Đồng Nai là một tỉnh có tốc độ phát triển công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh; Đặc điểm của quá trình này là làm cho các nguồn lực trong nông nghiệp giảm nhiều; những vấn đề mang tính to
Trang 1TỈNH ĐỒNG NAITRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG
TỈNH ĐỒNG NAI
ĐỀ TÀI KHOA HỌC
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ KINH TẾ, KỸ THUẬT VÀ THỊ TRƯỜNG
ĐỂ XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI CHỦ LỰC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA BỀN VỮNG TẠI ĐỒNG NAI
Chủ nhiệm đề tài: Trần Hải Sơn, Nguyễn Vinh Hùng
Trang 2I Sự cần thiết phải xác định sản phẩm chủ lực
Một quốc gia, một doanh nghiệp hay một địa phương muốn phát triển, không thể thiếu những ngành hàng hay những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh cao Những sản phẩm hay những ngành hàng này giữ vai trò chủ đạo và là yếu tố đột phá, tạo cơ hội và những điều kiện thuận lợi cho các sản phẩm và ngành hàng khác phát triển theo Có thể lấy dẫn chứng về một số quốc gia đã và đang phát triển một cách bền vững dựa vào những ngành hàng hoặc sản phẩm chủ lực như: Nhật Bản, sau hơn 20 năm phát triển dựa vào những ngành lợi thế về chế tạo máy, điện tử… đã kéo theo các ngành khác như công nghệ thông tin, ô tô, máy ảnh, máy tính, sản xuất thép… và đến nay đã thực sự trở thành một cường quốc
về kinh tế Kế đến là Trung quốc với việc dựa trên lợi thế có nguồn nhân lực dồi dào, sản xuất sản phẩm cấp thấp, giá rẻ… đã đưa nền kinh tế phát triển một cách thần kỳ với tốc độ tăng trưởng bình quân 9 – 10%/năm Trong ngành nông nghiệp Việt Nam, khi lúa gạo, cao su, hồ tiêu là những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh cao thì những vùng ĐBSCL, ĐNB và Tây Nguyên cũng nổi lên thành những vùng nông nghiệp trọng điểm của cả nước
Đồng Nai là một tỉnh có tốc độ phát triển công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh; Đặc điểm của quá trình này là làm cho các nguồn lực trong nông nghiệp giảm nhiều; những vấn đề mang tính toàn cầu như biến đổi khí hậu, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế, nguy cơ ô nhiễm môi trường, dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là những rào cản về vệ sinh an toàn thực phẩm đã và đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với sản xuất nông nghiệp Trong bối cảnh
đó UBND tỉnh đã phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững do ngành nông nghiệp xây dựng với một hệ thống các giải pháp quan trọng mang tính đột phá như: nhóm giải pháp về quy hoạch và thực hiện quy hoạch nông, lâm, ngư nghiệp; bảo quản, chế biến nông sản, giảm tổn thất sau thu hoạch; về cơ chế chính sách; về khoa học công nghệ; nhóm giải pháp về xác định lợi thế cạnh tranh của từng ngành hàng nông
Trang 3nghiệp trên địa bàn tỉnh; nhóm giải pháp về thị trường tiêu thụ; nhóm giải pháp
về đào tạo và bố trí nguồn lao động; nhóm giải pháp về tổ chức sản xuất và tăng cường liên doanh liên kết; nhóm giải pháp về đổi mới cơ cấu vốn đầu tư và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng…Trong đó, nhóm giải pháp về xác định xác định cây trồng, vật nuôi chủ lực trên địa bàn tỉnh được xem là nhóm giải pháp hết sức quan trọng và cần thiết để thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững
Từ những lý do trên, UBDN tỉnh cho phép Sở Khoa học và Công nghệ
thực hiện đề tài khoa học: Nghiên cứu các yếu tố kinh tế, kỹ thuật và thị trường
để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực phục vụ phát triển ngành nông nghiệp hàng hóa bền vững tại Đồng Nai; trong đó, chuyên đề cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực là một bộ phận cấu thành của đề tài
II Khái niệm về sản phẩm chủ lực
II.1 Một số quan điểm khác nhau về sản phẩm chủ lực (SPCL)
+ Bộ Khoa học và công nghệ: quyết định số 21/2001/QĐ- BKHCNMT về
việc “Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và sản
phẩm chủ lực”: SPCL là sản phẩm giúp gia tăng kim ngạch và chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm chế biến, sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ cũng như tạo điều kiện đẩy nhanh áp dụng các công nghệ tiên tiến vào sản xuất theo phương châm lấy tiết kiệm năng lượng, giảm giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm làm trọng tâm
+ TP HCM: chương trình phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực của
TP HCM giai đoạn 2002 – 2005 (Quyết định số: 153 /2002/QĐUB): SPCL phải
có khả năng cạnh tranh cao, tiềm năng thị trường lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao; đối với người sản xuất, đóng góp đáng kể cho GDP Ngoài ra, nó phải vừa
có tính hiện đại, vừa có tính văn hóa truyền thống; vừa sử dụng nhiều nguyên liệu trong nước vừa có thương hiệu mạnh và đặc biệt, phải bảo đảm về lao động
Trang 4+ Hà Nội: “Qui chế đánh giá, xét chọn sản phẩm công nghiệp chủ lực
Thành phố Hà Nội” (Quyết định số 03/2006/QĐUB) SPCL với các đặc trưng cơ bản là: Có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước; Được tạo ra trên dây chuyền thiết bị có công nghệ ngang tầm khu vực, phù hợp với trình độ sản xuất và chiến lược phát triển của Thành phố trong từng thời kỳ; Đảm bảo năng lực sản xuất và môi trường bền vững; Tạo ra mức tăng trưởng ổn định ở mức cao và thuộc nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực với tỷ trọng đóng góp vào tổng GDP công nghiệp lớn.
+ Đồng Nai: “Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực
của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006 - 2010” (Quyết định số 955/QĐ-UBND): Sản phẩm công nghiệp chủ lực phải là sản phẩm đóng vai trò then chốt, quyết định đối với việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra trong một thời kỳ nhất định Đây là những sản phẩm công nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu ngành công nghiệp có nhịp độ tăng trưởng và tỷ lệ giá trị gia tăng cao, có vị trí chi phối
và ảnh hưởng đến sự phát triển đối với nhiều sản phẩm công nghiệp khác cũng như có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu Nói cách khác, đối với tỉnh Đồng Nai thì sản phẩm chủ lực là sản phẩm công nghiệp có thế mạnh về giá trị sản lượng và giá trị gia tăng; có sức tác động hay lan tỏa đến các sản phẩm công nghiệp khác, đồng thời có khả năng tiêu thụ tốt trên thị trường trong nước cũng như ngoài nước.
+ GS.TS Võ Thanh Thu: SPCL phải có tương lai phát triển mạnh về
công nghệ, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và trong nước; Phải khai thác được lợi thế của địa phương, là đặc trưng cho địa phương; Phải có tính lan tỏa, kích thích các ngành khác, sản phẩm khác phát triển; Phải là những mặt hàng mang hàm lượng chất xám cao, cũng như có khả năng xuất khẩu cao;
Có thể là hữu hình hoặc là vô hình.
+ TS Lê Tấn Bửu: SPCL phải là sản phẩm trong công nghiệp chế biến
nông, thủy sản vì đây là thế mạnh của Việt Nam mà trọng điểm là ĐBSCL, đồng
Trang 5thời chúng còn là nguồn cung sản phẩm thiết yếu thỏa mãn nhu cầu cơ bản cho toàn xã hội.
Như vậy, trong thực tế nghiên cứu cho thấy, ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ
và mỗi thời kỳ khác nhau việc nhận thức về sản phẩm chủ lực có khác nhau Chính từ sự nhận thức khác nhau như vậy mà việc lựa chọn sản phẩm chủ lực và chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực ở mỗi địa phương thời gian qua cũng có khác nhau Tuy nhiên, có một vấn đề mà mọi quốc gia, vùng lãnh thổ và mọi thời đại đều thống nhất với nhau chính là lợi ích của việc xét chọn sản phẩm chủ lực, đồng thời xem việc tìm ra sản phẩm chủ lực để tập trung đầu tư phát triển là nhiệm vụ có tính chiến lược đối với mỗi quốc gia, địa phương và vùng lãnh thổ Chính vì điều này mà trước tiên, Luận án cần đi đến một nhận thức chung, nhất quán về sản phẩm chủ lực
Từ những kết quả phân tích đã trình bày ở phần trên, có thể nhận diện sản
phẩm chủ lực thông qua định nghĩa như sau: “Sản phẩm chủ lực là sản phẩm
hàng hóa hoặc dịch vụ chủ yếu, có khả năng sản xuất và cung ứng với khối lượng lớn và năng lực cạnh tranh cao; là trung tâm lan tỏa, lôi kéo các ngành nghề khác cùng phát triển; đồng thời nó còn có thể là sản phẩm thể hiện tính đặc thù riêng, mang ý nghĩa văn hóa của một quốc gia, địa phương hay vùng lãnh thổ”.
II.2 Một số đặc trưng cơ bản của SPCL.
+ Có quy mô khối lượng lớn và tính đồng nhất cao
+ Có năng lực cạnh tranh quốc tế
+ Có sức lan tỏa mạnh
+ Mang tính đặc thù của quốc gia và vùng lãnh thổ
+ Có tính an toàn và thân thiện với môi trường
II.3 Ý nghĩa của việc xác định SPCL.
Trang 61) Xác định đúng sản phẩm chủ lực đồng nghĩa với việc xác định được năng lực cạnh tranh cốt lõi của quốc gia, vùng lãnh thổ…, để từ đó có chính sách đầu tư đúng hướng, tập trung và có chiều sâu.
2) Xác định đúng sản phẩm chủ lực cũng có nghĩa xác định đúng trung tâm lan tỏa, nguồn phát tác hấp lực từ tập trung chuyên môn hóa – hiện đại hóa sản xuất và cung ứng, có tác động lôi kéo các ngành nghề liên quan, dịch vụ bổ trợ phát triển
3) Xác định đúng sản phẩm chủ lực cũng đồng nghĩa với việc định vị đúng nền kinh tế trong chiến lược cạnh tranh toàn cầu Sản phẩm chủ lực của quốc gia, vùng lãnh thổ hay địa phương thể hiện đẳng cấp, thực trạng và tương lai phát triển kinh tế của quốc gia, vùng lãnh thổ và địa phương đó Căn cứ vào định vị này, các quốc gia, vùng lãnh thổ và địa phương đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp và hiệu quả nhất, nhằm góp phần giải quyết các bất
ổn kinh tế vĩ mô và đảm bảo tăng trưởng một cách bền vững
4) Xác định đúng sản phẩm chủ lực cũng có nghĩa là xác định đúng đối tượng khách hàng và thị trường tiêu thụ để tăng cường áp dụng các hệ thống quản
lý và thực hành chất lượng phù hợp Để đối mặt với sự cạnh tranh mang tính quốc tế, các doanh nghiệp phải tạo ra được những sản phẩm bảo đảm chất lượng, thương hiệu và uy tín, được khách hàng ưa chuộng Muốn vậy, các nhà sản xuất phải đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị và công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại cũng như áp dụng các phương pháp quản lý chất lượng một cách toàn diện theo chuẩn quốc tế, đáp ứng với những đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng
III Một số lý thuyết liên quan đến xác định sản phẩm chủ lực
III.1 Thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
Khi nhu cầu về một loại sản phẩm tăng lên, các nhà kinh doanh sẽ mở rộng diện tích để trồng nó và như thế sẽ sảy ra hiện tượng ở nước này (A) được sản xuất trên đất tốt (do còn quỹ đất thích hợp); ở nước khác (B) phải sản xuất trên đất xấu (do không còn quỹ đất thích hợp) Hiện tượng này không đảm bảo lợi nhuận cho các nhà kinh doanh ở nước B nên họ sẽ không sản xuất nữa Trong
Trang 7điều kiện đó, A Smith cho rằng có thể giải quyết bằng cách nhập khẩu sản phẩm
đó từ nước ngoài với giá rẻ hơn Việc nhập khẩu này sẽ mang lại lợi ích cho cả hai nước Lợi ích này được gọi là lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương
Do đó, có thể nói lợi thế tuyệt đối là lợi thế có được trong điều kiện so sánh chi phí nguồn lực để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm Khi một nước sản xuất sản phẩm có chi phí cao hơn (do hạn chế về nguồn lực) có thể nhập sản phẩm đó từ nước khác có chi phí sản xuất thấp hơn (do có ưu thế về nguồn lực) Lợi thế này được xem xét từ hai phía, đối với nước sản xuất sản phẩm có chi phí sản xuất thấp sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn khi bán trên thị trường quốc tế Còn đối với nước sản xuất sản phẩm với chi phí sản xuất cao sẽ có được sản phẩm mà trong nước không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất không đem lại hiệu quả Điều này gọi là bù đắp sự yếu kém về khả năng sản xuất trong nước
Ngày nay, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam việc khai thác lợi thế tuyệt đối vẫn có ý nghĩa quan trọng khi chưa có khả năng sản xuất một số loại sản phẩm, đặc biệt là công nghệ sản xuất với chi phí chấp nhận được mà phải nhập khẩu công nghệ Khi nhập công nghệ sản xuất, lao động trong nước sẽ học được cách sử dụng máy móc thiết bị mà trước đây họ chưa biết và sau đó họ học cách sản xuất ra chúng Về mặt này, vai trò đóng góp của ngoại thương giữa các nước công nghiệp phát triển (có lợi thế tuyệt đối về công nghệ) và các nước đang phát triển (có lợi thế tuyệt đối về nguồn lực) thông qua bù đắp sự yếu kém về khả năng sản xuất tư liệu sản xuất và yếu kém về kiến thức công nghệ của các nước đang phát triển cũng được đánh giá là lợi thế tuyệt đối
III.2 Thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo
Học thuyết lợi thế so sánh của D Ricardo nghiên cứu sự trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia dựa trên nền tảng học thuyết về giá trị lao động
Theo học thuyết này thì ngoại thương có lợi cho mọi quốc gia miễn là xác định đúng lợi thế so sánh Nghĩa là việc chuyên môn hóa của mỗi nước phải dựa
Trang 8trên lợi thế khi đối chiếu so sánh hao phí lao động cho mỗi đơn vị sản phẩm giữa các quốc gia
Muốn xác định lợi thế so sánh ta phải xác lập lợi thế tuyệt đối Toàn bộ phân tích của D Ricardo về lợi thế so sánh thực chất dựa trên sự khác nhau giữa các nước trong công nghệ sản xuất dẫn đến năng suất vật chất và đòi hỏi lao động đơn vị khác nhau
Xét trên góc độ giá yếu tố đầu vào cũng dẫn đến lợi thế so sánh với nền tảng công nghệ như nhau: các nước phát triển có cung về tư bản nhiều hơn các nước đang phát triển dẫn đến số lượng tư bản trên mỗi nhân công lớn hơn Ngược lại số nhân công trên một đơn vị tư bản của các nước đang phát triển lại lớn hơn các nước phát triển Như vậy giá thuê tư bản ở các nước phát triển rẻ hơn tương đối so với giá thuê nhân công; ngược lại ở các nước đang phát triển giá thuê nhân công lại rẻ hơn tương đối so với giá thuê tư bản Nói một cách khác, các nước phát triển
có lợi thế so sánh về giá thuê tư bản còn các nước đang phát triển có lợi thế so sánh
về giá thuê nhân công Quốc gia nào sản xuất hàng hóa có hàm lượng nhân tố đầu vào mà mình có lợi thế so sánh cao một cách tương đối thì sẽ sản xuất được hàng hóa rẻ hơn tương đối và sẽ có lợi thế so sánh về những hàng hóa này
Điều này lý giải vì sao Việt Nam lại xuất khẩu nhiều sản phẩm thô hoặc sơ chế như dầu thô, than đá, thủy sản đông lạnh hoặc hàng hóa có hàm lượng nhân công cao như dệt may, giày dép còn nhập khẩu máy móc, thiết bị từ các nước phát triển
IV Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực
IV.1 Khái niệm về tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực
Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực là một hoặc một số chỉ tiêu định lượng hoặc định tính mà theo đó, người ta có thể nhận biết được sản phẩm nào có ưu thế trong sản xuất, kinh doanh hoặc cạnh tranh trên thương trường để công nhận
là sản phẩm chủ lực Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu thì có thể tiếp cận vấn đề này từ các khía cạnh như sau:
Trang 9Một là, phải xem xét, đánh giá và lựa chọn sản phẩm chủ lực dựa trên cả
hai nhóm tiêu chí, tiêu chí cần và tiêu chí đủ: Nhóm tiêu chí cần là những yếu tố
nội tại của một sản phẩm cụ thể nào đó mà chúng có thể giúp sản phẩm đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội, đặc biệt là đáp ứng được các mục tiêu của nhà quản lý như: có quy mô lớn, chiếm tỷ trọng cao, nộp ngân sách lớn, giải quyết nhiều lao động Khi một sản phẩm có đủ các yếu này thì sản phẩm đó được coi
là sản phẩm chủ lực Nhóm tiêu chí đủ: là những yếu tố mà sản phẩm chủ lực đòi
hỏi về phía xã hội Chẳng hạn như: phải có tài nguyên, nguồn nhân lực, đầu tư xây dựng thương hiệu, chính sách hợp lý… Trên thực tế, khi các doanh nghiệp hay nhà nước đáp ứng tốt những đòi hỏi này thì sản phẩm bình thường vẫn có thể trở thành sản phẩm chủ lực Có thể nói rằng, tiêu chí cần là mục tiêu cuối cùng
mà một sản phẩm phải hướng tới, còn tiêu chí đủ là những yếu tố mà “xã hội” phải quan tâm đảm bảo để sản phẩm đạt đến mục tiêu của mình
Hai là, khi xem xét, đánh giá lựa chọn sản phẩm chủ lực phải cân nhắc đầy
đủ cả hai tiêu chí, tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính Mặc dù mọi phương pháp xác định sản phẩm chủ lực đều cố gắng lượng hóa đến mức tối đa để có thể đưa ra kết quả khách quan, chính xác, nhưng trên thực tế không thể quy tất cả các yếu tố kinh tế và xã hội thành các con số Đó là chưa kể còn có nhiều biến số khó lường có thể làm đảo lộn mọi tính toán Chính vì vậy, cần thiết phải xây dựng cả hai loại tiêu chí định tính và định lượng Tiêu chí định lượng dựa trên các số liệu thống kê, phân tích bằng các thuật toán, còn tiêu chí định tính chủ yếu dựa trên các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội được xác định bằng kiến thức, kinh nghiệm của các chuyên gia
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cũng cần phải vận dụng linh hoạt, không cứng nhắc khi sử dụng các tiêu chí Chẳng hạn, có tiêu chí về lý thuyết có thể định lượng như nhu cầu thị trường, giá trị thương hiệu, nhưng nếu không thể
đo đếm, tính toán được các chỉ tiêu đo lường một cách chính xác thì đành phải sử dụng nó như là tiêu chí định tính, với vai trò đánh giá của các chuyên gia Tuy
Trang 10vậy, khi xây dựng tiêu chí, cần cố gắng lượng hóa cả các đánh giá định lượng và định tính thành điểm số để dễ so sánh và lựa chọn.
IV.2 Yêu cầu đối với tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực
Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực chỉ bảo đảm được chất lượng tốt và
khả thi khi nó thỏa mãn các yêu cầu sau: Tiêu chí phải bảo đảm tính định
lượng Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực có thể xây dựng dưới dạng định tính
hoặc định lượng Tuy nhiên, để bảo đảm rõ ràng, minh bạch thì các tiêu chí cần được lượng hóa Những tiêu chí không thể lượng hóa được như chỉ tiêu đánh giá
độ mạnh của thương hiệu, biểu trưng văn hóa địa phương…thì cần có tiêu chí
trung gian khác làm cơ sở đánh giá Tiêu chí phải bảo đảm tính khách quan,
khoa học Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực được xây dựng dựa trên các số
liệu, dữ kiện khách quan, không áp đặt theo cảm tính hay ý chí chủ quan của bất
kỳ ai Đồng thời nó còn phù hợp với qui luật vận động của các yếu tố kinh tế, xã
hội – văn hóa Tiêu chí phải bảo đảm tính đặc trưng của địa phương Tiêu
chí xác định sản phẩm chủ lực phải thể hiện được những đặc trưng của từng vùng, miền Đây là cơ sở phân biệt một hàng hóa của địa phương này với hàng
hóa của địa phương khác Tiêu chí phải bảo đảm dễ hiểu, dễ thực hiện Xây
dựng tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực không nên sử dụng các mô hình toán phức tạp, triết lý cao siêu hay viện dẫn quanh co làm cho việc áp dụng tiêu chí
vào thực tế gặp khó khăn phức tạp Tiêu chí phải bảo đảm tính công khai
Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực của địa phương cần được xây dựng tập thể và công bố rộng rãi cho mọi đối tượng có liên quan đều biết Việc xây dựng và công
bố này nhất thiết phải được thực hiện ngay từ khi ban hành chương trình hay qui định về hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực của địa phương
IV.3 Ý nghĩa của việc xây dựng tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực
Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực là thước đo giá trị nội tại và khách quan của hàng hóa Nó phản ảnh trung thực về khả năng đáp ứng những đòi hỏi của thị trường, của xã hội cũng như của nhà quản lý Thông qua các tiêu chí đánh
Trang 11giá, người ta nhận biết được sản phẩm chủ lực đang sở hữu những tính năng, chất lượng gì và có khả năng thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng tới đâu.
Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực còn là những yêu sách về phía xã hội và nhà quản lý Nếu đáp ứng được những yêu sách này thì sản phẩm sẽ đủ điều kiện trở thành sản phẩm chủ lực Như vậy, cũng có thể xem hệ thống tiêu chí đánh giá là khuôn mẫu cho các chính sách đầu tư về công nghệ, sử dụng tài nguyên, đào tạo tay nghề và các chính sách hỗ trợ của Nhà nước
Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực, khi được thừa nhận, là một văn bản
có giá trị pháp lý, chi phối mọi hoạt động của các nhà sản xuất kinh doanh, nhà hoạch định chính sách và nhà quản lý Để phát triển sản phẩm chủ lực, các nhà sản xuất phải điều chỉnh công nghệ, tổ chức lại sản xuất và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng hợp chuẩn Sẽ không còn tùy tiện, chủ quan xem thường qui chuẩn thường thấy ở đối tượng này Nhà hoạch định chính sách và nhà quản lý sẽ lấy đó làm mục tiêu để định ra các biện pháp tổ chức thực hiện thích hợp
Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực là một bản tuyên ngôn về chất lượng của hàng hóa, thể hiện sự cam kết về trách nhiệm của doanh nghiệp, nhà sản xuất với cộng đồng, xã hội Thông qua hệ thống tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực, người tiêu dùng hiểu được rằng nhà sản xuất sẽ làm gì, làm như thế nào
và chịu trách nhiệm ra sao trong việc cung cấp các tiện ích để thỏa mãn nhu cầu của họ ở chính trong sản trong phẩm của các nhà sản xuất
Hệ thống tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực là bản tuyên bố sứ mạng của các doanh nghiệp, các nhà sản xuất kinh doanh, có giá trị lâu dài về mục đích
và giúp phân biệt được doanh nghiệp này với những doanh nghiệp khác Có thể gọi đó là phát biểu của một doanh nghiệp về triết lý kinh doanh, những nguyên tắc kinh doanh, thể hiện niềm tin và tầm nhìn của doanh nghiệp
IV.4 Nội dung của tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực
Nhóm tiêu chí định lượng