1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tái canh cà phê giai đoạn 20142020

77 1,3K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 219,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm lại, Ngày 22/8/2013 Bộ trưởng Cao Đức Phát đã làm việc với lãnh đạo Cục Trồng trọt, Viện Bảo vệ thực vật, Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam để t

Trang 1

(Báo cáo đã chỉnh sửa, bổ sung theo các góp ý ghi trong biên bản họp Hội đồng

nghiệm thu kết quả thực hiện đề án ngày 21/12/2013)



Năm 2014

Trang 2

Mở đầu

I BỐI CẢNH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI LẬP ĐỀ ÁN

1 Bối cảnh ngành cà phê Việt Nam

Lịch sử nông nghiệp ghi nhận cây cà phê đã được trồng ở nước ta cách đây 156 năm (1857 – 2013) Đặc biệt, 27 năm (1986 – 2013) thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, ngành cà phê nước ta đã đạt được một số kết quả thành tựu đáng ghi nhận như sau:

- Thứ nhất: Giữ ngôi vị số 1 thế giới về:

+ Năng suất bình quân (năm 2012 đạt 2,35 tấn/ha) gấp 2,7 lần năng suất bình quân cà phê trên thế giới

+ Số lượng nhân cà phê vối xuất khẩu

- Thứ hai: Xếp thứ 02 thế giới về tổng sản lượng cà phê nhân xuất khẩu (năm

2012: 1.276.506,0 tấn)

- Thứ ba: Tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm cà phê của Việt Nam luôn xếp

thứ 02 so với các loại nông sản xuất khẩu (từ năm 2008 đến năm 2012 tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt từ 2,2 tỷ USD/năm đến 3,76 tỷ USD/năm) Song, theo các báo cáo của các cơ quan quản lý nhà nước Trung ương – địa phương và Hiệp hội cà phê Việt Nam, ngành cà phê nước ta đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức trong đó trở

ngại lớn nhất trong khâu sản xuất là: Diện tích cà phê già cỗi năng suất thấp tăng liên

tục qua các năm, dự kiến đến năm 2020 tổng diện tích cà phê >15 năm của cả nước lên đến 373.308,2 ha Riêng vùng Tây Nguyên có diện tích cà phê già cỗi, năng suất thấp đến năm 2012 là: 157.163,0 ha chiếm 30,0% diện tích cà phê vùng Tây Nguyên Ngoài

ra, còn một số diện tích vườn cà phê dưới 15 năm tuổi nhưng do trồng giống kém chất lượng, không rõ nguồn gốc nên năng suất thấp cần tái canh hay thực hiện giải pháp cải tạo giống để nâng cao chất lượng vườn cây

Giải pháp tái canh vườn cà phê già cỗi, năng suất thấp đang gặp phải 03 thách thức lớn như sau:

- Thách thức thứ 1: Khi tiến hành tái canh cà phê vườn cà phê già cỗi, năng

suất thấp, nông hộ có vườn cà phê phải tái canh sẽ không còn nguồn thu nhập dẫn tới đời sống sinh hoạt của gia đình họ sẽ như thế nào? Họ lấy đâu ra tiền để chi phí cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của gia đình?

- Thách thức thứ 2: Chi phí trồng tái canh cà phê ở mức 200 đến 210 triệu

đồng/ha, với chi phí cao như vậy thì chủ vườn cà phê lấy đâu ra tiền để đầu tư?

- Thách thức thứ 3: Trong trường hợp xấu nhất nếu trồng tái canh vườn cà phê

không thành công, nông hộ sẽ trở thành con nợ với số tiền nợ ngân hàng lên đến hàng trăm triệu đồng, đây là khoản tiền lớn không biết đến khi nào chủ vườn cà phê mới có thể trả hết cả vốn và lãi đối với khoản nợ đã vay của ngân hàng trồng tái canh cà phê

Trang 3

2 Bối cảnh trồng tái canh cà phê vối

+ Kết quả trồng tái canh cà phê năm 2012

Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm Tây Nguyên điều tra 227 hộ đã trồng tái canh

cà phê có kết quả tương ứng với thời gian trồng cây luân canh cải tạo đất như sau:

Bảng 1: Kết quả điều tra 227 hộ đã trồng tái canh cà phê ở vùng Tây Nguyên

Nguồn: Điều tra các đối tượng trồng tái canh cà phê, Viện KH – KT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên

Số hộ có vườn cà phê tái canh Tỷ lệ (%) Thời gian trồng cây luân canh (năm)

Ghi chú: Kết quả điều tra này khi chưa ban hành quy trình trồng tái canh cà phê

Qua bảng 1 cho thấy: Tỷ lệ trồng tái canh cà phê thành công tăng theo số năm trồng cây luân canh cải tạo đất Đặc biệt, vườn cà phê già cỗi nhổ bỏ trồng tái canh ngay có tỷ lệ thành công thấp (12,1%)

Viện Khoa học – Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên đưa ra kết luận: Nguyên nhân chính trồng tái canh không thành công là do tuyến trùng phá hoại và loại

gây hại chính là pratylenchus coffee Vì vậy, yêu cầu bắt buộc phải trồng cây luân canh

cải tạo đất và phân tích xác định tổng số tuyến trùng có trong đất trước khi quyết định phương thức tái canh cà phê mới đảm bảo thành công Song, nguyên nhân chính dẫn đến tái canh cà phê không thành công do tuyến trùng của Viện Khoa học – Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên chưa đủ sức thuyết phục Hiện lãnh đạo Bộ Nông nghiệp – PTNT đã chỉ đạo Cục – Vụ, Viện tiếp tục nghiên cứu để sớm có kết luận chính xác về lý do tái canh cà phê không thành công Đây là nội dung quan trọng bởi

nó liên quan đến việc lấy mẫu phân tích mật độ tuyến trùng, thời gian trồng luân canh cải tạo đất,… sẽ làm tăng chi phí đầu tư, kéo dài thời gian không có sản phẩm, ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của hộ có diện tích cà phê trồng tái canh

Trang 4

• Cây giống cà phê lai đa dòng nhận từ công ty TNHH Eakamat cung cấp đạt tiêu chuẩn chất lượng.

• Đào hố, bón phân hữu cơ và chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật tái canh cà phê vối của Cục Trồng trọt (Quyết định số 340/QĐ-BNN-TT ngày 23/02/2013

+ Công ty TNHH - MTV cà phê Ea Pốk tái canh 132,82 ha, chỉ phải thanh lý 7,75 ha, mặc dù đã trồng cây cải tạo đất 02 năm, theo công ty nguyên nhân chưa thành công gồm nhiều yếu tố tác động, đặc biệt là chưa làm tốt việc cải tạo đất

+ Công ty TNHH - MTV cà phê Ia Sao I đã trồng tái canh 125,0 ha, trong đó

có 11,8 ha được trồng tái canh từ năm 2007 nay đã bước vào thời kỳ kinh doanh cho năng suất cao từ 3 – 4 tấn nhân/ha; diện tích còn lại được trồng trong năm 2011,

2012 đang sinh trưởng và phát triển tốt, không có biểu hiện của bệnh vàng lá, hay sự phá hoại của tuyến trùng

+ Tổng công ty Cà phê Việt Nam: Trồng tái canh cà phê chưa thành công, chủ yếu do công tác quản lý yếu kém, thực hiện chưa đúng quy trình kỹ thuật tái canh, nhất

là khâu cải tạo đất; chưa ép xanh để tạo mùn cho đất, do đất sau nhiều năm liên tục trồng cà phê đã suy kiệt và thoái hóa

+ Vườn cà phê tái canh thành công còn có thêm một số nguyên nhân: kích thước hố đào lớn 1 x 1,2 x 0,8 m và bón đủ số lượng phân hữu cơ có chất lượng

+ Công ty Ia Sao 2 và Ia Grai nhổ bỏ cây cà phê già cỗi, đào hố kích thước lớn lệch với vị trí hố cà phê cũ, không trồng cây luân canh cải tạo đất nhưng cây cà phê sau khi tái canh sinh trưởng và phát triển tốt; năm kinh doanh đạt năng suất > 3 tấn nhân/ha; nguyên nhân được công ty xác định là: cải tạo đất do đào hố lớn và bón nhiều phân hữu cơ tạo cân bằng dinh dưỡng trong đất

Tóm lại, Ngày 22/8/2013 Bộ trưởng Cao Đức Phát đã làm việc với lãnh đạo Cục Trồng trọt, Viện Bảo vệ thực vật, Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam để thảo luận xác định nguyên nhân chính trồng tái canh cà phê không thành công nhưng vẫn chưa có được sự thống nhất giữa các cơ quan và Bộ trưởng tỏ ra không đồng tình là chỉ do nguyên nhân gây hại của tuyến trùng như kết luận của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên

Đặc biệt, biện pháp cải tạo trẻ hóa vườn cà phê bằng ghép chồi nối ngọn có ghi trong quy trình nhưng lại không có các quy định chi tiết để thực hiện phương thức này nên quá trình triển khai gặp 3 trở ngại, cụ thể là:

+ Tiêu chuẩn kỹ thuật cây cà phê hoặc vườn cà phê đạt chuẩn được lấy chồi ghép.+ Giấy phép hành nghề của lao động được phép thực hiện biện pháp ghép cải tạo vườn cà phê cho cộng đồng

+ Quy trình kỹ thuật chăm sóc vườn cà phê già cỗi, năng suất thấp sau khi ghép.Trên đây là vướng mắc của 03 tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đắk Nông đã và đang gặp phải mà các Sở Nông nghiệp và PTNT vẫn chưa tìm ra cách giải quyết

Hơn nữa, khi áp dụng quy trình vào xây dựng kế hoạch tái canh phải có nhiều thông tin (mục 1 phạm vi áp dụng vườn cà phê già cỗi phải nằm trong vùng quy hoạch trồng cà phê được cấp có thẩm quyền phê duyệt, tuổi cây cà phê, tình trạng sinh trưởng,

Trang 5

năng suất bình quân 03 năm liền, không thể cưa đốn phục hồi hoặc ghép cải tạo; mục 1 điều kiện tái canh: độ dốc < 15o, có nước tưới, tầng dầy đất trên 70 cm, thoát nước tốt, mực nước ngầm sâu hơn 100 cm, hàm lượng mùn tầng đất mặt 0 – 20 cm, pH, tình hình nhiễm bệnh của cây cà phê già cỗi,… 05 tỉnh Tây Nguyên có đến trên 545.000 hộ trồng

cà phê trong đó: khoảng 28% số hộ có vườn cà phê già cỗi, vì vậy cơ quan tư vấn khó có thể đi đến được từng hộ để thu thập các thông tin tư liệu kể trên và phỏng vấn xem chủ

hộ chọn phương thức trồng tái canh từng phần, tái canh toàn bộ hay ghép cải tạo trẻ hóa vườn cà phê Muốn làm được việc trên phải do ngành nông nghiệp địa phương (tỉnh (TP) – huyện (TX) – xã (TT)) phối hợp thực hiện dưới sự chỉ đạo thống nhất của lãnh đạo ngành nông nghiệp và địa phương mới có thể thực hiện được

Quá trình đi khảo sát, trực tiếp làm việc với ngành nông nghiệp các địa phương mới chỉ có các huyện của tỉnh Lâm Đồng đã xây dựng kế hoạch tái canh được UBND tỉnh phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện; các công ty TNHH - MTV thuộc Tổng công ty cà phê Việt Nam cũng đã xây dựng kế hoạch trồng tái canh cà phê

3 Tình hình tái canh cà phê của một số nước trên thế giới

- Colombia: Cà phê đã được trồng ở Colombia từ những năm 1723 chủ yếu là

cà phê chè (arabica) chất lượng cao xếp vào nhóm “dịu Colombia” được thị trường thế giới tiêu thụ mạnh với giá cao Các năm 2010 – 2011 sản lượng cà phê giảm còn 0,75 – 0,8 triệu tấn so với năm cao nhất 1999 là 1,09 triệu tấn do vườn cà phê già cỗi, năng suất thấp

+ Chính phủ Colombia đã ban hành chính sách hỗ trợ tái canh để phục hồi 300.000 ha cà phê già cỗi, năng suất thấp nhằm phấn đấu đến niên vụ 2014/2015 đạt sản lượng trên 1,05 triệu tấn để giành lại vị trí thứ 02 thế giới về sản lượng cà phê xuất khẩu mà Việt Nam đã thay thế nước này

+ Tổng số tiền chính phủ Colombia chi hỗ trợ phục hồi 300.000 ha cà phê lên đến 300,0 triệu USD

- Ấn Độ: Để giúp nông dân trồng thay thế các vườn cà phê già cỗi, Chính phủ

đã tài trợ cho ngành cà phê một khoản ngân sách lên đến 1,0 tỷ rupi Ấn Độ (1 USD = 48,96 rupi) tương đương 20.424.837 USD (449 tỷ đồng Việt Nam) trong kế hoạch 5 năm (2007 – 2012) với tổng diện tích cà phê thay thế 40.000 ha Mỗi nông dân có 02

ha trồng cà phê nhận được trợ cấp của Chính phủ bằng 40% tổng chi phí trồng lại (suất đầu tư trồng mới 1 ha cà phê chè: 100.000 rupi/ha, tương ứng 2.042 USD = 44.935.000 đồng Việt Nam và 01 ha cà phê vối có tổng chi phí 70.000 rupi/ha tương ứng 1.430 USD/ha = 30.145.000 đồng Việt Nam

- Uganda: Từ những năm 1992/1993 đã bắt đầu thay thế vườn cà phê già cỗi

bằng những giống mới có năng suất cao với mục đích tăng sản lượng cà phê của Uganda Chính phủ Uganda đã hỗ trợ 2,7 – 3,8 triệu USD cho chương trình cây giống

cà phê trồng tái canh cho người dân nước này

Tóm lại, nghiên cứu chính sách hỗ trợ trồng tái canh cà phê của Chính phủ Colombia, Ấn Độ và Uganda có giá trị tham khảo cho việc đề xuất Chính phủ Việt Nam ban hành chính sách hỗ trợ cho nông dân trồng tái canh cà phê trên địa bàn 05 tỉnh vùng Tây Nguyên giai đoạn 2014 – 2020

Trang 6

4 Sự cần thiết phải lập đề án trồng tái canh cà phê giai đoạn 2014 – 2020 1) Theo thống kê diện tích cà phê của cả nước năm 2012 là: 622.168 ha; trong

đó diện tích cà phê già cỗi trên 20 năm và 15 – 20 năm tính đến năm 2012 là: 256.517

ha (chiếm 41,25%); phân bố tập trung chủ yếu ở 05 tỉnh vùng Tây Nguyên: 157.163,6

ha, chiếm 78,58% diện tích cà phê già cỗi toàn quốc (Đắk Lắk: 66.783 ha, Lâm Đồng: 45.370 ha, Đắk Nông 24.658 ha, Gia Lai 17.886,4 ha và Kon Tum 2.466,2 ha) Tình trạng diện tích già cỗi ngày một tăng cao, năng suất vườn cà phê già cỗi thấp làm giảm sản lượng đã gây không ít khó khăn cho ngành cà phê Việt Nam Do đó, cần phải có giải pháp kịp thời, hiệu quả, xử lý chủ động ứng phó với tình trạng trên Trên thực tế việc xử lý cà phê già cỗi, năng suất thấp của Tổng công ty cà phê Việt Nam, văn phòng Chính phủ đã có công văn 4450/VPCP-KTN ngày 01/07/2009, đồng ý về nguyên tắc tiến hành thanh lý vườn cà phê già cỗi để trồng tái canh

2) Viện Khoa học - Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên đã chọn tạo thành

công các giống cà phê vối có một số đặc tính ưu tú đó là: kháng bệnh rỉ sắt, cho năng suất cao, kích cỡ nhân lớn, chín tập trung,…như các giống: TR4, TR5, TR6, TR7, TR8, TR9,… đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận chính thức cho phép đưa vào sản xuất thực tiễn Các mô hình ghép chồi nối ngọn các giống cà phê mới hoặc trồng tái canh bằng cây giống ươm từ hạt lai đa dòng sau thời gian KTCB vào thời kỳ kinh doanh đạt năng suất cao 3,5 – 4,0 tấn nhân/ha Như vậy, đây là cơ hội thay thế giống cà phê mới có đặc tính vượt trội cả về năng suất và kích thước nhân cà phê lớn hơn so với các giống cũ đáp ứng tốt hơn mục tiêu xây dựng ngành cà phê Việt Nam phát triển bền vững theo hướng chất lượng và giá trị gia tăng cao hơn

3) Viện Khoa học - Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên đã nghiên cứu và

ứng dụng thành công kỹ thuật ghép chồi từ những giống cà phê ưu tú để cải tạo, trẻ hóa vườn cà phê trước đây trồng bằng giống cà phê năng suất thấp, nhân cà phê có kích cỡ nhỏ, hiện nay diện tích cà phê ghép bằng chồi đã được nhân rộng đối với các

hộ trồng cà phê ở 02 tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk mang lại kết quả khả quan (năng suất cà phê sau khi ghép đưa vào kinh doanh tăng từ 1,5 – 2 lần so với vườn cà phê già cỗi trước khi ghép), đồng thời, rút ngắn thời gian KTCB Do vậy, hiện nay giải pháp xử lý vườn cà phê già cỗi, năng suất thấp có 03 phương pháp để chủ hộ vườn cà phê có thể lựa chọn, ứng dụng thích hợp với tuổi cây, tình hình sinh trưởng và mức độ gây hại của nấm bệnh,… cụ thể là:

+ Biện pháp ghép chồi của cây cà phê đầu dòng có năng suất cao nhằm cải tạo, trẻ hóa cây cà phê

+ Phương thức trồng tái canh cà phê từng phần: Nhổ bỏ một phần vườn cà phê già cỗi, sinh trưởng kém, năng suất thấp thay bằng cây giống cà phê mới ươm từ hạt lai đa dòng

+ Phương thức trồng tái canh cà phê toàn bộ: Nhổ bỏ toàn bộ cây cà phê già cỗi, năng suất thấp trong vườn; làm đất, đào hố trồng lại bằng cây cà phê thực sinh giống mới, năng suất cao

4) Tại hội nghị xúc tiến đầu tư vùng Tây Nguyên lần thứ 02 năm 2013, Thống

đốc Ngân hàng Nhà nước - Nguyễn Văn Bình đã ký biên bản ghi nhớ và hợp đồng tín dụng nguyên tắc, đồng thời phối hợp với UBND 02 tỉnh Đắk Lắk, Lâm Đồng và Tổng công ty cà phê Việt Nam xây dựng kế hoạch đầu tư vốn trồng tái canh cà phê già cỗi,

Trang 7

năng suất thấp với tổng số vốn cam kết tài trợ lên đến 12.000 tỷ đồng Trong đó, ký hợp đồng nguyên tắc với Tổng công ty Cà phê Việt Nam tài trợ gói tín dụng 4.165 tỷ đồng để thu mua – chế biến – xuất khẩu cà phê niên vụ 2013 – 2014 và gói tín dụng 2.110 tỷ đồng cho trồng tái canh cà phê.

+ Ký biên bản ghi nhớ cam kết tài trợ vốn cho kế hoạch trồng tái canh cà phê với UBND tỉnh Đắk Lắk là 3.000 tỷ đồng

+ Ký biên bản ghi nhớ cam kết tài trợ vốn cho kế hoạch trồng tái canh cà phê với UBND tỉnh Lâm Đồng là 2.800 tỷ đồng

+ Tỷ lệ lãi suất vốn vay trồng tái canh cà phê thấp hơn lãi suất thông thường từ 1,0 – 2,0%/năm và thời gian vay 5 – 7 năm, đây là cơ hội hỗ trợ cho nông hộ, trang trại và doanh nghiệp trồng tái canh cà phê tiếp cận được nguồn vốn vay dài hạn của ngân hàng với lãi suất ưu đãi

5) Phương thức cải tạo trẻ hóa vườn cà phê già cỗi, năng suất thấp bằng trồng

tái canh từng phần, tái canh toàn bộ hoặc ghép cải tạo thành công đã mang lại hiệu quả kinh tế cao tạo niềm tin cho các hộ tự nguyện đăng ký tái canh cà phê, cụ thể như sau:

- Đối với biện pháp ghép cải tạo: sau khi ghép cải tạo vào năm kinh doanh cho sản lượng hơn 3,0 tấn nhân/ha cao gấp 1,8 – 2 lần so với trước khi ghép, thu nhập bình quân của người nông dân cao gấp 2,8 lần

- Đối với phương thức tái canh từng phần: vườn cà phê sau khi tái canh mang lại mức thu nhập cao gấp 2,4 lần so với vườn cà phê già cỗi ban đầu

- Đối với phương thức tái canh toàn bộ: vườn cà phê sau khi tái canh có năng suất từ 3,5 – 4,5 tấn nhân/ha, với giá bán hiện nay thu nhập của người dân sẽ tăng lên 50,0 – 60,0 triệu đồng/ha

Trên đây là 05 lý do cho thấy cần phải lập đề án trồng tái canh cà phê giai đoạn

2014 – 2020 có đầy đủ cơ sở khoa học và thực tiễn, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, tạo căn cứ pháp lý để huy động các nguồn lực thực hiện kế hoạch trồng tái canh

cà phê đạt kết quả trên địa bàn 05 tỉnh Tây Nguyên

II CÁC VĂN BẢN LÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ LẬP ĐỀ ÁN

1 Quyết định số 1987/QĐ-BNN-TT, ngày 21/08/2012 của Bộ Nông nghiệp và

PTNT phê duyệt quy hoạch phát triển ngành cà phê đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

2 Quyết định số 340/QĐ-BN-TT, ngày 23/02/2013 của Bộ Nông nghiệp và

PTNT về việc phê duyệt định mức kinh tế - kỹ thuật trồng tái canh cà phê vối

3 Quyết định 273/QĐ-TT-CCN, ngày 03/07/2013 của Cục Trồng trọt ban hành

quy trình tái canh cà phê vối

4 Quyết định số 899/QĐ-TTg, ngày 10/06/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê

duyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững

5 Quyết định số 124/QĐ-TTg, ngày 02/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ

phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030”

Trang 8

6 Quyết định số 824/QĐ-BNN-TT, ngày 16/04/2012 của Bộ Nông nghiệp và

PTNT về việc phê duyệt đề án phát triển ngành trồng trọt đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

7 Quyết định số 1982/QĐ-BNN-KH, ngày 21/08/2012 của Bộ Nông nghiệp và

PTNT về việc phê duyệt danh mục và phân giao nhiệm vụ quản lý các dự án điều tra

cơ bản và quy hoạch mở mới năm 2013

8 Quyết định số 2238/QĐ-BNN-KH, ngày 20/08/2010 của Bộ Nông nghiệp và

PTNT ban hành quy định về quản lý quy hoạch ngành nông nghiệp và PTNT

9 Quyết định số 2194/QĐ-TTg, ngày 25/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê

duyệt đề án phát triển giống cây nông lâm nghiệp… đến năm 2020

10 Nghị định số 41/2010/NĐ-CP, ngày 12/04/2010 của Chính phủ về chính

sách tín dụng phục vụ phát triển Nông nghiệp, nông thôn

III MỤC TIÊU CỦA LẬP ĐỀ ÁN

- Xác định được diện tích cà phê già cỗi, nhu cầu cần trồng tái canh theo đơn vị tỉnh, huyện và số lượng hộ cần trồng tái canh cà phê vối giai đoạn 2014 – 2020

- Xác định được các biện pháp kỹ thuật trồng tái canh, cải tạo chất lượng vườn

cà phê phù hợp trong giai đoạn 2014 – 2020

- Đề xuất các giải pháp, cơ chế - chính sách, tổ chức thực hiện đề án trồng tái canh cà phê

IV PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG LẬP ĐỀ ÁN

+ Tỉnh Kon Tum có tổng diện tích cà phê tính đến năm 2012 là 12.752 ha, chiếm 2,28% tổng diện tích cà phê toàn vùng Tây Nguyên

+ Trên địa bàn tỉnh Kon Tum có tổng cộng 05 doanh nghiệp trực thuộc Tổng công ty cà phê Việt Nam với tổng diện tích hơn 1.000 ha, diện tích cà phê này được trồng từ những năm 1980 (hơn 30 năm tuổi) nay đã già cỗi và hầu hết các công ty

đã xây dựng phương án tái canh cà phê trong giai đoạn 2014 – 2020 trình Tổng công ty phê duyệt

+ Diện tích trồng cà phê hiện tại của các doanh nghiệp và phần lớn diện tích của nông hộ phù hợp với quy hoạch cà phê của tỉnh

Với những lý do trên cơ quan tư vấn đề nghị bổ sung tỉnh Kon Tum vào phạm

vi nghiên cứu lập đề án tái canh cà phê vối giai đoạn 2014 – 2020 cho phù hợp với thực tế để các doanh nghiệp cà phê và nông hộ được hưởng các chính sách ưu đãi của

kế hoạch tái canh cà phê

Như vậy, phạm vi nghiên cứu của đề án được điều chỉnh là 05 tỉnh Tây Nguyên gồm: Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đắk Nông, Gia Lai và Kon Tum

Trang 9

2 Đối tượng của lập đề án

+ Theo đề cương đối tượng tái canh cây cà phê vối – Robusta (gọi tắt là tái canh

cà phê trong đề án này);

+ Đối tượng là cà phê già cỗi, có độ tuổi 15 – 20 và trên 20 năm kinh doanh và

cà phê năng suất thấp thuộc vùng quy hoạch sản xuất cà phê

+ Các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh cà phê

+ Nông hộ, trang trại sản xuất cà phê

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Điều tra khảo sát thực địa

- Thu thập thông tin thống kê, xử lý phân tích tổng hợp số liệu thống kê,

- Phương pháp phân tích tài chính - kinh tế

- Phương pháp chuyên gia, phương pháp hội thảo

- Phương pháp bản đồ

- Phương pháp dự báo

Trong các phương pháp đặc biệt chú ý: Phương pháp điều tra nhanh nông thôn bằng phiếu in sẵn đối với chủ nông hộ, chủ trang trại, lãnh đạo doanh nghiệp sản xuất

cà phê và phỏng vấn lãnh đạo xã, huyện và lãnh đạo ngành nông nghiệp

- Phương pháp tiếp cận kế thừa có chọn lọc;

- Phương pháp tiếp cận theo tam giác đều đảm bảo phát triển bền vững về môi trường - kinh tế - xã hội

- Phương pháp tiếp cận đa chiều đối với trồng tái canh cà phê

• Từ trên xuống các nước đã trồng tái canh cà phê trên thế giới  Việt Nam  vùng Tây Nguyên  tỉnh  huyện (TX, TP)  xã  nhà vườn sản xuất cà phê và ngược lại đi từ dưới lên (nông hộ  xã  huyện, v.v… đến cả nước)

• Tiếp cận liên ngành quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, quy hoạch thủy lợi phục

vụ sản xuất nông nghiệp, với đề án trồng tái canh cà phê vối giai đoạn 2014 - 2020

Trong các phương pháp đặc biệt chú ý: Phương pháp điều tra nhanh nông thôn bằng phiếu in sẵn đối với chủ nông hộ, chủ trang trại, lãnh đạo doanh nghiệp sản xuất

cà phê và phỏng vấn lãnh đạo xã, huyện và lãnh đạo ngành nông nghiệp (huyện, tỉnh)

về thực trạng, định hướng, quan điểm, mục tiêu và giải pháp chính về trồng tái canh cà phê (xác định suất đầu tư trồng tái canh 1,0 ha cà phê và cơ chế chính sách hỗ trợ trồng tái canh và tổ chức thực hiện đề án trồng tái canh cà phê có tính khả thi cao)

Trang 10

1.1 Vị trí, vai trò của ngành cà phê đối với nông nghiệp cả nước

- Vị trí, vai trò của ngành cà phê trong tổng thể kinh tế - xã hội và với ngành nông nghiệp Việt Nam

Bảng 2: Một số chỉ tiêu chính thể hiện vị trí - vai trò của ngành cà phê

Nguồn: Điều tra NN-NT, Niên giám thống kê, Tổng điều tra dân số, Điều tra hiện trạng sử dụng đất.

Số

TT CHỈ TIÊU ĐVT Số lượng So với ngành nông nghiệp cả nước

1 Diện tích đất trồng cà phê năm 2012 Ha 622.167,7 Chiếm 16,1% đất trồng cây lâu năm, xếp thứ 3 sau cây ăn quả và cao su.

2 Số hộ nông dân trồng cà

phê năm 2012 (3) Hộ 561.000,0 Chiếm 5,78% số hộ nông nghiệp.

3 Tạo việc làm cho lao động SXKD cà phê (năm 2012) Lao động 998.560,0 (*) Chiếm 3,5% lao động nông lâm thủy sản

4 Giá trị sản lượng cà phê (năm 2012) Tỷ đồng 44.678,0 Giá bình quân: 35.000 đồng/kg

5 Tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê (năm 2012) Triệu USD 3.612,8 Chiếm 13,36% so với tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản.

(*) : Ước tính kể cả lao động liên quan đến trồng cà phê và thu mua, chế biến, bảo quản, tiêu

thụ lên đến trên 5 triệu người.

- Các chỉ tiêu trình bày ở bảng 2 cho thấy ngành cà phê có vị trí quan trọng đối với ngành nông nghiệp Việt Nam kể cả trong việc sử dụng tài nguyên đất, nguồn nước, lao động và là nguồn thu nhập chính của 561.000 hộ Đặc biệt ngành cà phê luôn có đóng góp lớn vào tổng giá trị xuất khẩu nông sản Việt Nam (1,5 – 3,6 tỷ USD/năm)

- Quá trình lịch sử phát triển ngành cà phê từ sau năm 1980 đến năm 2000 đã góp phần khai thác đất hoang hóa, định canh - định cư, xây dựng các khu kinh tế mới ở vùng Tây Nguyên

- Sự tăng trưởng về giá trị sản xuất cà phê đã góp phần đáng kể vào tăng trưởng giá trị sản xuất ngành trồng trọt của cả nước

Trang 11

1.2 Vị trí vai trò của cà phê vùng Tây Nguyên so với cà phê cả nước

- Tây Nguyên là địa bàn trọng điểm phát triển cà phê của cả nước:

+ Nơi có điều kiện sinh thái (độ cao, loại phát sinh đất, khí hậu thời tiết,…) thích hợp cho cây cà phê sinh trưởng - phát triển đạt năng suất và chất lượng cao

+ Quá trình 157 năm thử nghiệm và trồng đại trà ở 37 tỉnh - TP nay còn lại 22 tỉnh, trong đó có 5 tỉnh Tây Nguyên Đặc biệt, vùng Tây Nguyên hội đủ các điều kiện xây dựng những vùng chuyên canh cà phê năng suất, chất lượng cao

+ Vùng Tây Nguyên là nơi tập trung các cơ sở thu mua, chế biến - bảo quản và các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu cà phê

- Tính đến năm 2012, diện tích trồng cà phê của vùng Tây Nguyên: 559.226 ha (chiếm 89,88% diện tích cà phê cả nước), sản lượng: 1.166.609 tấn (chiếm 90,27% sản lượng cà phê cả nước) Do có sản lượng lớn nên xuất khẩu cà phê của vùng Tây Nguyên đóng góp trên 95% sản lượng và giá trị cà phê xuất khẩu của Việt Nam

- Các tỉnh có đóng góp lớn đối với phát triển ngành cà phê vùng Tây Nguyên và ngành cà phê Việt Nam xếp theo thứ tự: (1) Đắk Lắk, (2) Lâm Đồng, (3) Đăk Nông, (4) Gia Lai, (5) Kon Tum

Do vậy, khi lập đề án tái canh cà phê giai đoạn 2014 – 2020, cơ quan tư vấn đề xuất chọn vùng nghiên cứu lập đề án có phạm vi 05 tỉnh vùng Tây Nguyên

2 Diễn biến DT – NS – SL cà phê từ năm 1985 đến năm 2012

Bảng 3: Diễn biến diện tích – năng suất – sản lượng cà phê cả nước và vùng Tây

Năng suất

Sản lượng

Diện tích trồng

Diện tích cho sản phẩm

Năng suất

Sản lượng

Trang 12

Qua 27 năm (1985 – 2012) biến động diện tích trồng cà phê chia thành 03 giai đoạn:

- Giai đoạn 1985 – 2001: Diện tích cà phê tăng rất mạnh từ 43.885 tăng lên 565.300 ha (gấp 12,88 lần) và năng suất cà phê tăng 2,08 lần dẫn đến sản lượng cà phê năm 2001 của cả nước đạt 840.699 tấn so với năm 1985 tăng gấp 70,53 lần

+ Vùng Tây Nguyên từ 1985 đến năm 2001: diện tích trồng cà phê tăng 14,75 lần; năng suất tăng 1,56 lần dẫn đến sản lượng cà phê nhân tăng 76,92 lần

+ Nguyên nhân tăng diện tích, năng suất, sản lượng cà phê giai đoạn 1985 –

2001 là do:

• Chuyển các đơn vị bộ đội đóng trên địa bàn Tây Nguyên sang làm kinh tế thành lập hàng loạt các nông trường cà phê đã khai thác đất hoang hóa và rừng nghèo kết hợp xây dựng hồ thủy lợi phục vụ cho chương trình phát triển cà phê

• Đặc biệt là việc hình thành các vùng sản xuất cà phê hợp tác với các nước Đông Âu (cà phê Việt Đức, cà phê Việt Xô ở tỉnh Đắk Lắk; cà phê Việt Bun ở tỉnh Gia Lai và cà phê Ba Lan ở tỉnh Phú Yên)

• Chương trình di dân từ các tỉnh phía bắc vào Tây Nguyên xây dựng các vùng kinh tế mới, trong đó cây trồng được chọn sản xuất là cà phê

• Giá xuất khẩu cà phê tăng từ < 1.000 USD/tấn lên 2.402 USD/tấn (1995) và giảm còn 1.213 USD/tấn (1999)

- Giai đoạn 2001 – 2005: Diện tích cà phê cả nước giảm từ 565.300 ha xuống còn 497.400 ha (giảm -67.900 ha) là do giá xuất khẩu cà phê giảm xuống mức thấp nhất trong 27 năm, trong đó năm 2001 giảm xuống chỉ còn 420 USD/tấn (bằng 1/3 giá xuất khẩu cà phê năm 1999); nông dân trồng cà phê hạn chế đầu tư, chăm sóc nên năng suất giảm chỉ còn 1,42 – 1,56 tấn nhân/ha (giảm 0,87 tấn so với năm 2000)

- Giai đoạn 2006 – 2012: diện tích cà phê cả nước nhất là vùng Tây Nguyên liên tục tăng và đạt cao nhất năm 2012 với tổng diện tích 622.168 ha so với năm 2006 tăng 125.168 ha (riêng vùng Tây Nguyên: 109.288 ha, diện tích cà phê tăng mạnh ở 03 tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đắk Nông) Hơn nữa, năng suất cà phê luôn đạt > 2,0 tấn nhân/ha

và tổng sản lượng cà phê bắt đầu từ năm 2009 đạt trên 1,0 triệu tấn/năm; riêng năm

2012 đạt 1.292.379 tấn, trong đó vùng Tây Nguyên đạt 1.166.609 tấn chiếm 90,27% sản lượng cà phê cả nước; góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất, xuất khẩu cà phê lớn thứ 02 thế giới Đặc biệt, năng suất cà phê Việt Nam xếp số 01 thế giới và gấp 2,5 lần so với năng suất bình quân của thế giới

3 Hiện trạng kho bảo quản và công nghiệp chế biến cà phê Việt Nam

- Tổng công suất thiết kế kho bảo quản cà phê 2.361.600 tấn/năm, công suất thực tế: 1.329.357 tấn/năm đạt 56,29% so với công suất thiết kế

- Có 97 cơ sở chế biến cà phê nhân xuất khẩu, tổng công suất thiết kế: 1.503.010 tấn/năm; công suất thực tế: 837.850 tấn/năm, đạt 55,74% công suất thiết kế

- Có 05 nhà máy chế biến cà phê hòa tan với công suất thiết kế 12.080 tấn/năm, công suất thực tế đạt 97,93% so với công suất thiết kế

Trang 13

- 160 cơ sở chế biến cà phê bột với tổng công suất thiết kế: 51.664,4 tấn/năm, công suất thực tế 26.094,2 tấn/năm đạt 50,51% CSTK.

- 06 cơ sở phối trộn đóng gói cà phê hòa tan 3 trong 1, tổng CSTK: 68.750 tấn/năm, CSTT: 56.450 tấn/năm, đạt 82,10% CSTK

Nhìn chung, đầu tư xây dựng kho bảo quản cà phê của các cơ sở thu mua, bảo quản cà phê đã vượt so với yêu cầu Đặc biệt, các doanh nghiệp trong nước vay vốn ngân hàng xây dựng kho và nhà máy chế biến cà phê nhân xuất khẩu nhưng lại không

có vốn mua cà phê nhân nguyên liệu đưa vào chế biến, bảo quản Qua điều tra cho thấy số nợ xấu của công ty tập đoàn Thái Hòa, công ty XNK cà phê Tây Nguyên là rất lớn có thể phải tuyên bố phá sản do không có tiền trả nợ vốn vay ngân hàng và kinh doanh không có lãi

4 Thực trạng tiêu thụ sản phẩm cà phê

4.1 Thực trạng xuất khẩu cà phê

Bảng 4: Số lượng, đơn giá và giá trị XK cà phê của cả nước từ năm 2000 đến 2011

Nguồn: Thống kê Việt Nam và Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam

Số

TT Năm

Số lượng

cà phê nhân XK (1.000 tấn)

Đơn giá (USD/tấn) Giá trị (triệu USD) Ghi chú

- Giá cà phê nhân xuất khẩu biến động giữa năm thấp nhất: 420 USD/tấn và năm cao nhất 2.140 USD/tấn với mức chênh lệch: 5,02 lần

Trang 14

- Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu cà phê nhân năm thấp nhất: 317,0 triệu USD (năm 2002) và năm cao nhất là: 2.700,0 triệu USD (năm 2011), bình quân mỗi năm xuất khẩu cà phê nhân của nước ta trong giai đoạn 2000 – 2011 đạt: 1.205,81 triệu USD Mức chênh lệch giá trị xuất khẩu cà phê nhân giữa năm cao nhất và năm thấp nhất là: 8,51 lần nhưng theo xu hướng tăng dần từ năm 2002 đến 2011.

- Năm 2011 cả 03 chỉ tiêu (số lượng, giá FOB và tổng giá trị xuất khẩu cà phê nhân) đạt cao nhất trong lịch sử ngành hàng cà phê Việt Nam

- Số lượng cà phê nhân xuất khẩu của nước ta chiếm 14,0% thị phần so với tổng sản lượng cà phê nhân xuất khẩu của toàn thế giới và xếp vị trí thứ 02 (sau Brazin) từ năm 2000 đến năm 2011

- Năm 2011, có 159 doanh nghiệp tham gia thu mua, chế biến, xuất khẩu cà phê, trong đó có 13 doanh nghiệp FDI Số lượng cà phê xuất khẩu từ: 3.000,0 tấn/năm trở lên có đến 50 doanh nghiệp Đặc biệt, thị phần xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI tăng mạnh từ 20,0% niên vụ 2008/2009 đến niên vụ 2010/2011 đã là 38,0% tổng sản lượng cà phê nhân xuất khẩu của cả nước

- Tỷ lệ cà phê nhân xuất khẩu chiếm 95,0% - 97,0% so với tổng sản lượng cà phê nhân sản xuất hàng năm

- Cà phê nhân của nước ta xuất khẩu đến 80 quốc gia trên thế giới; qua 11 niên

vụ (từ niên vụ 2000/2001 đến niên vụ 2010/2011) số lượng cà phê nhân nhập khẩu từ Việt Nam của 10 nước dẫn đầu thay đổi không nhiều

Bảng 5: Số lượng và thị phần nhập khẩu cà phê nhân từ Việt Nam của 10 nước

Nguồn: Thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam

Số

TT Tên nước

Niên vụ 2000/2001 Niên vụ 2010/2011 So sánh tăng (+),

giảm (-) 2010/2011 trên 2000/2001

Số lượng (tấn) Tỷ lệ (%) Số lượng (tấn) Tỷ lệ (%)

Trang 15

4.2 Tiêu thụ cà phê trên thị trường trong nước

- Theo thông tin KHCN kinh tế Nông nghiệp - PTNT số tháng 05/2009 phân tích về lượng cà phê tiêu thụ ở thị trường trong nước của Việt Nam khoảng 56.000,0 tấn (chiếm 5,0% so với tổng sản lượng cà phê của Việt Nam), trong khi mức tiêu thụ bình quân của các nước xuất khẩu cà phê là 25,0% (riêng Brazin là 40,0%) Nếu tính lượng tiêu thụ cà phê bình quân trên đầu người trong năm của Việt Nam chỉ có 0,64kg/người/năm, xếp thứ 19 trong số các nước sản xuất cà phê trên thế giới

- Kết quả nghiên cứu về mức độ tiêu thụ cà phê bình quân đầu người của Việt Nam từ năm 1995 đến 2010 cho thấy có tốc độ tăng khá cao, từ 0,2kg lên 0,7kg/người/năm (gấp 3,5 lần sau 15 năm), xếp thứ 96 so với 181 quốc gia mà người dân có sử dụng cà phê

- Điều tra của Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp – nông thôn Việt Nam cho thấy: khi thu nhập tăng thì tiêu dùng cà phê cũng tăng, dân sống ở thành thị tiêu dùng cà phê nhiều hơn ở nông thôn, dân số ở các tỉnh Nam bộ tiêu thụ cà phê nhiều hơn so với các tỉnh (TP) ở các vùng miền khác; dân số ở độ tuổi 15 – 35 tuổi tiêu thụ cà phê nhiều nhất Năm 2009, mức tiêu thụ bình quân tại thành phố Hà Nội là: 1,9kg/người/năm so với năm 2006 tăng 0,43kg/người/năm

Như vậy, ở thị trường trong nước khi thu nhập tăng, dân số tăng, tỷ lệ dân số sống ở thành thị nhiều hơn và số lượng khách du lịch đến Việt Nam cũng tăng hơn cộng với các sản phẩm cà phê tiêu dùng đa dạng (cà phê lon, cà phê tươi, cà phê hòa tan, cà phê 3 trong 1,…) với mức giá khác nhau ở nhiều kênh phân phối tiện ích đã và đang gia tăng số lượng và tỷ lệ cà phê tiêu thụ tại thị trường trong nước

5 Đánh giá khái quát hiện trạng chất lượng vườn cà phê và cơ cấu diện tích trồng các giống cà phê (cà phê vối, cà phê chè, cà phê mít) của cả nước đến năm 2012

5.1 Hiện trạng vườn cà phê năm 2012 phân theo loại phát sinh đất

Bảng 6: Phân loại phát sinh đất và hiện trạng cà phê năm 2012 05 tỉnh Tây Nguyên

Nguồn: Bản đồ đất Viện QH và TKNN, BĐ hiện trạng Phân viện QH và TKNN ĐVT: Ha

Số

TT HẠNG MỤC

Diện tích trồng cà phê năm 2012

Chia ra theo loại phát sinh đất

Đất Bazan và đất đỏ đá vôi (Fu, Fk, Ru, Rk, Ft)

Trang 16

- Chồng xếp bản đồ đất và bản đồ hiện trạng trồng cà phê năm 2012 cho kết quả tổng diện tích 622.168 ha thuộc 6 nhóm: đất đỏ vàng (F), đất mùn trên núi (H), đất phù

sa (P), đất đen (R), đất xám (X), đất thung lũng (D); được chia thành 23 đơn vị chú giải bản đồ tỷ lệ 1/100.000 (tương ứng với các loại đất: Fu, Fk, Fp, Fq, Fs, Ft, Fa, Ha,

Hk, Hs, Pf, Py, Pb, Pc, Ru, Rk, X, Xa, Xg, B, Ba, D, Dk)

- Cà phê là cây được ngành Nông nghiệp, Tài nguyên và Môi trường cùng với nhà vườn luôn dành cho loại đất tốt nhất ở các địa phương Vì vậy, trong tổng số diện tích 559.226 ha của vùng Tây Nguyên thì có đến 355.289 ha (63,5%) được trồng trên loại đất địa thành phì nhiêu bậc nhất là đất đỏ bazan và đá vôi, các loại đất khác là 203.937 ha Đặc biệt, tỉnh Đắk Lắk có đến 82,1% diện tích trồng cà phê là đất bazan, tỉnh Gia Lai là 66,8%

- Loại phát sinh đất có ý nghĩa quan trọng tác động đến sinh trưởng, phát triển, thời gian kinh doanh, mức năng suất, chi phí đầu tư và lợi thế cạnh tranh của cà phê Thực tế ở Việt Nam, cà phê trồng trên đất bazan thường có năng suất cao hơn các loại đất khác; tất yếu muốn có năng suất cà phê cao còn phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, giống, kỹ thuật canh tác

5.2 Hiện trạng diện tích cà phê năm 2012 phân theo nguồn nước tưới

Năm 2012 tổng diện tích cà phê được tưới: 467.984 ha, chiếm 75,22% so với tổng diện tích cà phê Trong đó, diện tích cà phê được tưới bằng nước mặt: 84.340 ha, chiếm 18,02% diện tích cà phê được tưới; trong đó, vùng Tây Nguyên: 80.708 ha (chiếm 95,69% diện tích cà phê được tưới bằng nước mặt) Cà phê tưới bằng nước mặt chủ yếu là của các công ty cà phê thuộc Tổng Công ty Cà phê Việt Nam và của tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum và Đắk Nông

- Diện tích cà phê được tưới bằng nước ngầm: 383.644 ha, chiếm 81,98% diện tích cà phê được tưới; trong đó, vùng Tây Nguyên: 347.461 ha (chiếm 90,56% diện tích cà phê được tưới bằng nước ngầm) Qua khảo sát tại các nông hộ trồng cà phê tưới bằng nước ngầm năm 2012 cho biết: lưu lượng nước giảm 30% – 50% so với năm

1990, các giếng đào giờ đây còn ít nước, phải kết hợp đào + khoan và phải bơm 2 cấp nên tốn nhiều nhiên liệu và tăng chi phí (8,0 – 10,0 triệu đồng/ha/vụ) Trữ lượng nước ngầm tại giếng giảm do mật độ giếng quá dày nên muốn có nước phải tiến hành bơm luân phiên giữa các giếng và thời gian một lần bơm của một giếng đã giảm còn bằng ½

so với trước đây Việc sử dụng nước ngầm tưới cà phê đã làm tăng nguy cơ cạn kiệt nguồn nước Chính vì vậy diện tích cà phê đủ điều kiện trồng tái canh phải nằm trong vùng có nước tưới

Số liệu diện tích cà phê được tưới bằng nước mặt, nước ngầm và không tưới của cả nước và vùng Tây Nguyên như sau:

Trang 17

Bảng 7: Diện tích cà phê năm 2012 phân theo nguồn nước tưới

Nguồn: Báo cáo của các Sở Nông nghiệp và PTNT ĐVT: ha

Số

Tổng diện tích cà phê 2012

Diện tích cà phê được tưới Diện tích

cà phê không

Diện tích

Tỷ lệ

(%)

Tưới bằng nước mặt

Tưới bằng nước ngầm Toàn Vùng 559.226 428.169 76,56 80.708 347.461 131.057

5.3 Hiện trạng diện tích cà phê phân theo độ tuổi theo tỉnh

Bảng 8: Thống kê diện tích cà phê theo độ tuổi vùng Tây Nguyên

Nguồn: Báo cáo của các Sở Nông nghiệp và PTNT ĐVT: ha

Số

Tổng diện tích cà phê 2012

Tổng diện tích cà phê già cỗi đến năm 2012

Diện tích cà phê phân theo độ tuổi

15 - 20 năm

Tỷ lệ (%)

> 20 năm

Tỷ lệ (%) Toàn vùng 559.226 157.163,6 68.112,3 43,34 89.051,3 56,66

2012 của 05 tỉnh Tây Nguyên 157.163,6 ha, chiếm 28,10% tổng diện tích cà phê và 30,23% diện tích cà phê đang trong thời kỳ kinh doanh của các tỉnh Tây Nguyên Trong đó, diện tích cà phê từ 15 – 20 năm tuổi là 68.112,3 ha (43,34% diện tích cà phê già cỗi), còn lại 89.051,3 ha (56,66%) diện tích cà phê trên 20 năm tuổi

Diện tích cà phê già cỗi chiếm gần 1/3 diện tích cà phê kinh doanh của các tỉnh Tây Nguyên đã ảnh hưởng trực tiếp tới sản lượng cà phê (sản lượng cà phê Tây Nguyên chiếm 90,27 % tổng sản lượng cà phê của cả nước) và thu nhập của các nông

hộ, trang trại cũng như công nhân nhận khoán của các công ty

Trang 18

Diện tích cà phê già cỗi, năng suất thấp đang có xu hướng ngày càng tăng đã đe dọa đến vị thế của ngành hàng cà phê Việt Nam trên thế giới Chính vì vậy, để duy trì

vị trí số 1 thế giới về xuất khẩu cà phê vối và số 2 thế giới về xuất khẩu cà phê, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã có chủ trương hỗ trợ tái canh toàn bộ diện tích cà phê già cỗi năng suất thấp trong giai đoạn 2014 – 2020

5.4 Cơ cấu diện tích cà phê vối, cà phê chè, cà phê mít năm 2012

Bảng 9: Diện tích và cơ cấu giống cà phê qua một số năm

Nguồn: 2001 của Viện QH-TKNN, 2007 của Cục Trồng trọt, 2012 của Sở NN&PTNT các tỉnh (TP)

Số

Diện tích (ha)

Tỷ lệ

(%)

Diện tích (ha)

Tỷ lệ

(%)

Diện tích (ha)

Tỷ lệ (%) TỔNG SỐ 565.359 100,00 506.400 100,00 622.168 100,00

1 Cà phê vối (Robusta) 533.017 94,28 470.019 92,82 580.483 93,30

2 Cà phê chè (Arabica) 27.042 4,78 31.365 6,19 37.952 6,10

3 Cà phê Mít (Excelsa) 5.300 0,94 4.967 0,98 3.733 0,60

Qua bảng 9 cho thấy:

- Cà phê vối luôn được trồng với diện tích lớn (533.017 ha – 470.019 ha – 580.483 ha) và chiếm tỷ trọng cao (94,28% – 92,82% – 93,30% so với tổng diện tích cà phê qua 3 năm)

- Cà phê chè từ năm 2001 đến 2009 có xu hướng tăng nhưng với tốc độ chậm, năm 2001: 27.042 ha (4,78%), năm 2007 tăng lên 31.365 ha (6,19%) và năm 2012: 37.952 ha (6,10%) Các địa phương trồng cà phê chè gồm có: tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Quảng Trị, tỉnh Sơn La, tỉnh Điện Biên

Trên thực tế, các báo cáo đề án, quy hoạch, dự án đều đưa ra tỷ lệ diện tích cà phê chè từ 15% – 20% và đã triển khai dự án cà phê chè (40.000 ha), nhưng diện tích và tỷ lệ cà phê chè so với tổng diện tích vẫn không tăng như mong muốn, thậm chí còn phải gánh chịu thiệt hại nặng nề (trồng 13.603 ha, trong đó diện tích bị mất trắng và không hiệu quả: 8.059,5 ha, chiếm 59,25%; tổng số dư nợ phải trả theo báo cáo số 2678/BNN-KH ngày 05/9/2008 là: 164,438 tỷ đồng)

Các tài liệu cũng đã phân tích làm rõ các nguyên nhân trồng cà phê chè ít đạt kết quả ở các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam Trung bộ, nhưng vẫn chưa thừa nhận một nguyên nhân chính là các nơi chọn trồng cà phê chè bị chết mất trắng có điều kiện sinh thái không hoặc ít thích hợp Nghiên cứu các vùng đất sản xuất nông nghiệp có độ cao > 1.000 m với điều kiện sinh thái thích hợp trồng cà phê chè cho thấy diện tích không lớn và phải cạnh tranh với cây trồng khác như: rau, hoa, chè,…

Trang 19

Trong tổng diện tích cà phê chè thì dòng cà phê Catimor được trồng phổ biến bởi khả năng chống bệnh rỉ sắt, song nhược điểm là quả và nhân nhỏ, tỷ lệ nhân trên quả cao đã làm tăng chi phí thu hoạch, chế biến, dẫn đến giá thành cao, lợi nhuận giảm khi hạch toán tài chính - kinh tế trên 1 tấn sản phẩm.

- Cà phê Mít giảm cả diện tích và tỷ lệ so với tổng diện tích cà phê bởi hiệu quả kinh tế thấp và tiêu thụ chủ yếu ở thị trường nội địa

II ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÁI CANH CÀ PHÊ 05 TỈNH VÙNG TÂY NGUYÊN

1 Kết quả thực hiện tái canh cà phê của 05 tỉnh Tây Nguyên đến năm 2012

Tổng diện tích cà phê đã tái canh tính đến năm 2012 của các tỉnh Tây Nguyên được trình bày bảng 10

Bảng 10: Kết quả tái canh cà phê vối và ghép cải tạo vùng Tây Nguyên đến năm 2012

Nguồn: Sở Nông nghiệp và PTNT 05 tỉnh và các phòng NN huyện ĐVT: ha

Số

TT Tỉnh

Diện tích

cà phê năm 2012

Tổng diện tích

cà phê đã trồng tái canh

trẻ hóa Bằng Ghép chồi

Tái canh toàn bộ

Tái canh từng phần

Thành công

Không thành công

- Tỉnh Đắk Lắk: Là tỉnh có diện tích cà phê già cỗi lớn nhất (66.783 ha

chiếm 42,73% tổng diện tích cà phê già cỗi của vùng Tây Nguyên) Tuy nhiên, tính đến năm 2012 tổng diện tích cà phê tái canh trên toàn tỉnh là: 3.252,3 ha, chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số diện tích cà phê đã già cỗi cần trồng tái canh Diện tích cà phê đã tái canh được phân bố chủ yếu ở các huyện: Ea H’Leo, Eakar, Cư

Kuin, Krông Pắc, Krông Năng, TX Buôn Hồ Theo kết quả điều tra (trình bày phụ

biểu 2) tỉ lệ trồng tái canh thành công đối với 2 phương thức tái canh toàn bộ và tái

canh từng phần đạt trên 92%, đây có thể xem là cơ sở cho việc khẳng định chủ trương tái canh cà phê trên địa bàn tỉnh là phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và nguyện vọng của nông hộ có vườn cà phê già cỗi cần tái canh Tuy nhiên, Sở Nông

Trang 20

nghiệp và PTNT chưa xây dựng và trình UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch tái canh cà phê vối giai đoạn 2014 – 2020.

- Tỉnh Gia Lai: Có tổng diện tích cà phê già cỗi (17.886 ha chiếm 11,44%

diện tích cà phê già cỗi toàn vùng), kết quả tái canh cà phê tính đến năm 2012 cũng

ở mức thấp (2.064,0 ha), tập trung chủ yếu ở huyện Ia Grai Thực tế tái canh cà phê

ở tỉnh Gia Lai có kết quả tốt, tỷ lệ thành công 94,0%, có thể xem đây là cơ sở để đẩy mạnh kế hoạch tái canh cà phê trên địa bàn tỉnh Đồng thời, Sở Nông nghiệp và PTNT cần xây dựng và trình UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch tái canh cà phê giai đoạn 2014 – 2020

- Tỉnh Lâm Đồng: Có tổng diện tích cà phê được trồng tái canh tính đến năm

2012 là 3.050,0 ha, chiếm 35,92% tổng diện tích cà phê đã được tái canh của 05 tỉnh Tây Nguyên Diện tích cà phê đã trồng tái canh chủ yếu tập trung tại các huyện: Di Linh (1.162 ha), Bảo Lâm (595,5 ha), Lâm Hà (430 ha), Bảo Lộc (260 ha) và các huyện còn lại có diện tích từ 13 ha đến 94,4 ha

Theo Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Lâm Đồng nhận thức được tầm quan trọng của tái canh cà phê, năm 2012 hầu hết các huyện có vườn cà phê già cỗi, năng suất thấp đều chủ động lập kế hoạch tái canh cà phê giai đoạn 2013 – 2015 trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Đặc biệt, kế hoạch tái canh cà phê những năm gần đây đã được đưa vào nghị quyết chuyên đề của cấp Ủy đảng, Hội đồng nhân dân các cấp và được xác định là nhiệm vụ kinh tế trọng tâm, được chính quyền và đoàn thể thuộc hệ thống chính trị đặc biệt quan tâm, chỉ đạo quyết liệt

- Tỉnh Đắk Nông và tỉnh Kon Tum: Kế hoạch tái canh cà phê mới chỉ bắt đầu

xây dựng và tổ chức thực hiện nên diện tích đã tái canh rất nhỏ, hiện 2 tỉnh này cũng đang trong quá trình triển khai lập kế hoạch tái canh cà phê theo chỉ đạo của UBND tỉnh

Qua bảng 10 cơ quan tư vấn đưa thêm diện tích cà phê được ghép cải tạo trẻ hóa bằng biện pháp ghép chồi nối ngọn giống mới với tổng diện tích đã được ghép cải tạo là 20.667,4 ha Biện pháp ghép chồi nối ngọn mặc dù không nằm trong nội dung “Đề án tái canh cà phê giai đoạn 2014 – 2020”; tuy nhiên qua quá trình điều tra khảo sát cơ quan tư vấn nhận thấy đây là biện pháp được áp dụng khá phổ biến ở các nông hộ, trang trại có vườn cà phê từ 15 – 20 năm tuổi, năng suất thấp trong giai đoạn 2005 –

2012 trên địa bàn 03 tỉnh: Lâm Đồng (17.177,4 ha), Đắk Lắk (3.000 ha) và Đắk Nông (500 ha) Biện pháp ghép chồi nối ngọn bằng giống mới mang lại hiệu quả kinh tế cao, chi phí thấp, thời gian KTCB ngắn (1 - 2 năm) và ít ảnh hưởng tới thu nhập của nông

hộ vì trong thời gian ghép nông hộ vẫn có thu nhập sau đó mới cưa đốn vườn cà phê

Có thể xem đây là cơ sở để bổ sung biện pháp ghép cải tạo vào đề án tái canh cà phê (tái canh toàn bộ và tái canh từng phần)

Như vậy, tổng diện tích cà phê già cỗi, năng suất thấp đã được trồng tái canh và ghép cải tạo của các tỉnh vùng Tây Nguyên là 29.167,8 ha

2 Kết quả tái canh cà phê của các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty cà phê Việt Nam

Trang 21

- Kết quả điều tra của cơ quan tư vấn đối với 22 doanh nghiệp về tổng diện tích

cà phê đã trồng tái canh tính đến năm 2012 được trình bày ở bảng 11:

Bảng 11: Diện tích và kết quả trồng tái canh của các công ty

thuộc Tổng công ty cà phê Việt Nam

Nguồn: Các công ty TNHH – MTV và Tổng công ty cà phê Việt Nam ĐVT: ha

Số

T

Tổng diện tích đã trồng tái canh đến năm 2012

Kết quả trồng tái canh cà phê chỉ tính đến

năm 2012 Trồng tái canh

6 Cty TNHH MTV cà phê Đ'rao 48,69 46,3 95,0 2,4 5,0

7 Cty TNHH MTV cà phê Chư Quynh 51,57 50,9 98,6 0,7 1,4

8 Cty TNHH MTV cà phê Ea Tiêu 172,98 169,7 98,1 3,3 1,9

9 Cty TNHH MTV cà phê Ea Ktur 282,00 205,0 72,7 77,0 27,3

10 Cty TNHH MTV cà phê Ea H'Nin 96,10 91,3 95,0 4,8 5,0

11 Cty TNHH MTV cà phê Việt Đức 48,18 48,2 100,0 - -

12 Cty TNHH MTV cà phê Ea Sim 120,18 116,9 97,2 3,3 2,8

13 Cty Cà phê Buôn Hồ 53,49 51,9 97,0 1,6 3,0

14 Cty TNHH MTV Cà phê Đắk Nông 117,40 117,4 100,0 - -

15 Cty TNHH MTV Cà phê Ia Grai 151,45 150,5 99,4 0,9 0,6

16 Cty cà phê Ia Sao I 125,23 124,9 99,8 0,3 0,2

17 Cty cà phê Ia Sao II 70,37 70,4 100,0 - -

18 Cty cà phê 706 226,89 206,0 90,8 20,9 9,2

19 Cty TNHH MTV cà phê 705 30,00 12,5 41,7 17,5 58,3

20 Cty TNHH MTV cà phê Ia Châm 89,10 86,7 97,3 2,4 2,7

21 Cty TNHH MTV cà phê Ia Blan 23,00 21,0 91,3 2,0 8,7

22 Cty Cà phê Đắc Uy 5,82 5,5 93,8 0,4 6,2

Trang 22

- Qua bảng cho thấy đến năm 2012 tổng diện tích trồng tái canh cà phê của các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty cà phê Việt Nam là: 1.900,31 ha, chiếm 12,8% tổng diện tích đã tái canh của toàn vùng Tây Nguyên, trong đó:

+ Diện tích cà phê tái canh thành công: 1.743,4 ha (đạt tỷ lệ 91,7%);

+ Diện tích cà phê tái canh không thàng công: 156,92 ha (chiếm tỷ lệ 8,3%)

- Tỉnh Đắk Lắk có 13 doanh nghiệp trồng tái canh cà phê với tổng diện tích: 1.061,05 ha (chiếm 55,84% diện tích cà phê trồng tái canh của các doanh nghiệp); kết quả trồng tái canh thành công: 948,48 ha (89,4%), tỷ lệ trồng tái canh không thành công là 10,6% (112,57 ha), có 02 doanh nghiệp có tỷ lệ tái canh thành công dưới 90% là: công ty TNHH – MTV cà phê Ea Ktur (72,7%) và công ty TNHH - MTV cà phê 49 (78,4%)

- Tỉnh Gia Lai có 7 doanh nghiệp trồng tái canh cà phê, tổng diện tích đã tái canh cà phê: 716,04 ha (chiếm 37,68% diện tích tái canh cà phê của doanh nghiệp) Diện tích tái canh thành công: 671,97 ha (đạt 93,85%) Kết quả có 6 trong tổng số 7 doanh nghiệp có tỷ lệ tái canh thành công đạt từ trên 90% đến 100% Doanh nghiệp duy nhất có tỷ lệ tái canh thành công thấp (chỉ đạt 41,7%) là công ty TNHH - MTV cà phê 705, tái canh 30 ha chỉ thành công 12,5 ha

+ Tỉnh Đắk Nông có 1 doanh nghiệp thực hiện tái canh cà phê là công ty TNHH

- MTV cà phê Đắk Nông với diện tích: 117,4 ha (trên nền đất cũ trồng cà phê chè), tỷ

- Phương thức tái canh ở các doanh nghiệp cà phê: Có 2 phương thức là tái canh toàn bộ và tái canh từng phần, tùy điều kiện cụ thể của từng công ty

+ Phương thức tái canh toàn bộ: Có diện tích: 1.679,58 ha (chiếm 88,38%).+ Phương thức tái canh từng phần: Tổng diện tích là: 220,74 ha (chiếm 11,62%) Phương thức tái canh này có 2 doanh nghiệp áp dụng là công ty TNHH - MTV cà phê Ea Tiêu (từ năm 2005 đến 2012 đã tái canh 150 ha) và công ty TNHH - MTM cà phê Ia Sao II (đã tái canh 50 ha)

3 Nhận xét ưu, nhược điểm của các phương thức tái canh cà phê

Phân tích ưu điểm và hạn chế của các cách thức tái canh cà phê được trình bày

ở bảng 12 trang sau:

Trang 23

Bảng 12: Ưu điểm – hạn chế của từng phương thức tái canh cà phê và ghép cải tạo

diện tích đã thực hiện tái

canh, ghép cải tạo.

Bình quân: 180,0 triệu đồng/ha tùy theo số lượng cây trồng tái canh.

- Nông hộ, trang trại và chỉ

có một số rất ít Công ty TNHH - MTV áp dụng

- Diện tích: 6.933,4 ha; chiếm 23,77 % so với tổng diện tích đã thực hiện tái canh, ghép cải tạo

- Bình quân: 216 triệu đồng/ha đến 240 triệu đồng/ha (cây giống ghép)

- Công ty TNHH-MTV cà phê áp dụng phổ biến

- Duy trì được nguồn thu nhập do còn một phần vườn cây cà phê không bị nhổ đi trồng tái canh

- Ít gây xáo trộn trong sản xuất - kinh doanh cà phê

- Tạo lập ra vườn cà phê mới có chất lượng độ đồng đều cao do đất được cải tạo, giống cà phê sử dụng trồng

ít đạt chất lượng và trồng đúng quy trình kỹ thuật

- Có điều kiện thực hiện hiệu quả kinh tế thâm canh tăng năng suất và chất lượng cà phê nhân

- Nâng cao thu nhập và sức cạnh tranh của sản phẩm cà phê

Nhược

điểm

- Thời gian kinh doanh của

cà phê ghép khó có thể kéo

dài trên 10 năm

- Mức tăng năng suất cũng

có giới hạn

- Không tác động cải tạo

môi trường đất nên nấm

bệnh vẫn có thể tồn tại

- Phải có được số lượng

chồi lớn, trong khi số

lượng vườn chồi đủ chất

lượng còn hạn chế.

- Vườn cà phê có mức độ đồng đều thấp, gây trở ngại cho chăm sóc,… và chất lượng nhân cà phê cũng khó có thể cao do nó khác biệt về tuổi và giống cà phê

- Năng suất tăng có mức độ nhất định

- Suất đầu tư cao

- Người trồng cà phê sẽ không có thu nhập nên đời sống gặp khó khăn

- Quá trình thực hiện kéo dài nên công tác quản lý tái canh sẽ phức tạp hơn

- Nếu gặp rủi ro sẽ để lại hậu quả nặng nề

Trang 24

4 Suất đầu tư trồng tái canh và ghép cải tạo trẻ hóa 1 ha vườn cà phê già cỗi (tính theo giá năm 2012)

4.1 Phương thức tái canh toàn bộ

- Điều tra các nông hộ tái canh cà phê năm 2013 ở các tỉnh cho thấy suất đầu tư trung bình 1 năm trồng mới và 2 năm kiến thiết cơ bản dao động từ 152 triệu đồng đến

175 triệu đồng/ha Trên địa bàn tỉnh Đắk Nông có suất đầu tư trồng tái canh cao nhất (175 triệu đồng/ha) và thấp nhất là tỉnh Đắk Lắk (152 triệu đồng/ha)

- Có 22 doanh nghiệp thuộc Tổng công ty cà phê Việt Nam đã trồng tái canh cà phê năm 2013, suất đầu tư dao động từ 154 triệu đồng đến 265 triệu đồng/ha

4.2 Phương thức tái canh từng phần

Theo kết quả điều tra tại các doanh nghiệp tính đến năm 2013 chỉ có 2 doanh nghiệp áp dụng phương thức tái canh theo hình thức từng phần là công ty TNHH – MTV cà phê Ia Sao II và công ty TNHH - MTV cà phê Ea Tiêu (thay thế 30% - 50% số cây già cỗi, năng suất thấp), suất đầu tư từ 150 triệu đồng đến 180 triệu đồng cho 1ha

Về phía nông hộ cũng đã và đang áp dụng phương thức tái canh từng phần nhưng chưa tổng kết được tổng chi phí đầu tư cho 1ha cà phê cần trồng tái canh theo phương thức này (ước tính khoảng 165 triệu đồng/ha)

4.3 Biện pháp ghép cải tạo trẻ hóa vườn cây

- Biện pháp ghép cải tạo được thực hiện trên các huyện: Bảo Lâm, Di Linh, Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng; Eakar, Krông Pắc,… tỉnh Đắk Lắk, điều tra nông hộ, suất đầu tư trung bình cho 1 năm ghép, 1 năm kiến thiết cơ bản là 140 triệu đồng cho 1 ha

Tóm lại, suất đầu tư tái canh toàn bộ rất cao, thường cao hơn so với các phương thức khác, đặc biệt thời gian cải tạo đất bằng trồng cây luân canh, trồng mới, KTCB kéo dài 4 – 5 năm đây là khó khăn lớn của phương thức tái canh này Song phương thức này lại là lựa chọn của hầu hết của những vườn cà phê già cỗi 15 – 20 năm

5 Những khó khăn và đề xuất của nông hộ, trang trại và doanh nghiệp

Phỏng vấn nông hộ, trang trại và các doanh nghiệp, đều cho rằng những khó khăn chính trong quá trình tái canh cà phê như sau:

- Thiếu vốn: Nông hộ và doanh nghiệp đều cho rằng, do chi phí tái canh cà phê với số vốn lớn trong khi vốn tự có của nông hộ, doanh nghiệp hạn chế thì việc có đủ vốn

để tái canh theo đúng quy trình kỹ thuật là khó giải quyết, nên rất cần có sự hỗ trợ và chỉ đạo của nhà nước bằng chính sách tín dụng ưu đãi

- Thời gian cải tạo đất, trồng mới, KTCB vườn cà phê kéo dài (4 - 5 năm) người trồng cà phê không có thu nhập nên đời sống của gia đình họ sẽ gặp nhiều khó khăn

- Thiếu nguồn cung cấp cây giống đạt tiêu chuẩn; khó kiểm soát chất lượng cây giống

Trang 25

- Môi trường đất trồng cà phê tái canh bị thoái hóa, mất cân bằng dinh dưỡng, mang mầm sâu bệnh do chỉ canh tác cà phê, đồng thời việc lạm dụng phân bón vô cơ, hóa chất BVTV trong canh tác cà phê đã thực hiện nhiều năm.

- Tiếp cận vốn vay ngân hàng trồng tái canh cà phê của nông hộ còn có khó khăn do mức lãi suất cao, cơ chế hỗ trợ còn chưa sát thực tế

- Một số địa phương chưa xem kế hoạch tái canh cà phê là nhiệm vụ trọng tâm, trong chiến lược phát triển kinh tế, tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững và nâng cao giá trị gia tăng

- Quy trình tái canh cà phê, định mức kỹ thuật của Bộ Nông nghiệp và PTNT xây dựng còn chưa sát thực tế, quy định cứng nhắc nên gây khó cho doanh nghiệp và địa phương có trồng tái canh cà phê

- Số lượng vườn cây đầu dòng được Sở Nông nghiệp và PTNT công nhận còn ít chưa đáp ứng đủ nhu cầu tái canh của địa phương

- Các kết luận khoa học về nguyên nhân tái canh cà phê không thành công giữa các cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan quản lý chưa thống nhất, nên xây dựng 1 quy trình chuẩn gặp nhiều khó khăn

- Vật tư nông nghiệp vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ dẫn đến một số vật tư nông nghiệp chất lượng kém và hàng nhái, hàng giả vẫn tồn tại nên khi đưa vào sử dụng trong sản xuất ảnh hưởng xấu đến chất lượng vườn cà phê được tái canh

- Đối với doanh nghiệp phải trả tiền thuê đất trồng cà phê và kể cả đất có mục đích công cộng như giao thông, thủy lợi (mặt nước hồ, đập) đã làm tăng chi phí và giá thành sản phẩm cà phê

- Một số vùng trồng cà phê tái canh hiện trạng hạ tầng kỹ thuật (giao thông, thủy lợi, điện ) còn chưa đáp ứng cho đầu tư thâm canh và áp dụng tiến bộ kỹ thuật

- 04 tỉnh: Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum chưa xây dựng được tiêu chí vườn cà phê già cỗi, năng suất thấp cần tái canh hoặc ghép cải tạo

- Cơ sở dữ liệu vườn cà phê ở các địa phương chưa được xây dựng nên khó khăn cho các cơ quan quản lý trong xây dựng kế hoạch và thực hiện các chính sách hỗ trợ

- Chính sách tái canh cà phê còn chưa đến được với tất cả các nông hộ nên

áp dụng vào thực tế còn nhiều trở ngại

- Một số doanh nghiệp sản xuất cà phê có nợ xấu nên khó tiếp cận vốn tín dụng

hỗ trợ tái canh cà phê

- Thực hiện tái canh cà phê khu vực đồng bào dân tộc thiểu số rất khó do năng lực trình độ và khả năng thích nghi với thực tế còn nhiều trở ngại

Trang 26

6 Nguyên nhân trồng tái canh cà phê thành công và không thành công

6.1 Nguyên nhân thành công

- Hệ thống chính trị ở một số địa phương đã xác định thực hiện kế hoạch tái canh cà phê là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của địa phương Kế hoạch tái canh cà phê được chỉ đạo thống nhất từ các cấp ủy Đảng, chính quyền và ban ngành chức năng của địa phương

- Một số địa phương, doanh nghiệp đã xây dựng được kế hoạch tái canh cà phê sát thực tế, đảm bảo thống nhất từ trên xuống (tỉnh, huyện, xã) nên tổ chức thực hiện đạt kết quả

- Tuyên truyền phổ biến cho người dân hiểu rõ lợi ích thiết thực, tin tưởng vào

kế hoạch tái canh cà phê nhằm nâng cao thu nhập cho chính nông hộ có vườn cà phê già cỗi năng suất thấp

- Với doanh nghiệp cần có sự chỉ đạo – lãnh đạo của cấp ủy Đảng, Hội đồng thành viên và ban giám đốc

- Sự đồng thuận cao và tự nguyện trồng tái canh cà phê của chính nông hộ cũng như hộ nhận khoán chăm sóc thu hoạch vườn cà phê ở các doanh nghiệp

- Phân công, giao trách nhiệm cụ thể từng phần việc trong kế hoạch trồng tái canh cho các Sở ban ngành và phòng chức năng thuôc UBND các cấp thực hiện

- Có hỗ trợ và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng tái canh cà phê

- Xác định đúng phương thức trồng tái canh cà phê dựa trên cơ sở dữ liệu của từng vườn cà phê già cỗi năng suất thấp

6.2 Nguyên nhân tái canh không thành công

Quá trình thu thập thông tin, điều tra khảo sát tại nông hộ, công ty TNHH – MTV cà phê và Tổng công ty cà phê Việt Nam Cơ quan tư vấn nhận được nhiều ý kiến rất khác nhau về nguyên nhân tái canh cà phê không thành công như sau:

- Viện KH – KT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên khẳng định: Nguyên nhân chính đối với diện tích cà phê tái canh không thành công là do trong đất có mật độ tuyến

trùng ký sinh khá cao, loại gây hại chính là Pratylenchus Coffeae.

- Các nhà khoa học đất – nông hóa cho rằng nguyên nhân tái canh cà phê không thành công là do nấm bệnh và đất bị thoái hóa sau 15 – 20 năm trồng cà phê gây ra đã làm môi trường đất mất cân đối Đặc biệt, là số lượng các vi sinh vật có lợi trong đất giảm đáng kể

- Báo cáo tổng kết của Tổng công ty cà phê Việt Nam cho rằng diện tích cà phê tái canh không thành công của các công ty là do công tác quản lý kỹ thuật yếu kém, không thực hiện đúng quy trình kỹ thuật trồng tái canh; nhất là khâu cải tạo đất, không thực hiện nghiêm việc gieo muồng hoa vàng, cày lật ép xanh ít nhất 2 vụ/năm để tạo mùn cho đất sau 15 – 20 năm khai thác trồng cà phê Một số diện tích trồng tái canh cà phê có tuyến trùng nhưng không được xử lý triệt để

- Đánh giá nguyên nhân diện tích tái canh cà phê không thành công của từng công ty TNHH – MTV và của các cán bộ công tác tại phòng Nông nghiệp - PTNT một

số huyện được tổng hợp trình bày ở bảng 13 trang sau

Trang 27

III ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỦA CÁC CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH ĐÃ VÀ ĐANG CÓ HIỆU LỰC THI HÀNH ĐỐI VỚI CẢI TẠO TRẺ HÓA VÀ TÁI CANH CÀ PHÊ

1 Nội dung các chính sách và kết quả triển khai đến năm 2013

- Tổng công ty Cà phê Việt Nam

+ Tổng Công ty đã lập kế hoạch tái canh 11.000 ha thực hiện trong thời gian 6 năm (2010 – 2015) báo cáo các bộ ngành trung ương Ngày 01/7/2010, Văn phòng Chính phủ đã ban hành văn bản số 4450/VPCP-KTN thông báo ý kiến của Phó Thủ

tướng Nguyễn Sinh Hùng: Đồng ý về nguyên tắc thanh lý cà phê già cỗi để trồng tái

canh, vay vốn đầu tư trồng tái canh cà phê từ chương trình kích cầu của Chính phủ.

Đến năm 2012, Tổng công ty đã trồng tái canh được 2.000 ha theo 2 phương thức: Trồng tái canh từng phần 600,0 ha và trồng tái canh toàn bộ 1.400,0 ha

+ Tổng công ty Cà phê Việt Nam đã mang hồ sơ đến làm việc trực tiếp với Ngân hàng Phát triển Việt Nam và các ngân hàng thương mại, trong đó có Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT để hỗ trợ vốn cho kế hoạch tái canh cà phê của Tổng công ty Song, đến tháng 9 năm 2013 vẫn chưa giải ngân được, lý do không thể vay vốn từ chương trình kích cầu của Chính phủ là do Tổng công ty Cà phê Việt Nam không đảm bảo đủ các tiêu chí cần và đủ để được vay vốn của chương trình này đó là: Tổng công

ty có nợ xấu mà vốn kích cầu chỉ cho vay vốn đối với doanh nghiệp không có nợ xấu

và kết quả sản xuất – kinh doanh hàng năm có lãi

Tại hội nghị xúc tiến đầu tư Tây Nguyên lần thứ 2 năm 2013, Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam đã ký hợp đồng tín dụng nguyên tắc với Tổng công ty Cà phê Việt Nam về gói tín dụng 2.110,0 tỉ đồng cho đầu tư thâm canh, chăm sóc và trồng tái canh cà phê Bài toán giải quyết vốn vay tín dụng dài hạn trồng tái canh cà phê của Tổng công ty cà phê Việt Nam được xác định là thách thức và trở ngại lớn từ năm

2008 đến 2013 đã có hướng giải quyết

- Các tỉnh vùng Tây Nguyên:

+ Tỉnh Đắk Lắk:

Tháng 6 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phối hợp với Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT (Agribank) Đắk Lắk tổ chức Hội nghị “Các giải pháp tái canh cà phê” Tại Hội nghị Agribank Đắk Lắk đã cam kết ưu tiên cân đối nguồn vốn 3.000,0 tỉ đồng (không kể nhu cầu vốn tái canh của các Công ty TNHH – MTV cà phê thuộc Tổng Công ty Cà phê Việt Nam) nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu cho các khách hàng hội đủ điều kiện của chương trình tái canh cà phê được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT - Agribank

Đặc biệt, Agribank phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng các chương trình đầu tư phát triển ngành hàng cà phê theo hướng liên kết, có trọng điểm, gồm 4 khâu: trồng – thu mua – bảo quản + chế biến – xuất khẩu, xây dựng và triển khai mô hình liên kết 4 nhà “nhà nông – nhà doanh nghiệp – Ngân hàng Agribank – bảo hiểm”

để nâng cao giá trị gia tăng của cà phê Đắk Lắk Việt Nam, tăng hiệu quả sản xuất – kinh doanh của các bên, đảm bảo ngành cà phê phát triển bền vững

Trang 28

+ Tỉnh Lâm Đồng:

Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã ban hành hai chính sách sau đây:

+ Chính sách hỗ trợ đối với diện tích trồng tái canh cà phê;

+ Chính sách hỗ trợ xây dựng nguồn giống phục vụ kế hoạch tái canh cà phê.Phạm vi – đối tượng tái canh cà phê có 3 phương thức: Trồng tái canh toàn bộ, phương thức trồng tái canh từng phần và phương thức ghép chồi nối ngọn

Đặc biệt, Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã phối hợp với Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT tổ chức Hội nghị “Triển khai chương trình tín dụng tái canh cà phê” trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2013 – 2015 vào tháng 5 năm 2013 và Hội nghị “Giải pháp triển khai đồng bộ kế hoạch tín dụng tái canh, ghép cải tạo cà phê trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2013 – 2015” – tháng 9 năm 2012

Để triển khai thực hiện kế hoạch trồng tái canh cà phê có hiệu quả, về phía Ủy ban nhân dân tỉnh và một số Sở ngành đã làm tốt công tác chuẩn bị như sau:

• Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định số 872/QĐ-UBND ngày 07/5/2013 phê duyệt kế hoạch tái canh, cải tạo giống cà phê trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2013 – 2015

• Ngày 12/4/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã ký biên bản ghi nhớ với Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam về việc tài trợ vốn đầu tư tái canh cà phê già cỗi

• Sở Nông nghiệp và PTNT đã ban hành 2 quy trình:

o Quy trình tạm thời hướng dẫn nhân giống cà phê chất lượng cao

o Quy trình tạm thời tái canh cà phê vối

• Các chính sách đã và đang áp dụng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đối với kế hoạch tái canh cà phê và ghép cải tạo trẻ hóa vườn cà phê:

o Vốn ngân sách nhà nước: Chi các khoản mục sau đây:

 Tập huấn chuyển giao TBKT: Hỗ trợ 100% kinh phí thực hiện

 Công nhận vườn chồi: Hỗ trợ 100% kinh phí thực hiện

 Kiểm tra vườn ươm: Hỗ trợ 100% kinh phí thực hiện

 Nghiên cứu, cải tạo, sản xuất giống cà phê có năng suất, chất lượng cao: Hỗ trợ 100% kinh phí

 Mua cây giống cà phê thực sinh ươm từ hạt lai thu hoạch từ cây đầu dòng và cây giống ghép trồng tái canh: Hỗ trợ tối đa 80% giá trị chi phí mua cây giống

 Mua chồi từ vườn chồi giống để ghép cải tạo, tái canh: Hỗ trợ tối đa 80%

 Xây dựng vườn nhân chồi và mô hình trình diễn: Hỗ trợ tối đa 50% chi phí mua chồi

Trang 29

 Hội thảo, sơ kết, tổng kết, khen thường: Hỗ trợ 100% chi phí

Ghi chú: Đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo, cận nghèo thuộc đối tượng ưu tiên hỗ trợ trước

o Vốn vay tín dụng:

 Đối tượng được vay vốn: Tất cả các cá nhân, hộ gia đình, tổ kinh tế hợp tác (hợp tác xã)

và doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn, có khả năng trả nợ thực hiện kế hoạch tái canh cà phê nằm trong vùng quy hoạch được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt

 Chính sách ưu đãi: Áp dụng với các cá nhân, hộ gia đình, tổ kinh tế hợp tác, doanh nghiệp đáp ứng đủ các điều kiện cần và đủ tái canh cà phê theo quy định

 Vốn vay, thời gian vay, thời gian ân hạn:

 Phương thức ghép chồi nối ngọn cà phê vối: 163.627.000,0 đồng/ha Trong đó, phần vốn vay 110,0 triệu đồng, chiếm 65% so với tổng số và vốn đối ứng (tự có 55,627 triệu đồng/ha, chiếm 35%), thời gian vay 5 năm, thời gian ân hạn 2 năm

 Phương thức tái canh cà phê bằng cây cà phê vối ghép: 228.452.000 đồng/ha, trong đó vốn vay 160,0 triệu đồng/ha, chiếm 70% và vốn đối ứng 68,452 triệu đồng/ha Thời gian vay 7 năm, thời gian ân hạn 3 năm

 Phương thức tái canh cà phê bằng cây cà phê thực sinh: 222,099 triệu đồng/ha, trong

đó vốn vay 160 triệu đồng, chiếm 72%, vốn đối ứng 62,099 triệu đồng/ha, thời gian vay 7 năm, thời gian ân hạn 3 năm

 Hồ sơ vay vốn theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT (chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc quyết định giao đất, cho thuê đất của cấp có thẩm quyền, giấy đề nghị vay vốn, dự án tái canh cà phê có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã (thị trấn, phường) về diện tích thực hiện tái canh, cải tạo giống cà phê trong vùng quy hoạch trồng cả phê của tỉnh)

 Lãi suất vốn vay giảm 1,5% so với lãi suất thông thường tại thời điểm cho vay

 Thời gian giải quyết hồ sơ vay vốn không quá 30 ngày

 Khách hàng vay vốn có tài sản thế chấp có thể dùng tài sản hình thành từ vốn này là vườn cà phê trường hợp đã dùng toàn bộ tài sản thế chấp cho ngân hàng nhưng vẫn

Trang 30

không đủ, Ngân hàng Agribank nơi cho vay có thể xem xét cho vay một phần không

có tài sản thế chấp, không thu phí khách hàng có nguồn thu trả nợ trước hạn

sơ vay vốn đầu tư tái canh, cải tạo giống, chỉ đạo Ngân hàng Nông nghiệp – PTNT cấp huyện phối hợp với chính quyền địa phương làm tốt kế hoạch thẩm định hồ sơ vay vốn

và kế hoạch giải ngân vốn vay một cách kịp thời

- Hiệp hội Cà phê Việt Nam: Từ năm 2010 đến nay đã trích một phần kinh phí

từ quỹ bảo hiểm ngành cà phê, đặt mua cây giống cà phê thực sinh và hạt cà phê lai đa dòng của các giống cà phê đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận chính thức cấp không thu tiền cho các tỉnh có tái canh cà phê ở vùng Tây Nguyên với số lượng khác nhau tùy theo địa phương Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh đánh giá cao việc

hỗ trợ cây – hạt giống cà phê phục vụ tái canh của Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam Đồng thời xem đây là cây – hạt giống có độ tin cậy khá cao phục vụ trồng tái canh cho các hộ nông dân Song, qua thực hiện việc hỗ trợ cây – hạt giống cà phê các địa phương có một số đề nghị:

+ Hạt lai đa dòng nên cấp sớm và cán bộ chuyên môn đại diện Hiệp hội nên kiểm tra chất lượng cây – hạt giống đạt chất lượng theo hợp đồng mới nhận – giao cho các Sở Nông nghiệp và PTNT tổ chức giao nhận cho địa phương hoặc hộ nông dân có tái canh cà phê

+ Cây giống cà phê thực sinh ươm từ hạt lai đa dòng trước khi xuất khỏi vườn ươm không nên phun thuốc kích thích sinh trưởng (biện pháp hồ cây giống trồng làm tăng kích thước màu sắc lá, thân cây rất đẹp nhưng sẽ khó thích nghi với điều kiện trồng thực tế vườn cà phê, giảm khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi của khí hậu - đất - nước)

Trang 31

+ Hạt giống cà phê lai đa dòng: Có một số hạn chế theo phản ánh của Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh: Chất lượng hạt giống không đồng đều, hạt nhỏ, một tỉ lệ nhất định bị thối mốc, có biểu hiện mục nát và chảy nước lên đến 20 – 30%, bao bì đựng hạt giống không đạt tiêu chuẩn, không ghi các thông tin trên bao bì: ngày sản xuất, … sau khi ươm tỉ lệ nảy mầm trung bình 80 – 90%, khi ươm tỉ lệ cây 2 rễ cọc và

rễ trong bầu dao động từ 15 – 20%, tỉ lệ cây sống và sinh trưởng, phát triển khi trồng trong vườn cà phê của nông hộ không đồng đều Những góp ý kể trên để Hiệp hội kịp thời trao đổi lại với Công ty TNHH Eakamat – Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên sửa đổi, hoàn chỉnh, nâng cao chất lượng sản phẩm

- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam

Tại hội nghị xúc tiến đầu tư Tây Nguyên lần thứ 2 năm 2013, Thống đốc NGân hàng Nhà nước Việt Nam – Nguyễn Văn Bình đã ký biên bản ghi nhớ và hợp đồng tín dụng nguyên tắc với Ủy ban nhân dân hai tỉnh Đắk Lắk và Lâm Đồng và Tổng Công

ty Cà phê Việt Nam đầu tư cho kế hoạch trồng tái canh cà phê với tổng số vốn cam kết lên đến 12.000,0 tỉ đồng Trong đó:

+ Tổng Công ty Cà phê Việt Nam 4.165,0 tỉ đồng, trong đó tái canh cà phê 2.100,0 tỉ đồng

+ UBND tỉnh Đắk Lắk: 3.000,0 tỉ đồng

+ UBND tỉnh Lâm Đồng: 2.800,0 tỉ đồng

2 Một số hạn chế trong chính sách của ngân hàng cam kết cho vay tái canh

cà phê đã và đang thực hiện

- Vùng Tây Nguyên có 05 tỉnh, Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT chỉ cam kết cho cá nhân, tổ chức, nông hộ tái canh của 2 tỉnh Đắk Lắk và Lâm Đồng được vay, trong khi nông dân các tỉnh Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum tái canh cà phê lại không được tiếp cận đến nguồn vốn ưu đãi này là chưa thật bình đẳng Vậy nên, Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam xem xét mở rộng địa bàn cho vay ra các tỉnh còn lại của vùng Tây Nguyên là: Đắk Nông, Gia Lai và Kon Tum Hơn nữa, khi mở rộng địa bàn cần phải tăng tổng số vốn cam kết tài trợ cho kế hoạch tái canh cà phê từ 12.000 tỉ đồng lên 20.000 tỉ đồng

- Tỉ lệ lãi suất vay vốn tái canh cà phê theo cam kết của Ngân hàng ở mức thấp hơn lãi suất thông thường khoảng 1,0 – 2,0 % và áp dụng tại tỉnh Lâm Đồng là 1,5% Tại thời điểm tháng 8 – 9 năm 2013, mức lãi suất thực tế đang áp dụng là 10,5%/năm Theo ý kiến của các chủ hộ, chủ doanh nghiệp và cán bộ đang làm việc tại phòng Nông nghiệp - PTNT và Sở Nông nghiệp - PTNT thống nhất cho rằng: mức lãi suất ưu đãi là quá ít 1,0% - 2,0% và lãi suất vay thực tế là 10,5%/năm để trồng tái canh cà phê vẫn còn cao, bởi lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm của các ngân hàng áp dụng đối với gửi tiền tiết kiệm có thời gian 12 tháng chỉ còn 7,5%/năm - < 10%/năm Các đối tượng được hỏi ý kiến đề xuất mức lãi suất nên giữ mức 6,0% – 7,0%/năm giữ ổn định trong thời gian vay 7 - 10 năm là hợp lý; thể hiện vai trò và trách nhiệm của ngành ngân hàng hỗ

Trang 32

trợ người dân trồng cà phê ở vùng Tây Nguyên theo đúng tinh thần Nghị quyết số

26/NQ-TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

IV XÁC ĐỊNH DIỆN TÍCH CÀ PHÊ GIÀ CỖI – NĂNG SUẤT THẤP CẦN TÁI CANH TRÊN ĐỊA BÀN 05 TỈNH TÂY NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2014 – 2020

1 Tổng hợp diện tích cà phê già cỗi của 05 tỉnh Tây Nguyên

Xây dựng 02 kịch bản xác định diện tích cà phê già cỗi, năng suất thấp có nhu cầu tái canh trên địa bàn 05 tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2014 – 2020 cụ thể như sau:

- Kịch bản 1: Xác định diện tích cà phê già cỗi, năng suất thấp có nhu cầu tái

canh trên địa bàn 05 tỉnh vùng Tây Nguyên sử dụng phương pháp “kế thừa có chọn lọc – sử dụng thông tin thứ cấp” cụ thể như sau:

+ Diện tích cà phê già cỗi, năng suất thấp được xác định là hiện trạng vườn cà phê năm 2012 có độ tuổi 15 – 20 năm và trên 20 năm đồng thời với năng suất cà phê thu hoạch được trong niên vụ 2012/2013 dưới 1,5 tấn Đây là cách làm phổ biến được

Sở Nông nghiệp và PTNT 05 tỉnh, các huyện và công ty TNHH – MTV cà phê đã và đang áp dụng

+ Kế thừa thông tin – tư liệu thống kê diện tích cà phê già cỗi, năng suất thấp của từng công ty TNHH – MTV cà phê và của Tổng công ty cà phê Việt Nam trong kế hoạch, dự án tái canh của doanh nghiệp

+ Kế thừa báo cáo kế hoạch tái canh cà phê của 05 Sở Nông nghiệp và PTNT xây dựng, trong đó riêng tỉnh Lâm Đồng đã được UBND tỉnh phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện đến năm 2013

+ Phối hợp với lãnh đạo và cán bộ kỹ thuật, quản lý của các công ty TNHH – MTV cà phê tiến hành khảo sát tại các vùng – vườn cà phê già cỗi, năng suất thấp với

sự chứng kiến của hộ nhận khoán chăm sóc, quản lý vườn cà phê; trao đổi, thảo luận xác định chỉ tiêu diện tích cà phê già cỗi của từng công ty TNHH – MTV cà phê

+ Phối hợp với phòng Nông nghiệp và PTNT một số huyện trọng điểm có diện tích cà phê già cỗi năng suất thấp, khảo sát tại vườn cà phê và phỏng vấn trực tiếp hộ nông dân và cán bộ các xã, phòng Nông nghiệp về quy mô cà phê già cỗi năng suất thấp

+ Số liệu diện tích cà phê già cỗi năng suất thấp của 05 tỉnh Tây Nguyên đều đã báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh và thường trực tỉnh ủy

+ Số liệu diện tích cà phê già cỗi năng suất thấp chi tiết từng tỉnh được tổng hợp, trình bày ở bảng 14 trang sau

Kịch bản 1 có tính thực tiễn cao và được các địa phương – doanh nghiệp thống nhất nên khi triển khai thực hiện có nhiều thuận lợi Kịch bản 1 đã lồng ghép được cả

3 cách tính: toán học, sinh học và kinh tế học (trên thực tế tại các công ty TNHH –

Trang 33

MTV cà phê và nông hộ có vườn cà phê 30 – 40 năm tuổi nếu chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật vẫn đạt năng suất bình quân 3 – 4 tấn nhân/ha) Do đó, tuổi cây cà phê chỉ là yếu tố cần và không thể chỉ căn cứ vào tuổi để tính diện tích tái canh.

- Kịch bản 2: Sử dụng phương pháp tiếp cận là căn cứ vào số liệu thống kê

diện tích cà phê trồng đến một số năm (1999, 2005) bằng toán học, tính được diện tích

cà phê già cỗi đến năm 2020, nghĩa là lấy thời điểm năm 2020 trừ lại 15 năm chính là diện tích cà phê năm 2005 có tuổi ít nhất 15 năm là: 445.800 ha chiếm 81,51% diện tích cà phê 05 tỉnh Tây Nguyên năm 2020 Song, nghiên cứu chuỗi thời gian từ 1992 đến năm 2012 nhận thấy:

+ Năm 2001 cả nước nói chung và 05 tỉnh Tây Nguyên nói riêng có tổng diện tích cà phê đạt khá cao, sau đó giảm xuống mức thấp nhất trong giai đoạn là năm

2004, trong thời gian kể trên các chủ vườn cà phê đã chặt, chuyển sang cây khác do sản xuất cà phê hiệu quả kinh tế thấp Thực tế so sánh diện tích cà phê năm 2001 với

2004 đã giảm 43.324 ha, đồng thời từ năm 2005 đến 2012 cũng đã trồng tái canh và ghép cải tạo 29.167,8 ha Do vậy khi sử dụng toán học đơn thuần xác định diện tích cà phê già cỗi phải chú ý diện tích cà phê đã chuyển đổi và đã tái canh hoặc ghép cải tạo với diện tích là 72.491,8 ha

+ Như vậy, theo kịch bản 2 diện tích cà phê già cỗi (>15 năm) đến năm 2020 trên địa bàn 05 tỉnh Tây Nguyên là 373.308,2 ha (hơn so với kịch bản 1 là 216.144,6 ha)

+ Phân tích kết quả xác định diện tích cà phê già cỗi, năng suất thấp có nhu cầu tái canh trên địa bàn 05 tỉnh Tây Nguyên theo kịch bản 2 cho thấy một số hạn chế như sau:

• Cây cà phê là sinh vật sống nên xác định cây cà phê già cỗi không thể chỉ căn cứ vào tuổi cây (>15 năm) vì trên thực tế cà phê trồng ở nơi có điều kiện sinh thái thích hợp, chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật,… tuổi cây cà phê 30 – 40 năm vẫn sinh trưởng, phát triển tốt đạt năng suất từ 3 – 4 tấn nhân/ha

• Với năng suất đạt 3 – 4 tấn nhân/ha, khi hạch toán người trồng cà phê vẫn có lãi và thu nhập cao, như vậy xét về kinh tế vườn cà phê này vẫn có hiệu quả

Tóm lại, kịch bản 2 xác định diện tích cà phê già cỗi (>15 năm tuổi) là 373.308,2

ha chỉ đúng về toán học, nhưng lại không phù hợp về sinh học và kinh tế học

Qua phân tích các hạn chế và ưu điểm cơ quan tư vấn đề nghị chọn kịch bản 1 với tổng diện tích 157.163,6 ha già cỗi năng suất thấp, chỉ tiêu này đã được các cơ quan sử dụng trong các báo cáo của Bộ ngành trung ương

2 Nhu cầu tái canh đối với diện tích cà phê già cỗi năng suất thấp trên địa bàn 05 tỉnh vùng Tây Nguyên

Bảng 15: Tổng diện tích cà phê già cỗi và nhu cầu tái canh 05 tỉnh Tây Nguyên

Trang 34

- Diện tích cà phê già cỗi, năng suất thấp được chọn tái canh giai đoạn 2014 -

2020 như sau:

+ Tỉnh Đắk Lắk: 29.590 ha;

+ Tỉnh Lâm Đồng: 45.370 ha;

+ Tỉnh Đắk Nông: 24.658 ha;

+ Tỉnh Gia Lai: 17.886,4 ha;

+ Tỉnh Kon Tum: 2.466,2 ha

3 Bộ tiêu chí đối với cà phê già cỗi năng suất thấp có thể tái canh

- Bộ tiêu chí vườn cà phê già cỗi, năng suất thấp áp dụng phương thức tái canh từng phần:

(1) Quy hoạch: nằm trong vùng quy hoạch được UBND tỉnh phê duyệt;

(2) Tuổi cây cà phê trên 15 năm tuổi;

(3) Năng suất bình quân 3 năm liền liên tục dưới 1,5 tấn nhân/ha;

(4) Có tỷ lệ cây cà phê sinh trưởng kém, năng suất thấp chiếm < 30,0%;

(5) Cây giống cà phê đã trồng không rõ nguồn gốc hoặc chất lượng kém;

(6) Đất Bazan, tầng dày > 70 cm, độ dốc < 15o;

(7) Có nước tưới trong mùa khô

Trang 35

- Bộ tiêu chí vườn cà phê già cỗi, năng suất thấp áp dụng phương pháp tái canh toàn bộ như 07 tiêu chí áp dụng cho phương thức tái canh từng phần, bổ sung tiêu chí (4) tỷ lệ cây cà phê sinh trưởng kém, năng suất thấp chiếm > 30%.

Giải pháp: Nhổ bỏ cây cà phê già cỗi, giống không rõ nguồn gốc,… đào hố có

kích thước lớn, bón đủ số lượng phân hữu cơ, trộn đất và trồng cây giống cà phê thực sinh ươm 2 năm đạt tiêu chuẩn chất lượng, cây giống sạch bệnh, sinh trưởng tốt thay thế cây cà phê già cỗi và chăm sóc cây cà phê mới trồng đúng quy trình kỹ thuật

- Bộ tiêu chí đối với cà phê già cỗi, năng suất thấp áp dụng biện pháp ghép chồi nối ngọn của cây cà phê mới năng suất cao Gồm các tiêu chí sau đây:

(1) Quy hoạch: nằm trong vùng quy hoạch được UBND tỉnh phê duyệt;

(2) Tuổi cây cà phê < 15 và 15 - 20 năm tuổi;

(3) Năng suất bình quân 3 năm liền liên tục dưới 1,5 tấn nhân/ha;

(4) Giống: cây giống trồng không rõ nguồn gốc hoặc chất lượng kém;

(5) Cây cà phê không bị bệnh vàng lá, cây sinh trưởng và phát triển bình thường;(6) Bộ rễ cây còn khả năng phát triển;

(7) Có nước tưới trong mùa khô

- Bộ tiêu chí diện tích cà phê già cỗi, năng suất thấp không thể ghép cải tạo hoặc tái canh mà buộc phải chuyển sang cây trồng khác:

(1) Nằm ngoài vùng quy hoạch;

(2) Thiếu nước tưới;

(3) Nước ngầm > 100 cm và ngập úng cục bộ trong mùa mưa;

Địa điểm điều tra nông hộ chọn ở 5 tỉnh (Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum và Đắk Nông) Nguyên tắc chọn điều tra là chọn đại diện ở các xã có diện tích cà phê già cỗi lớn, đã có hộ tiến hành tái canh, ghép cải tạo cà phê

Trang 36

Số lượng nông hộ điều tra: 226 hộ, trong đó có 47 hộ đã tiến hành tái canh, ghép cải tạo.

Trong 226 hộ chia theo các địa phương như sau (chi tiết trình bày phụ biểu 4, 5):

+ Tỉnh Đắk Lắk: 66 hộ (14 hộ đã tái canh, cải tạo và 52 hộ chưa tái canh, cải tạo), thuộc 6 xã của các huyện Eakar, Krông Pắc, Cư Kuin

+ Tỉnh Lâm Đồng: 64 hộ (19 hộ đã tái canh, cải tạo và 45 hộ chưa tái canh, cải tạo), thuộc 6 xã của các huyện Bảo Lâm, Di Linh, Đức Trọng

+ Tỉnh Gia Lai: 52 hộ (11 hộ đã tái canh, cải tạo và 41 hộ chưa tái canh, cải tạo), thuộc 5 xã của huyện Ia Grai

+ Tỉnh Kon Tum: 20 hộ (1 hộ đã tái canh, cải tạo và 19 hộ chưa tái canh, cải tạo), thuộc 2 xã của 2 huyện Đắk Hà, Đắk Glei

+ Tỉnh Đắk Nông: 24 hộ (2 hộ đã tái canh, cải tạo và 22 hộ chưa tái canh, cải tạo), thuộc 2 xã của 2 huyện Đắk R’Lấp, Tuy Đức

4.1 Kết quả điều tra tổng hợp các hộ đã tái canh, ghép cải tạo

- Thông tin chung của các xã:

+ Diện tích cà phê của các xã điều tra: 26.536 ha

+ Diện tích đã tái canh, cải tạo đến năm 2013: 3.055 ha

+ Diện tích cà phê già cỗi: 18.358 ha (chiếm 69,18% tổng diện tích cà phê)+ Cà phê già cỗi theo độ tuổi: > 15 năm có 4.596 ha, chiếm 25,0%, > 20 năm có 7.201 ha, chiếm 39,2%, > 15 năm có 5.691 ha, chiếm 34,0% và > 30 năm có 870 ha, chiếm 1,8%

- Kết quả điều tra 47 hộ đã tái canh, ghép cải tạo:

+ Diện tích 60,33 ha, tái canh toàn bộ 21,03 ha (chiếm 34,85%), tái canh từng phần 20,12 ha (chiếm 33,35%), ghép cải tạo 19,18 ha (chiếm 31,80%)

+ Diện tích tái canh, ghép cải tạo thành công 58,84 ha (đạt 97,5%), diện tích không thành công 1,49 ha (chiếm 2,5%)

+ Trong diện tích tái canh 41,15 ha (không kể ghép), diện tích có luân canh trên

1 năm là 18,55 ha (chiếm 45,0%), diện tích không luân canh 22,6 ha (chiếm 55,0%)

+ Giống sử dụng trong tái canh phổ biến là các giống TR4, TR7, TR9, và một

số giống mới khác

Qua kết quả tổng hợp cho thấy tỷ lệ tái canh, ghép cải tạo thành công khá cao

và các nông hộ chủ yếu dùng giống mới để tái canh Đặc biệt, khi phỏng vấn các hộ tái canh thành công đều cho năng suất cà phê nhân sau tái canh gấp từ 1,5 đến trên 2 lần (đạt từ 3 đến 4 tấn trên 1 ha), chất lượng hạt loại 1 cũng tăng rõ rệt

4.2 Kết quả điều tra tổng hợp các hộ có vườn cà phê già cỗi chưa tái canh

- Số hộ điều tra: 179 hộ, nguyện vọng sẽ tái canh 145 hộ (chiếm 81%), số hộ giữ nguyên 34 hộ (chiếm 19%)

Trang 37

- Trong 145 hộ có nguyện vọng tái canh, có 57 hộ chọn tái canh toàn bộ (chiếm 39,3%), 55 hộ chọn tái canh từng phần (chiếm 37,9%), 33 hộ chọn ghép cải tạo (chiếm 22,8%).

- Những ý kiến khó khăn khi tái canh, ghép cải tạo vườn cà phê

Qua phỏng vấn 179 hộ đã làm sáng tỏ, trong đó 81% số hộ có nguyện vọng tái canh cà phê Việc chọn hình thức tái canh toàn bộ, từng phần hay ghép cải tạo được các hộ đưa ra nhiều ý kiến khác nhau, do vậy cần có tư vấn của các cơ quan chuyên môn, căn cứ vào thực trạng của vườn cây trước khi các hộ đưa ra quyết định tái canh Khó khăn lớn nhất của việc tái canh là vốn và kỹ thuật tái canh

V ĐÁNH GIÁ CHUNG

1 Thuận lợi – cơ hội

- Kế hoạch tái canh cà phê được ban chỉ đạo Tây Nguyên, thống đốc Ngân hàng nhà nước và lãnh đạo Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam, lãnh đạo Đảng – chính quyền và ngành Nông nghiệp các cấp (tỉnh, huyện, xã); đặc biệt là các hộ, tổ chức, doanh nghiệp trồng cà phê đặc biệt quan tâm và tích cực tham gia hưởng ứng với nhận thức hết sức rõ ràng về mục tiêu, yêu cầu và các hợp phần kỹ thuật phải làm tốt khi tiến hành tái canh

- Qua thực tế tái canh cà phê đến năm 2012 tại các doanh nghiệp trên địa bàn

05 tỉnh Tây Nguyên và các hộ nông dân ở các xã, huyện đã triển khai tái canh như các huyện Bảo Lâm, Di Linh, Lâm Hà,… tỉnh Lâm Đồng; huyện Ia Grai tỉnh gia Lai, huyện Eakar, Cư Kuin, Krông Pắk tỉnh Đắk Lắk,… đã cho phép đúc kết được nhiều bài học kinh nghiệm trong việc lập hồ sơ dữ liệu phục vụ lập kế hoạch và thẩm định dự án tái canh cà phê đối với từng hộ, từng doanh nghiệp có nhu cầu tái canh cà phê Bài học về xây dựng các tài liệu kỹ thuật, định mức chi phí cho tái canh cũng như việc phân công trách nhiệm của các cơ quan trực tiếp tham gia kế hoạch tái canh và giám sát, tổng kết tái canh qua các năm Những bài học quý giá

Trang 38

về chương trình kế hoạch tái canh thành công hoặc thất bại được đúc kết sẽ giảm bớt các rủi ro có thể xảy ra.

- Bộ Nông nghiệp và PTNT, Cục Trồng trọt, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Lâm Đồng đã xây dựng và ban hành kịp thời các quyết định về định mức kỹ thuật trồng tái canh cà phê; quy trình tái canh cà phê vối và quy trình tái canh cà phê vối tạm thời trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; quy trình tạm thời hướng dẫn kỹ thuật nhân giống cà phê chất lượng cao,… Các định mức chi phí vật chất và tài chính cho từng phương thức tái canh cà phê cũng đã được ngân hàng phối hợp với Sở Tài chính thẩm định và thống nhất áp dụng Các văn bản trên đã tạo hành lang pháp lý quan trọng để xây dựng

kế hoạch, thẩm định và tổ chức triển khai kế hoạch tái canh ở các cấp

- Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam đã hỗ trợ kịp thời một số lượng đáng kể cây giống thực sinh và hạt cà phê lai đa dòng có năng suất, chất lượng cao do công ty TNHH Eakamat – Viện khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên có trách nhiệm cung ứng giống phục vụ kịp thời cho nông dân có nhu cầu tái canh cà phê

- Kỹ thuật ghép chồi nối ngọn cà phê được nhiều hộ dân có vườn cà phê quan tâm và có mong muốn được thực hiện trên vườn cà phê của chính họ, tạo thêm phương thức chọn cải tạo vườn cà phê già cỗi, năng suất thấp bằng giống cà phê mới năng suất chất lượng cao áp dụng kỹ thuật ghép chồi nối ngọn

- Cơ hội của đề án: Có các giống cà phê (TR4, TR5, TR6, TR9, TR11, TR12, TR13) do Viện khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên nghiên cứu chọn tạo, lai tạo đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận chính thức với nhiều đặc điểm ưu tú: kháng bệnh rỉ sắt, năng suất cao, kích thước nhân lớn,… vượt xa so với các giống

cũ Thực tế tái canh thành công năng suất tăng 1,5 – 2,0 lần, góp phần giảm giá thành, tăng lợi nhuận trước thuế và tăng thu nhập cải thiện đời sống người trồng cà phê; tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu do kích thước nhân to, tỷ lệ nhân loại 1 chiếm 75% – 80%, có dung trọng lớn Đây là hướng tái cơ cấu sản xuất ngành hàng cà phê theo hướng bền vững và nâng cao năng suất chất lượng nhân cà phê

2 Khó khăn – thách thức

- Gồm các khó khăn như sau:

+ Tổ chức triển khai thực hiện xây dựng cơ sở dữ liệu về vườn cà phê già cỗi và phương thức tái canh cà phê đến hộ, ấp, xã, huyện cần có thời gian và yêu cầu người thực hiện phải có kiến thức, thu thập đủ dữ liệu, chính xác cao Đây là thông tin cơ sở

để xây dựng kế hoạch tái canh chính xác và khi quyết định biện pháp tái canh, thẩm định dự án tái canh mới đảm bảo có tính khả thi cao

+ Tái canh cây cà phê có chu kỳ kinh tế 20 – 25 năm nên phải làm đúng quy trình nhưng cấp tỉnh chỉ ban hành quy trình tạm thời, quy trình của Cục Trồng trọt còn

Ngày đăng: 23/04/2016, 09:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
45. Văn bản số 4450/VPCP-KTN ngày 1/7/2009 của Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng “Đồng ý về nguyên tắc thanh lý cà phê già cỗi để trồng tái canh, vay vốn đầu tư cho tái canh từ chương trình kích cầu của Chính phủ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng ý về nguyên tắc thanh lý cà phê già cỗi để trồng tái canh, vay vốn đầu tư cho tái canh từ chương trình kích cầu của Chính phủ
1. Báo cáo tình hình tái canh, cải tạo giống cà phê trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng và kế hoạch thực hiện biên bản ghi nhớ giữa UBND tỉnh Lâm Đồng và Ngân hàng Nông nghiệp &amp; PTNT – Sở Nông nghiệp và PTNT tháng 5/2013 Khác
2. Báo cáo kết quả thực hiện dự án tái canh cà phê của công ty TNHH – MTV cà phê Ia Grai – tháng 2/2013 Khác
3. Báo cáo tình hình sản xuất và tái canh cà phê của công ty TNHH – MTV cà phê 716 – tháng 9/2012 Khác
4. Báo cáo tình hình sản xuất và tái canh cà phê của công ty TNHH – MTV cà phê Thắng Lợi – tháng 9/2012 Khác
5. Báo cáo tình hình sản xuất và tái canh cà phê của công ty TNHH – MTV cà phê 719 – tháng 9/2012 Khác
6. Báo cáo tình hình sản xuất và tái canh cà phê của công ty TNHH – MTV cà phê 721 – tháng 9/2012 Khác
7. Báo cáo tình hình sản xuất và tái canh cà phê của công ty TNHH – MTV cà phê 49 – tháng 9/2012 Khác
8. Báo cáo đánh giá tình hình sản xuất và tái canh cà phê của công ty TNHH – MTV cà phê Ea Pôk – tháng 9/2012 Khác
9. Báo cáo đánh giá tình hình sản xuất và tái canh cà phê của công ty TNHH – MTV cà phê Việt Đức – tháng 9/2012 Khác
10. Báo cáo đánh giá tình hình sản xuất và tái canh cà phê của công ty TNHH – MTV cà phê Eaktur – tháng 9/2012 Khác
11. Báo cáo đánh giá tình hình sản xuất và tái canh cà phê của công ty TNHH – MTV cà phê Việt Thắng – tháng 9/2013 Khác
12. Báo cáo đánh giá tình hình sản xuất và tái canh cà phê của công ty TNHH – MTV cà phê 706 – tháng 9/2013 Khác
13. Báo cáo đánh giá tình hình sản xuất và tái canh cà phê của công ty TNHH – MTV cà phê Chư Quynh – tháng 9/2013 Khác
14. Báo cáo đánh giá tình hình sản xuất và tái canh cà phê của công ty TNHH – MTV cà phê Ea Tiêu – tháng 9/2013 Khác
15. Báo cáo đánh giá tình hình sản xuất và tái canh cà phê tỉnh Kon Tum – Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Kon Tum - tháng 10/2012 Khác
16. Báo cáo đánh giá tình hình sản xuất và tái canh cà phê tỉnh Gia Lai – Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Gia Lai - tháng 9/2012 Khác
17. Báo cáo đánh giá tình hình sản xuất và tái canh cà phê tỉnh Đắk Nông – Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Đắk Nông - tháng 9/2012 Khác
18. Báo cáo đánh giá tình hình sản xuất và tái canh cà phê tỉnh Lâm Đồng – Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Lâm Đồng - tháng 10/2012 Khác
19. Báo cáo đánh giá tình hình sản xuất và tái canh cà phê tỉnh Đắk Lắk – Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Đắk Lắk - tháng 10/2012 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Diễn biến diện tích – năng suất – sản lượng cà phê cả nước và vùng Tây - Tái canh cà phê giai đoạn 20142020
Bảng 3 Diễn biến diện tích – năng suất – sản lượng cà phê cả nước và vùng Tây (Trang 11)
Bảng 5: Số lượng và thị phần nhập khẩu cà phê nhân từ Việt Nam của 10 nước - Tái canh cà phê giai đoạn 20142020
Bảng 5 Số lượng và thị phần nhập khẩu cà phê nhân từ Việt Nam của 10 nước (Trang 14)
Bảng 6: Phân loại phát sinh đất và hiện trạng cà phê năm 2012 05 tỉnh Tây Nguyên - Tái canh cà phê giai đoạn 20142020
Bảng 6 Phân loại phát sinh đất và hiện trạng cà phê năm 2012 05 tỉnh Tây Nguyên (Trang 15)
Bảng 8: Thống kê diện tích cà phê theo độ tuổi vùng Tây Nguyên - Tái canh cà phê giai đoạn 20142020
Bảng 8 Thống kê diện tích cà phê theo độ tuổi vùng Tây Nguyên (Trang 17)
Bảng 10: Kết quả tái canh cà phê vối và ghép cải tạo vùng Tây Nguyên đến năm 2012 - Tái canh cà phê giai đoạn 20142020
Bảng 10 Kết quả tái canh cà phê vối và ghép cải tạo vùng Tây Nguyên đến năm 2012 (Trang 19)
Bảng 11:                Diện tích và kết quả trồng tái canh của các công ty - Tái canh cà phê giai đoạn 20142020
Bảng 11 Diện tích và kết quả trồng tái canh của các công ty (Trang 21)
Bảng 12: Ưu điểm – hạn chế của từng phương thức tái canh cà phê và ghép cải tạo - Tái canh cà phê giai đoạn 20142020
Bảng 12 Ưu điểm – hạn chế của từng phương thức tái canh cà phê và ghép cải tạo (Trang 23)
Bảng 16: Các phương án tái canh cà phê kịch bản 1 GĐ 2014 – 2020       ĐVT: ha - Tái canh cà phê giai đoạn 20142020
Bảng 16 Các phương án tái canh cà phê kịch bản 1 GĐ 2014 – 2020 ĐVT: ha (Trang 42)
Bảng 17: So sánh một số chỉ tiêu của 03 PÁ tái canh và ghép cải tạo theo kịch bản 1 - Tái canh cà phê giai đoạn 20142020
Bảng 17 So sánh một số chỉ tiêu của 03 PÁ tái canh và ghép cải tạo theo kịch bản 1 (Trang 44)
Bảng 19: Tiến độ ghép cải tạo vườn cà phê trên địa bàn 05 tỉnh vùng Tây Nguyên - Tái canh cà phê giai đoạn 20142020
Bảng 19 Tiến độ ghép cải tạo vườn cà phê trên địa bàn 05 tỉnh vùng Tây Nguyên (Trang 47)
Bảng 20: Khái toán vốn đầu tư phương án chọn (PÁ II – kịch bản 1) - Tái canh cà phê giai đoạn 20142020
Bảng 20 Khái toán vốn đầu tư phương án chọn (PÁ II – kịch bản 1) (Trang 48)
Bảng 21: Đề xuất tiến độ giải ngân vốn phục vụ tái canh cà phê       ĐVT: Triệu đồng - Tái canh cà phê giai đoạn 20142020
Bảng 21 Đề xuất tiến độ giải ngân vốn phục vụ tái canh cà phê ĐVT: Triệu đồng (Trang 48)
Bảng 22: Đề xuất tiến độ giải ngân vốn cho biện pháp ghép cải tạo - Tái canh cà phê giai đoạn 20142020
Bảng 22 Đề xuất tiến độ giải ngân vốn cho biện pháp ghép cải tạo (Trang 49)
Bảng 23: Phân tích hiệu quả vốn đầu tư  ĐVT: Tỷ đồng - Tái canh cà phê giai đoạn 20142020
Bảng 23 Phân tích hiệu quả vốn đầu tư ĐVT: Tỷ đồng (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w