Nghiên cứu tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ VĂN DŨNG
NGHIÊN CỨU TÁI CƠ CẤU NGÀNH TRỒNG TRỌT
HUYỆN GIA BÌNH TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ VĂN DŨNG
NGHIÊN CỨU TÁI CƠ CẤU NGÀNH TRỒNG TRỌT
HUYỆN GIA BÌNH TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ YẾN
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 12 năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Văn Dũng
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và
biết ơn sâu sắc TS Nguyễn Thị Yến đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức,
thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo, Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn- Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ, công chức Huyện ủy Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh và các cơ quan đơn vị trên địa bàn huyện đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 12 năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Văn Dũng
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 2
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở lý luận về tái cơ cấu ngành trồng trọt 3
1.1.1 Một số khái niệm có liên quan 3
1.1.2 Cơ cấu ngành trồng trọt 4
1.1.3 Đặc điểm của cơ cấu ngành trồng trọt 5
1.1.4.Tái cơ cấu ngành trồng trọt 6
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tái cơ cấu ngành trồng trọt 13
1.1.6 Những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tái cơ cấu nông nghiệp và ngành trồng trọt 16
1.2 Cơ sở thực tiễn tái cơ cấu ngành trồng trọt 16
1.2.1.Tái cơ cấu ngành trồng trọt quan điểm UBND tỉnh Bắc Ninh 16
1.2.2 Tình hình tái cơ cấu ngành trồng trọt tỉnh Hải Dương 20
1.2.3 Tình hình tái cơ cấu ngành trồng trọt tỉnh Thái Bình 21
1.2.4 Bài học kinh nghiệp rút ra cho tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh 23
1.3 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài 24
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 26
2.2 Nội dung nghiên cứu 26
Trang 82.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Phương pháp tiếp cận 26
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 27
2.3.3 Phương pháp tổng hợp số liệu 30
2.3.4 Phương pháp phân tích 30
2.3.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 32
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Thực trạng cơ cấu ngành trồng trọt của huyện Gia Bình 34
3.1.1 Không gian sản xuất trồng trọt của huyện Gia Bình 34
3.1.2 Thực trạng cơ cấu cây trồng trong ngành trồng trọt 46
3.1.3 Tái cơ cấu tác nhân tham gia sản xuất trồng trọt 49
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tái cơ cấu ngành trồng trọt tại huyện Gia Bình 52
3.2.1 Ảnh hưởng nhóm nhân tố tự nhiên đến tái cơ cấu ngành trồng trọt 52
3.2.2 Ảnh hưởng của nhóm nhân tố kinh tế xã hội đến việc tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình 53
3.2.3 Ảnh hưởng của nhóm nhân tố thuộc về kỹ thuật và tổ chức sản xuất 55
3.2.4 Phân tích SWOT tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình 56
3.3 Định hướng và giải pháp tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình giai đoạn 2017 - 2022 60
3.3.1 Định hướng tái cơ cấu ngành trồng trọt tại huyện Gia Bình 60
3.3.2 Những giải pháp chủ yếu tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình giai đoạn 2018-2022 61
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
1 Kết luận 66
2 Kiến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 71
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Mẫu điều tra 29 Bảng 2.2 Ma trận phân tích SWOT 32 Bảng 3.1 Thực trạng ngành trồng trọt tập trung quy mô lớn tại 3 xã điều tra
năm 2016 35 Bảng 3.2 Kết quả sử dụng đất trồng trọt bình quân 1 ha canh tác của các
hình thức tổ chức sản xuất tại 3 xã 37 Bảng 3.3 Kết quả sử dụng đất trồng trọt theo chỉ dẫn địa lý tại các xã điều
tra năm 2016 39 Bảng 3.4 Kết quả điều tra ngành trồng trọt kết hợp an ninh, quốc phòng tại
các xã năm 2016 40 Bảng 3.5 Kết quả sản xuất ngành trồng trọt nông hộ quy mô nhỏ tại các xã
điều tra năm 2016 43 Bảng 3.6 Kết quả sản xuất xuất trồng trọt liên kết sản xuất trồng trọt 45 Bảng 3.7 Kết quả tổ chức sản xuất sản phẩm theo chuỗi ngành hàng tại 3 xã
năm 2016 47 Bảng 3.8 Kết quả điều tra phân chia giá trị gia tăng trong ngành trồng trọt
tại 3 xã điều tra năm 2016 48 Bảng 3.9 Kết quả điều tra tình hình chung các tác nhân tham gia sản xuất
trồng trọt năm 2016 50 Bảng 3.10 Kết quả thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành trồng trọt 51 Bảng 3.11 Nguồn thông tin để hộ ra quyết định sản xuất kinh doanh 56
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển sản xuất nông nghiệp, trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, đặc biệt trong những năm vừa qua, cuộc khủng hoàng kinh tế trên toàn thế giới thì ngành nông nghiệp vẫn luôn khẳng định
vị trí, vai trò quan trọng trong việc ổn định hoạt động sản xuất của nền kinh tế Trong ngành nông nghiệp, hoạt động trồng trọt luôn giữ vai trò chủ yếu cả về mặt
số lượng nông sản và giá trị sản xuất Sự phát triển của ngành trồng trọt đã cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, cung cấp nguyên liệu cho các ngành chế biến ngày càng phát triển tạo ra hàng hoá xuất khẩu có giá trị cho nền kinh tế
Nước ta sản xuất nông nghiệp bắt đầu được đánh dấu mốc chói sáng từ việc đổi mới cơ chế chính sách khoán 10 năm 1981 và khoán 100 năm 1986 Thành tựu nổi bật trong những năm qua của ngành nông nghiệp là từ chỗ không đủ lương thực thì đến năm 1991 nước ta đã trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới cùng với các sản phẩm cà phê, điều, cao su, v.v… đã có thương hiệu trên thị trường quốc tế Mặc dù vậy, cùng với sự phát triển nóng của nền kinh tế trong nước và khu vực dẫn đến hệ lụy nền sản xuất nông nghiệp phát triển chưa cân đối một số sản phẩm trồng trọt có thế mạnh tạo ra sự dư thừa, hiệu quả và chất lượng sản phẩm đạt thấp; bố trí các nguồn lực trong sản xuất còn chưa phù hợp, do đó cần phải
có sự điều chỉnh cơ cấu hợp lý trong ngành trồng trọt, tiến hành sắp xếp lại các nguồn lực nhằm đem lại hiệu quả sản xuất tối ưu nhất, đồng thời phải phát huy lợi thế để sản xuất ra những sản phẩm mới chất lượng cao, đặc biệt những sản phẩm trồng trọt có thế mạnh trong sản xuất của vùng
Gia Bình là một huyện thuần nông thuộc tỉnh Bắc Ninh Đây là vùng đất màu
mỡ, được hình thành do sự bồi đắp phù sa của hai hệ thống sông Đuống và sông Thái Bình, có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Vì vậy, UBND tỉnh Bắc Ninh đã có chủ trương, định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp và xác định nông nghiệp có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế chung của tỉnh Bắc Ninh Do đó, vấn đề đặt ra làm thế nào để nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường ổn định đời sống cho người dân nông thôn là câu hỏi cần có lời giải
Trang 12cấp thiết Trong những năm gần đây do tác động của nhiều yếu tố trong và ngoài nước đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết cho nền kinh tế đặc biệt là vấn đề chuyển đổi
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu của ngành nông nghiệp huyện Gia Bình còn gặp nhiều khó khăn cần giải quyết như vấn đề ruộng đất của các hộ nông dân, nếu như trước đây người nông dân
đã gắn bó máu thịt với đồng ruộng, thì nay do hiệu quả sản xuất thấp, người nông dân không thiết tha với sản xuất nông nghiệp chuyển đổi sang các ngành nghề khác dẫn đến tình trạng bỏ ruộng hoang hóa, còn lại hộ sản xuất trồng trọt khác thì phân tán, sản xuất manh mún, mức độ đầu tư thâm canh thấp, sản xuất hàng hoá kém phát triển không gắn với thị trường và kết quả sản xuất nông nghiệp thường kém so với các ngành sản xuất khác, thu nhập hộ nông dân từ trồng trọt ngày các thấp
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tái cơ
cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng cơ cấu ngành trồng trọt tại huyện Gia Bình
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu ngành trồng trọt trên địa bàn huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh
- Đề xuất một số giải pháp tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình, Bắc Ninh giai đoạn 2018-2022
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học: Cung cấp một số luận cứ khoa học về tái cơ cấu ngành trồng trọt, góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá được thực trạng cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình, tạo cơ sở khoa học giúp người dân, chính quyền địa phương đưa ra những giải pháp cụ thể và có những kế hoạch phát huy những tiềm năng, thế mạnh ngành trồng trọt trên địa bàn huyện nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao, cải thiện mức sống cho người dân địa phương
Là tài liệu tham khảo cho chính quyền địa phương và hộ nông dân trên địa bàn huyện nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển nền trồng trọt bền vững
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về tái cơ cấu ngành trồng trọt
1.1.1 Một số khái niệm có liên quan
* Khái niệm về cơ cấu
Trước khi đi vào tìm hiểu khái niệm cơ cấu ngành trồng trọt chúng ta hãy tiếp cận nó bằng khái niệm “cơ cấu” “Cơ cấu là một phạm trù triết học dùng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành hệ thống Cơ cấu được biểu hiện như là tập hợp những mối quan hệ liên kết hữu cơ, các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định Nó biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật hiện tượng nó biến đổi cùng với sự biến đổi sự vật, hiện tượng”, vì thế khi nghiên cứu cơ cấu phải đứng trên quan điểm hệ thống
* Khái niệm về cơ cấu ngành trồng trọt
Hệ thống trồng trọt là hoạt động sản xuất của cây trồng trong nông trại, nó bao gồm tất cả các hợp phần cần thiết để sản xuất một tổ hợp các cây trồng của nông trại
và mối quan hệ của chúng với môi trường Các hợp phần này bao gồm cả yếu tố tự nhiên, yếu tố sinh học cần thiết cũng như biện pháp kỹ thuật lao động và yếu tố quản lý (Nguyễn Duy Tính, 1995)
HTTT là bao gồm tất cả thành phần cần có cho nông trại sản xuất một tập hợp các công thức luân canh (CTLC) và bao gồm việc sản xuất một số cây trồng Các hoạt động sản xuất trồng trọt của một nông trại tạo nên hệ thống trồng trọt của trang trại đó Tất cả các thành phần cần cho việc sản xuất một cây trồng cụ thể nào đó và mối quan
hệ của chúng với môi trường được coi là thuộc phạm vi một hệ thống cây trồng Các thành phần đó bao gồm, tất cả các đầu vào cần thiết cả về vật lý, sinh học công nghệ, vốn, lao động và quản lý Một CTLC bao gồm tất cả các thành phần cần có cho việc sản xuất một tập hợp cây trồng trên một mảnh ruộng trong một năm Còn hệ thống canh tác bao gồm tất cả các thành phần cần thiết cho sản xuất một tập hợp cây trồng ở nông trại (Phạm Thị Hương, 2006)
Cơ cấu ngành trồng trọt là một phạm trù khoa học biểu hiện trình độ tổ chức
và quản lý sản xuất trồng trọt, đồng thời cơ cấu ngành trồng trọt cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng của chiến lược nông sản phẩm
Trang 141.1.2 Cơ cấu ngành trồng trọt
* Cơ cấu cây trồng
Cơ cấu cây trồng là thành phần các giống, loài cây trồng có trong một vùng ở một thời điểm nhất định Nó liên quan tới cơ cấu cây trồng nông nghiệp và phản ánh sự phân công lao động trong nội bộ ngành, phù hợp với điều kiện tự nhiên-kinh tế- xã hội của một vùng nhằm cung cấp được nhiều nhất những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người (Đào Thế Tuấn, 1995)
Việc xác định cơ cấu cây trồng là một nội dung của phân vùng sản xuất nông nghiệp (Đào Thế Tuấn, 1995) Cơ cấu cây trồng xét về mặt diện tích, tỉ lệ các loại cây trồng trên diện tích canh tác sẽ phần nào nói lên trình độ sản xuất của từng vùng Tỉ lệ cây nông nghiệp cao, cây công nghiệp, cây thực phẩm thấp phản ánh trình độ sản xuất thấp Tỉ lệ các loại cây trồng có sản phẩm tiêu thụ tại chỗ cao, các loại cây trồng có giá trị hàng hoá thấp chứng tỏ sản xuất nông nghiệp ở đó kém phát triển
* Đặc trưng chủ yếu của cơ cấu cây trồng
Cơ cấu cây trồng mang tính hợp lý, khách quan, hình thành do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Cơ cấu cây trồng không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Con người chỉ có thể nắm vững các quy luật tự nhiên và xã hội để điều khiển sự vận động của cơ cấu cây trồng theo hướng có lợi cho mình
Cơ cấu cây trồng mang tính lịch sử xã hội nhất định, không có một cơ cấu cây trồng chung cho mọi vùng sản xuất, mọi giai đoạn lịch sử
Cơ cấu cây trồng biến đổi theo xu hướng ngày càng hoàn thiện, nó luôn luôn phát triển theo xu hướng từ đơn điệu đến đa dạng, từ hiệu quả thấp đến hiệu quả cao
do yêu cầu tăng trưởng và phát triển của xã hội
Cơ cấu cây trồng mở rộng phải gắn liền với sự phát triển của công nghiệp và thương nghiệp, công nghiệp chế tạo máy nông nghiệp, công nghiệp hoá chất góp phần trực tiếp khai thông “đầu vào” của hệ thống cây trồng nhằm tạo ra một cơ cấu cây trồng hợp lý để sử dụng hiệu quả “đầu vào” và điều chỉnh hợp lý “đầu ra”
Trang 151.1.3 Đặc điểm của cơ cấu ngành trồng trọt
* Cơ cấu ngành trồng trọt mang tính khách quan
Mỗi ngành, mỗi vùng đều có cơ cấu riêng của mình theo điều kiện tự nhiên xã hội, điều kiện kinh tế cụ thể Đối với cơ cấu ngành trồng trọt cũng vậy sự phát triển của nó cũng còn tuỳ thuộc vào trình độ của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội Quá trình phát triển của lực lượng sản xuất nói chung và cơ cấu cây trồng nói riêng tự nó đã xác lập tỷ lệ theo các mối quan hệ tất yếu Vai trò của yếu
tố chủ quan là thông qua nhận thức ngày càng sâu sắc của quy luật khách quan mà phân tích, đánh giá những xu hướng phát triển khác nhau đôi khi còn mâu thuẫn nhau, để tìm ra những phương án thay đổi cơ cấu có hiệu quả cao nhất trong những điều kiện cụ thể của đất nước Do đó con người có thể tác động góp phần thúc đẩy hoặc hạn chế quá trình hình thành và biến đổi cơ cấu ngành trồng trọt hợp lý và ngược lại (Vương Đình Huệ, Tạp trí cộng sản số 854)
* Cơ cấu ngành trồng trọt mang tính lịch sử và xã hội nhất định
Cơ cấu ngành trồng trọt nói riêng và cơ cấu ngành nông nghiệp nói chung đều phản ánh lên cái tính quy luật chung của quá trình phát triển kinh tế xã hội Cơ cấu này
ở mỗi nơi lại khác nhau và trong mỗi nước, mỗi vùng lại có một cơ cấu khác nhau do
đó cơ cấu ngành trồng trọt mang tính vùng miền rơ rệt Vì vậy khi hỏi người sản xuất phải tôn trọng tính vùng của ngành trồng trọt để có thể xây dựng một cơ cấu ngành linh hoạt, mềm dẻo, tránh tính cứng nhắc của một cơ cấu để đảm bảo hiệu quả kinh tế, phát huy được tính vùng (Vương Đình Huệ, Tạp trí cộng sản số 854)
* Cơ cấu ngành trồng trọt không cố định mà luôn vận động
Cơ cấu ngành trồng trọt không thể cố định mà luôn có sự biến đổi, điểu chỉnh thích hợp với sự thay đổi của các điều kiện kinh tế xã hội và tiến bộ khoa học công nghệ đảm bảo quy mô và phát triển kinh tế Trong triết học, Các Mác nói rằng: Sự vật hiện tượng luôn vận động và biến đổi không ngừng, cơ cấu ngành trồng trọt phát triển
và biến đổi chặt chẽ gắn bó với sự phát triển và biến đổi của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Lực lượng sản xuất càng phát triển thì con người càng văn minh, khoa học càng hiện đại, công nghệ càng tiên tiến, chuyên môn hoá và phân công lao động ngày càng cao, tất yếu sẽ dẫn đến cơ cấu kinh tế ngày càng hoàn thiện
Trang 16Bên cạnh đó là sự vận động và biến đổi của các bộ phận kinh tế Đây là mối quan hệ chuyển hoá lẫn nhau Bộ phận kinh tế thay đổi phát triển hơn tất yếu sẽ kéo theo cơ cấu kinh tế ngày một biến đổi hoàn thiện hơn Từ sự thay đổi về lượng đến sự thay đổi về chất, một cơ cấu kinh tế mới ra đời tiến bộ hơn để phù hợp với sự biến đổi đó,
nó phản ánh sự phát triển không ngừng của văn minh nhân loại
Tuy nhiên cơ cấu kinh tế luôn luôn thay đổi mà nó phải tương đối ổn định nhằm đảm bảo sự phù hợp với quá tŕnh hình thành và phát triển của nó một cách khách quan Bởi vì sự thay đổi thường xuyên của cơ cấu kinh tế sẽ tạo sự thay đổi không ổn định của sản xuất, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật gây nên lăng phí tổn thất cho nền kinh tế (Vương Đình Huệ, Tạp trí cộng sản số 854)
1.1.4 Tái cơ cấu ngành trồng trọt
* Khái niệm tái cơ cấu ngành trồng trọt
Theo tác phẩm “Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm qua” của Trung tâm thông tin - tư liệu số 6/2014 đưa ra khái niệm tái
cơ cấu ngành trồng trọt là “Quá trình tiếp tục phát triển trồng trọt gắn với bố trí, sắp sếp lại các chuyên ngành sản xuất theo nguyên tắc sử dụng tối đa lợi thế so sánh và
sử dụng tối ưu các nguồn lực đầu vào để tạo ra hiệu quả kinh tế, năng lực cạnh tranh cao hơn, bền vững hơn cho toàn ngành, là quá trình phát triển gắn với thay đổi quy
mô sản xuất của các chuyên ngành nhằm tạo ra các nông sản có chất lượng và giá trị cao, phù hợp với nhu cầu của thị trường, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước, nâng cao thu nhập cho nông dân và đảm bảo tính bền vững”
Theo Vương Đình Huệ (2013) mục tiêu và nội dung của tái cơ cấu ngành trồng trọt gồm những nội dung chủ yếu sau:
* Mục tiêu của tái cơ cấu ngành trồng trọt
Tái cơ cấu cũng nhằm tạo ra sự thay đổi phù hợp về quan hệ sản xuất với sự phát triển của lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, hoàn thiện vai trò của Nhà nước trong ngành nông nghiệp về đầu tư, phân bổ nguồn lực, quản lý đất đai, cung ứng dịch vụ công, quản trị chuỗi ngành hàng, thị trường để nông dân và doanh nghiệp trở thành chủ thể và động lực trong đầu tư và phát triển sản xuất
Trang 17Chú trọng mục tiêu tái cơ cấu nhằm xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên, liên kết chặt chẽ với chuỗi giá trị toàn cầu, tạo việc làm, tăng thu nhập của nông dân, bảo đảm an ninh lương thực - thực phẩm, ổn định xã hội
Mục tiêu tái cơ cấu còn nhằm tạo ra mối liên kết chặt chẽ, hiệu quả, hài hòa và hợp lý giữa công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp, giữa đô thị và nông thôn, giữa giai cấp công nhân và nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
* Nội dung tái cơ cấu ngành trồng trọt
- Thứ nhất: tái cơ cấu không gian sản xuất trồng trọt
Trên mỗi vùng của đất nước, trồng trọt có lợi thế và chức năng, vai trò kinh tế, xã hội, sinh thái môi trường khác nhau Do vậy, cần thiết có nhiều mô hình sản xuất trồng trọt phù hợp với từng vùng Quá trình tái cơ cấu cần định hình rõ cơ chế, chính sách, chiến lược phát triển các mô hình sản xuất phù hợp theo vùng, miền
+ Khu vực phát triển ngành trồng trọt hiện đại, tập trung quy mô lớn: Đây là khu vực có quy mô sản xuất lớn và hiện đại, dùng những tiêu chuẩn hiện đại nhất về sản xuất, quản trị trồng trọt để tạo ra giá trị gia tăng về kinh tế, có chuỗi thương mại mạnh được quản trị tốt, có thương hiệu, giá trị gia tăng cao Mô hình này có thể triển khai: 1- Ở vùng đã đủ điều kiện cho phát triển trồng trọt hiện đại như lao động trồng trọt giảm nhiều, công nghiệp hóa (CNH) và đô thị hóa (ĐTH) mạnh, tỷ trọng nông nghiệp thấp; 2- Ở vùng dù CNH và ĐTH chưa thực sự mạnh, nhưng trồng trọt
là thế mạnh có lợi thế so sánh cao, công nghiệp hóa nông nghiệp là động lực chính phát triển kinh tế địa phương, có những ngành hàng xuất khẩu quan trọng Cần phát triển một bộ phận trồng trọt thành ngành hiện đại tập trung quy mô lớn như cà phê, chè, lâm nghiệp ; 3- Ở những vùng sản xuất trồng trọt khó khăn, CNH và đô thị hóa thấp, nhưng lao động dồi dào, trình độ cao, thì cần phát triển nền trồng trọt quy mô lớn, tập trung nhưng sử dụng ít đất đai, cần nhiều lao động trình độ cao, như trồng trọt công nghệ cao phù hợp với chiến lược này
Tại những địa phương này, cần có quy hoạch những vùng sản xuất với cơ chế quản lý về đất đai khuyến khích quy mô lớn Chính sách phát triển trồng trọt tuân thủ quản trị hiện đại, hệ thống hạ tầng, quản lý sản xuất, quản lý vệ sinh an toàn
Trang 18thực phẩm theo chuẩn quốc tế cao nhất, sản phẩm nông sản đáp ứng yêu cầu của những nhà nhập khẩu lớn và khắt khe, cung ứng cho thị trường trong nước những sản phẩm cạnh tranh và vệ sinh an toàn thực phẩm cao Đây là khu vực, mô hình tăng trưởng nông nghiệp dựa trên kinh tế quy mô, với bản chất là nông sản được sản xuất đồng loạt ít có tính đặc thù, cạnh tranh trên thị trường trên cơ sở giá bán, thương hiệu doanh nghiệp, sản xuất quy mô lớn đồng loạt, chi phí thấp Ở vùng này, kinh tế hộ nông trại quy mô lớn đóng vai trò chủ đạo và liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp thành chuỗi khép kín, chuyên môn hóa cao, quản trị minh bạch, có giám sát của Nhà nước và xã hội về tài chính và quản trị chất lượng
+ Khu vực phát triển ngành trồng trọt sinh thái, tự nhiên: Tại các khu vực miền núi, ven biển, trồng trọt đồng thời có chức năng kinh tế và chức năng sinh thái, cần xây dựng mô hình phát triển trồng trọt theo hướng quản trị chặt chẽ về sinh thái, không đòi hỏi mức độ thâm canh cao Có thể tổ chức rừng, nuôi ong gắn với rừng, nuôi thủy sản gắn với khu bảo tồn sinh thái, rừng nước lợ, trồng trọt theo mô hình nông, lâm kết hợp ít thâm canh, trồng lúa hữu cơ Giá trị sinh thái chính là yếu tố quan trọng nhất tạo nên giá trị gia tăng của sản phẩm, tạo hình ảnh sản phẩm
và thương hiệu làm cơ sở tăng trưởng trồng trọt và tăng thu nhập của nông dân Sản phẩm có nhãn mác sinh thái sẽ có giá cao hơn sản phẩm thường, được các nước phát triển ưu đãi trong lưu thông, bù lại những hạn chế về quy mô sản xuất nhỏ hơn,
ít thâm canh, năng suất thấp hơn Mô hình này thuận lợi nhất là ở các vùng ven biển trồng rừng chăn sóng kết hợp sinh thái như đầm phá hoặc các sản phẩm trồng trọt ở một số nơi của vùng miền
+ Khu vực phát triển ngành trồng trọt có chỉ dẫn địa lý: Những khu vực mà chất lượng sản phẩm nông sản có tính đặc thù xuất phát từ hệ sinh thái và văn hóa bản địa, có sự khác biệt rõ nét so với sản phẩm cùng loại từ địa phương khác, thì có thể quy hoạch phát triển vùng sản xuất chỉ dẫn địa lý (12) Mô hình này có lợi thế cạnh tranh, nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập của người sản xuất, doanh nghiệp dựa trên nhân tố đặc thù bản địa của sản phẩm Mặt khác, sản phẩm đóng gói nhãn mác dùng chỉ dẫn địa lý có thuận lợi thương mại rất lớn thông qua những thỏa thuận bảo hộ chỉ dẫn địa lý, tên gọi xuất xứ song phương hoặc đa phương (13), đồng thời gắn kết với du lịch nông nghiệp sinh thái tạo giá trị tổng hợp cho địa phương
Trang 19Như kinh nghiệm các nước và Việt Nam, vùng sản xuất đặc sản thường gắn với sinh kế hộ nghèo, vùng dân tộc nên đây là một cách tiếp cận tốt để phát triển nông thôn các vùng khó khăn Quy mô sản xuất có thể lớn, nhưng phần lớn là quy mô nhỏ, rất đa dạng về chất lượng sản phẩm và phải bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, tính đặc thù cao về chất lượng Nhiều sản phẩm, như lúa mì, chè, cà phê của nhiều nước
đã áp dụng mô hình tổ chức sản xuất này với doanh số hàng trăm tỷ USD
+ Khu vực phát triển ngành trồng trọt kết hợp an ninh, quốc phòng: Tại nhiều vùng biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc còn khó khăn, sản xuất trồng trọt không chỉ với mục đích kinh tế mà còn để ổn định xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng Cần nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức sản xuất trồng trọt với sự hỗ trợ mạnh của Nhà nước về dịch vụ công theo cơ chế thị trường Cần hình thành cơ chế, chính sách về: 1- Quy hoạch những khu vực đồng bào dân tộc rất khó khăn trong hội nhập kinh tế thị trường, nhất là ở các vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, vùng hải đảo, biên giới; 2- Xây dựng các hệ thống sản xuất trồng trọt, có thể kết hợp mô hình sản xuất sinh thái và chỉ dẫn địa lý nếu có điều kiện, với sự hỗ trợ mạnh của mạng lưới dịch vụ công; 3- Xây dựng các chuỗi ngành hàng với sản phẩm từ vùng này được đưa ra thị trường; 4- Ban hành cơ chế, chính sách, thể chế về mô hình sản xuất, tổ chức dân cư, trên cơ sở các cụm tái định cư đồng bộ cả tổ chức sản xuất nông nghiệp, chế biến, thương mại và tổ chức xã hội Thu nhập của khu vực này có thể từ bán sản phẩm trồng trọt, tiền hỗ trợ của Chính phủ trong xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ bảo vệ rừng, du lịch văn hóa và tâm linh Việc tổ chức mô hình sản xuất cần đa dạng, có thể doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp công ích, tổ chức cộng đồng trên cơ sở phối hợp chặt chẽ với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an Tại nhiều địa bàn, các đồn biên phòng có thể tham gia cùng cộng đồng dân cư tổ chức sản xuất, tổ chức xã hội để bảo đảm quân bám dân, dựa vào dân để sản xuất và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
+ Khu vực sản xuất nông hộ quy mô nhỏ: Đây là mô hình phổ biến hiện nay
và vẫn sẽ tồn tại trong thời gian dài ở nhiều vùng, do sinh kế của người dân vẫn dựa chủ yếu vào sản xuất trồng trọt Mô hình sản xuất này sẽ dần thu hẹp phạm vi, địa bàn và số lượng nông dân tham gia không phải bằng giải pháp hành chính mà phải trên cơ sở thực thi các biện pháp kinh tế, tạo việc làm mới cho nông dân Để giúp
Trang 20cho hộ sản xuất quy mô nhỏ tham gia thị trường, tăng thu nhập, cần có một số giải pháp: 1- Hình thành các chợ nông dân bán hàng trực tiếp trên các khu vực nhất định
để có thêm thu nhập; 2- Hỗ trợ phát triển chế biến quy mô nhỏ hộ gia đình, bán sản phẩm trực tiếp, hoặc hỗ trợ phân phối sản phẩm; 3- Giúp hình thành các hợp tác xã (HTX), hiệp hội kết nối với thị trường đầu vào, đầu ra, quảng bá sản phẩm Tại vùng này, Nhà nước cần có chính sách thu hút đầu tư công nghiệp, dịch vụ ở quy
mô phù hợp, ưu tiên đào tạo đưa lao động đi xuất khẩu và vào các vùng công nghiệp, dịch vụ để tạo việc làm phi nông nghiệp, chủ động rút dần lao động ra khỏi nông nghiệp
+ Khu vực tổ chức cụm liên kết sản xuất công, nông nghiệp và dịch vụ: Nhà nước cần có quy hoạch tổng thể quốc gia, vùng, tỉnh về mạng lưới cụm công - nông nghiệp - dịch vụ phục vụ nông nghiệp Đây chính là việc cụ thể hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa X trong giải quyết mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa đô thị và nông thôn Căn cứ vào mạng lưới các kênh ngành hàng, quy hoạch các khu vực dự trữ và giao dịch hàng hóa, logistic, đóng gói, chế biến, thương mại, sàn giao dịch quốc tế Các nhà phân phối, doanh nghiệp nên được hỗ trợ về tín dụng, tiếp cận đất đai, quản trị doanh nghiệp Phương thức đầu tư có thể theo mô hình hợp tác công tư PPP hoặc đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các hình thức đầu tư xã hội khác để phát triển các kênh thương mại hàng hóa Các điểm nút lớn của các kênh hàng lớn có thể được quy hoạch phát triển thành các cụm công, nông nghiệp và dịch vụ để kết nối với các vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm Có thể
áp dụng cụm công, nông nghiệp và dịch vụ với các ngành hàng lớn, như lúa gạo, thủy sản, cà phê, chè, điều, thịt lợn, sữa ở các vùng sản xuất lớn Cũng cần hỗ trợ phát triển và nhân rộng các mô hình cụm chế biến thương mại nông sản truyền thống ở nhiều vùng, địa phương đang có hiện nay
- Thứ hai: tái cơ cấu chuỗi ngành hàng nông sản
+ Tái cơ cấu sản xuất sản phẩm nông lâm ngư: Cần có chính sách sử dụng linh hoạt đất trồng lúa trên cơ sở bảo đảm an ninh lương thực và chuyển đổi một số diện tích đất lúa sang trồng những cây khác phù hợp với điều kiện và lợi thế từng vùng (trồng cỏ nuôi bò sữa, ngô, đậu tương, thanh long, hoa, rau ) nhưng không được
Trang 21làm thay đổi điều kiện cơ bản của đất lúa Như vậy, cần chuyển đổi cơ cấu nông sản, ưu tiên tăng giá trị những cây trồng khác có lợi thế và giá trị gia tăng cao hơn, như ngành chăn nuôi bò sữa, rau, hoa, quả, Mỗi vùng cần có quy hoạch ưu tiên sản phẩm lợi thế để thúc đẩy tái cơ cấu không chỉ về sản lượng mà về giá trị, thu nhập của người dân(14) Tuy nhiên trong thực hiện việc chuyển đổi này, nhất là khi hình thành mới những vùng có sản lượng lớn ngô, đậu tương, thanh long cần chủ động quy hoạch và tổ chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ, tránh cách làm tự phát mang tính phong trào
+ Tái cơ cấu phân chia giá trị gia tăng trong ngành hàng: Cần có cơ chế, chính sách thúc đẩy các công đoạn giá trị gia tăng cao của các ngành nông, lâm, thủy sản trên lãnh thổ Việt Nam, như chế biến, dịch vụ logistic, đóng gói, nhất là chế biến sâu thành thực phẩm và hàng sử dụng cuối cùng, như đồ gia dụng, đồ dùng cho công nghiệp Trước hết, cần ưu tiên đối với các ngành hàng mà Việt Nam có thế mạnh, như cà phê, cao su, điều, ca cao, tiêu, thủy sản, chế biến sâu sản phẩm lâm sản, sữa, thịt kêu gọi đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài cùng với doanh nghiệp Việt Nam vì họ có thương hiệu và kênh phân phối, nhằm dịch chuyển chế biến, đóng gói, logistics của nước ngoài về Việt Nam Hạn chế cấp phép dự án đầu tư nước ngoài không có chế biến đến sản phẩm cuối cùng trên lãnh thổ Việt Nam, có chính sách ưu tiên về giao đất, thuế, tín dụng đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước có chế biến sâu đến sản phẩm cuối cùng Với những ngành hàng nhỏ, đặc sản nên khuyến khích chế biến, đóng gói quy mô nhỏ ở các cụm công - nông nghiệp địa phương, hộ gia đình Cần thúc đẩy kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước để hình thành cụm công nghiệp chế biến, dịch vụ cho các ngành hàng nông, lâm, thủy sản quốc tế trong điều kiện hội nhập, biến Việt Nam thành trung tâm chế biến và dịch vụ nông sản quốc tế
- Thứ ba: tái cơ cấu tác nhân tham gia sản xuất trồng trọt
Trong tái cơ cấu trồng trọt, cần chú ý tăng nhanh số lượng và chất lượng các tác nhân sau:
+ Tăng số lượng và chất lượng các nông trại quy mô lớn có quản trị chuyên nghiệp và hiện đại Ở những vùng CNH và ĐTH mạnh, lao động đã rút đáng kể ra
Trang 22khỏi nông nghiệp, Nhà nước từng bước cần có chính sách điều tiết hạn chế sản xuất quy mô nhỏ, khuyến khích tập trung và tích tụ ruộng đất theo quy định của Luật Đất đai (sửa đổi) thành trang trại quy mô lớn Ban hành cơ chế, chính sách quản trị trang trại theo quy mô sản xuất(15), gắn với các tiêu chuẩn, chuẩn mực đòi hỏi trong thương mại quốc tế và quản lý tài nguyên, môi trường
+ Chính sách tái cơ cấu cần thúc đẩy sự phát triển các HTX sản xuất nông nghiệp kiểu mới, trên cơ sở liên kết của những nông dân cùng nghề nghiệp để tăng quy mô, ứng dụng khoa học công nghệ, cùng đầu tư, quản lý chất lượng sản phẩm, cung ứng sản phẩm ra thị trường, mua vật tư và dịch vụ đầu vào Những ngành hàng sản xuất quy mô lớn, xuất khẩu cần được ưu tiên phát triển các HTX chuyên ngành trong sản xuất, liên kết thương mại theo chuỗi, ví dụ như các HTX liên kết các trang trại chăn nuôi, cà phê, nuôi tôm, nuôi cá tra, trồng hoa, lúa gạo Cần thúc đẩy vai trò của HTX trong kết nối với doanh nghiệp xây dựng chuỗi thương mại(16), củng cố các hiệp hội ngành hàng, trong đó HTX nông trại của nông dân về trồng cà phê, chè, cao su, mía đường, lúa gạo, cần có vai trò xứng đáng và quan trọng hơn, nhất là vùng sản xuất hàng hóa lớn Ở các vùng nông hộ sản xuất hàng hóa quy mô nhỏ, thúc đẩy phát triển các HTX dịch vụ tổng hợp Ở vùng sản xuất tự cung tự cấp, nên phát triển các hình thức tổ chức cộng đồng Với những HTX dịch
vụ, cần thiết có chính sách hỗ trợ để trở thành tác nhân quan trọng trong cung ứng dịch vụ nông nghiệp, làm đầu mối đón nhận và triển khai dịch vụ công ở cộng đồng, như khuyến nông, tín dụng, hỗ trợ marketing, quản lý chất lượng, kiểm soát bảo vệ thực vật, bảo vệ rừng, quản lý mặt nước
+ Có chính sách quy hoạch phát triển mạng lưới doanh nghiệp nông nghiệp, cụm liên kết sản xuất công, nông nghiệp trong các lĩnh vực, theo vùng, miền để có thể làm cơ sở liên kết với nông dân, kết nối với bên ngoài, phát triển các hoạt động chế biến sâu, dịch vụ, logistics Một số mô hình liên kết đã thành công như trong sản xuất sữa của Vinamilk ở Ba Vì, mía đường ở Lam Sơn, “cánh đồng mẫu lớn” sản xuất lúa gạo của Công ty cổ phẩn Bảo vệ thực vật An Giang, liên kết đầu tư trồng cao su ở 3 tỉnh phía Bắc Cần sớm tổ chức triển khai Quyết định số 62/2014/QĐ-TTg, ngày 25-10-2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách
Trang 23khuyến khích phát triển kinh tế hợp tác, liên kết sản xuất, gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng mẫu lớn (thay thế Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về liên kết “4 nhà”) Ưu tiên các liên kết đầu tư trong sản xuất và chế biến, thương mại; sản xuất theo cùng quy trình kỹ thuật chung để có sản phẩm đồng đều và cùng chất lượng; xây dựng kế hoạch chung toàn chuỗi ngành hàng; cùng quản trị thương hiệu; toàn chuỗi ngành hàng có cùng quản trị về truy suất nguồn gốc
và chất lượng sản phẩm; chia sẻ rủi ro; chia sẻ giá trị gia tăng và lợi nhuận Các chính sách hỗ trợ nên thúc đẩy, ưu đãi sự hình thành và phát triển các yếu tố liên kết,
để làm động lực cho liên kết giữa nông dân với nhau, giữa nông dân và doanh nghiệp Mục đích là tạo ra được sản phẩm rẻ hơn nhờ hiệu ứng của kinh tế quy mô, quản trị chất lượng sản phẩm tốt hơn nhờ hành động tập thể, tính cạnh tranh cao hơn, cung ứng ra thị trường sản phẩm có chất lượng đồng đều, ổn định và tin cậy
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tái cơ cấu ngành trồng trọt
Trong điều kiện nguồn lực có hạn và sự tác động của các quy luật khan hiếm không thể tạo ra kết quả bằng mọi giá mà phải dựa trên sự dụng nguồn lực ít nhất, lúc này phạm trù hiệu quả kinh tế ra đời Vì vậy, các yếu tố ảnh hưởng đến tái cơ cấu ngành trồng trọt là:
- Thời tiết, khí hậu: Mỗi loại cây trồng thường thích nghi ở các vùng sinh thái khác nhau đem lại hiệu quả khác nhau cả về năng suất và chất lượng sản phẩm từ đó
Trang 24cho hiệu quả khác nhau Ở ngưỡng nhiệt độ thích hợp các loại cây trồng sẽ phát triển tốt, cho năng suất cây trồng ở mức tối ưu Ngoài ra, các yếu tố như: độ ẩm, lượng mưa, nguồn nước…cũng hết sức quan trọng
b Nhóm nhân tố kinh tế xã hội
Trong thời đại công nghệ hiện đại hóa, cơ giới hóa trồng trọt phát triển thì các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên con người có thể hạn chế, khắc phục được một phần đáng kể các yếu tố không thuận lợi Vì thế nhóm nhân tố kinh tế xã hội (vốn, lao động…) có ảnh hướng lớn nhất tới tái cơ cấu ngành trồng trọt
- Vốn sản xuất: Vốn là điều kiện tiên quyết để phát triển sản xuất Vốn được
sử dụng để xây dựng cơ sở vật chất, mua cây giống, đầu tư sản xuất, thuê lao động,
mở rộng quy mô, đầu tư áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
- Lao động: Lao động là yếu tố hết sức quan trọng trong việc phát triển sản xuất trồng trọt Tuy không đòi hỏi quá nhiều về trình độ nhưng chất lượng lao động ảnh hưởng sâu sắc tới HQKT trong trồng trọt Kiến thức và kĩ năng của người sử dụng nguồn lực, chẳng hạn sự tiếp thu kĩ thuật của người nông dân và năng suất cây trồng có quan hệ chặt chẽ đến kiến thức và kỹ thuật canh tác Trình độ và kinh nghiệm cũng có thể coi là các yếu tố ảnh hưởng đến tái cơ cấu ngành trồng trọt, trình độ của người nông dân cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng trong việc tái cơ cấu cây trồng của các nông hộ trong giai đoạn đầu của sản xuất nông nghiệp hàng hóa, khi kỹ thuật áp dụng chưa phải cần nhiều vốn thì việc đa dạng hóa sản xuất là một xu thế cần thiết cho sự phát triển
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Thị trường có vai trò quan trọng đối với sản xuất kinh doanh và sự phát triển thúc đẩy tái cơ cấu ngành trồng trọt Đây là khâu then chốt của sản xuất hàng hóa, thị trường chính là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng Nó cho chúng ta biết kết quả sản xuất của một chu kỳ kinh doanh Ngày nay, khi đời sống kinh tế xã hộ phát triển thì nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng tăng cao đòi hỏi thị trường phải cung cấp những sản phẩm có chất lượng cao, an toàn thực phẩm Cơ cấu thị trường bao gồm thị trường đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh Chẳng hạn đối với thị trường trồng trọt, phần lớn có tính cạnh tranh hoàn hảo hơn so với các ngành khác Vì vậy, tạo ra môi trường cạnh
Trang 25tranh lành mạnh trong đó các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân phải có quyền ngang nhau trong việc tạo vốn, sử dụng thông tin, mua bán sản phẩm
Một khó khăn khiến người nông dân ngần ngại tái cơ cấu trồng trọt là vì thiếu thị trường tiêu thụ nông sản Do đó để tìm kiếm mở rộng thị trường, Chính phủ cần
có chính sách để tạo môi trường lành mạnh, song phẳng trong phát triển thị trường và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường giao thông, mạng lưới điện và thông tin
- Các chính sách kinh tế xã hội của nhà nước: Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ hành chính bao cấp sang nền kinh tế thị trường, sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước là hết sực quan trọng Nó có thể khuyến khích sự phát triển của một ngành sản xuất nào đó hoặc ngược lại kìm hãm sự phát triển của ngành đó
Những mô hình trồng cây công nghệ cao đã phát triển khá nhanh trong nhiều năm qua tuy nhiên vẫn cần sự can thiệp giúp đỡ của Nhà nước để phát triển toàn diện hơn Chính phủ cũng như các bộ ngành, các tỉnh cũng đã có nhiều chính sách nhằm thúc đẩy kinh tế, sức sản xuất của người nông dân Mới đây Chính phủ đã ban hành nghị định 42/2012/NĐ - CP về chính sách bảo tồn và phát triển đất trồng lúa nước
Có hai nhóm chính sách, một là chính sách thông qua giá như chính sách giá sản phẩm, chính sách đầu vào, thuế…có tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh tế Hai là các chính sách không thông qua giá như phát triển cơ sở hạ tầng, giáo dục, khuyến nông, cung cấp tín dụng, nghiên cứu và phát triển… có tác động gián tiếp đến hiệu quả kinh tế
- Cơ sở hạ tầng của sản xuất cũng là yếu tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến hiệu quả kinh tế Chúng bao gồm giao thông, thủy lợi, thông tin, các dịch
vụ về sản xuất và khoa học kỹ thuật, sự hỗ trợ của công nghệ chế biến nông sản nhất là sự hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp chuyên môn hóa
c Nhóm nhân tố thuộc về kỹ thuật và tổ chức sản xuất
- Bản chất của kĩ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất: Điều này có nghĩa là đổi mới công nghệ có thể hướng tới việc tiết kiệm nguồn lực Sự phát triển công nghệ đòi hỏi phải đảm bảo sử dụng đầu vào tiết kiệm Vì vậy hiệu quả sử dụng nguồn lực phụ thuộc lớn vào công nghệ được áp dụng trong sản xuất Với cùng chủng loại và số lượng đầu vào nhưng sự thay đổi cách thức và kỹ năng sử dụng sẽ dẫn đến thay đổi lớn trong hiệu quả kinh tế
Trang 26- Giống cây trồng: Đối tượng sản xuất của trồng trọt là cây trồng nên nó tuân theo các quy luật sinh học Vì thế việc lựa chọn giống cây trồng là hết sức quan trọng, phải lựa chọn những giống phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng, phải thay đổi các giống mới…
- Cách thức tổ chức sản xuất: Việc lựa chọn một hình thức sản xuất hợp lý sẽ tạo điều kiện cho phát triển nông hộ Các hình thức tổ chức sản xuất khác nhau sẽ đem lại hiệu quả kinh tế khác nhau
1.2 Cơ sở thực tiễn tái cơ cấu ngành trồng trọt
1.2.1 Những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tái cơ cấu nông nghiệp và ngành trồng trọt
Đảng và Nhà nước đã thấy rõ những điểm yếu trong sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng, để tạo bước đột phá trong nông nghiệp, đưa nông nghiệp đi lên con đường làm ăn lớn, phát huy được thế mạnh của một nước nông nghiệp và hội nhập tích cực với khu vực và thế giới… Ngày 10/06/2013, Thủ tướng Chính phủ chính thức Phê duyệt “Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”
Trong Báo cáo của Chính phủ do Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trình bày tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá XIII cũng nêu rõ, đã thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành tái cơ cấu nông nghiệp Xây dựng và triển khai thực hiện nhiều Đề án tái cơ cấu nội ngành, quy hoạch tổng thể vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và các chính sách mới về quản lý đất lúa Đánh giá việc thực hiện Đề án, trong cuộc họp ngày 19/5/2015 của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát cho biết: Cả nước đã triển khai mạnh việc thực hiện công tác tái cơ cấu theo định hướng
và chỉ đạo của Chính phủ Phó Thủ tướng nhấn mạnh, cần xác định thị trường là yếu tố quan trọng Cùng với đó phải đẩy mạnh việc tìm hiểu luật pháp, đặc biệt là các luật về thương mại cho người dân và doanh nghiệp Thống nhất về hoạt động của Ban chỉ đạo liên ngành trong thời gian tới, Phó Thủ tướng yêu cầu phải triển khai mạnh mẽ việc tuyên truyền Phạm vi triển khai chương trình phải từ cấp xã trở lên, lấy nông dân làm đối tượng chính Địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền đến
Trang 27người dân và doanh nghiệp về sức ép cạnh tranh trong thời gian tới để có động lực phải tự liên kết để thay đổi quan hệ sản xuất
* Mục tiêu hướng đến
- Lấy “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn” là một nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- Duy trì tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ở mức bình quân 3,5-4%/năm
- Hình thành một số ngành sản xuất kinh doanh nông nghiệp mũi nhọn
- Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển đổi theo nhu cầu thị trường Phối hợp hiệu quả sản xuất công nghiệp, dịch vụ và kinh tế đô thị với sản xuất - kinh doanh nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn
- Cơ cấu lại lao động trong ngành nông nghiệp, đưa tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống còn khoảng 30% lao động xã hội Hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, có kỹ năng sản xuất và quản lý, gắn kết trong các loại hình kinh tế hợp tác
và kết nối với thị trường
- Xây dựng bộ mặt nông thôn mới (ít nhất 50% số xã đạt tiêu chuẩn) Quy hoạch dân cư, quy hoạch lãnh thổ nông thôn gắn với phát triển đô thị, công nghiệp Điều này Đảng và Chính phủ đang trăn trở, tìm mọi biện pháp để khắc phục yếu kém, phát huy thế mạnh, đưa sản xuất nông nghiệp và sản phẩm nông nghiệp vào cuộc cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường
Theo Quyết định Số: 1006/QĐ-BNN-TT ngày 13 tháng 5 năm 2014 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Quyết định Ban hành Kế hoạch thực hiện tái
cơ cấu lĩnh vực trồng trọt năm 2014 - 2015 và giai đoạn 2016-2020
1.2.2.Tái cơ cấu ngành trồng trọt quan điểm UBND tỉnh Bắc Ninh
Từ những yêu cầu của thực tiễn, trên cơ sở tái cơ cấu ngành nông nghiệp của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, UBND tỉnh Bắc Ninh ban hành Quyết định số: 1203/QÐ-UBND ngày 18 tháng 11 năm 2014, Ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”
Theo Quyết định này thì ngành trồng trọt được tái cơ cấu theo định hướng sau: Mục tiêu phát triển bền vững cần phải được áp dụng xuyên suốt giữa các ngành và
Trang 28các vùng Trong chiến lược phát triển dài hạn từng ngành, lĩnh vực cần quan tâm đến cả ba khía cạnh “kinh tế”, “xã hội” và “môi trường”
Định hướng tái cơ cấu trong một số lĩnh vực nông nghiệp cụ thể như sau: Trong phát triển nông nghiệp, trồng trọt vẫn giữ vai trò quan trọng, góp phần đảm bảo cung cấp đầy đủ lương thực cho nhu cầu của tỉnh Tái cơ cấu trồng trọt được thực hiện trên cơ sở đa dạng hóa cây trồng, sản phẩm, phát huy lợi thế vùng, miền; đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao nhằm tăng năng suất, chất lượng, giảm giá thành và thích ứng với biến đổi khí hậu; chú trọng các khâu công nghệ sau thu hoạch và chế biến, đặc biệt là khâu chế biến nhằm nâng cao giá trị gia tăng
Tập trung phát triển sản xuất hàng hóa thành các vùng sản xuất quy mô đủ lớn,
sử dụng công nghệ cao gắn với bảo quản chế biến, đẩy mạnh cơ giới hóa và ứng dụng máy móc công nghệ hiện đại, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường Tiếp tục duy trì tỷ lệ lúa lai để đảm bảo An ninh lương thực; đồng thời phát triển lúa hàng hóa chất lượng cao để nâng cao giá trị gia tăng Phát triển mạnh sản xuất rau màu, hoa cây cảnh, cây công nghiệp theo hướng tăng diện tích, năng suất
và chất lượng sản phẩm
- Về sản xuất lúa gạo: Sản xuất lúa gạo một mặt để đảm bảo an ninh lương
thực của tỉnh nhưng đồng thời cần nâng cao thu nhập cho người trồng lúa Ở những vùng có điều kiện thuận lợi, cần khuyến khích áp dụng phương pháp canh tác mới, xây dựng cánh đồng mẫu lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật để giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao chất lượng sản phẩm và nâng cao hiệu quả sử dụng sản phẩm phụ của sản xuất lúa gạo (rơm, rạ, trấu,…) Cụ thể:
Duy trì và sử dụng linh hoạt diện tích đất trồng lúa, giai đoạn 2014-2015 toàn tỉnh ổn định khoảng 36.000 ha, giai đoạn 2016-2020 giữ mức trên 33.500 ha Trong đó: Thành phố Bắc Ninh diện tích lúa từ 2.300-2.700ha, Thị xã Từ Sơn từ 2.000-2.500ha, Tiên Du 3.800-4.100ha, Quế Võ 6.900-7.100ha, Yên Phong 4.300-5.000ha, Gia Bình 4.100-4.200ha, Lương Tài 4.700-4.800ha Phấn đấu giữ năng suất lúa bình quân toàn tỉnh đạt từ 62 tạ/ha, sản lượng lúa đạt trên 415.000 tấn vào năm 2020
Trang 29- Về sản xuất ngô: Tập trung khai thác tối đa lợi thế các vùng đất bãi Đến năm
2020 ổn định diện tích 3.000 ha, nhưng cần tăng cường đầu tư thâm canh, ứng dụng TBKT để tăng năng suất và sản lượng, phấn đấu đến 2015 năng suất ngô bình quân đạt 46 tạ/ha; sản lượng đạt trên 13.800 tấn, đến năm 2020 năng suất ngô đạt 50 tạ/ha, sản lượng 15.000 tấn Trong đó diện tích ngô lai, ngô biến đổi gen có năng suất cao chiếm trên 95% diện tích gieo trồng, 5% diện tích gieo trồng giống ngô khác
- Các loại cây có củ (sắn, khoai lang, dong riềng…): Tập trung chủ yếu tại các
vùng không thuận lợi tưới tiêu, phấn đấu đến năm 2020 ổn định diện tích khoảng 800ha, sản phẩm chủ yếu phục vụ chăn nuôi hộ gia đình, diện tích còn lại chuyển đổi sang phát triển các loại cây công nghiệp ngắn ngày có hiệu quả kinh tế cao hơn
- Các loại cây công nghiệp ngắn ngày: Phát triển cây công nghiệp hàng năm
có giá trị hàng hóa cao như lạc, đậu tương; đưa giống mới năng suất cao, phẩm chất tốt vào sản xuất đại trà kết hợp với áp dụng quy trình thâm canh phù hợp Cụ thể: + Cây đậu tương: Phấn đấu đến năm 2020 diện tích đạt 1.800-1.900ha, đến năm 2015 năng suất đạt 20 tạ/ha, sản lượng đạt 3.600 tấn; năm 2020 năng suất đạt
22 tạ/ha, sản lượng đạt 3.900 tấn Tập trung xây dựng một số vùng sản xuất đậu tương tập trung chuyên canh để cung cấp nguyên liệu cho nhà máy chế biến trên địa bàn tỉnh
+ Cây lạc: Đến năm 2020 diện tích đạt từ 800-1.000ha, ngoài việc mở rộng diện tích gieo trồng cần tập trung đầu tư thâm canh để tăng năng suất, phấn đấu năng suất lạc đạt từ 24-25 tạ/ha, sản lượng mỗi năm đạt từ 2.400-2.500tấn
- Đối với cây rau thực phẩm: Tập trung xây dựng các vùng rau chuyên canh
truyền thống sản xuất theo hướng an toàn được chứng nhận, tăng cường áp dụng công nghệ cao, giám sát việc sử dụng phân bón, hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản; từng bước đầu tư phát triển các
cơ sở chế biến để nâng cao giá trị gia tăng, giảm tổn thất sau thu hoạch
Mở rộng tối đa sản xuất rau ở những nơi có điều kiện thuận lợi, đẩy mạnh sản xuất rau vụ đông với nhiều chủng loại đa dạng, phong phú, đáp ứng đủ nhu cầu của nhân dân trong tỉnh, một phần bán ra tỉnh ngoài và phục vụ xuất khẩu
Trang 30Đến năm 2020 phấn đấu toàn tỉnh duy trì ổn định khoảng 10.000ha gieo trồng các loại rau thực phẩm; đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ kỹ thuật gắn với quy trình sản xuất rau an toàn để mỗi năm sản lượng rau đạt từ 210.000-220.000 tấn
Xây dựng vùng sản xuất rau theo hướng an toàn từ nay đến năm 2020 chiếm trên 70% tổng diện tích rau toàn tỉnh, trong đó có khoảng 30-40% diện tích rau được chứng nhận rau an toàn Trước mắt, đặc biệt chú trọng các vùng sản xuất rau truyền thống, vùng ven đô thị và khu công nghiệp tập trung, trong đó xây dựng vùng sản xuất rau xanh an toàn ở Thành phố Bắc Ninh, Thị xã Từ Sơn, huyện Tiên
Du, Quế Võ, Yên Phong, Thuận Thành, vùng cà rốt an toàn ở Lương Tài, Gia Bình; vùng khoai tây an toàn ở Quế Võ, Yên Phong; vùng hành tỏi, dưa bầu, bí ở Gia Bình, Lương Tài
- Hoa cây cảnh: Mở rộng diện tích hoa, cây cảnh; và tập trung ở những nơi
trồng hoa truyền thống, nơi gần trung tâm huyện thị, khu đô thị Sử dụng các loại cây và giống có giá trị nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhân dân Trước tiên hướng vào thị trường Hà Nội, các khu vực đô thị có nhu cầu lớn về hoa, cây cảnh Phấn đấu đến năm 2020 toàn tỉnh đạt từ 300-400ha và hình thành một số điểm trồng hoa, cây cảnh tại các huyện Tiên Du, Thuận Thành, Quế Võ, Yên Phong và Thị xã Từ Sơn
1.2.3 Tình hình tái cơ cấu ngành trồng trọt tỉnh Hải Dương
UBND tỉnh Hải Dương ban hành Kế hoạch hành động thực hiện ”Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” tỉnh Hải Dương
Mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn toàn diện, hiệu quả,bền vững, trên
cơ sở chuyển mục tiêu sản xuất từ sản lượng sang chất lượng, giá trị gia tăng cao hiệu quả và bền vững; phát triển sản xuất hàng hóa tập trung, nâng cao chất lượng, năng suất, khả năng cạnh tranh, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường nội địa và đẩy mạnh xuất khẩu, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực; thực hiện chuyển dịch
cơ cấu nông nghiệp theo hướng phát triển mạnh chăn nuôi, thủy sản, tập trung gắn với an toàn dịch bệnh và vệ sinh môi trường đời sống nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững
Trang 31* Nhóm giải pháp thực hiện tái cơ cấu ngành trồng trọt của tỉnh Hải Dương Bên cạnh việc quan tâm chỉ đạo phát triển sản xuất, tỉnh cũng luôn quan tâm tới công tác xúc tiến thương mại, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm, đã bố trí kinh phí hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, tham gia các hội chợ giới thiệu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản ở trong nước và quốc tế; hỗ trợ một số doanh nghiệp phát triển thị trường và xây dựng thương hiệu sản phẩm như Vải thiều Thanh Hà, hành- tỏi Kinh Môn, Gà Chí Linh…Nhằm góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống cho người nông dân, rất cần các giải pháp phù hợp
để đẩy mạnh phát triển thị trường tiêu thụ nông sản một cách lâu dài:
Thứ nhất: Nhóm giải pháp về cung nông sản, trong đó có vấn đề, cụ thể là mở
rộng sự phân công và phân công lại lao động xã hội gần với xây dựng và điều chỉnh cơ cấu sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp hợp lý trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Xây dựng các hộ nông dân thành đơn vị sản xuất hàng hóa gắn liền với kinh tế hợp tác và kinh tế Nhà nước Đồng thời, huy động khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn vốn hiện có cho phát triển sản xuất nông sản hàng hoá Ngoài ra, đào tạo và đào tạo lại các kỹ sư nông nghiệp, các nhà quản lý trong lĩnh vực nông nghiệp
Thứ hai: là nhóm giải pháp về thị trường tiêu thụ nông sản, trong đó bao gồm
tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, đồng thời tăng cường hợp tác, liên kết các mô hình sản xuất sản phẩm nông nghiệp cho năng suất và chất lượng cao
Thứ ba: về nhóm giải pháp về kênh tiêu thụ nông sản đặc trưng của Tỉnh Thứ
tư là nhóm giải pháp về chi phí và giá nông sản dựa trên nguyên tắc về lợi nhuận; doanh thu và chi phí
1.2.3 Tình hình tái cơ cấu ngành trồng trọt tỉnh Thái Bình
Là tỉnh sản xuất nông nghiệp trọng điểm của Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH)
và của Việt Nam, Thái Bình cũng đã có những thành tựu đáng kể trong sản xuất nông nghiệp Tăng trưởng nông nghiệp của Thái Bình trong 5 năm qua đạt bình quân 4,1%/năm Sản lượng lương thực trung bình của tỉnh đạt trên 1 triệu tấn/năm Năng suất lúa gạo của Thái Bình cao nhất trong cả nước với bình quân đạt trên 13 tấn/ha Cơ cấu giống cây trồng được chuyển dịch theo hướng năng suất, chất lượng cao, một số diện tích trồng lúa kém hiệu quả được chuyển sang nuôi trồng các loại
Trang 32cây, con có giá trị kinh tế cao hơn Ngành chăn nuôi Thái Bình cũng phát triển mạnh, số đầu lợn của tỉnh đạt xấp xỉ 1,04 triệu con, xuất khẩu lợn sữa của tỉnh lớn nhất trong cả nước Thủy sản là ngành có mức tăng trưởng cao và ổn định nhất, đạt bình quân 11%/năm trong 5 năm gần đây Sản lượng ngao của Thái Bình đạt trên 70 ngàn tấn chiếm gần 50% sản lượng của cả nước
Bên cạnh những thành công của khu vực nông nghiệp thì Thái Bình cũng có những hạn chế và cần có những định hướng tái cơ cấu mới nếu muốn duy trì tốc độ tăng trưởng và phát triển bền vững Tốc độ tăng trưởng của ngành trồng trọt trong những năm gần đây rất thấp chỉ đạt 0,1%/năm trong 3 năm gần đây Tăng trưởng khu vực chăn nuôi cũng chưa có đột phá Thủy sản có tốc độ tăng trưởng tốt nhưng còn nhiều bất ổn ở cả khâu sản xuất và thị trường đầu ra Tốc độ chuyển nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá quy mô lớn chậm, việc hình hình các vùng sản xuất hàng hoá quy mô lớn, vùng chuyên canh có hiệu quả cao chưa nhiều Đầu tư vào khu vực nông nghiệp rất hạn chế, còn vắng bóng các doanh nghiệp đầu rồng trong ngành nông nghiệp Công tác chế biến nông sản còn yếu kém, sản phẩm bán vẫn chỉ
là sản phẩm thô, giá thấp Liên kết giữa người sản xuất với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ sản phẩm lỏng lẻo Công tác sản xuất giống cây trồng, vật nuôi còn nhiều bất cập nhiều khi không chủ động được nguồn giống, mùa vụ nuôi thuỷ sản (đặc biệt đối với giống chăn nuôi và giống thuỷ sản) trong sản xuất dẫn đến khó kiểm soát được chất lượng con giống, chi phí sản xuất tăng cao, hiệu quả kinh tế giảm
Cơ sở hạ tầng và dịch vụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp mặc dù đã được đầu tư, nâng cấp, cải tạo nhưng vẫn thiếu, chưa đồng bộ nhất là hạ tầng thuỷ lợi, cơ sở sản xuất giống
Định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp của đất nước, Sở NN & PTNT Thái Bình phối hợp với Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT xây dựng đề án tái cơ cấu Nông nghiệp của tỉnh Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh Thái Bình đưa ra những căn cứ, định hướng nhằm điều chỉnh cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững gắn với tích tụ đất đai và giải quyết lao động nông thôn
Trang 331.2.4 Bài học kinh nghiệp rút ra cho tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
Từ các quan điểm, định hướng, kinh nghiệm thực tiễn tái cơ cấu ngành trồng trọt của một số quốc gia và kinh nghiệm của các địa phương có thể rút ra một số kinh nghiệm đối với huyện Gia Bình trong quá trình tái cơ cấu ngành trồng trọt trong bối cảnh hiện nay như sau:
Thứ nhất: về tích tụ ruộng đất, thể chế chính sách, chính sách tín dụng, cần
phải tập trung ruộng đất để giúp người nông dân có cơ hội sản xuất lớn và ứng dụng công nghệ trong sản xuất; hoàn thiện thể chế thị trường, cung cấp thông tin thị trường đầy đủ để người nông dân tiến hành và ra quyết định dựa theo tín hiệu của thị trường trong nước và quốc tế Đối với chính sách tín dụng trồng trọt, từng bước tạo ra thị trường vốn tín dụng tham gia trực tiếp vào phát triển sản xuất hàng hóa trồng trọt, tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân tiếp cận vốn để sản xuất theo tín hiệu thị trường, giảm khoảng cách giàu nghèo
Thứ hai: Ứng dụng khoa học - kỹ thuật: Cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện
cần đầu tư thích đáng cho công tác ứng dụng khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao trong sản xuất, chế biến, xuất khẩu những sản phẩm chủ lực, phát huy lợi thế đặc thù của từng vùng, đảm bảo chất lượng Tăng cường vai trò của hệ thống khuyến nông trong việc truyền bá các kỹ thuật sản xuất tiên tiến, thông tin thị trường, tổ chức sản xuất… giúp người dân ra quyết định đúng đắn thay vì việc sản xuất theo kinh nghiệm, đám đông
Thứ ba: Phát triển và hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực trồng trọt kèm theo
phương thức hỗ trợ nông dân: Cần phát triển hệ thống doanh nghiệp nông nghiệp có
đủ khả năng kết nối sản xuất giữa các ngành trong lĩnh vực nông nghiệp
Thứ tư: Liên kết bốn nhà, tập trung quy hoạch, phát triển các mặt hàng chủ
lực, tăng cường liên kết bốn nhà: Nhà nước; Nhà khoa học; Nhà nông; Nhà doanh nghiệp trong việc hình thành các chuỗi giá trị sản xuất bền vững Tập trung quy hoạch, đầu tư phát triển các mặt hàng chủ lực của từng địa phương trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối để tạo ra những mặt hàng đặc thù, đồng thời xây dựng thương hiệu và chỉ dẫn địa lý để phát huy được các giá trị đặc thù này Trên thực tế, chúng ta có nhiều sản phẩm đặc thù, tuy nhiên lại mất thương hiệu
Trang 34Thứ năm: Về chất lượng sản phẩm cần xây dựng các bộ tiêu chuẩn về chất lượng
sản phẩm đối với tùng loại sản phẩm để hướng người dân sản xuất theo tiêu chuẩn quốc
tế, tránh tình trạng sản phẩm không đạt yêu cầu bị doanh nghiệp trả lại, gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả kinh tế, uy tín hàng hóa Ngoài ra, việc sản xuất trồng trọt phải đi đôi với việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội, môi trường như tiết kiệm và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái hướng tới sự phát triển bền vững
1.3 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua đã có một số văn bản pháp quy của Nhà nước, một số công trình, đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến nội dung của đề tài Dưới đây là một
số văn bản, công trình tiêu biểu:
- Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông thôn, nông dân, ngày 05 tháng 08 năm 2008
- Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững của Chính phủ theo Quyết định số 899/QĐ-TTg, ngày 10-6-2014
- Tái cơ cấu nông nghiệp nước ta hiện nay của Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, đã có bài viết đăng trên báo điện tử của TW Đảng ngày 21/2/2014 đã đề xuất một số nội dung và giải pháp cần thiết, cấp bách, góp phần nghiên cứu tiếp tục đổi mới căn bản và đồng bộ
về chiến lược, thể chế và tổ chức trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi tái cơ cấu nông nghiệp
- Nghiên cứu về cơ cấu và chuyển dịch (tái) cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm qua được đăng trên Trung tâm thông tin tư liệu số 6 năm 2014
đã đưa ra được các khái niệm về ngành nông nghiệp cơ cấu ngành nông nghiệp; về chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và tái cơ cấu ngành nông nghiệp
- Nghiên cứu của tác giả Quỳnh Trang với bài viết "Thấy gì sau gần 3 năm tái
cơ cấu ngành trồng trọt” được đăng trên tạp chí Nông nghiệp Việt Nam ngày
08/06/2016 với những đánh giá, nhận xét của các nhà quản lý hàng đầu cả nước trong lĩnh vực nông nghiệp như TS Đăng Kim Sơn nguyên Viện trưởng Viện chiến lược chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và Ông Nguyễn Xuân Cường -
Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và PTNT đã chỉ ra những thành tựu đạt được trong việc
Trang 35thực hiện tái cơ cấu ngành trồng trọt; đồng thời đã đưa ra những nội dung, những
khó khăn, thách thức trong việc thực hiện tái cơ cấu ngành trồng trọt
- Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững của UBND tỉnh Bắc Ninh
- Đề án phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Bắc Ninh đến năm 2015 của UBND tỉnh Bắc Ninh
Do vậy tái cơ cấu ngành trồng trọt đây là một vấn đề mới rất bức thiết trong quá trình Việt Nam đang tiến hành thực hiện các cam kết khi ra nhập WTO và hiệp định TPP đang đặt ra hiện nay Trong khi đó các nghiên cứu về lý luận và thực tiễn còn nhiều yếu tố chưa đánh giá sâu sắc Các nghiên cứu liên quan đến đề tài còn nhiều hạn chế, đặc biệt là vấn đề thực tiễn đang diễn ra ở tại các địa phương cụ thể Công tác tổng kết thực tiễn quá trình tái cơ cấu ngành trồng trọt hàng năm được các
bộ ngành quan tâm rút kinh nghiệm từ thực tiễn triển khai
Trang 36Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Cơ cấu và tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Huyện Gia Bình, trong đó chọn 03 xã có hoạt động
trồng trọt trên địa bàn gồm 90 hộ; 10 trang trại, 5 doanh nghiệp; 15 cán bộ lãnh đạo huyện, xã
- Phạm vi thời gian: Các dữ liệu thu thập từ 2013-2016; Giải pháp cho giai
đoạn 2018-2022
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu tái cơ cấu dựa trên sự sắp xếp lại các nguồn
lực trong nội bộ ngành trồng trọt trên địa bàn huyện
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng cơ cấu ngành trồng trọt tại huyện Gia Bìnhnăm 2013- 2016
- Xác định yếu tố ảnh hưởng tới cơ cấu ngành trồng trọt
- Định hướng và đề xuất giải pháp tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2018- 2022
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp tiếp cận
- Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nghiên cứu các vấn đề một cách toàn diện, cụ thể, các mối quan hệ chung-riêng một cách logic
- Dựa vào cơ sở lý luận của kinh tế chính trị học Macxit khi nghiên cứu tính quy luật của các hiện tượng, quá trình kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội và đặc điểm riêng của từng đối tượng
- Vận dụng các phương pháp cụ thể trong nghiên cứu như: Phân tổ, tổng hợp, phân tích, kiểm chứng
- Từ những vấn đề chung của kinh tế nông nghiệp, nông nghiệp, quản lý kinh
tế tiến hành phân tích so sánh, lựa chọn và rút ra những vấn đề còn tồn tại
Trang 37- Thông qua khảo sát thực tế đánh giá thực trạng và rút ra những vấn đề còn tồn tại, để đưa ra các giải pháp giải quyết các vấn đề tồn tại đó
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin
2.3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Thông tin/Số liệu thứ cấp của đề tài được thu thập từ các nguồn sách, bài trong các tạp chí chuyên ngành, các bài phân tích, các đề tài nghiên cứu các cấp của các trường đại học, các viện nghiên cứu, các nghiên cứu của các cơ quan, các báo cáo của địa phương (các phòng/ban thuộc huyện Gia Bình và tỉnh Bắc Ninh), Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các tài liệu công bố trên mạng; các luận văn, luận án có liên quan đến tái cơ cấu ngành trồng trọt, chuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọt, tác động của cơ cấu ngành trồng trọt và tái cơ cấu sản xuất trồng trọt đến thu nhập của hộ nông dân
- Các tài liệu đã được công bố trên sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
- Các chính sách phát triển kinh tế, chính sách khuyến nông, chuyển đổi cơ cấu cây trồng….cho phát triển trồng trọt được thu thập tại Phòng Nông nghiệp huyện và Uỷ ban nhân dân huyện Gia Bình
- Tình hình sử dụng đất đai được thu thập tại Phòng Tài nguyên và Môi trường
và Chi cục Thống kê huyện Gia Bình
- Dân số, lao động, vốn, cơ sở vật chất, cơ cấu sản xuất, diện tích, nông sản, sản lượng các loại cây trồng; thực trạng phát triển ngành trồng trọt và sử dụng nguồn lực của huyện giai đoạn 2013 - 2016 được thu thập tại Chi cục Thống kê huyện Gia Bình
- Những nghị quyết Tỉnh ủy, Huyện ủy và các báo cáo thu thập của Huyện ủy, Văn phòng HĐND&Uỷ ban nhân dân huyện Gia Bình
- Các số liệu khác được thu thập từ Chi cục Thống kê, Phòng Nông nghiệp và PTNT, Trạm Khuyến nông huyện Gia Bình, thông tin trên mạng Internet
2.3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Đề tài sử dụng số liệu sơ cấp trên cơ sở điều tra hộ, doanh nghiệp, trang trại nông nghiệp, cán bộ huyện, xã tại huyện Gia Bình Phương pháp điều tra có thể khái quát như sau:
Trang 38* Phương pháp lựa chọn mẫu điều tra
Hiện nay trong công tác nghiên cứu khoa học phương pháp điều tra chọn mẫu đang được áp dụng khá phổ biến và đã đáp ứng được phần nào nhu cầu của các cơ quan quản lý, hoạch định chính sách cũng như các cơ quan nghiên cứu Tuy nhiên một vấn đề bức xúc đặt ra là: mẫu được chọn có tính đại diện đến đâu Do vậy một vấn đề đặt ra là bằng cách nào để trả lời hay nói một cách khác chúng ta khẳng định với các đơn vị tiến hành điều tra chọn mẫu rằng “Mẫu được chọn có khả năng đáp ứng được yêu cầu đặt ra” Với mục đích đó, tôi trình bày phương pháp kiểm tra tính đại diện trong quá trình xây dựng mẫu
* Lựa chọn xã điều tra: Gia Bình có 13 xã và 1 thị trấn, trong đó cả 13 xã thuần nông (có kiêm ngành nghề nhưng chủ yếu nông nghiệp), 7 xã vùng ven sông
có phù sa bồi đắp, đất đai màu mỡ…
Sau khi trao đổi với cán bộ và lãnh đạo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện, chúng tôi lựa chọn 2 xã, 1 thị trấn để điều tra Tiêu chí lựa chọn xã là những xã được chọn phải đại diện cho các loại hình sản xuất trồng trọt của huyện và đại diện cho các vùng sinh thái đặc trưng sản xuất trồng trọt, căn cứ vào tiềm năng lao động, đất đai thổ nhưỡng, điều kiện về thời tiết khí hậu, vị trí địa lý bao gồm Vạn Ninh, Thị trấn, Đại Bái Vùng thuần nông và có đất bãi ven sông, chúng tôi lựa chọn 1 xã (Vạn Ninh); xã Đại Bái ngoài sản xuất nông nghiệp, nông dân trong xã còn
có nguồn thu nhập ngoài từ làng nghề thủ công Đúc đồng Đại Bái và đi làm thuê; Vùng sản xuất nông nghiệp có kiêm thương mại dịch vụ, tôi lựa chọn Thị trấn Gia Bình, ở đó ngoài sản xuất nông nghiệp, nông dân Thị trấn Gia Bình còn phát triển các loại hình thương mại, dịch vụ
* Lựa chọn thôn điều tra: Tùy theo điều kiện từng xã mà số thôn được chọn khác nhau bởi số thôn của mỗi xã cũng không giống nhau Cụ thể xã Vạn Ninh, chúng tôi lựa chọn 2/4 thôn, tương tự xã Đại Bái chọn 2/3 thôn, Thị trấn Gia Bình chọn 3/7 thôn
* Chọn hộ điều tra: Do điều kiện về thời gian, kinh phí và cán bộ hỗ trợ, mỗi xã chúng tôi lựa chọn 30 hộ điều tra, xã chọn 3 thôn thì tiến hành điều tra 10 hộ/ thôn mỗi thôn, xã chọn 4 thôn, thì mỗi thôn lựa chọn 7-8 hộ/ thôn, còn những xã chọn 2 thôn thì số
Trang 39lượng hộ chọn điều tra là 15 hộ/thôn Thông qua trao đổi với Chủ tịch xã, Chủ tịch hội nông dân hay chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, các trưởng thôn và bí thư chi bộ thôn, chúng tôi xác định cụ thể các hộ điều tra, tiêu chí cơ bản lựa chọn hộ như sau:
* Hộ đại diện cho mức độ kinh tế trong thôn/xã (hộ khá, trung bình, nghèo)
* Hộ đại diện cho loại hình sản xuất trong thôn và xã
* Cơ cấu sản xuất trồng trọt của các hộ có thay đổi những năm gần đây
Ngoài ra, một số tiêu chí khác chúng tôi cũng quan tâm và xem xét như khả năng cung cấp thông tin của hộ, hộ hiện đang có tại địa phương, bởi hiện nay một
số hộ đi làm ăn tại địa phương khác hoặc đi làm thuê hàng ngày sáng đi, tối về, hộ cán bộ hay hộ thuần nông dân
Từ các tiêu chí trên, kết quả là chúng tôi đã chọn 90 hộ trong 3 xã thuộc 3 nhóm
hộ nông dân tập trung nghiên cứu để tiến hành điều tra, kết quả được thể hiện bảng sau:
Bảng 2.1 Mẫu điều tra
Phương pháp điều tra chủ yếu là phỏng vấn trực tiếp hộ nông dân Ngoài ra, để làm rõ một số chỉ tiêu, chúng tôi cũng tổ chức tọa đàm, thảo luận với nhóm nhỏ cán bộ
xã và thôn (có sự tham dự của một số cán bộ huyện)
Các bước thực hiện cơ bản có thể được trình bày theo trình tự sau:
Bước 1: Xây dựng phiếu điều tra bằng việc lập câu hỏi liên quan kinh tế hộ và
cơ cấu ngành trồng trọt của hộ Bộ câu hỏi kết hợp cả các câu hỏi định tính và định lượng (kèm theo phụ lục);
Bước 2: Tiến hành điều, tra phỏng vấn thử đối với một số hộ nông dân, thông
qua việc điều tra thử để chỉnh sửa và hoàn chỉnh câu hỏi cho phù hợp với thực tế tại địa phương;
Trang 40Bước 3: Liên hệ các xã, thôn và hộ nông dân để tiến hành điều tra thực tế;
Bước 4: Tổ chức lực lượng điều tra;
Bước 5: Tiến hành điều tra
2.3.2.3 Phương pháp PRA
Sử dụng phương pháp PRA là quá trình cùng chia sẻ, phân tích thông tin và hành động giữa các bên tham gia tái cơ cấu ngành trồng trọt, trong đó người dân đóng vai trò chủ đạo để xác định những khó khăn, tồn tại, hạn chế, bất cập của cơ cấu trồng trọt trước đây, thảo luận các giải pháp và lập kế hoạch hành động để giải quyết các khó khăn đó, xây dựng cơ cấu trồng trọt mới phù hợp hơn
Nhiệm vụ chủ yếu khi sử dụng công cụ PRA là:
- Xác định các khó khăn, bất cập trong cơ cấu trồng trọt hiện tại
- Thảo luận các nguyên nhân -giải pháp
- Lập kế hoạch tái cơ cấu ngành trồng trọt
Phỏng vấn nhóm nông hộ ở cấp xã và cộng đồng sử dụng các công cụ trong bộ công cụ PRA nhằm đưa ra những định hướng, giải pháp tái cơ cấu ngành trồng trọt
Bộ công cụ PRA cho tái cơ cấu trồng trọt là bộ công cụ giúp đánh giá nhanh thực trạng ngành trồng trọt trên địa bàn huyện, xây dựng định hướng, kế hoạch tái cơ cấu ngành trồng trọt có sự tham gia của người dân phù hợp và có tính khả thi cao nhất trên địa bàn huyện Gia Bình