh nhằm đạt tốc độ tăng trưởng cao, hiệu quả và bền vững; trên cơ sở phân bổ lại các nguồn lực đến năm

2020 và tầm nhìn 2030

Mục tiêu cụ thể:

1 Phân tích hệ thống các nguồn lực liên quan đến phát triển nông nghiệp; xác định mức độ đã huy động và tiềm năng còn có thể tiếp tục khai thác các nguồn lực vào phát triển từng lĩnh vực trong nông nghiệp hiệu quả và bền vững

2 Đánh giá thực trạng cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh: bao gồm, cơ cấu về giá trị sản xuất, cơ cấu các loại sản phẩm, cơ cấu về sử dụng lao động, cơ cấu các loại hình tổ chức sản xuất, cơ cấu về đối tượng phục vụ của ngành nông nghiệp, cơ cấu về công nghệ ứng dụng trong sản xuất, cơ cấu các hình thức tiêu thụ sản phẩm, cơ cấu về cơ chế chính sách, cơ cấu các chủ thể tham gia chuỗi giá trị sản phẩm… trong

đó, có đánh giá thực trạng về cơ cấu chung toàn ngành nông nghiệp và thực trạng cơ cấu đối với từng lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Xác định những kết quả đã đạt được; đồng thời, tìm ra những tồn tại hạn chế

và nguyên nhân của tồn tại Xác định cụ thể những ưu và nhược điểm của mô hình tăng trưởng hiện tại để khẳng định tính cấp bách phải phát triển nông nghiệp theo mô hình tăng trưởng mới

3 Luận chứng đầy đủ cơ sở khoa học - thực tiễn cho việc phân bổ lại nguồn lực; đề xuất định hướng tái cơ cấu ngành NN trên cơ sở phân bổ lại các nguồn lực

4 Đề xuất hệ thống các giải pháp và tổ chức thực hiện định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Tây Ninh theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững

II.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu của đề án là các đối tượng liên quan trực tiếp và gián tiếp đến ngành nông nghiệp (nông nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, DVNN, lâm nghiệp, và thủy sản)

+ Phạm vi nghiên cứu: là toàn bộ các đối tượng nêu trên, hoạt động liên quan đến nông nghiệp tỉnh Tây Ninh

III CĂN CỨ PHÁP LÝ TIẾN HÀNH LẬP ĐỀ ÁN.

Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Tây Ninh theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, tầm nhìn 2030 được xây dựng căn cứ trên những cơ sở pháp lý sau:

III.1 Các văn bản của Đảng, Chính phủ và Bộ ngành trung ương

1.1 Quyết định số: 146/2004/QĐ-TTg ngày 13/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương hướng phát triển kinh tế - xã hội Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020

Trang 5

1.2 Quyết định số: 1039/QĐ-BNN-NN ngày 09/5/2005 của Bộ trưởng Bộ NN

và PTNT về việc phê duyệt đề án đổi mới hệ thống chăn nuôi gia cầm

1.3 Nghị quyết số: 23-NQ/TW ngày 29/8/2005 của Bộ Chính trị về phát triển Kinh tế - xã hội vùng ĐNB đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

1.4 Quyết định số: 10/2006/QĐ-TTg ngày 11/01/2006 phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

1.5 Nghị định số: 92/2006/NĐ-CP ngày 7/9/2006 và Nghị định số: 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ về quản lý quy hoạch tổng thể kinh

tế - xã hội và quy hoạch ngành

1.6 Thông tư số: 01/2007/TT-BKH ngày 07/02/2007 và Thông tư số: 03/2008/TT-BKH ngày 01/7/2008 của Bộ Kế hoạch và đầu tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số: 92/2006/NĐ-CP và Nghị định số: 04/2008/NĐ-CP của CP

1.7 Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/2/2007 của Thủ tướng CP phê duyệt chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020

1.8 Văn bản số: 289/TTg ngày 01/3/2007 của Thủ tướng CP về ý kiến chỉ đạo công tác quy hoạch tổng thể KT - XH, quy hoạch ngành đến năm 2020

1.9 Quyết định số: 52/2007/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt quy hoạch phát triển rau quả và hoa cây cảnh đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020

1.10 Quyết định số: 379/QĐ-BNN-KHCN ngày 28/01/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc ban hành quy trình thực hiện sản xuất nông nghiệp tốt đối với rau, quả tươi an toàn tại Việt Nam (gọi tắt là Viet GAP)

1.11 Quyết định số: 589/QĐ-TTg ngày 20/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng TP Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050

1.12 Nghị quyết số: 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

1.13 Nghị quyết số: 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ về việc ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCHTW Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

1.14 Quyết định số 111/QĐ-BNN-QLCL ngày 14/01/2009 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc ban hành đề án bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm rau, quả, chè và thịt giai đoạn 2009 - 2015

1.15 Quyết định số: 721/QĐ-BNN-KH ngày 17/3/2009 về việc ban hành quy định về quản lý quy hoạch nông nghiệp và phát triển nông thôn

1.16 Quyết định số: 750/QĐ-TTg ngày 03/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển cao su đến năm 2010 và tầm nhìn 2020

1.17 Nghị quyết số: 48/2009/NQ-CP ngày 23/9/2009 của Chính phủ về cơ chế chính sách giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản

1.18 Nghị quyết số: 63/NQ-CP ngày 23/12/2009 của Chính phủ về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia

Trang 6

1.19 Quyết định số: 2194/QĐ-TTg ngày 25/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản đến năm 2020.

1.20 Quyết định số: 176/QĐ-TTg ngày 29/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển nông nghiệp công nghệ cao đến năm 2020

1.21 Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn

1.22 Quyết định số: 01/2012/QĐ-TTg ngày 09/1/2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ về việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

1.23 Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020

1.24 Quyết định số 124/2012/QĐ-TTg ngày 02/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm

1.28 Quyết định số 1259/QĐ-BNN-KHCN ngày 6/6/2013 của Bộ Nông nghiệp

và PTNT phê duyệt chương trình khung nghiên cứu khoa học và công nghệ ngành nông nghiệp và PTNT giai đoạn 2013 – 2020

1.29 Quyết định 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”

1.30 Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng Chính Phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn

1.31 Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp

1.32 Quyết định số 3367/QĐ-BNN-TT ngày 31/07/2014 của Bộ NN và PTNT phê duyệt quy hoạch chuyển đổi CCCT trên đất trồng lúa giai đoạn 2014 – 2020

1.33 Quyết định số 252/QĐ-TTg ngày 13/2/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

1.34 Quyết định số 2044/QĐ-TTg ngày 09/11/2010 của Chính Phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tây Ninh đến năm 2020

1.35 Quyết định số 1656/QĐ-BNN-TCLN ngày 08/7/2013 của Bộ Nông nghiệp

và PTNT phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp

Trang 7

III.2 Các văn bản của tỉnh Tây Ninh

1 Văn kiện đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh nhiệm kỳ 2015 – 2020

2 Văn kiện đại hội Đảng bộ các huyện và thành phố Tây Ninh

3 Quyết định số 44/2012/QĐ-UBND, ngày 15/10/2012 của UBND tỉnh Tây Ninh Ban hành quy hoạch phát triển nông nghiệp tỉnh Tây Ninh đến năm 2020

4 Quyết định số 46/2010/QĐ-UBND ngày 08/9/2010 của UBND tỉnh Tây Ninh

về việc điều chỉnh, bổ sung QĐ số 37/2008/QĐ-UBND ngày 13/5/2008 về điều chỉnh

bổ sung quy hoạch thủy lợi tỉnh Tây Ninh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

5 Quyết định số 01/2016/QĐ-UBND ngày 05/01/2016 của UBND tỉnh Tây Ninh ban hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tây Ninh 5 năm 2016 – 2020

6 Quyết định số 59/2013/QĐ-UBND ngày 18/12/2013 của UBND tỉnh Tây Ninh ban hành QHTT PT du lịch tỉnh Tây Ninh đến năm 2020 và ĐH đến năm 2030

7 Quyết định số 1837/QĐ-UBND ngày 24/9/2012 của UBND tỉnh Tây Ninh phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2011 – 2020

8 Quyết định số 58/2015/QĐ-UBND ngày 15/12/2015 của UBND tỉnh Tây Ninh ban hành quy định chức năng Nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở

NN và PTNT tỉnh Tây Ninh

9 Quyết định số 52/2015/QĐ-UBND ngày 09/10/2015 của UBND tỉnh Tây Ninh Ban hành Bảng quy định tạm thời định mức kỹ thuật sử dụng trong các chương trình, dự án Khuyến nông trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

10 Quyết định số 49/2015/QĐ-UBND ngày 28/9/2015 của UBND tỉnh Tây Ninh về việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng để thực hiên các dự án trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đợt 1 năm 2015

11 Quyết định số 1210/QĐ-UBND ngày 29/5/2014 của UBND tỉnh Tây Ninh Ban hành Chương trình hành động thực hiện Đề án tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013-2020 của tỉnh Tây Ninh

12 Nghị quyết số 04/NQ/ĐH ngày 16/10/2015 Nghị quyết đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 – 2020

13 Quyết định số 316/QĐ-UBND ngày 17/01/2014 của UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh

tế tập thể đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

14 Quyết định số 1592/QĐ-UBND, ngày 06/8/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh về Quyết định phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện Đề án TCC ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững

15 Các quy hoạch (quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch giao thông, thủy lợi, điện, khu công nghiệp… trên địa bàn tỉnh) đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

16 Quyết định số 21/2014/QĐ-UBND ngày 13/8/2014 của UBND tỉnh Tây Ninh về việc ban hành quy hoạch phát triển KHCN tỉnh Tây Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

17 Quyết định số 21/2013/QĐ-UBND ngày 20/12/2013 của UBND tỉnh ban hành danh mục các lĩnh vực đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ưu tiên phát triển của tỉnh Tây Ninh

Trang 8

Phần thứ nhất THỰC TRẠNG VÀ DỰ BÁO

_ _

A ĐÁNH GIÁ CÁC NGUỒN LỰC LIÊN QUAN

ĐẾN NGÀNH NÔNG NGHIỆP

Các nguồn lực liên quan đến phát triển nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

gồm: Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên (Vị trí địa lý kinh tế, khí hậu

thời tiết, địa hình - đất đai, nguồn nước, chế độ thuỷ văn, tài nguyên sinh vật, môi

trường nước - nguồn lợi thuỷ sản…), Các nguồn lực về kinh tế - xã hội (tốc độ tăng

trưởng và xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sự phát triển và hỗ trợ của các ngành khác đối với nông nghiệp, khả năng về nguồn tài chính công của ngân sách địa phương các cấp, hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất, nguồn nhân lực và mức sống dân

cư, khả năng huy động vốn trong dân, hiện trạng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục

vụ sản xuất…); Trong phạm vi một đề án, chúng tôi xin tóm tắt một số nội dung chính

để đánh giá các nguồn lực có liên quan đến phát triển nông nghiệp như sau:

1 Vị trí địa lý - kinh tế:

Tây Ninh là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ (ĐNB), nằm trong vùng Kinh

tế trọng điểm phía nam (KTTĐPN), các tỉnh tiếp giáp gồm Bình Dương, Bình Phước, Long An và thành phố Hồ Chí Minh, phía Tây và phía Bắc giáp Vương quốc Cam Pu Chia có đường biên giới dài 240 km Với vị trí địa lý như vậy, tỉnh Tây Ninh có những thuận lợi về: thị trường (rộng lớn, đa dạng và năng động); có nhiều tiềm năng

về khoa học - công nghệ; nhiều nhà đầu tư có tiềm năng lớn về vốn, năng lực kinh doanh, thương hiệu; có hệ thống cơ sở hạ tầng thuận lợi (đặc biệt là hệ thống giao thông, cảng, cơ sở chế biến ) Cạnh đó cũng có những khó khăn đáng kể như: các nguồn lực trong nông nghiệp giảm nhanh (đặc biệt là các huyện phía Nam), giá cả các yếu tố sản xuất tăng, làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm; nguy cơ ô nhiễm môi trường ngày càng cao

2 Khí hậu, thời tiết:

Khí hậu nhiệt đới, cận xích đạo với các ưu thế như: tổng lượng bức xạ cao và

ổn định, nhiệt độ bình quân cao đều quanh năm, tổng tích ôn lớn, số giờ nắng nhiều, mưa nhiều, ít bão… Như vậy, có thể xem đây là một lợi thế cho phát triển nông nghiệp theo hướng thâm canh, tăng vụ, xen canh, gối vụ, ứng dụng công nghệ cao; đó là hướng phát triển của nền nông nghiệp chuyên canh, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Lượng mưa thấp trong phạm vi toàn tỉnh (1.600 – 1.800 mm), hạn bà chằn và mùa khô kéo dài 6 tháng là những điểm hạn chế lớn đối với sản xuất nông nghiệp ở Tây Ninh Khắc phục hạn chế này bằng cách lựa chọn cơ cấu cây trồng vật nuôi hợp lý xây dựng các công trình thủy lợi khai thác nước hồ Dầu Tiếng, các trạm bơm khai thác nước sông Vàm Cỏ xây dựng các đập thời vụ để khắc phục hạn bà chằn, kéo dài thời gian canh tác an toàn

Trang 9

3 Tài nguyên đất:

+ Về quỹ đất: Theo số liệu của Sở Tài Nguyên và Môi trường, tính đến cuối năm 2015, tổng diện tích tự nhiên trên địa bàn tỉnh là 404.125,25ha; trong đó, đất nông nghiệp 346.042,52ha, chiếm 85,71% (đất sản xuất nông nghiệp 271.214,94ha, đất; lâm nghiệp 71.962,87ha, đất nuôi trồng thủy sản 2.058,28ha, đất nông nghiệp khác 1.166,37ha); đất phi nông nghiệp 56.972,57ha, chiếm 14,09% và đất chưa sử dụng 750,15ha, chiếm 0,18%

+ Về chất lượng đất:

- Tây Ninh có kiểu địa hình đặc trưng chuyển tiếp giữa đồi núi thấp xuống đồng bằng châu thổ sông, địa hình khá bằng phẳng, với xu thế thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam; ngoại trừ núi Bà Đen cao 986 m, có thể chia đất ở Tây Ninh thành 3 cấp địa hình như sau: đất có cao trình <5m (chiếm 18,77%), đất có cao trình 5 – 20m (chiếm 44,88%), đất có cao trình 20 – 50m (chiếm 33,49%) và đất có cao trình >50m (chiếm 2,86%)

- Kết quả điều tra chỉnh lý bổ sung bản đồ đất tỷ lệ 1/100.000 của Phân Viện Quy hoạch và TKNN cho thấy, tỉnh Tây Ninh có 4 nhóm đất chính:  Nhóm đất xám bạc màu 335.435ha, chiếm 83,04% DTTN; trong đó có 3 đơn vị chú giải bản đồ đất là

đất xám trên phù sa cổ (X) chiếm 70,27% diện tích nhóm đất xám bạc màu; đất xám

có tầng loang lổ đỏ vàng chiếm 15,06% diện tích nhóm đất xám bạc màu và đất xám gley chiếm 14,66% diện tích nhóm đất xám bạc màu  Nhóm đất phù sa 21.867 ha,

chiếm 5,41% DTTN với 3 đơn vị chú giải bản đồ đất: Đất phù sa gley trên nền phèn (Pg/s) chiếm 46,81% diện tích nhóm đất phù sa; đất phù sa gley (Pg) chiếm 44,81% diện tích nhóm đất phù sa và đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Pf) chiếm 8,73% diện tích nhóm đất phù sa  Nhóm đất đỏ vàng 14.468 ha, chiếm 3,58% DTTN, với

4 đơn vị chú giải bản đồ là Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp) chiếm 59,14% diện tích nhóm đất đỏ vàng; đất nâu đỏ trên đá bazan (Fk) chiếm 26,35% diện tích nhóm đất đỏ vàng; đất vàng đỏ trên đá macmar axid (Fa) chiếm 10,73% diện tích nhóm đất đỏ vàng

và đất đỏ vàng trên đa phiến sét biến chất (Fs) chiếm 3,77% diện tích nhóm đất đỏ vàng  Nhóm đất phèn 6.822 ha chiếm 1,69% DTTN với 2 đơn vị chú giải bản đồ

đất là đất phèn hoạt động sâu chiếm 61,40% diện tích nhóm đất phèn và đất phèn tiềm tàng sâu chiếm 38,60% diện tích nhóm đất phèn

- Có đến trên 92% diện tích là các loại đất thủy thành nên có độ dày tầng đất khá sâu; trong đó độ dày >100 cm chiếm 91%; từ 50 – 100cm chiếm 1,79% và <50cm chỉ chiếm 0,38% Đây là một lợi thế lớn khi lựa chọn cơ cấu cây trồng và sử dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất

- Về lý hóa tính đất: Đất có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt nặng, tỷ lệ sét vật lý ở tầng canh tác 30 – 45%, đất có kết cấu tốt Độ pH (H2O) 4,57 – 4,90; thành phần đạm, lân, kali tổng số từ trung bình đến khá, nghèo lân dễ tiêu, hàm lượng chất hữu cơ ở tầng canh tác dao động từ 1,5 – 5,8%

Tóm lại, nghiên cứu về tài nguyên đất có thể rút ra một số thuận lợi và khó khăn như sau  Những thuận lợi gồm: Quỹ đất nông nghiệp còn khá, địa hình bằng phẳng, trên 87% diện tích tự nhiên là đất xám và đất phù sa với ưu điểm cơ bản là phổ thích nghi rộng, có khả năng thích nghi với nhiều loại cây trồng nên Tây Ninh hoàn toàn có thể đa dạng hóa cây trồng và nhiều cơ hội để lựa chọn những cơ cấu cây trồng có giá trị kinh tế cao và được thị trường ưa chuộng  Điểm hạn chế lớn

Trang 10

nhất đối với sản xuất nông nghiệp là có trên 81% quỹ đất là đất xám bạc màu; mặc

dù đất xám ở Tây Ninh được đánh giá là tốt hơn các vùng đất xám ở nơi khác nhưng

về cơ bản vẫn là nghèo dưỡng chất, thành phần cơ giới thô, khả năng giữ nước và phân kém, muốn cây trồng có năng suất khá cần đầu tư ở mức cao kể cả công trình thủy lợi, phân bón và công lao động

hồ Dầu Tiếng với dung tích hữu ích 1,1 tỷ m3, và được bổ sung nguồn nước từ hồ Phước Hòa với lưu lượng 50m3/s Do điều tiết của hồ Dầu Tiếng nên đoạn hạ lưu sông Sài Gòn lưu lượng mùa kiệt vẫn còn khá lớn 40 - 50 m3/s)  Nguồn nước ngầm: khá phong phú, phân bố rộng khắp trên địa bàn và ở độ sâu từ 100 - 300m, tổng lưu lượng nước ngầm có thể khai thác được từ 50 - 100 ngàn m3/giờ; vào mùa khô vẫn có thể khai thác nước ngầm đảm bảo chất lượng cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và các hoạt động khác của người dân Đánh giá chi tiết về các nguồn nước mặt

và nước ngầm như sau:

Nguồn nước mặt:

+ Nguồn nước mặt của tỉnh Tây Ninh phụ thuộc chủ yếu vào 02 sông Sài Gòn

và Vàm Cỏ Đông thuộc lưu vực hệ thống sông Đồng Nai

- Sông Sài Gòn: diện tích lưu vực: 5.105,17 km2, trong đó phần lưu vực thuộc nước ta là 4.550,75 km2 (chiếm 89,14%), bắt nguồn từ vùng núi của Campuchia và huyện Lộc Ninh - tỉnh Bình Phước, tổng chiều dài: 280,0 km Ngày 29/4/1981 khởi công xây dựng hệ thống công trình thủy lợi Hồ Dầu Tiếng trên sông Sài Gòn và chính thức mở nước phục vụ sản xuất nông nghiệp từ ngày 10/01/1985 Đây là công trình thủy lợi lớn nhất cả nước với tổng dung tích chứa 1,58 tỷ m3, dung tích hữu ích 1,10 tỷ m3 Sắp tới, hồ Dầu Tiếng còn được bổ sung nước từ hồ Phước Hòa với lưu lượng bình quân 50m3/s sẽ đảm bảo chủ động cấp nước tốt hơn cho các nhu cầu dùng nước, trong đó phần lớn nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và nuôi thủy sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Trên lưu vực sông Sài Gòn còn xây dựng đập Tha La và có các suối Bà Chiêm, suối Cầu Khởi, suối Ngô,…

- Sông Vàm Cỏ Đông: Bắt nguồn từ vùng núi thấp của Vương quốc Campuchia Sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Tổng diện tích lưu vực (F

= 6.300,0 km2), chiều dài dòng sông chính: 283,0 km, có 02 nhánh lớn là rạch Cần Đăng và rạch Tây Ninh Trước 1985, sông Vàm Cỏ Đông về mùa khô có lưu lượng nhỏ, nay được bổ sung từ Hồ Dầu Tiếng góp phần tăng lưu lượng cung cấp cho sản xuất nông nghiệp ở hai bên sông

Trang 11

+ Theo tài liệu quan trắc chất lượng nước mặt vào tháng 9 năm 2001 và tháng

01 năm 2002 khi so sánh với tiêu chuẩn TCVN5925-1005 đối với nguồn nước loại A cho thấy đều ô nhiễm dưới ngưỡng cho phép COD: 4 - 10 mg/l, BOD: 3,0 - 6,0 mg/l, N-NH4+L 0,03 - 0,46 mg/l và các kim loại nặng như Cu, Pb, Zn, Cd có nồng độ rất thấp, Fe chỉ 1,04 - 10,12 mg/l vượt tiêu chuẩn TCVN5942-1995, trong đó tại Cần Đăng: 10,12 mg/l, Gò Dầu: 1,94 mg/l, Tha La: 1,85 mg/l; vi sinh vật ở mức cao: tổng Coliform tại Gò Dầu: 110.000 - 240.000 μPN/100ml, Cầu Quan: 24.000 - 240.000 μPN/100ml; dư lượng thuốc bảo vệ thực vật nồng độ thấp So với kết quả quan trắc

2006, 2010 đã cho thấy mức độ ô nhiễm liên tục tăng

Nguồn nước ngầm:

Căn cứ các kết quả nghiên cứu của Liên đoàn Điều tra quy hoạch tài nguyên nước miền Nam, trong phạm vi tỉnh Tây Ninh, có 8 tầng chứa nước theo thứ tự từ trên xuống dưới như sau:  Tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen trên (qp3)  Tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen giữa - trên (qp2-3)  Tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen dưới (qp1)  Tầng chứa nước lỗ hổng Pliocen giữa (n22)  Tầng chứa nước lỗ hổng Pliocen dưới (n2)  Tầng chứa nước lỗ hổng Miocen trên (n1)  Tầng chứa nước khe nứt Pleistocen giữa (qp2)  Tầng chứa nước khe nứt Paleozoi - Mesozoi (ps-ms); các tầng chứa nước có đặc điểm như sau:

Bảng 1: Đặc điểm các tầng chứa nước

Tầng

chứa

nước Diện phân bố

Chiều dày (m) Mức độ chứa nước

Chất lượng nước

Khả năng khai thác

5 (ĐB tỉnh không có)Phân bố rộng 17,5 - 99,5 Trung bình - Giàu Tốt Nhỏ, lẻ tập trung

6 Từ CT về giáp TP HCM 16,5 - 67,0 Bàng; còn lại N - TBGiàu ở TP và Trảng Tốt Tập trung hoặc nhỏ lẻ

Nguồn: Liên đoàn Điều tra, quy hoạch Tài nguyên nước miền Nam năm 2008

Ghi chú: Ở các tầng chứa nước từ 1 đến 4 đều bị nhiễm mặn ở vùng Phước Chỉ, An Hòa huyện Trảng Bàng

Kết hợp trữ lượng nước tĩnh với các nguồn bổ cập từ nước mưa, từ bên sườn và

từ hồ Dầu Tiếng, Liên đoàn Điều tra, quy hoạch Tài nguyên nước miền Nam đã tính toán trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất tỉnh Tây Ninh như sau: Tổng trữ lượng 5.099.887 m3/ng Trong đó: trữ lượng tĩnh là 3.453.597 m3/ng, trữ lượng động là 1.646.290 m3/ng; chi tiết đối với các tầng chứa nước như sau:

Trang 12

Bảng 2: Kết quả tính trữ lượng khai thác tiềm năng

Nguồn bổ cập từ mưa

Nguồn bổ cập từ bên sườn

Nguồn bổ cập từ hồ Dầu Tiếng Cộng

Nguồn: Liên đoàn Điều tra, quy hoạch Tài nguyên nước miền Nam năm 2008

Ghi chú: Tầng chứa nước khe nứt Pleistocen giữa và Paleozoi - Mesozoi được tính chung là Tầng chứa nước khe nứt (ps-ms).

+ Chất lượng nước ngầm: đa phần là nước nhạt đến siêu nhạt, tổng độ khoáng hóa M = 0,02 - 0,99g/l Loại hình hoá học chủ yếu là clorua natri, bicarbonat clorua calci, clorua bicarbonat đến bicarbonat natri, bicarbonat calci Chất lượng nước tốt đáp ứng tiêu chuẩn đối với nước sinh hoạt và có thể khai thác phục vụ tưới cho nông nghiệp; tuy nhiên, để bảo vệ nguồn tài nguyên vô cùng quý giá này, ngành nông nghiệp cần phát triển mạnh mô hình tưới tiết kiệm nước Lưu ý: Vùng nước mặn (M> 1g/l) chiếm diện tích khoảng 30 km2, phân bố ở phía Nam xã Phước Chỉ và xã An Hòa (Trảng Bàng), không đáp ứng yêu cầu sử dụng cho nước ăn uống - sinh hoạt

+ Triển vọng khai thác và sử dụng nước ngầm: Như trình bày ở trên, địa bàn tỉnh Tây Ninh có mặt 8 tầng chứa nước, trong đó có 5 tầng chứa nước lỗ hổng: (qp2-3), (qp1), (n22), (n21) và (n13) có khả năng khai thác với quy mô lớn Tầng chứa nước lỗ hổng (qp3) và quanh vùng lộ của các tầng chứa nước khe nứt (qp2) và (ps-ms) (ở Tân Châu) đáp ứng cho nhu cầu khai thác nhỏ lẻ đến qui mô vừa Dựa trên độ phong phú của nước dưới đất có thể phân chia lãnh thổ tỉnh Tây Ninh thành 4 vùng có triển vọng khai thác nước dưới đất như sau:

- Vùng giàu nước (hệ số dẫn nước km > 1.000m2/ngày) phân bố ở phía Tây, Tây

Nam; chiếm khoảng 50% diện tích toàn tỉnh, kéo dài từ Tân Biên qua Châu Thành,

TX Tây Ninh đến Gò Dầu, Trảng Bàng Nước dưới đất phong phú, chất lượng nước tốt chỉ cần xử lý đơn giản, các tầng chứa nước có mặt đều nhạt Tại vùng này có thể cấp nước tập trung quy mô lớn, với kiểu lỗ khoan công nghiệp có lưu lượng

>500m3/ngày hay hệ thống các lỗ khoan khai thác lưu lượng từ 5.000 - 30.000m3/ngày hoặc xây dựng các trạm cấp nước tập trung quy mô vừa và nhỏ, với kiểu lỗ khoan công nghiệp lưu lượng từ 100 - 500 m3/ngày hay hệ thống các lỗ khoan khai thác với lưu lượng <5.000 m3/ngày Ngoài ra còn có thể khai thác nước bằng các lỗ khoan nhỏ, đơn lẻ hoặc giếng đào phục vụ sản xuất và sinh hoạt

Trang 13

- Vùng trung bình (hệ số dẫn nước km = 200 - 1.000 m2/ngày) phân bố ở phía Đông, Đông Bắc tỉnh, kéo dài từ Tân Châu qua TX Tây Ninh, Dương Minh Châu đến phía Đông Bắc Trảng Bàng và ít ở Phước Chỉ (Trảng Bàng) Nước dưới đất tương đối phong phú, chất lượng nước tốt chỉ cần xử lý đơn giản, có ít nhất 1 tầng chứa nước triển vọng không bị nhiễm mặn Tại vùng này chủ yếu xây dựng các trạm cấp nước tập trung quy mô vừa và nhỏ, với kiểu lỗ khoan công nghiệp lưu lượng từ 100 - 500m3/ngày hay hệ thống các lỗ khoan khai thác với lưu lượng < 5.000 m3/ngày hoặc cấp nước tập trung quy mô lớn, với kiểu lỗ khoan công nghiệp có lưu lượng >500

m3/ngày hay hệ thống các lỗ khoan khai thác lưu lượng từ 5.000 - 30.000 m3/ngày Ngoài ra còn có thể khai thác nước bằng các lỗ khoan nhỏ, đơn lẻ hoặc giếng đào phục

vụ sản xuất và sinh hoạt

- Vùng nghèo nước (hệ số dẫn nước km < 200m2/ngày) phân bố ít ở phía Nam thị trấn Tân Biên Nước dưới đất kém phong phú, chất lượng nước tốt chỉ cần xử lý đơn giản Vùng này có thể xây dựng các trạm cấp nước tập trung quy mô nhỏ, lưu lượng 100 đến 200 m3/ngày hoặc các lỗ khoan khai thác nhỏ, lẻ, giếng đào, nguồn lộ

- Vùng này nước dưới đất rất kém phong phú hoặc thực tế không có tầng chứa nước, phân bố hạn chế ở quanh núi Bà Đen và ở Tân Châu Tại vùng này chỉ có thể khai thác một số nơi với quy mô rất hạn chế ở dạng giếng đào, nguồn lộ

5 Tài nguyên sinh vật: đa dạng, phong phú, hiện đang có nhiều giống cây

trồng vật nuôi quý, có chất lượng và giá trị kinh tế cao, đáp ứng yêu cầu của một nền nông nghiệp toàn diện, ứng dụng công nghệ cao, phát triển bền vững

6 Nguồn nhân lực:

+ Đến năm 2014, dân số trung bình toàn tỉnh là 1,104 triệu người (đứng thứ 4 trong các tỉnh ĐNB và đứng thứ 36 cả nước), trong đó dân số thành thị có 206.545 người chiếm 18,70%, dân cư nông thôn 897.692 người chiếm 81,30% Mật độ dân số toàn tỉnh là: 273,83 người/km2

+ Tháp tuổi dân số của Tây Ninh đang trong quá trình già hóa cộng với quá trình phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp làm cho dân số của tỉnh Tây Ninh đang có xu thế dịch chuyển từ nông thôn ra thành thị; tốc độ tăng dân số thành thị giai đoạn 2010 - 2014 là 5,32%/năm; trong khi đó dân cư nông thôn giảm 0,54%/năm, làm cho dân số nông thôn có xu thế giảm nhanh; đây là một thách thức lớn đối với nông nghiệp tỉnh

+ Về chất lượng dân số: theo số liệu thống kê, nhóm dân số 15 - 60 tuổi chiếm

57 - 59% (tương đương 630 - 650 ngàn người), nhóm dân số dưới 15 tuổi và trên 60 tuổi chiếm 41 - 43% (tương đương khoảng 450 - 460 ngàn người), chỉ số phụ thuộc là

71 - 73%; Tây Ninh đã qua khỏi thời kỳ “Dân số vàng” Đây là một trong những điểm yếu đối với đầu tư tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng

+ Nguồn lao động trên địa bàn tỉnh đang có xu thế giảm, nếu năm 2011 là 59,25% thì đến năm 2014 chỉ còn 57,15%; tốc độ tăng nguồn lao động ở mức khá thấp (0,68%/năm) Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế giảm 0,84%/năm Riêng lao động nông nghiệp giảm nhanh (giảm 2,94%/năm); Nếu năm 2012 tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm 43,92% trong tổng lao động xã hội thì đến năm 2014 tỷ lệ

Trang 14

này chỉ 42,08%; đây là một xu thế tốt nhằm phấn đấu đạt tiêu chí nông thôn mới với tỷ

lệ lao động nông, lâm, ngư nghiệp < 20%; tuy nhiên, một điều đáng lo ngại là những lao động giảm trong nông nghiệp thường là lao động trẻ, khỏe và có năng lực nên lao động còn lại trong nông nghiệp đã ít lại đang có xu thế “già hóa”; đặc điểm này, đòi hỏi ngành nông nghiệp phải nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi để phù hợp với xu thế lao động nông nghiệp giảm nhanh và đang bị “già hóa”

+ Chất lượng lao động trong nông nghiệp ở Tây Ninh luôn được xếp ở mức trung bình khá so với các tỉnh phía Nam; Song, vẫn luôn là điều đáng lo ngại bởi trong số lao động trực tiếp làm nông nghiệp, có rất ít người được qua trường lớp đào tạo dù chỉ là kỹ thuật cơ bản về trồng trọt và chăn nuôi Trong khi đó quan điểm, mục tiêu phát triển nông, lâm, ngư nghiệp của tỉnh đến năm 2020 lại đòi hỏi người lao động không chỉ có kiến thức về kỹ thuật đơn thuần mà cần nhiều hơn nữa những kiến thức về công nghệ mới, về an toàn vệ sinh thực phẩm, về hợp tác quản lý và về kinh tế thị trường Sự thiếu hụt nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn sâu dẫn đến thiếu ý tưởng và chưa đủ khả năng thực hiện việc tổ chức xây dựng cũng như quản lý phát triển bền vững; đây được xem là vấn đề cần quan tâm giải quyết đối với ngành nông nghiệp Tỉnh

7 Các chỉ tiêu tổng quát về phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn:

+ Thời kỳ 2011- 2014, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 11,76%/năm, cao gấp 1,14 lần tốc độ tăng trưởng chung của KTTĐPN (9,12%/năm); trong đó, công nghiệp – xây dựng tăng bình quân 17,64%/năm, dịch vụ tăng 9,75%/năm và thấp nhất là nông nghiệp tăng 5,31%/năm Các nhà kinh tế dự báo, bắt đầu từ 2016 kinh tế sẽ được phục hồi và tăng trưởng mạnh trong các năm 2016 - 2020; hy vọng, với xu thế này các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ sẽ tăng nhanh, đủ sức hỗ trợ cho nông nghiệp phát triển một cách bền vững và làm hậu phương vững chắc cho công nghiệp, dịch vụ phát triển

+ Tính đến năm 2014, giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh là 55,316 ngàn tỷ đồng; tỷ trọng khu vực I là 28,40%, giảm 10,12% so với năm 2010; tương ứng các lĩnh vực phi nông nghiệp tăng 10,12%; trong đó, công nghiệp - xây dựng tăng 8,45% và dịch vụ tăng 1,67% Như vậy, tính đến năm 2014, cơ cấu các khu vực trong nền kinh

tế trên địa bàn tỉnh là: Dịch vụ (36,99%) - Công nghiệp - xây dựng (34,61%) - Nông,

lâm, ngư nghiệp (28,40%) Mặc dù trong 3 năm gần đây, tốc độ tăng trưởng và sự

chuyển dịch cơ cấu kinh tế có chững lại (do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế); nhưng, với cơ cấu này vẫn đảm bảo để các ngành hỗ trợ tốt và cùng nhau phát triển một cách bền vững

+ GDP bình quân đầu người 50,09 triệu đồng/người/năm, đứng thứ 5 trên 6 tỉnh vùng ĐNB) tốc độ tăng GDP bình quân đầu người là 17,34%/năm; với quy mô và mức bình quân GDP đầu người như vậy, có thể khẳng định, nếu không có sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế một cách hợp lý theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, thực hiện tái

cơ cấu các lĩnh vực một cách hợp lý thì Tây Ninh khó có thể theo kịp các tỉnh như Bình Dương, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế kéo theo thay đổi cơ cấu lao động theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp; nếu năm 2012 lao động nông nghiệp chiếm tới 44% trong cơ cấu lao động toàn tỉnh thì đến năm 2014, lao động nông nghiệp chỉ còn khoảng 42% (sau 3 năm giảm 1,84%, bình quân mỗi năm giảm khoảng 0,61%); khu vực công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 10,94%, riêng khu vực dịch vụ giảm 23,36%; trong khi Tây Ninh là một trong những tỉnh có khá nhiều tiềm năng để phát triển dịch vụ và du lịch; đây là một hạn chế lớn trong chuyển dịch cơ cấu lao động

Trang 15

+ Năm 2014 là năm đạt kỷ lục về kim ngạch xuất khẩu (2.744 triệu USD), tăng gấp: 2,4 lần so với năm 2010, tốc độ tăng bình quân 24,46%/năm; trong đó, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản là 403,8 triệu USD, chiếm 18,57% tổng kim ngạch xuất khẩu Các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của tỉnh gồm: cao su, khoai mì và các sản phẩm từ khoai mì, hạt điều, thủy sản và các sản phẩm bằng gỗ.

+ Tốc độ tăng nguồn thu ngân sách từ 2010 - 2014 là 5,49%/năm; trong khi đó, các khoản chi tăng tới 10,36%/năm; hàng năm, ngân sách trung ương phân bổ cho Tây Ninh nguồn ngân sách từ 1.034 - 2.492 tỷ đồng Cân đối thu chi: năm 2014 âm 869 tỷ đồng Như vậy, Tây Ninh là một trong số các tỉnh có nguồn thu ngân sách hạn hẹp, hàng năm phải nhận hỗ trợ từ ngân sách cấp trên; có thể xem đây là một bất lợi cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và nông nghiệp nói riêng

Năm 2014, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn 20.037 tỷ đồng, chiếm 36,22% GDP; tốc độ tăng vốn đầu tư toàn xã hội là 17,49%/năm; được xem là một địa phương có tốc độ tăng vốn đầu tư ở mức khá; đây là cơ hội để tái cơ cấu các ngành, lĩnh vực theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững Trong đó, vốn đầu tư cho nông nghiệp và khoa học công nghệ luôn chiếm tỷ trọng rất nhỏ (nông nghiệp chiếm 5,86 - 7,4% và khoa học công nghệ từ 0,11 – 0,25%)

8 Hệ thống cơ sở hạ tầng:

+ Hệ thống thủy lợi: Tính đến cuối năm 2015, trên địa bàn tỉnh Tây Ninh hiện

có các công trình thủy lợi như sau:

- Hồ Dầu Tiếng với tổng diện tích mặt hồ (MNDBT 27 ngàn ha), dung tích chứa hữu ích 1,1 tỷ m3 với 3 cống lấy nước: cống số 1 lấy vào kinh Đông; cống số 2 lấy vào kinh Tây, và cống số 3 lấy nước vào kênh Tân Hưng (mỗi cống có 3 cửa, mỗi cửa rộng 4 m, lưu lượng thiết kế Q = 93m3/s) Các nhiệm vụ của hồ Dầu Tiếng là  Hoàn thành hệ thống dẫn nước tự chảy trong khu tưới trực tiếp đã có 64.830 ha; trong đó, Tây Ninh 52.830 ha và TP Hồ Chí Minh 12.000 ha  Đảm bảo cấp nước tạo nguồn ổn định cho 40.140 ha  Đảm bảo có lưu lượng xả xuống sông Sài Gòn

về mùa kiệt để giữ nguyên tình hình như khi chưa có hồ  Cấp nước cho nhà máy nước TP Hồ Chí Minh (Bến Than) từ tháng 1 đến tháng 7 với lưu lượng 7 m3/s  Tạo nguồn để mở ra các dự án mới phía hạ du gồm Tây Ninh, Long An và TP HCM Tổng chiều dài hệ thống kênh mương như sau: 3 kênh chính (kênh chính Đông, kênh chính Tây và kênh Tân Hưng) dài 135 km; kênh cấp I (có 64 tuyến), dài 273 km; kênh cấp II (có 448 tuyến), dài 535 km, kênh cấp III và IV (có 671 tuyến) dài 340 km; kênh tiêu (có 129 tuyến) dài 298,2 km; tổng số kênh mương đã được kiên cố hóa

135 km, chiếm 8,77%

- Hồ Tân Châu: được xây dựng trên nhánh thượng nguồn của công trình Dầu Tiếng (tại vị trí cầu Tha La), dung tích mực nước ứng gia cường 27,5 triệu m3; công trình có 1 đập đất, 1 đập cao su dâng nước, 1 cống thông với hồ Dầu Tiếng, 1 cống lấy nước tưới và hệ thống kênh các cấp, tổng công suất tưới cho 3.670 ha cây hàng năm

- Hồ Nước Trong: nằm trên suối Nước Trong, được xây dựng năm 1987, nâng cấp năm 1991, với nhiệm vụ cấp nước cho nhà máy đường Nước Trong

- Đập dâng Suối Đục được xây dựng năm 1987, nâng cấp năm 2000, với nhiệm

vụ dâng nước tưới cho 249 ha cây hàng năm

Trang 16

- Hệ thống kênh chính:  Hệ thống thủy lợi Dầu Tiếng (Kênh chính Tây, có chiều dài 38,975 km bằng kênh đất, diện tích tưới 22.000 ha sản xuất nông nghiệp và cấp nước phục vụ công nghiệp và sinh hoạt Kênh chính Đông, có chiều dài 34,700

km (địa bàn tỉnh Tây Ninh), đã được kiên cố hóa; diện tích tưới 25.874ha sản xuất nông nghiệp và cấp nước phục vụ công nghiệp và sinh hoạt (trong đó cấp nước cho thành phố Hồ Chí Minh phục vụ sinh hoạt và công nghiệp 10,5 m3/s, phục vụ sản xuất nông nghiệp 900 ha) Kênh chính Tân Hưng, có chiều dài 29,890 km, đã được kiên cố 4,508 km, diện tích tưới 10.701 ha sản xuất nông nghiệp, diện tích tưới thực

tế 6.858 ha, phục vụ cấp nước công nghiệp Kênh chính Tân Biên, có chiều dài 23,018 km, diện tích tưới 6.725 ha)  Hệ thống tưới tự chảy vùng nguyên liệu mía đường Tân Châu, kênh chính Tân Châu, có chiều dài 15,792 km, đã được kiên cố 7,792 km, diện tích tưới thiết kế là 3.670 ha, diện tích tưới thực tế 1.863 ha và cấp nước phục vụ sản xuất công nghiệp  Đập dâng suối Đục, kênh chính có chiều dài 1,750 km, diện tích tưới 249 ha  Hồ Nước Trong có nhiệm vụ cấp nước cho nhà máy đường Nước Trong công suất 1.000 tấn mía cây/ngày, nhà máy chế biến khoai

mì và cụm công nghiệp Tân Hội

- Hệ thống trạm bơm: Hiện nay có 08 trạm bơm: xã Phan huyện Dương Minh Châu; Phước Chỉ huyện Trảng Bàng; Long Hưng, Long Khánh, Long Thuận, Bến Đình, Long Phước A huyện Bến Cầu, Hòa Thạnh huyện Châu Thành với tổng diện tích thiết kế tưới 5.253 ha, diện tích tạo nguồn chống cháy cho: 740 ha rừng Nhum huyện Bến Cầu và 865 ha rừng Tiểu khu 73 huyện Châu Thành

- Hệ thống kênh tưới tiêu: Kênh tưới: gồm 1.568 tuyến kênh với tổng chiều dài

là 1.447,219 km, đã bê tông hóa 911,789 km, đạt 63,00%, trong đó: Kênh có diện tích

≥ 50 ha là 631 kênh với tổng chiều dài là 1.052,167 km, đã bê tông 685,621 km đạt 65,16% Kênh có diện tích < 50 ha là 937 kênh với tổng chiều dài là 395,052 km, đã

bê tông 226,168 km đạt 57,25% Kênh tiêu: 271 tuyến kênh với tổng chiều dài là

586,823 km, trong đó: Có 222 tuyến kênh diện tích thiết kế tiêu từ hơn 50 ha trở lên với tổng chiều dài 549,761 km Có 49 tuyến kênh có diện tích thiết kế tiêu nhỏ hơn 50ha với tổng chiều dài 37,062 km

- Mô hình quản lý : Công ty TNHH một thành viên Khai thác thủy lợi Tây Ninh trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, quản lý kênh tưới, tiêu có diện tích lớn hơn hoặc bằng 50 ha Công ty TNHH một thành viên mía đường Tây Ninh trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, quản lý hồ chứa Nước Trong 1 và 2 Tổ chức hợp tác dùng nước (gồm

26 Hợp tác xã, 286 Tổ thủy nông) trực thuộc Ủy ban nhân dân xã và Ủy ban nhân dân huyện, quản lý kênh tưới, tiêu có diện tích nhỏ hơn 50 ha

- Kết quả phục vụ tưới tiêu, cấp nước công nghiệp, sinh hoạt: Hệ thống công

trình đã phục vụ tưới, tiêu an toàn 03 vụ/năm, chất lượng và diện tích tưới đều được nâng lên với diện tích hưởng lợi bằng các hình thức tưới trên 132.000 ha, tiêu trên 110.000 ha hàng năm Góp phần tích cực thúc đẩy phát triển sản xuất công nghiệp và cải thiện đời sống sinh hoạt nhân dân, trong đó: cấp nước công nghiệp: trên 604 m3/giờ (các nhà máy: đường Thành Công, TAPICP, Tân Châu, Thành Vũ, Hồng Phát và Khu liên hợp Công nghiệp – Đô thị - Dịch vụ - Phước Đông – Bời Lời); cấp nước công nghiệp và sinh hoạt 42 triệu m3/năm (các Nhà máy Xi măng Fico Tây Ninh, khoai mì Tây Ninh, đường Biên Hòa, nhà máy nước Tây Ninh)

Trang 17

+ Hệ thống giao thông: Trên địa bàn tỉnh Tây Ninh trong mấy năm gần đây

phát triển khá nhanh đáp ứng tốt nhu cầu phát triển các ngành kinh tế; đối với nông nghiệp có thể xem là một thuận lợi không nhỏ bởi các loại vật tư nông nghiệp hàng hóa nông sản có thể được vận chuyển một cách nhanh chóng, đáp ứng tốt yêu cầu về thời vụ và chất lượng sản phẩm; tuy nhiên, giao thông nội đồng trên địa bàn tỉnh vẫn còn khá nhiều bất cập; các ngành, các cấp cần phải xem việc hoàn chỉnh hệ thống giao thông nội đồng vừa là mục tiêu trong xây dựng nông thôn mới, vừa là giải pháp quan trọng để nông nghiệp phát triển một cách bền vững

+ Hệ thống điện: Điện ở Tây Ninh được cung cấp bởi các nguồn: nhà máy điện

Thác Mơ, nhà máy điện Cần Đơn, trạm biến áp Trảng Bàng và trong mùa ép mía, một phần được cung cấp bởi công ty cổ phần mía đường Thành Thành Công Lưới phân phối điện đã được kéo đến 100% xã phường, thị trấn trên địa bàn Về cơ bản ngành điện đã đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ điện; riêng khu vực nông thôn, có khoảng 98,5% số hộ được dùng điện Điện phục vụ cho sản xuất nông nghiệp mặc dù vẫn còn chiếm tỷ trọng nhỏ, song, trong mấy năm gần đây đang có xu thế tăng nhanh; các khâu trong sản xuất nông nghiệp đang có xu hướng sử dụng nhiều điện gồm: bơm nước tưới, chế biến nông sản lúa, mía, khoai mì; nuôi thủy sản… Kết quả khảo sát cho thấy hiện nông dân ở nhiều địa phương đang rất cần đầu tư hệ thống đường dây và trạm để cung cấp điện ra đồng ruộng, đến tận nơi sản xuất nông nghiệp; trong khi việc làm trên

là quá sức đối với từng hộ dân; nên cần có sự đầu tư thích đáng đối với các công trình điện phục vụ sản xuất nông nghiệp và nuôi thủy sản

9 Tác động của công nghiệp chế biến đối với nông nghiệp:

+ Tây Ninh là một trong những tỉnh, thành phố có quy mô công nghiệp chế biến vào loại khá trong cả nước; nhiều ngành hàng có công suất chế biến đáp ứng tốt yêu cầu của sản xuất nông nghiệp: Mía đường, công suất các nhà máy chế biến lớn gấp gần 1,8 lần sản lượng sản xuất năm 2015; khoai mì, tổng công suất chế biến năm 2015 lớn gấp gần 2 lần sản lượng sản xuất; công suất chế biến mủ cao su cũng luôn lớn hơn hoặc tương đương với sản lượng sản xuất hàng năm; ngoài ra công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi, giết mổ gia súc gia cầm… cũng luôn đáp ứng nhu cầu của sản xuất Chính tiềm năng lớn của các lĩnh vực công nghiệp chế biến là cơ sở để khẳng định các loại cây trồng, vật nuôi kể trên là những sản phẩm chủ lực của tỉnh với sức cạnh tranh lớn hơn so với các địa phương khác

+ Bằng nhiều hình thức, các doanh nghiệp chế biến nông sản đã bước đầu có sự liên kết với nông dân như ứng trước giống, vật tư, bao tiêu sản phẩm Tuy nhiên trên thực tế, mối quan hệ này vẫn còn nhiều điều bất cập; quan hệ hợp đồng đầu tư hoặc hợp đồng thu mua sản phẩm giữa “nhà nông” với cơ sở chế biến trên thực tế rất ít được thực hiện, nên khi giá bán sản phẩm trên thị trường biến động theo hướng giảm thì phần thiệt hại luôn thuộc về nhà nông sản xuất nguyên liệu Đây được xem là tồn tại cần khắc phục nhất là khi nhà nhập khẩu hoặc nhà phân phối yêu cầu truy nguyên nguồn gốc xuất xứ hàng hóa

10 Tác động dịch vụ, thương mại đối với nông nghiệp:

Việc hình thành và đi vào hoạt động chợ đầu mối rau ở Dương Minh Châu đã thật sự là cơ hội để các vùng chuyên canh rau trên địa bàn tỉnh từng bước được hình thành; tuy nhiên, cơ chế hoạt động của chợ đầu mối chưa tạo cơ hội để có thể phân biệt được rau an toàn và rau sạch, người tiêu dùng chưa thể truy nguyên nguồn gốc

Trang 18

xuất xứ hàng hóa; trong tương lai, cần phải thay đổi cơ chế hoạt động của chợ đầu mối theo hướng kêu gọi và tạo môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp tham gia cả vào sản xuất và kinh doanh rau thực phẩm

Ở góc độ “đầu vào” các hoạt động thương mại, dịch vụ, tín dụng…đã cung ứng khá đầy đủ cho nông nghiệp cả về số lượng, chủng loại và thời điểm các loại vật tư, tiền vốn; ở góc độ “đầu ra”, hệ thống thương mại nhất là chợ, siêu thị, hộ kinh doanh nông sản ở Tây Ninh cũng đã góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa, kích thích sản xuất và góp phần phân công lại lao động Tuy nhiên, việc cung ứng vật tư đầu vào và đặc biệt là tiêu thụ sản phẩm đầu ra đối với nông dân vẫn còn nhiều bất cập

11 Tài nguyên nhân văn: Tây Ninh là một địa phương có nhiều di tích lịch sử,

văn hóa, nhiều ngành nghề truyền thống, những điểm du lịch khá hấp dẫn, văn hóa ẩm thực đa dạng, phong phú… thực sự là điều kiện thuận lợi để nông nghiệp phát triển theo hướng tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn, phục vụ du lịch và đô thị

12 Tình hình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về XD NTM

Khái quát một số nội dung về tình hình xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh sau 5 năm (2011-2015) thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới như sau:

+ Công tác chỉ đạo điều hành, quản lý: Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới được thành lập ở cả 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) đối với cấp tỉnh có văn phòng điều phối chương trình đặt tại sở Nông nghiệp và PTNT do phó Giám đốc Sở làm Chánh văn phòng với 11 thành viên gồm văn phòng ủy ban tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT, sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài Chính, sở Xây dựng; đối với cấp huyện, có tổ công tác hoặc

tổ giúp việc cho ban chỉ đạo do trưởng phòng Nông nghiệp PTNT và phòng Kinh tế

TP Tây Ninh làm tổ trưởng; ở cấp xã có công chức kiêm nhiệm giúp việc cho ban chỉ đạo xã và ban quản lý cấp xã do chủ tịch UBND xã làm trưởng ban để triển khai thực hiện chương trình

+ Để phục vụ công tác chỉ đạo, UBND tỉnh và BCĐ đã ban hành đầy đủ các văn bản có liên quan làm cơ sở cho tổ chức thực hiện; ngoài ra, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các Sở, ban ngành, đoàn thể của tỉnh và địa phương trong tỉnh tiếp tục tổ chức thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW và các văn bản của tỉnh

về chương trình mục tiêu xây dựng NTM trên địa bàn vùng nông thôn tỉnh

+ Hoạt động của BCĐ cấp tỉnh: Điều chỉnh lại 17 xã điểm (thay vì 25 xã như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần IX), trong đó có 9 xã phấn đấu đạt chuẩn năm

2014 và 8 xã phấn đấu đạt chuẩn năm 2015 Ban chỉ đạo họp theo quy chế định kỳ hàng quý và họp Thường trực đột xuất để nắm thông tin, xử lý những khó khăn vướng mắc; phân công các thành viên phụ trách hỗ trợ, đôn đốc tiến độ thực hiện Chương trình tại các xã điểm Chỉ đạo Văn phòng Điều phối thường xuyên phối hợp với các sở, ngành thực hiện công tác kiểm tra, giám sát tiến độ tại các huyện, thành phố và các xã Hàng năm, làm việc với UBND các huyện để trực tiếp chỉ đạo, tập trung giải quyết những vướng mắc tại các xã phấn đấu đạt chuẩn Chỉ đạo các Sở xây dựng kế hoạch, hướng dẫn địa phương thực hiện, đánh giá tiêu chí, chỉ tiêu do sở, ngành phụ trách; tham mưu UBND tỉnh ban hành các kế hoạch, văn bản hướng dẫn, chỉ đạo, trong đó

đã phân công nhiệm vụ cho các sở, ngành, UBND các huyện, thành phố và UBND các

xã thực hiện Chương trình giai đoạn 2010 – 2020; xây dựng kế hoạch tuyên truyền giai

Trang 19

đoạn 2010 – 2020 trên địa bàn tỉnh, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xây dựng NTM giai đoạn 2011 – 2015; các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến nội dung thực hiện tiêu chí NMT.

+ Hoạt động của Ban chỉ đạo các huyện, thành phố: Định kỳ tổ chức sơ kết thực hiện Chương trình để đánh giá, triển khai các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ phận giúp việc cấp huyện và Ban chỉ đạo, Ban quản lý chương trình cấp xã; phân công thành viên Ban chỉ đạo phụ trách các xã; đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, vận động xây dựng NTM Nổi bật là Ban chỉ đạo huyện Tân Châu chủ động nghiên cứu xây dựng tài liệu tuyên truyền phù hợp với điều kiện của địa phương triển khai đến các xã thực hiện; ban chỉ đạo huyện Gò Dầu thành lập tổ công tác chuyên trách thực hiện công tác xây dựng NTM gồm 1 thành viên thuộc cơ quan thường trực, mỗi xã 01 cán bộ; Ban chỉ đạo thành phố Tây Ninh và huyện Tân Châu tổ chức Hội nghị tọa đàm “Chung tay xây dựng xã nông thôn mới”

+ Hoạt động của Ban chỉ đạo các xã: Thường xuyên củng cố thành viên Ban chỉ đạo, Ban quản lý xã, Ban phát triển ấp; tổ chức các cuộc họp giao ban định kỳ; tuyên truyền, vận động nhân dân trên địa bàn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM; thực hiện các nội dung theo kế hoạch xây dựng NTM theo chỉ đạo và hướng dẫn của cấp trên

+ Một số kế quả đã thực hiện:

- Phát động phong trào toàn tỉnh chung sức xây dựng NTM, gắn với cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; biên soạn bộ tài liệu tuyên truyền chương trình MTQG xây dựng NTM gồm 36 ngàn quyển sổ tay hỏi – đáp, 90 ngàn tờ rơi để các tổ chức, ban ngành, đoàn thể các điah phương làm tài liệu học tập, tuyên truyền nghiệp vụ cho cán bộ phụ trách công tác xây dựng nông thôn mới; phối hợp với đài phát thanh và truyền hình phát tin, phóng sự về xây dựng NTM

- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xây dựng NTM các cấp: phối hợp với trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp và PTNT II tổ chức 12 lớp cho cán bộ cấp tỉnh và huyện, 64 lớp cho cấp xã; phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, sở Tài chính mở lớp bồi dưỡng chuyên đề cho cán bộ trực tiếp làm công tác tham mưu, tổng hợp, báo cáo chương trình

ở cấp huyện, xã Ban Tuyên giáo tỉnh ủy và Ban Dân vận tỉnh ủy mở lớp tập huấn kiến thức xây dựng NTM cho cán bộ làm công tác tuyên truyền cấp tỉnh và lớp cho cán bộ làm công tác tuyên truyền cấp huyện, xã UBMTTQ tỉnh và các đoàn thể tổ chức 42 lớp tập huấn, hướng dẫn nội dung nhiệm vụ xây dựng NTM cho cán bộ đoàn thể ở cơ sở

- Về công tác Quy hoạch xây dựng NTM: đến 31/12/2013, tất cả các xã đã được phê duyệt đồ án quy hoạch và đề án xây dựng NTM Các xã đã tổ chức công bố quy hoạch, đề án cho nhân dân trên địa bàn; đồng thời xây dựng quy định, quy chế quản lý quy hoạch Hiện công tác cắm mốc chỉ giới đang được khẩn trương triển khai

+ Về phát triển sản xuất: hầu hết các xã đang tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng gia tăng giá trị và thu nhập; tính đến năm 2015, thu nhập bình quân đầu người đạt 25 triệu đồng, tăng 10,9 triệu đồng so với năm 2010

+ Về xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu: các xã đang khẩn trương xây dựng mới, nâng cấp và sửa chữa hệ thống giao thông, thủy lợi, điện, trường học, chợ nông thôn… Trong đó, xây dựng, nâng cấp trên 613 km đường GTNT; kiên cố và nạo vét 41,25 km kênh mương tưới tiêu phục vụ SX nông nghiệp; xây dựng 103,2 km điện trung thế,

218 km hạ thế, nhân dân đóng góp 2,8 tỷ đồng nâng cấp hệ thống điện ở khu dân cư

Trang 20

Bảng 3: Kết quả thực hiện chương trình MTQG về xây dựng NTM tỉnh Tây Ninh

4 Kết quả đạt chuẩn theo bộ tiêu chí

-5 Kết quả đạt chuẩn từng tiêu chí

Nguồn Báo cáo số 237/BC-UBND ngày 21/8/2015 của UBND tỉnh Tây Ninh

Trang 21

B ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NGÀNH NÔNG NGHIỆP

I VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NGÀNH NÔNG NGHIỆP TÂY NINH

I.1 Nông, lâm, ngư nghiệp trong tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Tây Ninh

+ Nông lâm ngư nghiệp là ngành sử dụng nhiều tài nguyên hơn các ngành khác trên địa bàn tỉnh; trong đó, đáng kể là tài nguyên đất sử dụng trên 80% tổng quỹ đất; tài nguyên nước; trên 90% tổng lượng nước các ngành đang sử dụng và sử dụng tới 42% tổng lao động xã hội

+ GDP khu vực nông, lâm ngư nghiệp trong mấy năm gần đây mặc dù có xu thế giảm nhưng vẫn chiếm đến 25% tổng sản phẩm trên địa bàn

+ Sản xuất nông, lâm ngư nghiệp ở Tây Ninh đã tạo ra nguồn nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh; đặc biệt là với các ngành hàng mía đường, khoai mì, cao su, đậu phộng, chế biến thức ăn gia súc, chế biến thủy sản; đến lượt mình, chính sự phát triển của công nghiệp chế biến đã tạo cơ hội để hình thành các vùng chuyên canh, cây trồng, vật nuôi chủ lực trên địa bàn tỉnh với lợi thế cạnh tranh cao

+ Sản xuất nông nghiệp cộng với công nghiệp chế biến đã tạo ra khối lượng hàng hóa nông sản xuất khẩu đáng kể, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn; năm 2015, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm sản tỉnh Tây Ninh chiếm gần 20% kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh

+ Với việc trồng các loại cây đặc sản, cây lâu năm, cây lâm nghiệp, nông lâm ngư nghiệp tỉnh Tây Ninh không chỉ góp phần quản lý, giữ gìn rừng, góp phần bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái, tạo cảnh quan môi trường, tạo nguyên liệu cho ngành nghề nông thôn… góp phần thúc đẩy phát triển ngành du lịch Tây Ninh vốn có tiềm năng khá lớn

+ Sản xuất nông, lâm ngư nghiệp có liên quan đến thu nhập và đời sống của trên 81% dân cư khu vực nông thôn; thông qua đó, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, xóa đói giảm nghèo bền vững

I.2 Nông, lâm, ngư nghiệp tỉnh Tây Ninh trong vùng ĐNB và cả nước

Theo số liệu thống kê, đến năm 2014, một số chỉ tiêu của ngành nông nghiệp tỉnh Tây Ninh so với vùng ĐNB và cả nước như sau:

Bảng 4: So sánh một số chỉ tiêu SXNN tỉnh Tây Ninh với vùng ĐNB và cả nước

Chỉ tiêu ĐVT Cả nước Đông Vùng

Nam Bộ Tây Ninh

So sánh Với ĐNB cả nước Với

Lúa Diện tích GTNăng suất Nghìn haTấn/ha 7.813,805,76 273,204,91 142,205,19 11 1741

Trang 22

Chỉ tiêu ĐVT Cả nước Đông Vùng

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2014 (Tổng cục thống kê Việt Nam)

Ghi chú: (*) Cây rau, mãng cầu, điều do không có số liệu năm 2014 nên sử dụng số liệu năm 2013

II HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

Theo số liệu của Sở Tài nguyên và Môi trường, diễn biến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh qua các năm như sau:

Bảng 5: Diễn biến tình hình sử dụng đất

STT LOẠI ĐẤT Năn 2005 (ha) Năm 2010 (ha) Năm 2015 (ha) TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN 403.545,14 403.966,83 403.261,00

Trang 23

- Về diễn biến diện tích đất:

+ Nhìn chung, đất nông nghiệp ở Tây Ninh có quy mô khá lớn khoảng 342 -

349 ngàn ha; và có xu thế giảm nhẹ, từ năm 2005 - 2015 giảm 3.521 ha Nguyên nhân chủ yếu do quy hoạch chuyển sang đất phi nông nghiệp

+ Đất sản xuất nông nghiệp: 271.215 ha giảm: 7.831 ha; trong đó, đất trồng cây hàng năm giảm nhiều nhất: (-65.290 ha) để đất trồng cây lâu năm tăng 57.458 ha Ngoài nguyên nhân do chuyển từ đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp như đã trình bày ở trên, còn một nguyên nhân quan trọng là khi đang được giá, diện tích cao su tăng rất nhanh; thậm chí, cây cao su được trồng kể cả những nơi có mức thích nghi thấp; nay, cao su xuống giá, việc giảm diện tích cao su bao nhiêu? ở đâu? đang là bài toán khó đối với một số nông dân Tây Ninh

+ Đất lâm nghiệp 71.962 ha, sau 10 năm (2005 - 2015) tăng 2.233 ha; đây là kết quả đáng trân trọng của ngành lâm nghiệp tỉnh; đặc biệt đối với rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Dầu Tiếng, vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát; tuy nhiên, theo số liệu của Chi Cục Kiểm Lâm diện tích đất lâm nghiệp đến năm 2015 là 71.400 ha, chiếm 17,7% diện tích tự nhiên; trong đó, đất có rừng: 64.667 ha, chiếm 89,9% diện tích đất lâm nghiệp; chia ra: rừng tự nhiên 46.034 ha; rừng trồng 17.955 ha Chia theo 3 loại rừng: Rừng đặc dụng: 31.850 ha chiếm 44,61% diện tích đất lâm nghiệp Rừng phòng hộ: 29.555 ha, chiếm 41,39% diện tích đất lâm nghiệp Rừng sản xuất: 9.995 ha, chiếm 14% diện tích đất lâm nghiệp

+ Đất nuôi thủy sản 2.058 ha, đang có xu thế tăng nhanh, sau 10 năm (2005 - 2015); tăng 910 ha; Tuy nhiên, theo số liệu của Chi cục thủy sản, tổng diện tích nuôi trồng năm 2015 là 937ha, tăng 59,19 ha so với năm 2010 và tăng 153 ha so với năm

2005 Đây là kết quả của phong trào chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi sang mô hình có giá trị kinh tế cao (trong đó có nuôi thủy sản)

Xu thế diễn biến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh qua 10 năm (2005 - 2015) là đúng hướng, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu phát triển kinh tế của tỉnh theo hướng nâng cao tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ; trong nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng nâng cao gia trị gia tăng và phát triển bền vững

Nói chung, tài nguyên đất ở tỉnh Tây Ninh đã được khai thác gần đến mức tối đa đưa vào sử dụng (năm 2015 chỉ còn 750,15 ha đất bằng chưa sử dụng) Song, thực trạng sử dụng đất còn lãng phí: đối với đất nông nghiệp tiềm năng tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vẫn còn khá nếu hội đủ các điều kiện như: hoàn thiện

cơ sở hạ tầng, xây dựng mô hình khuyến nông khuyến ngư và đặc biệt là có cơ chế chính sách phù hợp

III THỰC TRẠNG VỀ CƠ CẤU VỐN ĐẦU TƯ TRONG NN

Theo số liệu thống kê, thực trạng về tỷ trọng vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước cho nông nghiệp và nghiên cứu khoa học công nghệ như sau:

Trang 24

Bảng 6: Tỷ trọng về vốn đầu tư cho nông nghiệp và khoa học công nghệ

Tổng vốn đầu tư (triệu đồng) 3.493.528 10.513.851 20.037.208

Nguồn: Cục Thống kê Tây Ninh

Khu vực nông nghiệp, hàng năm đóng góp từ 28% - 41% GDP cho toàn tỉnh; trong khi đó, khu vực này chỉ nhận được 6,3 - 13,15% tổng vốn đầu tư Đây là một điều bất hợp lý cần khắc phục theo hướng tăng vốn đầu tư từ ngân sách cho nông nghiệp; trước hết là vận dụng tốt các chính sách của Nhà nước, trong đó có nhiều hạng mục được ngân sách hỗ trợ Đồng thời, ngành nông nghiệp cần xem xét kỹ hơn để có chương trình, dự án, đề án và triển khai thực hiện các chính sách về nông nghiệp trình UBND tỉnh bố trí vào ngân sách hỗ trợ, có như vậy nông nghiệp tỉnh mới tiếp tục phát triển, trong đó có nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đang cần rất nhiều vốn từ nguồn ngân sách

Mức độ đầu tư cho nông nghiệp đang có xu thế tăng: nếu năm 2010 tổng đầu tư cho nông, lâm thủy sản theo giá so sánh 2010 là 688 tỷ đồng thì đến năm 2014 tăng lên

959 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân 8,63%/năm Tổng số vốn đầu tư đã thấp, mức độ đầu

tư tăng không nhanh Đây là một thách thức không nhỏ cho nông nghiệp Tây Ninh

Về cơ cấu nguồn vốn đang có sự thay đổi khá rõ nét, nếu năm 2005 nguồn vốn đầu tư từ nhà nước chiếm tới 31,37%, nguồn vốn khu vực ngoài nhà nước chiếm 49,07% và nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 19,55% thì đến năm 2014 tỷ trọng các nguồn vốn tương ứng là 17,51% - 58,30% - 24,18% Trong khu vực nguồn vốn nhà nước cũng có sự thay đổi theo hướng tăng dần tỷ trọng nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp và giảm dần nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước Ở khu vực ngoài nhà nước, nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp đang có xu thế tăng nhanh để giảm bớt áp lực đầu tư bằng nguồn vốn của dân

Về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: tính đến ngày 31/12/2014, tổng số dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh

là 8 dự án, chiếm 3,58% số dự án được cấp phép trên địa bàn tỉnh, tổng vốn đăng ký 28,52 triệu USD, chiếm 0,99% tổng vốn đăng ký; trong đó số vốn pháp định 15,06 triệu USD, chiếm 1,62% tổng vốn pháp định

Có nhiều nguyên nhân làm cho vốn đầu tư cho nông nghiệp (kể cả ngân sách Nhà nước, các doanh nghiệp trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài) thấp; trong đó đáng kể là: mức độ rủi ro trong nông nghiệp cao, môi trường pháp lý không đảm bảo, nhu cầu vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn lâu

Trang 25

Một điểm đáng lưu ý nữa trong cơ cấu vốn đầu tư là: tỷ trọng vốn đầu tư cho các hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ chỉ chiếm từ 0,11 - 0,25% tổng vốn đầu tư toàn tỉnh và chiếm 0,04 - 0,09% GDP toàn tỉnh Không có số liệu về tỷ lệ vốn đầu tư cho các hoạt động khoa học công nghệ trong nông nghiệp; tuy nhiên, với lượng vốn đầu tư cho khoa học công nghệ ít ỏi như vậy, với tỷ trọng vốn đầu tư cho nông nghiệp thấp như vậy, chắc chắn lượng vốn đầu tư cho khoa học, công nghệ trong nông nghiệp là một con số hầu như không đáng kể Có thể xem đây là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho nông nghiệp phát triển chậm, bấp bênh, hiệu quả kinh tế thấp, sản phẩm không đáp ứng yêu cầu thị trường; hiện tượng “nuôi trồng - chặt bỏ” vẫn xảy ra thường xuyên, gây lãng phí vốn đầu tư và công sức của nông dân.

IV HIỆN TRẠNG VỀ CƠ CẤU CÁC LOẠI HÌNH TỔ CHỨC SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG NÔNG NGHIỆP

Hiện nay, các loại hình tổ chức sản xuất trong ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh gồm có:

IV.1 Kinh tế nông hộ:

Trên địa bàn tỉnh hiện có khoảng 147 ngàn hộ nông dân đang tham gia sản xuất nông nghiệp, sử dụng khoảng 184 ngàn ha đất nông nghiệp (bình quân 1,25 ha/hộ) Số lượng hộ sản xuất nông nghiệp ở Tây Ninh đang có xu thế giảm bởi các nguyên nhân như: đất đai và lao động nông nghiệp giảm (do công nghiệp và đô thị phát triển nhanh); các loại hình tổ chức sản xuất khác như doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã

và đặc biệt là kinh tế trang trại đang tăng nhanh Chất lượng lao động trong nông hộ mặc dù đã được nâng lên đáng kể, song vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển sản xuất; đặc biệt là sản xuất các loại thực phẩm có yêu cầu cao về

vệ sinh an toàn thực phẩm Các loại cây trồng chính mà nông hộ đang sản xuất gồm: lúa, mía, khoai mì, bắp, rau đậu các loại, cây hàng năm khác, cây ăn quả, điều, cao su tiểu điền và cây lâu năm khác Các loại vật nuôi chính nông hộ đang sản xuất gồm trâu, bò, heo, gà vịt, cá các loại… Kinh tế nông hộ trên địa bàn tỉnh Tây Ninh hàng năm đóng góp khoảng 55% GTSX ngành nông nghiệp

IV.2 Kinh tế hợp tác:

Theo số liệu thống kê, tính đến ngày 31/12/2015, toàn tỉnh có 53 hợp tác xã nông nghiệp; trong đó, có 23 HTX thành lập mới, với 3.627 thành viên, gồm 26 HTX dịch vụ thủy lợi, 11 HTX sản xuất nông nghiệp, 3 HTX chăn nuôi, 3 HTX thủy sản và

10 HTX dịch vụ tổng hợp Doanh thu bình quân hàng năm của mỗi HTX là 1.299 triệu đồng (riêng năm 2015 là 1.923 triệu đồng); lãi bình quân hàng năm 174 triệu đồng (riêng năm 2015 lãi 190 triệu đồng), thu nhập bình quân lao động thường xuyên 35 triệu đồng/năm

Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có 63 tổ hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp với

797 thành viên; bao gồm 27 THT trồng trọt, 13 THT chăn nuôi, 15 THT thủy lợi và 8 THT thủy sản Các THT đã đăng ký và hoạt động theo Nghị định 151/2007/NĐ-CP, có

tổ trưởng điều hành các hoạt động; doanh thu bình quân hàng năm của 1 THT là 273 triệu đồng (năm 2015 đạt 300 triệu đồng), lãi bình quân 37 triệu đồng/THT (năm 2015 lãi bình quân 47 triệu đồng

Hoạt động của các tổ chức kinh tế hợp tác chủ yếu là cung ứng các dịch vụ sản xuất nông nghiệp (cung ứng giống cây trồng, vật tư nông nghiệp, tiêu thụ sản phẩm…); theo ước tính sơ bộ, hàng năm, kinh tế hợp tác đóng góp khoảng 8% GTSX ngành nông nghiệp

Trang 26

IV.3 Kinh tế trang trại:

Đến cuối năm 2015, trên địa bàn tỉnh có 1.092 trang trại đang hoạt động; trong

đó có 965 trang trại trồng trọt, 125 trang trại chăn nuôi và 2 trang trại kinh doanh tổng hợp Sử dụng khoảng 10 ngàn ha đất nông nghiệp; cây trồng chủ yếu các trang trại đang sản xuất là mía, khoai mì và rau các loại Quy trình sản xuất ở các trang trại đang được cải thiện theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; các chủ trang trại đang có xu hướng liên kết với các doanh nghiệp để gắn với tiêu thụ sản phẩm Hàng năm kinh tế trang trại đóng góp khoảng 12% GTSX nông nghiệp Đây là một loại hình tổ chức sản xuất phù hợp với xu thế liên kết sản xuất; nếu các chủ trang trại thực hiện hợp tác, làm cơ sở để liên kết với các doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm, chắc chắn sẽ đạt hiệu quả cao

IV.4 Doanh nghiệp

Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành nông nghiệp đóng trên địa bàn: chủ yếu là các nông trường cao su, mía đường, các doanh nghiệp chăn nuôi, chế biến thức

ăn gia súc, các doanh nghiệp chế biến có vùng nguyên liệu như nhà máy đường, nhà máy tinh bột khoai mì, nhà máy chế biến cao su … Hàng năm, các doanh nghiệp này đóng góp khoảng 25% GTSX ngành nông nghiệp Nhìn chung, các doanh nghiệp hoạt động khá hiệu quả; song, yêu cầu về vai trò của doanh nghiệp trong việc liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm vẫn chưa được như mong muốn

Xu thế sản xuất mới hiện nay là khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn theo Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ Tướng Chính Phủ; theo đó, có 2 loại hình

tổ chức sản xuất cần được tăng nhanh về số lượng cũng như chất lượng; đó là các hợp tác xã nông nghiệp; ngoài vai trò là hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, hợp tác xã còn có vai trò rất quan trọng trong liên kết sản xuất với các doanh nghiệp; hợp tác xã là tổ chức đại diện của nông dân, có tư cách pháp nhân để tham gia các hình thức liên doanh, liên kết với doanh nghiệp Cần tăng nhanh số lượng các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động nông nghiệp; trong đó, cần lưu ý hài hòa cả hai loại doanh nghiệp cung ứng vật tư nông nghiệp và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ sản phẩm

V HIỆN TRẠNG VÀ VAI TRÒ CỦA DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP

V.1 Hiện trạng Dịch vụ nông nghiệp

Nhìn chung, dịch vụ nông nghiệp ở Tây Ninh phát triển chưa tương xứng với các ngành sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi) mặc dù giai đoạn 2006 - 2015 tốc độ tăng trưởng bình quân lên tới 18,35%/năm; nhưng giá trị sản xuất theo giá hiện hành năm 2014 mới chỉ đạt 2.187 tỷ đồng và chiếm 7,96% so với tổng GTSX ngành nông nghiệp

+ Hiện tại, dịch vụ nông nghiệp ở Tây Ninh mới chỉ dừng lại ở các dịch vụ buôn bán vật tư nông nghiệp; các loại hình dịch vụ khác như làm đất, tưới nước, thu hoạch, vận chuyển vật tư sản phẩm…Các loại hình dịch vụ mới, hiệu quả như: bảo hiểm cây trồng, vật nuôi, dịch vụ tài chính, tư vấn kỹ thuật, thị trường đầu ra… chưa được phổ biến rộng rãi

+ Lực lượng lao động tham gia các hoạt động dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh còn rất mỏng và chưa hội đủ các điều kiện như trình độ chuyên môn sâu rộng, nguồn thông tin đa dạng, đa chiều, được cập nhật thường xuyên, vốn đầu tư, phương tiện hoạt động và đặc biệt là cơ chế hoạt động…

Trang 27

V.2 Vai trò của quản lý nhà nước đối với dịch vụ nông nghiệp

- Trong những năm qua, vai trò quản lý nhà nước đã có tác động khá lớn đối với phát triển nông nghiệp nói chung và lĩnh vực dịch vụ nói riêng; trong đó, đáng kể

là các hoạt động cung ứng dịch vụ công, xây dựng các chính sách tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia hoạt động dịch vụ nông nghiệp; đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ thông qua các hoạt động khuyến nông…

- Tuy nhiên, vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh còn bộc lộ nhiều điều bất cập, cụ thể như sau:

+ Hoạt động cung ứng vật tư đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra chưa quản lý chặt chẽ, dẫn đến chất lượng vật tư có nơi không đảm bảo, ảnh hưởng tới chi phí sản xuất, năng suất, chất lượng sản phẩm và đặc biệt là vệ sinh an toàn thực phẩm; không tạo động lực để liên kết sản xuất, chuỗi giá trị sản phẩm ít có cơ hội được nâng cấp; tình trạng “được mùa – mất giá” vẫn diễn ra thường xuyên

+ Chưa có chính sách thỏa đáng để khuyến khích các hoạt động tư vấn nông nghiệp (tư vấn về khoa học kỹ thật, tư vấn về thị trường…)

+ Các hoạt động về xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại và xây dựng mạng lưới thông tin mặc dù đã và đang được thực hiện nhưng hiệu quả vẫn còn nhiều hạn chế

+ Các chính sách khác về đất đai, tín dụng, khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác, khuyến khích các doanh nghiệp còn nhiều bất cập

+ Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho phát triển nông nghiệp (trong đó có dịch vụ nông nghiệp) luôn ở mức thấp so với yêu cầu phát triển

VI HIỆN TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VI.1 Vai trò của chính sách trong nông nghiệp

Chính sách là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của Nhà nước gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó, có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của các đối tượng có liên quan

Chính sách nông nghiệp là tổng thể các biện pháp kinh tế hoặc phi kinh tế thể

hiện sự tác động, can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực nông nghiệp theo những mục tiêu xác định, trong một thời gian nhất định; thể hiện hành động của Nhà nước nhằm thay đổi môi trường sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển

Chính sách có vai trò mang tính quyết định đối với sự thành bại của nông nghiệp, một chính sách hợp lý được đưa vào áp dụng hiệu quả sẽ tạo ra những thành công lớn, thu được nhiều thành quả kinh tế, nông nghiệp được phát triển, nông thôn mạnh Ngược lại một chính sách sai lầm khi đưa vào thực tế sẽ xuất hiện nhiều vấn đề nhức nhối cản trở sự phát triển nông nghiệp nông thôn, làm suy giảm lòng tin của người dân vào bộ máy chính quyền

Phạm vi tác động của chính sách nông nghiệp rộng, không những tác động đến kinh tế - xã hội mà còn chi phối đến các yếu tố môi trường - tự nhiên; không chỉ tác động đến hộ nông dân, các doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp mà còn tác động đến các chủ thể khác như nhà khoa học, nhà quản lý, người tiêu dùng; trực tiếp tác động đến các lĩnh vực nông nghiệp qua đó gián tiếp tác động đến cả các ngành kinh tế khác như công nghiệp, thương mại – dịch vụ

Trang 28

Trong thời gian qua, chính quyền tỉnh Tây Ninh đã tổ chức triển khai nhiều chính sách trong phát triển nông nghiệp và đạt được những thành quả đáng khích lệ, đưa Tây Ninh trở thành tỉnh có nền nông nghiệp mạnh so với các tỉnh, thành phố của Đông Nam Bộ đồng thời được đánh giá cao về quá trình xây dựng nông thôn mới.

VI.2 Những chính sách đang còn hiệu lực trên địa bàn tỉnh

Trong hơn 20 năm đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, Đảng và Nhà nước đã ban hành rất nhiều chính sách nông nghiệp, nông thôn nhằm cải thiện nền nông nghiệp lạc hậu yếu kém Điển hình đầu tiên là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ban hành tháng 4/1988 về “đổi mới quản lý nông nghiệp” với nội dung quan trọng nhất là thừa nhận

hộ nông dân là đơn vị tự chủ sản xuất trong nông nghiệp, khôi phục lại vị thế vốn có của kinh tế hộ nông dân, cùng nhiều chính sách tích cực khác đã giúp nước ta dần dần xây dựng được một nền nông nghiệp mạnh, từng bước chuyển dịch theo cơ chế thị trường, phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa, đời sống nông dân và bộ mặt nông thôn được cải thiện đáng kể Tiếp đó là hàng loạt các chính sách nhằm mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa mạnh, đa dạng, có chất lượng, hiệu quả cao và bền vững dựa trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh; áp dụng khoa học công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng trong nước và khả năng cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường quốc tế; nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, lao động và nguồn vốn, nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân Có thể tóm tắt các mảng chính sách đã và đang áp dụng trong nông nghiệp và nông thôn như sau: chính sách về quy hoạch - kế hoạch, đất đai,vốn tín dụng, giá cả - vật tư, marketing trong nông nghiệp, khuyến nông; khuyến khích áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật; đổi mới cơ chế quản lý; trồng trọt, bảo vệ thực vật; chăn nuôi thú y; lâm nghiệp; thủy sản; kinh tế hợp tác, kinh tế trang trại; đầu tư; thương mại; hạ tầng nông thôn…

VI.3 Đánh giá chung về thực trạng chính sách ở Tây Ninh

Trang 29

- Nguyên nhân của tồn tại: Việc lấy ý kiến dự thảo các văn bản chính sách chưa được thực hiện nghiêm túc, thăm dò ý kiến một cách đại trà, không có trọng điểm làm cho nội dung chính sách chưa sát thực tế dẫn đến khó khăn trong việc thi hành, hiệu lực thi hành các văn bản còn yếu Một số văn bản chính sách ít có tính khả thi nên khi ban hành không thể thực hiện buộc phải chấm dứt hiệu lực để thay thế bằng văn bản khác; đặc biệt, một số chính sách về đầu tư và tín dụng còn nhiều bất cập gây khó khăn cho việc thi hành, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện nhiều chính sách khác Quy trình ban hành văn bản rườm rà phức tạp dẫn đến tốn kém chi phí và kéo dài độ trễ của chính sách làm cho chính sách ban hành sớm bị lạc hậu Nhiều văn bản cùng quy định cho một vấn đề dẫn đến sự bối rối và chờ đợi của cơ quan địa phương khi triển khai các chính sách dẫn đến chính sách khó đi vào thực tế Công tác tuyên truyền chính sách có thực hiện nhưng chưa hiệu quả, nhiều hoạt động tuyên truyền mang tính hình thức, không phản ánh rõ trọng tâm của chính sách được tuyên truyền.

VII HIỆN TRẠNG CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN

VII.1 Các cơ sở chế biến nông sản

+ Số lượng các cơ sở công nghiệp chế biến nông sản trên địa bàn tỉnh như sau:

Bảng 7: Các cơ sở chế biến nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh

ĐVT: cơ sở

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Tây Ninh

Đến năm 2014, trên địa bàn tỉnh có 271 cơ sở chế biến các loại nông, lâm, thủy sản, chiếm 55% trong tổng số các cơ sở công nghiệp; trong đó, công nghiệp chế biến thực phẩm 112 cơ sở, chiếm 41,33%, công nghiệp sản xuất đồ gỗ và sản phẩm từ gỗ

49 cơ sở, chiếm 18,08%, công nghiệp chế biến cao su 34 cơ sở, chiếm 12,55%, công nghiệp sản xuất da và các sản phẩm có liên quan 30 cơ sở, chiếm 11,07%, công nghiệp sản xuất đồ uống 14 cơ sở chiếm 5,17%, công nghiệp sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy 9 cơ sở, chiếm 3,32%, công nghiệp chế biến khác 23 cơ sở, chiếm 8,49%

- Diễn biến giá trị sản xuất công nghiệp chế biến hàng nông sản như sau:

Bảng 8: GTSX công nghiệp chế biến nông sản (giá HH) ĐVT: triệu đồng

Trang 30

Chỉ tiêu 2005 2010 2014 GTSX công nghiệp chế biến 5.302.384 20.854.228 56.723.751

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Tây Ninh

VII.2 Đánh giá thực trạng công nghiệp chế biến nông sản

Đến năm 2014, giá trị sản xuất công nghiệp chế biến nông sản trên địa bàn đạt 42,357 ngàn tỷ đồng, chiếm 75,67% trong GTSX ngành công nghiệp chế biến; trong

đó, công nghiệp chế biến thực phẩm chiếm 50,70%, công nghiệp sản xuất da và sản phẩm liên quan chiếm 26,82%, công nghiệp chế biến và sản suất sản phẩm từ cao su 12,25%, công nghiệp chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ 4,28%, công nghiệp sản xuất giấy

và sản phẩm từ giấy 0,83%, công nghiệp chế biến khác chiếm 4,85%

- Các loại nông sản được chế biến ở Tây Ninh gồm có: đường các loại 203 ngàn tấn, bột mì 1,19 triệu tấn, cao su mủ khô các loại 700 ngàn tấn, muối chế biến 2,9 ngàn tấn, bánh kẹo các loại 242 tấn, thức ăn gia súc 39,5 ngàn tấn, hạt điều khô 15 ngàn tấn,

gỗ xẻ các loại 168 ngàn m3 Để hình dung vai trò của công nghiệp chế biến đối với sản xuất các ngành hàng nông nghiệp ta hãy so sánh công suất chế biến với sản lượng của một số ngành hàng chính năm 2014 như sau:

+ Cao su: sản lượng 171.495 tấn; trên địa bàn tỉnh hiện có 30 doanh nghiệp

tham gia chế biến cao su phân bố ở các huyện: Châu Thành 3 cơ sở, Tân Biên 8 cơ sở, Tân Châu 10 cơ sở, Dương Minh Châu 3 cơ sở, Thành phố Tây Ninh 3 cơ sở và các huyện Hòa Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng mỗi huyện 1 cơ sở Tổng công suất chế biến

480 ngàn tấn/năm (gấp khoảng 2 lần sản lượng cao su toàn tỉnh) Sản phẩm chính tập trung ở lĩnh vực nông nghiệp là cao su thiên nhiên sơ chế gồm nhiều chủng loại: SVR

L, SVR 3L, SVR CV50, SVR CV60, SVR GP, SVR5, SVR10, SVR20, SVR10CV, LATEX 60% HA, LA…

+ Mía đường: Sản lượng năm 2015 khoảng 1 triệu tấn mía cây Trên địa bàn

tỉnh hiện có 3 Công ty chế biến đường: Cty Cổ phần đường Biên Hòa, Công ty cổ phần đường Thành Thành Công Tây Ninh và Công ty mía đường Nước Trong, tổng công suất thiết kế khoảng 3 triệu tấn/năm, gấp khoảng 2 lần sản lượng mía sản xuất trên địa bàn tỉnh; thực tế niên vụ 2014 – 2015 các nhà máy trên địa bàn tỉnh sản xuất được 199.788 tấn đường, tương đương khoảng 2,18 triệu tấn mía cây bằng 72% công suất thiết kế và gấp 2,18 lần so với sản lượng mía sản xuất trên địa bàn Như vậy, trong niên vụ 2014 – 2015 các nhà máy trên địa bàn tỉnh phải mua mía cây từ địa phương khác khoảng 1,18 triệu tấn

Trang 31

+ Khoai mì: Năm 2014, sản lượng khoai mì sản xuất trên địa bàn tỉnh khoảng

1,6 triệu tấn Trên địa bàn tỉnh hiện có 75 cơ sở chế biến khoai mì với tổng công suất 5.500 tấn bột/ngày, tương đương khoảng 1,7 triệu tấn củ/năm; tương đương với sản lượng khoai mì sản xuất hàng năm

+ Hạt điều: hiện có 20 cơ sở chế biến hạt điều, tổng công suất chế biến 15 ngàn

tấn điều nhân/năm; sản lượng hạt điều năm 2014 là 2 ngàn tấn; như vậy, các cơ sở chế biến hạt điều trên địa bàn tỉnh hàng năm phải mua từ tỉnh khác hoặc nhập khẩu khoảng

13 ngàn tấn nguyên liệu

+ Sản xuất thức ăn chăn nuôi: Trên địa bàn tỉnh hiện có 4 cơ sở sản xuất thức

ăn chăn nuôi (Công ty TNHH sản xuất thức ăn gia súc Việt Ý, Nhà máy sản xuất thức

ăn chăn nuôi Long Thành, Công ty TNHH MTV Đông Nam và Công ty cổ phần thức

ăn chăn nuôi Fico) theo số liệu thống kê, năm 2014 trên địa bàn tỉnh sản xuất được 39.540 tấn, tăng 23.219 tấn so với năm 2010; so sánh với quy mô đàn các loại vật nuôi (heo 195 ngàn con con, gia cầm 5,1 triệu con, dê cừu 2,8 ngàn con…) cho thấy năng lực SX thức ăn chăn nuôi trên địa bàn chưa đáp ứng đủ nhu cầu cho chăn nuôi nên cần phải nhập thức ăn chăn nuôi từ các địa phương khác

+ Giết mổ gia súc, gia cầm: hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 63 cơ sở giết mổ có

phép (trong đó, không có cơ sở loại A, 53 cơ sở loại B, 5 cơ sở loại C và 9 cơ sở không được phân loại); tổng công suất giết mổ 62 – 94 con trâu bò, 593 – 755 con heo

và 5 – 6 ngàn con gia cầm/ngày đêm; ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có 62 cơ sở quay heo, gà vịt phân bố ở hầu khắp các huyện và thành phố Tây Ninh Nhìn chung, vấn đề

vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm đối với các cơ sở giết mổ gia súc gia cầm trên địa bàn tỉnh còn nhiều điều bất cập

- Tây Ninh là một trong những tỉnh thực hiện khá tốt chủ trương của Chính Phủ

về liên kết “4 nhà” trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm và hiện tại đang thực hiện Quyết định số 62/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ về khuyến khích hợp tác, liên kết sản xuất, gắn với tiêu thụ nông sản và xây dựng cánh đồng lớn Tuy nhiên, trên thực tế, mối quan hệ này vẫn còn nhiều điều bất cập; quan hệ hợp đồng đầu tư hoặc hợp đồng thu mua sản phẩm giữa “nhà nông” với cơ sở chế biến, nhà nông với các doanh nghiệp trên thực tế rất ít được thực hiện, nên khi giá bán sản phẩm trên thị trường biến động theo hướng giảm thì phần thiệt hại luôn thuộc về nhà nông sản xuất nguyên liệu Đây được xem là tồn tại cần khắc phục nhất là khi nhà nhập khẩu hoặc nhà phân phối yêu cầu truy nguyên nguồn gốc xuất xứ hàng hóa

VIII HIỆN TRẠNG VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ, ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO

VIII.1 Đánh giá các hợp phần kỹ thuật sản xuất

Kết quả điều tra của cơ quan tư vấn đợt tháng 12 năm 2015 cho thấy có đến 84,46% số hộ được điều tra thực hiện đúng quy trình kỹ thuật đã được tập huấn; những cây trồng có tỷ lệ hộ áp dụng đúng quy trình cao gồm: cao su (97,56%), mía (94,36%), lúa (93,42%), khoai mì (92,26%), mãng cầu (91,16%), bắp giống (90,38%) Ở mức trung bình có: rau các loại (65,26%), đậu phộng (64,42%), chăn nuôi bò sữa (63,74%), nuôi cá (60,04%) Ở mức thấp có khoai lang (51,48%), đậu các loại (49,20%), nuôi heo (46,46%), xoài, mít (43,54%), điều (42,40%), chăn nuôi heo, gà, vịt… (<40%)

Trang 32

Những lỗi sai quy trình mà người nông dân thường mắc phải gồm: sử dụng phân bón quá liều lượng (đối với cây lúa, mãng cầu, rau…); sử dụng ít hoặc không sử dụng phân bón đối với cây mía, đậu các loại, lúa mùa, chuối, điều…); sử dụng quá nhiều hóa chất như thuốc trừ sâu, thuốc kích thích sinh trưởng (đối với rau, mãng cầu, lúa…), thâm canh tăng vụ quá nhiều đối với cây mãng cầu, kết hợp việc không vệ sinh vườn cây làm cho sản phẩm không đạt chất lượng, có nhiều sâu bệnh

Nhìn chung lao động nông nghiệp ở Tây Ninh có chất lượng khá, đa số các

hộ áp dụng đúng quy trình sản xuất đã được khuyến cáo nên năng suất và chất lượng sản phẩm ở khá cao; tuy nhiên, vẫn còn không ít hộ nông dân áp dụng không đúng quy trình kỹ thuật là ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của sản phẩm Hy vọng, với các chương trình sản xuất theo hướng GAP, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, ứng dụng công nghệ cao, chương trình khuyến nông… sẽ nâng cao chất lượng lao động, 100% nông dân sẽ áp dụng đúng quy trình khuyến cáo, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm đưa nông nghiệp Tây Ninh phát triển bền vững, hiệu quả theo hướng nông nghiệp xanh, ứng dụng công nghệ cao, bảo đảm vệ sinh, an toàn…

VIII.2 Hiện trạng về nông nghiệp đô thị

+ Ở Tây Ninh đã bước đầu hình thành nền nông nghiệp đô thị Nông nghiệp đô thị ở Tây Ninh có những vai trò quan trọng như:  Đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm tươi sống và an toàn cho người dân  Tạo ra sản phẩm có giá trị xuất khẩu

 Tạo ra môi trường sinh thái, mảng xanh và cảnh quan đô thị Cung ứng các dịch

vụ nông nghiệp (giống, công nghệ, thông tin…) cho khu vực nông nghiệp nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn đô thị và ven đô  Tận dụng các nguồn lực sẵn có ở đô thị (lao động nhàn rỗi, rác thải, nước thải…) là cơ hội để người lao động coi sản xuất nông nghiệp như một hoạt động giải trí  ngoài ra còn tạo

ra nhiều giá trị khác như: giáo dục, sức khỏe, văn hóa, xã hội…

+ Các mô hình nông nghiệp đô thị ở Tây Ninh được phân bố chủ yếu ở thành phố Tây Ninh và các huyện phía Nam như Trảng Bàng, Gò Dầu, Bến Cầu, Dương Minh Châu và một phần huyện Châu Thành với các mô hình chủ yếu như: mô hình trồng và kinh doanh cây cảnh, mô hình trồng rau an toàn, mô hình trồng hoa lan cây cảnh, trồng mai, nuôi chim, thú cảnh, chăn nuôi bò sữa, cây ăn quả đặc sản (Mãng cầu), nuôi trồng thủy đặc sản, mô hình trồng dưa lưới, mô hình trồng cây xanh đô thị… Theo thống kê sơ bộ (căn cứ kết quả điều tra đợt tháng 12/2015) hiệu quả kinh tế tính cho 1 ha đất nông nghiệp đô thị cao 5 – 10 lần so với 1 ha đất sản xuất nông nghiệp truyền thống; cá biệt có những mô hình lãi rất cao hàng tỷ đồng/ha

Chưa có số liệu thống kê về mức đóng góp của nông nghiệp đô thị vào giá trị sản xuất chung của ngành nông nghiệp; tuy nhiên theo ước tính sơ bộ, năm 2015, giá trị sản xuất nông nghiệp đô thị trên địa bàn tỉnh ước chiếm khoảng 8 – 10% giá trị sản xuất khu vực I

Mặc dù có mức lãi khá hấp dẫn, tuy nhiên, để nhân ra diện rộng cần có các điều kiện hết sức quan trọng là: vốn, trình độ khoa học công nghệ, thị trường tiêu thụ… do

đó, rất cần tỉnh Tây Ninh có những chính sách phù hợp để khuyến khích nông nghiệp

đô thị phát triển

Trang 33

VIII.3 Hiện trạng về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Có nhiều khái niệm về nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; tuy nhiên, theo một cách nhìn tổng thể nhất thì công nghệ cao trong nông nghiệp là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tích hợp từ các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại như: công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tin học, công nghệ tự động hóa… để tạo ra những sản phẩm nông nghiệp có ưu thế vượt trội về năng suất, chất lượng; có thể kiểm soát hết quy trình sản xuất và truy nguyên nguồn gốc sản phẩm

Như vậy, việc áp dụng công nghệ cao là con đường tất yếu để phát triển một nền nông nghiệp hiện đại, chính vì thế, ngày 29 tháng 01 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định 176/QÐ-TTg phê duyệt Ðề án tổng thể phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020; đề án tập trung vào 3 nội dung chính:

Thứ nhất là nghiên cứu phát triển công nghệ cao trong nông nghiệp (bao gồm:

chọn tạo, nhân giống cây trồng, vật nuôi và giống thuỷ sản cho năng suất, chất lượng cao; phòng, trừ dịch bệnh cây trồng, vật nuôi, thuỷ sản; nghiên cứu phát triển các quy trình công nghệ trong sản xuất để đạt hiệu quả kinh tế cao; tạo ra các loại vật tư, máy móc, thiết bị trong nông nghiệp; bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp)

Thứ hai là phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (bao gồm: phát triển

doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng CNC; phát triển khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và phát triển vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao)

Thứ ba là phát triển dịch vụ công nghệ cao phục vụ nông nghiệp (như dịch vụ tư

vấn, đánh giá; dịch vụ tư vấn kỹ thuật, đầu tư; dịch vụ cung ứng vật tư, máy móc, thiết bị; dịch vụ tiêu thụ sản phẩm…)

 Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ

cao trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa IX) về đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2001 – 2010 và Nghị quyết

số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 của BCH TW Đảng khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành kế hoạch thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy; Trong Nghị quyết đại hội Đảng nhiệm kỳ 2015 – 2020 của Đảng Bộ tỉnh Tây Ninh cũng xác định rõ giải pháp là phát triển nông nghiệp sạch gắn với ứng dụng công nghệ cao Trong lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, ngành nông nghiệp Tây Ninh đã đạt được khá nhiều thành tựu quan trọng; đặc biệt là trong ứng dụng công nghệ cao Những công nghệ cao đã bước đầu được ứng dụng trong nông, lâm, ngư nghiệp gồm:

1 Nhiều tiến bộ kỹ thuật của công nghệ sinh học được ứng dụng vào sản xuất; đặc biệt là công tác chọn và nhân giống cây trồng, vật nuôi; các loại giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt đã được đưa vào sản xuất đại trà như: Trong trồng trọt: các loại cây trồng đã sử dụng đại đa số là giống mới gồm lúa, rau, mía, mì… các loại hoa lan, cây cảnh được nhân giống bằng phương pháp cấy mô Trong chăn nuôi: tỷ lệ đàn heo 2 – 3 – 4 máu ngoại, đàn bò được sind hóa và đàn gia cầm được nuôi bằng giống mới chiếm tỷ lệ cao Trong lâm nghiệp, Công tác trồng rừng đã sử dụng các

Trang 34

loại giống lai tạo, vô tính có thời gian sinh trưởng nhanh; trồng rừng thâm canh và sử dụng cơ giới trong các khâu làm đất và chăm sóc Nên tỷ lệ sống sau khi trồng cao,

đã giúp tăng nhanh tỷ lệ che phủ của rừng Trong ngư nghiệp, hệ thống ao nuôi đã được đầu tư xây dựng kiên cố kết hợp với hệ thống máy sục khí tạo oxy trong ao cho phép nuôi với mật độ cao; con giống được nuôi phổ biến là các giống lai tạo, đơn tính cho năng suất cao

2 Công nghệ vật liệu mới đã bước đầu được ứng dụng trong SX nông nghiệp; điển hình như sử dụng giá thể mới để trồng hoa lan, cây cảnh, rau mầm, rau thủy canh; xây dựng nhà lưới, nhà màng để sản xuất rau an toàn, sử dụng máng chắn mủ cao su trong mùa mưa… ở Trảng Bàng, Gò Dầu, Dương Minh Châu, TP Tây Ninh…

3 Công nghệ tưới tiết kiệm nước như hệ thống tưới phun, tưới thấm, tưới nhỏ giọt đã bước đầu được sử dụng đặc biệt là trong các vườn cây ăn quả ở Tây Ninh, vườn rau ở Trảng Bàng, Gò Dầu, Dương Minh Châu, ruộng mía, mì ở Châu Thành, Tân Biên, Tân Châu…, góp phần làm giảm lượng nước tưới, giảm chi phí công lao động; đặc biệt là tăng đáng kể năng suất, chất lượng sản phẩm

4 Công nghệ tự động hóa đang được ứng dụng khá phổ biến trong chăn nuôi ở các trang trại và các doanh nghiệp: hệ thống máng ăn, uống tự động, hệ thống làm mát chuồng trại, hầm biogas để xử lý chất thải, kết hợp máy phát điện; một số công ty lớn

đã đầu tư quy trình chăn nuôi tự động, khép kín với công nghệ cao

5 UBND tỉnh đã ban hành các chính sách nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất như: chính sách

hỗ trợ kinh tế trang trại, chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi bò, chính sách phát triển nuôi trồng thủy sản… và trên thực tế Tây Ninh đã thu hút được một số trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng CNC đầu tư SX trong nông nghiệp; đặc biệt là các doanh nghiệp, trang trại chăn nuôi, trồng rau, hoa, cây cảnh, nuôi trồng thủy sản…

6 Các đề tài nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp cũng đã được triển khai, nhiều dự án, mô hình trình diễn tiến bộ kỹ thuật tại các vùng chuyên canh nông nghiệp; qua đó, tạo điều kiện giúp nông dân tiếp cận các tiến bộ kỹ thuật mới như kỹ thuật trồng thâm canh rau theo hướng thực hành nông nghiệp tốt (GAP), chăn nuôi gà an toàn sinh học, nuôi heo theo hứng nạc hóa, đảm bảo

vệ sinh môi trường…

Như vây, nhìn chung các ngành đều đã ứng dụng công nghệ mới, hiện đại trong sản xuất và chế biến Tuy nhiên, ngoại trừ một số cây như khoai mì, mãng cầu, rau, một

số cơ sở chăn nuôi… những công nghệ mới được áp dụng khá phổ biến, các lĩnh vực khác mới chỉ dừng lại như những mô hình điểm, việc nhân ra diện rộng còn gặp nhiều khó khăn; đặc biệt là các công nghệ mới về sản xuất giống, tưới tiết kiệm nước, công nghệ về vật liệu mới trong xây dựng nhà lưới, nhà màng phục vụ sản xuất rau, hoa, cây cảnh cần được ứng dụng nhiều hơn, góp phần tăng năng suất, chất lượng và đảm bảo

vệ sinh an toàn thực phẩm

Chưa có số liệu thống kê về giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đóng góp trong tổng giá trị sản xuất khu vực I; do đó, để hình dung mức độ đóng góp

Trang 35

của công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, chúng tôi tiến hành luận chứng đối với một số ngành hàng có ứng dụng công nghệ cao như sau:

Bảng 9: Luận chứng về tỷ trọng GTSX nông nghiệp ƯDCNC

Ngành

hàng Những công nghệ đã và đang áp dụng

Ước GTSX đóng góp (tỷ đồng)

Chăn nuôi

bò sữa

Giống bò lai Zebu; trồng cỏ chất lượng cao; chuồng trại và quy trình chăm sóc;

có 3 DN chăn nuôi ƯDCNC…như vậy, GTSX nuôi bò sữa ƯDCNC chiếm

Giống gà đang có sự thay đổi nhanh theo hướng gà chuyên trứng và gà thịt lông

màu 55% nuôi trang trại; số trang trại chăn nuôi công nghiệp, chuồng lạnh, khép

kín tăng nhanh Như vậy, GTSX nuôi gà ƯDCNC chiếm khoảng 20% GTSX đàn

Giống mía và khoai mì là những giống tốt, có năng suất cao; công nghệ tưới tiết

kiệm nước đã và đang nhân rộng; kỹ thuật trồng và chăm sóc đã và đang được

thay đổi theo hướng ƯDCNC… Như vậy GTSX trồng mía, khoai mì ƯDCNC

chiếm khoảng 12% GTSX cây CNHN

224,16

Cây lúa và

cây bắp

Đã hình thành bộ giống chất lượng cao, bước đầu thử nghiệm trồng bắp biến đổi

gien, các kỹ thuật 1 phải, 5 giảm, tiết kiệm nước; thu hoạch bằng máy… được áp

dụng khá phổ biến Như vậy GTSX trồng cây lương thực ƯDCNC chiếm khoảng

Bộ giống rau chất lượng cao đang được phổ biến; quy trình sản xuất rau theo

VietGAP đang được phố biến; đã xuất hiện nhiều mô hình trồng rau trong nhà

lưới, nhà màng; tưới tiết kiệm nước kết hợp dưỡng chất; công nghệ sinh học

được áp dụng khá rộng rãi Như vậy GTSX trồng cây rau đậu các loại ƯDCNC

chiếm khoảng 20% GTSX cây rau đậu các loại

666,42

Cây ăn

quả

Công nghệ tưới tiết kiệm nước, quy trình sản xuất theo VietGAP; kỹ thuật cho

mãng cầu ra hoa trái vụ…Tuy nhiên, những công nghệ này mới chỉ áp dụng trên

cây mãng cầu; Như vậy GTSX trồng cây ăn quả ƯDCNC chiếm khoảng 8%

GTSX cây ăn quả các loại

154,20

Cây cao

su

Theo báo cáo của các công ty Cao su đóng trên địa bàn; những công nghệ mới

được áp dụng trong trồng, chăm sóc và khai thác cao su gồm: sử dụng giống mới

có năng suất và chất lượng cao, sử dụng máng chắn miệng cạo, chuyển chế độ

cạo sang d3 hoặc d4…Như vậy GTSX trồng, chăm sóc và thu hoạch cao su

ƯDCNC chiếm khoảng 12% GTSX cây CNLN

853,35

Hoa, cây

cảnh

Công nghệ nuôi cây mô tạo giống hoa, trồng hoa trong nhà lưới, nhà kính; công

nghệ tưới tiết kiệm nước kết hợp dưỡng chất; công nghệ điều khiển ra hoa theo ý

muốn… Như vậy GTSX trồng, hoa, cây cảnh ƯDCNC chiếm khoảng 15%

GTSX cây hàng năm khác

280,20

Thủy sản

Sử dụng giống tốt trong nuôi thủy sản và thủy đặc sản; xây dựng hồ nuôi ao

nuôi hợp lý, ƯDCNC; Sử dụng thức ăn chăn nuôi và phương pháp cho ăn linh

hoạt… Như vậy GTSX nuôi thủy sản ƯDCNC chiếm khoảng 18% GTSX nuôi

Trang 36

IX HIỆN TRẠNG VỀ TỐC ĐỘ TĂNG VÀ CƠ CẤU GTSX

IX.1 Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế.

Theo số liệu thống kê, diễn biến tỷ trọng các khu vực trong cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh như sau:

Bảng 10: Diễn biến tỷ trọng các khu vực trong cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh

Năm Khu vực I %) Khu vực II %) Khu vực III (%)

2005 41,20 26,08 32,71

2010 38,52 26,16 35,32

2015 28,40 34,61 36,99

Nguồn: Cục thống kê tỉnh Tây Ninh

So với các tỉnh vùng Đông Nam Bộ, tỷ trọng ngành nông nghiệp ở Tây Ninh cao hơn nhiều so với các tỉnh Bình Dương (3,16%), Đồng Nai (5,96%), Bà Rịa – Vũng Tàu (2,69%) và thành phố Hồ Chí Minh (1,03%) và chỉ thấp hơn duy nhất tỉnh Bình Phước (35,82%) Như vậy, trong vùng ĐNB, có thể khẳng định Bình Phước và Tây Ninh là các tỉnh trọng điểm về nông nghiệp; việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững càng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nền nông nghiệp toàn vùng ĐNB

IX.2 Tốc độ tăng GTSX ngành nông nghiệp

Theo số liệu thống kê, giai đoạn 2011 - 2014, tốc độ tăng GTSX toàn khu vực I trên địa bàn tỉnh là 5,36%/năm; trong đó, nông nghiệp tăng 5,45%/năm, thủy sản tăng 7,24%/năm và lâm nghiệp giảm 1,33%/năm Trong nội bộ ngành NN: trồng trọt tăng 5,32%/năm; chăn nuôi tăng 1,44%/năm và dịch vụ nông nghiệp tăng 19,3%/năm

Theo số liệu ước năm 2015, GĐ 2011 – 2015 tốc độ tăng GTSX 5,28%/năm; trong đó, NN tăng 5,36%/năm, TS tăng 7,81%/năm và lâm nghiệp giảm 1,61%/năm Trong nội bộ ngành NN: trồng trọt tăng 5,15%/năm; chăn nuôi tăng 2,41%/năm và DVNN tăng 17,23%/năm Diễn biến GTSX và tốc độ tăng từng lĩnh vực như sau:

Bảng 11: Diễn biến GTSX và tốc độ tăng GTSX các lĩnh vực nông nghiệp

STT Hạng mục (triệu đồng) Năm 2010 (triệu đồng) Năm 2014 (triệu đồng) Ước 2015 Tăng BQ (%/năm)

Trang 37

STT Hạng mục (triệu đồng) Năm 2010 (triệu đồng) Năm 2014 (triệu đồng) Ước 2015 Tăng BQ (%/năm)

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Tây Ninh

So với cả nước, tốc độ tăng giá trị sản xuất toàn khu vực I tỉnh Tây Ninh cao hơn 2,66%/năm; trong đó, nông nghiệp cao hơn 3,08%/năm, thủy sản cao hơn 4,75%/năm; tuy nhiên, lâm nghiệp lại thấp hơn cả nước 9,53%/năm

Bảng 12: So sánh tốc độ tăng GTSX nông nghiệp Tây Ninh với cả nước

Nguồn: Niên giám thống kê ngành nông nghiệp và PTNT

IX.3 Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp.

Theo số liệu thống kê, diễn biến cơ cấu giá trị sản xuất các lĩnh vực trong khu vực I như sau:

Bảng 13: Diễn biến cơ cấu GTSX ngành nông nghiệp tỉnh Tây Ninh

(ĐVT: %)

1 Trồng trọt 81,93 77,68 76,87 So với nông nghiệp

2 Chăn nuôi 14,23 14,36 14,87 So với nông nghiệp

3 Dịch vụ NN 3,84 7,96 8,27 So với nông nghiệp

Trang 38

STT Hạng mục Năm 2010 Năm 2014 Năm 2015 Ghi chú

Nguồn: Niên giám thống Kê tỉnh Tây Ninh

Qua bảng trên, có một số nhận xét:

+ Khu vực I bao gồm 3 lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; trong đó, nông nghiệp luôn chiếm tỷ trọng rất cao (95 - 96%), kế đến là lâm nghiệp (1,93 - 2,04%) và thấp nhất là thủy sản (<2%) Giai đoạn 2006 - 2015 sự chuyển dịch cơ cấu giữa 3 ngành này theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp và tăng tỷ trọng các ngành thủy sản và lâm nghiệp, đây là một xu thế đúng; tuy nhiên sự chuyển dịch không rõ nét

và mang tính trồi sụt, nếu xét theo 2 giai đoạn 2006 - 2010 và 2011 - 2015 sẽ thấy rõ tính chất này: nông nghiệp tăng ở giai đoạn 1 và giảm ở giai đoạn 2; ngược lại các ngành lâm nghiệp và thủy sản giảm ở giai đoạn 1 và tăng ở giai đoạn 2; có nhiều nguyên nhân để lý giải hiện tượng này, song chủ yếu là do tỷ trọng nông nghiệp quá lớn, sự quan tâm đối với nông nghiệp cũng lớn hơn nên, mỗi sự thay đổi nhỏ của nông nghiệp cũng kéo theo sự thay đổi về tỷ trọng của các ngành khác

+ Cơ cấu các lĩnh vực trong nội bộ ngành nông nghiệp đang có sự chuyển dịch khá rõ nét; nếu năm 2010, tỷ trọng các lĩnh vực trồng trọt - chăn nuôi - dịch vụ nông nghiệp là: 81,93% - 14,23% - 3,84% thì đến năm 2015 là: 76,87% - 14,87% - 8,27% (trồng trọt giảm: 5,06%; chăn nuôi tăng: 0,64% và dịch vụ tăng 4,43%) Đây là hướng chuyển dịch đúng nhằm phát huy tốt tiềm năng lợi thế và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững cả về kinh tế - xã hội và môi trường, cơ cấu lại lao động sử dụng có hiệu quả các nguồn lực Cụ thể các lĩnh vực như sau:

- Tỷ trọng cây hàng năm đang có xu thế giảm nhanh; trong đó, đặc biệt là cây lương thực và cây công nghiệp hàng năm; trong khi đó, tỷ trọng các loại cây rau thực phẩm, hoa cây cảnh đang tăng nhanh Đây là một xu thế hợp lý bởi các loại cây lúa, và hoa màu khác cho hiệu quả thấp và khó tìm kiếm thị trường

- Tỷ trọng cây lâu năm có xu thế tăng nhanh; trong đó, đáng kể là cây cao su và một số loại cây ăn quả; tuy nhiên, ngoại trừ cây ăn quả đặc sản (mãng cầu), các loại cây lâu năm có quy mô lớn là cao su, điều… hiện nay giá cả thị trường đang bất lợi; nhiều khả năng tỷ trọng cây lâu năm sẽ có xu thế giảm do năng suất và hiệu quả kinh tế thấp

- Tỷ trọng ngành chăn nuôi ở Tây Ninh trong mấy năm gần đây tăng rất chậm; nếu năm 2010 ngành chăn nuôi chiếm 14,23% trong cơ cấu giá trị sản xuất thì đến năm 2015, tỷ trọng này là 14,87%, sau 5 năm chỉ tăng 0,64%/năm; hai loại vật nuôi đang có xu thế tăng chậm ở Tây Ninh là trâu bò và đàn gia cầm; đàn heo có xu thế tăng nhanh hơn nhưng cũng chỉ tăng 0,12%

- Tồn tại lớn nhất trong cơ cấu ngành nông nghiệp là tỷ trọng dịch vụ nông nghiệp còn ở mức rất thấp (3,84 - 8,27%), với tỷ trọng này dịch vụ nông nghiệp không thể đáp ứng tốt yêu cầu của các lĩnh vực sản xuất; tuy nhiên, xét trong giai đoạn 2011 -

2015 tỷ trọng dịch vụ nông nghiệp đang có xu thế tăng đáng kể; hơn nữa, so với các tỉnh khác thuộc vùng ĐNB, tỷ trọng dịch vụ NN ở Tây Ninh cao hơn từ 3 – 5% ; đây cũng được coi như một lợi thế, một điểm sáng của ngành nông nghiệp Tây Ninh

Trang 39

X ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SẢN XUẤT NGÀNH NÔNG NGHIỆP

Ngành nông nghiệp, hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các lĩnh vực: Trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; diễn biến kết quả sản xuất từng lĩnh vực trên địa bàn tỉnh Tây Ninh như sau:

X.1 Ngành trồng trọt

Bảng 14: Diễn biến quy mô sản suất một số cây trồng chính

Cây trồng Năm 2005 Năm 2010 Năm 2014 Ư 2015 Tăng BQ (%/năm) Tổng diện tích GT cây HN 272.809 267.120 249.967 255.447 -0,66

Trang 40

Qua nghiên cứu về quy mô diện tích, năng suất các loại cây trồng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có một số nhận xét như sau:

+ Xét về quy mô diện tích và sản lượng, các loại cây trồng sau đây có quy mô khá lớn, có thể xếp vào danh sách các loại cây trồng, vật nuôi chủ lực: cây lúa, diện tích gieo trồng 144 ngàn ha, sản lượng 761 ngàn tấn, là tỉnh có quy mô diện tích và sản lượng lúa lớn nhất trong các tỉnh ĐNB; cây khoai mì, diện tích 57,6 ngàn ha, sản lượng 1,87 triệu tấn, đứng thứ 2 cả nước (sau tỉnh Gia Lai); cây mía 14 ngàn ha, sản lượng 1 triệu tấn, đứng đầu các tỉnh ĐNB và đứng thứ 6 cả nước (sau Gia Lai, Thanh Hóa, Nghệ An, Phú Yên, Khánh Hòa); cây cao su 95,3 ngàn ha, sản lượng 180 ngàn tấn, đứng thứ 4 cả nước (sau Bình Dương, Bình Phước và Gia Lai), rau các loại đứng đầu về diện tích và đứng thứ 2 về sản lượng so với các tỉnh ĐNB; chuối 1.441 ha, sản lượng 46 ngàn tấn, đứng thứ 2 các tỉnh ĐNB (sau tỉnh Đồng Nai); mãng cầu là cây trồng có quy mô lớn nhất cả nước với diện tích 4.600 ha, sản lượng 60 ngàn tấn

+ Xét về khả năng gắn với công nghiệp chế biến và xuất khẩu có thể xếp thứ tự các loại cây trồng chủ lực như sau: cao su, khoai mì, mía đường, mãng cầu, lúa gạo

+ Xét về mức độ nổi tiếng, thương hiệu và giá trị sản phẩm có thể xếp thứ tự các loại cây trồng chủ lực như sau: mãng cầu, mía, khoai mì, cao su, hồ tiêu, đậu phộng, rau các loại…

+ Xét về năng suất các loại cây trồng: mãng cầu, khoai mì, đậu phộng, mía đường, rau các loại, lúa, bắp…

Như vậy, có thể sơ bộ khẳng định tính đến năm 2015, các loại cây trồng chủ lực trên địa bàn tỉnh Tây Ninh gồm: Khoai mì, mía đường, cao su, mãng cầu, rau các loại, lúa, bắp, đậu phộng…

X.2 Ngành chăn nuôi

Bảng 15: Diễn biến kết quả sản xuất ngành chăn nuôi

Năm 2005 Năm 2010 Năm 2014 Năm 2015 Tăng BQ (%/năm)

Nguồn: Niên giám thống Kê tỉnh Tây Ninh

Như vậy, Tây Ninh có khá đầy đủ các loại vật nuôi có trong ngành chăn nuôi Việt Nam; trong đó, các loại vật nuôi có quy mô lớn gồm: gia cầm 5,4 triệu con, đứng thứ 2 các tỉnh ĐNB (sau Đồng Nai); trong đó, đàn gà 4,8 triệu con đứng thứ 3 các tỉnh ĐNB (sau Đồng Nai, Bình Dương và Bình Phước), vịt ngan ngỗng, đứng thứ 2 các tỉnh ĐNB (sau Đồng Nai), heo 189 ngàn con, thấp nhất so với các tỉnh ĐNB và xếp thứ 51

Ngày đăng: 20/05/2016, 16:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Đặc điểm các tầng chứa nước - Tái cơ cấu Tây Ninh
Bảng 1 Đặc điểm các tầng chứa nước (Trang 11)
Bảng 2:  Kết quả tính trữ lượng khai thác tiềm năng - Tái cơ cấu Tây Ninh
Bảng 2 Kết quả tính trữ lượng khai thác tiềm năng (Trang 12)
Bảng 4: So sánh một số chỉ tiêu SXNN tỉnh Tây Ninh với vùng ĐNB và cả nước - Tái cơ cấu Tây Ninh
Bảng 4 So sánh một số chỉ tiêu SXNN tỉnh Tây Ninh với vùng ĐNB và cả nước (Trang 21)
Bảng 12: So sánh tốc độ tăng GTSX nông nghiệp Tây Ninh với cả nước - Tái cơ cấu Tây Ninh
Bảng 12 So sánh tốc độ tăng GTSX nông nghiệp Tây Ninh với cả nước (Trang 37)
Bảng 14: Diễn biến quy mô sản suất một số cây trồng chính - Tái cơ cấu Tây Ninh
Bảng 14 Diễn biến quy mô sản suất một số cây trồng chính (Trang 39)
Bảng 15: Diễn biến kết quả sản xuất ngành chăn nuôi - Tái cơ cấu Tây Ninh
Bảng 15 Diễn biến kết quả sản xuất ngành chăn nuôi (Trang 40)
Bảng 21: Một số chỉ tiêu kinh tế - tài chính đối với 1 ha khoai mì - Tái cơ cấu Tây Ninh
Bảng 21 Một số chỉ tiêu kinh tế - tài chính đối với 1 ha khoai mì (Trang 50)
Bảng 24: Một số chỉ tiêu kinh tế - tài chính đối với 1 ha mía - Tái cơ cấu Tây Ninh
Bảng 24 Một số chỉ tiêu kinh tế - tài chính đối với 1 ha mía (Trang 55)
Hình 3: Sơ đồ chuỗi giá trị sản phẩm ngành hàng rau thực phẩm - Tái cơ cấu Tây Ninh
Hình 3 Sơ đồ chuỗi giá trị sản phẩm ngành hàng rau thực phẩm (Trang 57)
Bảng 30: Một số chỉ tiêu kinh tế - tài chính đối với 1 ha trồng 3 vụ lúa - Tái cơ cấu Tây Ninh
Bảng 30 Một số chỉ tiêu kinh tế - tài chính đối với 1 ha trồng 3 vụ lúa (Trang 63)
Bảng 33: Một số chỉ tiêu kinh tế - tài chính đối với 1 ha cao su kỳ kinh doanh - Tái cơ cấu Tây Ninh
Bảng 33 Một số chỉ tiêu kinh tế - tài chính đối với 1 ha cao su kỳ kinh doanh (Trang 66)
Bảng 34: Phân bố diện tích trồng mãng cầu theo các đơn vị hành chính - Tái cơ cấu Tây Ninh
Bảng 34 Phân bố diện tích trồng mãng cầu theo các đơn vị hành chính (Trang 68)
Bảng 39: Quy mô một số ngành hàng chủ lực - Tái cơ cấu Tây Ninh
Bảng 39 Quy mô một số ngành hàng chủ lực (Trang 91)
Hình 7: Sơ đồ các mối liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản - Tái cơ cấu Tây Ninh
Hình 7 Sơ đồ các mối liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản (Trang 106)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w