1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng chương 5 chất thải rắn y tế

15 367 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện; các cơ sở y tế khác như: trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ s

Trang 1

Chương 5:

CHẤT THẢI RẮN Y TẾ

5.1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN CÁC BỆNH VIỆN VÀ CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH

Hệ thống các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn toàn quốc được phân cấp quản lý theo tính chất chuyên khoa Cụ thể,

Bộ Y tế quản lý 11 bệnh viện đa khoa tuyến trung ương, 25 bệnh viện chuyên khoa tuyến trung ương; địa phương quản lý 743 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh/thành phố, 239 bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh/thành phố, 595 bệnh viện đa khoa quận/huyện/thị xã và 11.810 trung tâm y tế các cấp; các đơn vị khác quản lý 88 Trung tâm/Nhà điều dưỡng/

bệnh viện tư nhân (Cục Khám chữa bệnh -

Bộ Y tế, 2009).

Mức độ đáp ứng nhu cầu chữa trị tính chung trong cả nước tăng lên rõ rệt trong những năm gần đây, năm 2005 là 17,7 giường bệnh/1 vạn dân, đến năm 2009 là 22

giường bệnh/1 vạn dân (TCTK, 2011) Việc

tăng số lượng giường bệnh thực tế do tăng nhu cầu về khám chữa bệnh đồng nghĩa với việc tăng khối lượng chất thải y tế cần phải xử lý

5.2 PHÁT SINH CHẤT THẢI RẮN Y TẾ

5.2.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế

Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện; các cơ sở y tế khác như: trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu ; các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y sinh học; ngân hàng máu Hầu hết các CTR y tế đều có tính chất độc hại và tính đặc thù khác với các loại CTR khác Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu phẫu

thuật, bào chế dược (Bảng 5.1).

(*) Không tính số cơ sở khám chữa bệnh tư nhân

Biểu đồ 5.1 Sự phát triển của các điều kiện

chăm sóc sức khỏe

Nguồn: TCTK, 2011

Trang 2

5.2.2 Lượng phát sinh chất thải rắn y tế

Theo nghiên cứu điều tra mới nhất của

Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế và Viện Kiến

trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ

Xây dựng, năm 2009-2010, tổng lượng CTR y

tế trong toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ngày,

trong đó có 16-30 tấn/ngày là CTR y tế nguy

hại Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/

ngày, trong đó CTR y tế nguy hại tính trung

bình là 0,14 - 0,2 kg/giường/ngày

CTR y tế phát sinh ngày càng gia tăng ở

hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số

nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế

và tăng số giường bệnh; tăng cường sử dụng

các sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân số

gia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận

nhiều hơn với dịch vụ y tế

Chất thải sinh hoạt

Các chất thải ra từ nhà bếp, các khu nhà hành chính, các loại bao gói

Chất thải chứa các vi trùng gây bệnh

Các phế thải từ phẫu thuật, các

cơ quan nội tạng của người sau khi mổ xẻ và của các động vật sau quá trình xét nghiệm, các gạc bông lẫn máu mủ của bệnh nhân

Chất thải bị

nhiễm bẩn

Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh nhân, các chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà

Chất thải đặc biệt

Các loại chất thải độc hại hơn các loại trên, các chất phóng

xạ, hóa chất dược từ các khoa khám, chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm, khoa dược…

Bảng 5.1 Nguồn phát sinh các loại CTR

đặc thù từ hoạt động y tế

Bảng 5.2 Khối lượng chất thải y tế của một số địa phương năm 2009

Ghi chú: (*) Số liệu năm 2006; (**) Số liệu năm 2007

Nguồn: Báo cáo Hiện trạng môi trường địa phương 2006-2010, Sở TN&MT các địa phương, 2010

Loại đô

thị Tỉnh/Tp.

Lượng CTR y tế (tấn/năm)

Loại

đô thị Tỉnh/Tp.

Lượng CTR y tế (tấn/năm)

Loại

đô thị Tỉnh/Tp.

Lượng CTR y tế (tấn/năm) Tỉnh có

đô thị

loại I

Tỉnh

có đô thị loại III

có đô thị loại III

Quảng Trị 272,116

Tỉnh có

đô thị

loại II

đặc biệt

Trang 3

Tính riêng cho 36 bệnh viện thuộc Bộ Y

tế quản lý, theo khảo sát năm 2009, tổng lượng CTR y tế phát sinh trong 1 ngày là 31,68 tấn, trung bình là 1,53 kg/giường/ ngày Lượng chất thải phát sinh tính theo giường bệnh cao nhất là bệnh viện Chợ Rẫy 3,72 kg/giường/ngày, thấp nhất là bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Trung ương và bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 với 0,01 kg/giường/ngày

Lượng CTR y tế phát sinh trong ngày khác nhau giữa các bệnh viện tùy thuộc số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật tư tiêu hao được sử

dụng (Bảng 5.3).

Biểu đồ 5.2 Gia tăng chất thải y tế của một số

địa phương giai đoạn 2005 - 2009

Nguồn: Sở TN&MT các địa phương, 2010

Khoa

Tổng lượng chất thải phát sinh (kg/giường/ngày) Tổng lượng chất thải y tế nguy hại (kg/giường/ngày)

BV TW BV Tỉnh Huyện BV Trung bình TW BV Tỉnh BV BV Huyện Trung bình

0,86

0,14

Khoa hồi sức

Bảng 5.3 Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện

Nguồn: Quy hoạch quản lý chất thải y tế, Bộ Y tế, 2009

Trang 4

5.2.3 Thành phần chất thải rắn y tế

Hầu hết các CTR y tế là các chất thải sinh

học độc hại và mang tính đặc thù so với các

loại CTR khác Các loại chất thải này nếu

không được phân loại cẩn thận trước khi xả

chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây

ra những nguy hại đáng kể

Xét về các thành phần chất thải dựa trên

đặc tính lý hóa thì tỷ lệ các thành phần có

thể tái chế là khá cao, chiếm trên 25% tổng

lượng CTR y tế, chưa kể 52% CTR y tế là các

chất hữu cơ

Trong thành phần CTR y tế có lượng lớn

chất hữu cơ và thường có độ ẩm tương đối

cao, ngoài ra còn có thành phần chất nhựa

chiếm khoảng 10%, vì vậy khi lựa chọn công

nghệ thiêu đốt cần lưu ý đốt triệt để và không

phát sinh khí độc hại

Biểu đồ 5.3 Thành phần CTR y tế dựa trên

đặc tính lý hóa

Nguồn: Kết quả điều tra của dự án hợp tác giữa Bộ y tế và WHO, 2009

Phân loại và lưu giữ CTR y tế tại một số bệnh viện

Trang 5

5.3 PHÂN LOẠI, THU GOM VÀ VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN Y TẾ

Công tác thu gom, lưu trữ CTR y tế nói chung đã được quan tâm bởi các cấp từ Trung ương đến địa phương, thể hiện ở mức độ thực hiện quy định ở các bệnh viện khá cao Chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sự quản lý của Bộ Y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ sau đó được xử lý tại các

lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển và xử lý đối với các cơ

sở xử lý chất thải đã được cấp phép tại địa bàn cơ sở khám chữa bệnh đó

Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở Y tế quản lý, công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR chưa được chú trọng, đặc biệt là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn (chất thải y tế thông thường, chất thải y tế nguy hại ) Trong vận chuyển CTR y tế, chỉ có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy để vận chuyển chất thải y tế nguy hại; 53,4% bệnh viện có mái che để lưu giữ CTR đây là những yếu tố để đảm bảo an toàn cho người bệnh và môi trường

Khung 5.1 Thống kê mức độ phân loại, thu

gom chất thải trong các bệnh viện

Có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại

chất thải trong đó 91,1% đã sử dụng dụng cụ tách

riêng vật sắc nhọn Theo báo cáo kiểm tra của

các tỉnh và nhận xét của đoàn kiểm tra liên Bộ,

còn có hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một

số loại chất thải thông thường được đưa vào chất

thải y tế nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý

Có 63,6% sử dụng túi nhựa làm bằng nhựa

PE, PP Chỉ có 29,3% sử dụng túi có thành dày

theo đúng quy chế

Chất thải y tế đã được chứa trong các thùng

đựng chất thải Tuy nhiên, các bệnh viện có các

mức độ đáp ứng yêu cầu khác nhau, chỉ có một

số ít bệnh viện có thùng đựng chất thải theo

đúng quy chế (bệnh viện trung ương và bệnh

viện tỉnh)

Hầu hết ở các bệnh viện (90,9%) CTR được

thu gom hàng ngày, một số bệnh viện có diện

tích chật hẹp nên gặp khó khăn trong việc thiết

kế lối đi riêng để vận chuyển chất thải Chỉ có

53% số bệnh viện chất thải được vận chuyển

trong xe có nắp đậy Có 53,4% bệnh viện có nơi

lưu giữ chất thải có mái che, trong đó có 45,3%

đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế

Nguồn: Kết quả khảo sát 834 bệnh viện của

Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường năm 2006 và

báo cáo của các Sở Y tế từ các địa phương từ 2007-2009

Các yêu cầu theo quy chế quản lý CTYT Tỷ lệ tuân thủ (%)

Bảng 5.4 Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải y tế tại các bệnh viện trên địa bàn

thành phố Hà Nội năm 2010

Nguồn: Số liệu thống kê trung bình của Sở Y tế từ kết quả khảo sát

74 bệnh viện Hà Nội năm 2009-2010

Trang 6

Phương tiện thu gom chất thải còn thiếu và chưa

đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn Nguyên nhân

do có rất ít nhà sản xuất quan tâm đến mặt hàng này,

do vậy mua sắm phương tiện thu gom CTR đúng tiêu

chuẩn của các bệnh viện gặp khó khăn Theo báo

cáo của JICA (2011), các cơ sở y tế của 5 thành phố

điển hình là Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng và

thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết các bệnh viện sử

dụng thùng nhựa có bánh xe, xe tay, các dụng cụ vận

chuyển bằng tay khác Một số khu vực lưu trữ CTR

trước khi xử lý tại chỗ hoặc tại các khu vực xử lý bên

ngoài được trang bị điều hoà và hệ thống thông gió

theo Quy định

Nhìn chung các phương tiện vận chuyển chất

thải y tế còn thiếu, đặc biệt là các xe chuyên dụng

Hoạt động vận chuyển chất thải y tế nguy hại từ

bệnh viện, cơ sở y tế đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết

do Công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, không có

các trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển

CTR y tế tại một số bệnh viện

Bảng 5.5.Thực trạng các trang thiết bị thu gom lưu giữ CTR y tế tại một số thành phố

Nguồn: Nghiên cứu Quản lý môi trường đô thị tại Việt Nam - Tập 6 Nghiên cứu về quản lý CTR

ở Việt Nam, JICA, tháng 5 - 2011.

Loại đô thị

Thành

phố

Số lượng đơn vị trả lời phiếu điều tra

Dụng cụ thu gom

Xe tay Thùng có bánh xe Khác

Có điều hoà và thông gió

Không có điều hoà và thông gió

Phòng chung

Không

có khu lưu trữ

Đô thị loại

đặc biệt Hà NộiTp.HCM 5161 3230 2527 157 2438 1113 151 91

Đô thị

loại I Đà NẵngHải Phòng 2017 92 54 116 21 133 28 35

Trang 7

5.4 XỬ LÝ VÀ TÁI CHẾ CHẤT THẢI RẮN

Y TẾ THÔNG THƯỜNG

CTR y tế không nguy hại ở hầu hết các tỉnh, thành phố đều do Công ty môi trường

đô thị thu gom, vận chuyển và được xử lý tại các khu xử lý CTR tập trung của địa phương Hoạt động thu hồi và tái chế CTR y tế tại Việt Nam hiện đang thực hiện không theo đúng quy chế quản lý CTR y tế đã ban hành Chưa có các cơ sở chính thống thực hiện các hoạt động thu mua và tái chế các loại chất thải từ hoạt động y tế ở Việt Nam Quy chế Quản lý chất thải y tế (2007) đã bổ sung nội dung tái chế CTR y tế không nguy hại làm căn cứ để các cơ sở y tế thực hiện Tuy nhiên, nhiều địa phương chưa có cơ sở tái chế, do vậy việc quản lý tái chế các CTR y tế không nguy hại còn gặp nhiều khó khăn Một số vật liệu từ chất thải bệnh viện như: chai dịch truyền chứa dung dịch huyết thanh ngọt (đường glucose 5%, 20%), huyết thanh mặn (NaCl 0,9%), các dung dịch acide amine, các loại muối khác; các loại bao gói nilon và một số chất nhựa khác; một số vật liệu giấy, thuỷ tinh hoàn toàn không có yếu tố nguy hại,

có thể tái chế để hạn chế việc thiêu đốt chất thải gây ô nhiễm

Năm 2010, đã phát hiện nhiều hiện tượng đưa CTR y tế ra ngoài bán, tái chế trái phép thành các vật dụng thường ngày Việc tái sử dụng các găng tay cao su, các vật liệu nhựa

đã và đang tạo ra nhiều rủi ro cho những người trực tiếp tham gia như các nhân viên thu gom, những người thu mua và những người tái chế phế liệu

Tái chế và tái sử dụng găng tay khám bệnh để bán

Trang 8

5.5 CHẤT THẢI Y TẾ NGUY HẠI

5.5.1 Phát sinh chất thải y tế nguy hại

Trong CTR y tế, thành phần đáng quan tâm

nhất là dạng CTNH, do nguy cơ lây nhiễm

mầm bệnh và hóa chất độc cho con người

Lượng CTNH y tế phát sinh không đồng đều

tại các địa phương, chủ yếu tập trung ở các

tỉnh, thành phố lớn Xét theo 7 vùng kinh tế

trong cả nước (trong đó vùng Đông Bắc và

vùng Tây Bắc Bắc Bộ được gộp chung vào 1

vùng), vùng Đông Nam Bộ phát sinh lượng

thải nguy hại lớn nhất trong cả nước (32%),

với tổng lượng thải là 10.502,8 tấn/năm, tiếp

đến là vùng Đồng bằng sông Hồng (chiếm

21%) Các tỉnh có mức thải CTNH lớn (> 500

tấn/năm) tính trong cả nước theo thứ tự như

sau: Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thanh Hóa,

Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Khánh Hòa,

Thừa Thiên Huế, An Giang, Cần Thơ, Nghệ

An, Phú Thọ, Hải Phòng, Long An

Lượng CTNH y tế phát sinh khác nhau giữa

các loại cơ sở y tế khác nhau Các nghiên cứu

cho thấy các bệnh viện tuyến trung ương và

tại các thành phố lớn có tỷ lệ phát sinh CTNH

y tế cao nhất Tính trong 36 bệnh viện thuộc

Bộ Y tế, tổng lượng CTNH y tế cần được xử lý

trong 1 ngày là 5.122 kg, chiếm 16,2% tổng

lượng CTR y tế Trong đó, lượng CTNH y tế

tính trung bình theo giường bệnh là 0,25 kg/

giường/ngày Chỉ có 4 bệnh viện có chất thải

phóng xạ là bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện

Đa khoa Trung ương Huế, bệnh viện Đa khoa

Trung ương Thái Nguyên và Bệnh viện K Các

phương pháp xử lý đặc biệt đối với CTNH y

tế đắt hơn rất nhiều so với các CTR sinh hoạt,

do vậy đòi hỏi việc phân loại chất thải phải

đạt hiệu quả và chính xác

Theo số liệu điều tra của Cục Khám chữa

bệnh - Bộ Y tế và Viện Kiến trúc, Quy hoạch

Biểu đồ 5.4 Mức độ phát sinh CTNH y tế theo các

vùng kinh tế

Nguồn: Cục Khám chữa bệnh, Bộ Y tế; Viện Kiến trúc, Quy hoạch đô thị và nông thôn, Bộ Xây dựng, 2010

Loại bệnh viện Năm 2005 Năm 2010

Bệnh viện đa khoa TW 0,35 0,42 Bệnh viện chuyên khoa

Bệnh viện đa khoa tỉnh 0,29 0,35 Bệnh viện chuyên khoa

Bệnh viện huyện, ngành 0,17-0,22 0,21-0,28

Bảng 5.6 Sự biến động về khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại các loại cơ sở y tế khác nhau

ĐVT: kg/giường bệnh/ngày

Nguồn: Bộ Y tế, 2010

Trang 9

Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng thực hiện năm 2009 - 2010, cũng như số liệu tổng kết của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về thành phần CTR y tế tại các nước đang phát triển có thể thấy lượng CTR y tế nguy hại chiếm 22,5%,

trong đó phần lớn là CTR lây nhiễm (Biểu đồ

5.5) Do đó, cần xác định hướng xử lý chính là

loại bỏ được tính lây nhiễm của chất thải

0 0.2 0.4 0.6 0.81 1.2 1.4 1.6

Đà Nẵng Quảng Nam Quảng Ngãi Bình Định Phú Yên Khánh Hoà ThuậnNinh ThuậnBình

tấn/ngày

Tây Nguyên

Duyên hải Nam Trung bộ

Đông Nam Bộ

Đồng bằng sông Cửu Long

Biểu đồ 5.5 Phát sinh chất thải y tế nguy hại tại một số tỉnh, thành phố qua các năm

Nguồn: TCMT, 2011

Trang 10

5.5.2 Xử lý và tiêu hủy chất thải y tế

nguy hại

Khối lượng CTR y tế nguy hại được xử

lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổng lượng

phát sinh CTR y tế nguy hại trên toàn

quốc CTR y tế xử lý không đạt chuẩn

(32%) là nguyên nhân gây ô nhiễm môi

trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng

đồng Các thành phố lớn như Tp Hồ

Chí Minh và Hà Nội đã có xí nghiệp

xử lý CTR y tế nguy hại vận hành tốt,

tổ chức thu gom và xử lý, tiêu huỷ CTR

y tế nguy hại cho toàn bộ cơ sở y tế

trên địa bàn CTR y tế nguy hại của các

tỉnh, thành phố khác hiện được xử lý và

tiêu huỷ với các mức độ khác nhau: một

số địa phương như Thái Nguyên, Hải

Phòng, Cần Thơ đã tận dụng tốt lò đốt

trang bị cho cụm bệnh viện, chủ động

chuyển giao lò đốt cho công ty môi

trường đô thị tổ chức vận hành và thu

gom xử lý CTR y tế nguy hại cho toàn

tỉnh, thành phố; Nghệ An có lò đốt đặt

tại bệnh viện tỉnh xử lý CTR y tế nguy

hại cho các bệnh viện khác thuộc địa

bàn thành phố, thị xã

Một số thành phố lớn đã bố trí lò đốt

CTR y tế nguy hại tập trung tại khu xử lý

chung của thành phố Tỷ lệ lò đốt CTR

y tế phân tán được vận hành tốt chỉ

chiếm khoảng xấp xỉ 50% số lò được

trang bị, có vùng chỉ đạt 20% Nếu xét

mức độ xử lý của các cơ sở y tế theo

tuyến trung ương và địa phương, các sở

sở trực thuộc Bộ Y tế có mức độ đầu tư

xử lý CTR y tế nguy hại cao hơn hẳn

các cơ sở tuyến địa phương Bên cạnh

lí do về công nghệ và trình độ quản

lý, thì thiếu kinh phí vận hành là yếu

tố quan trọng dẫn đến các lò đốt hoạt

động phân tán không đạt hiệu quả

Khung 5.2 Công tác xử lý CTR y tế nguy hại tại 7 vùng

trong cả nước

Vùng Đồng bằng sông Hồng có 244 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương trong đó 98 cơ sở có trang bị lò đốt CTR y tế (chiếm 40%), số lò đốt còn hoạt động tốt là 63 (chiếm 64%) Đối với các cơ sở y tế chưa được trang bị lò đốt, hoặc lò đốt không hoạt động, CTR y tế nguy hại xử lý tập trung tại khu xử lý CTR chung Có 8/11 tỉnh của vùng đã bố trí xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung, số cơ sở y tế cấp địa phương xử lý tại khu xử lý tập trung chiếm 65% Tại

3 tỉnh Bắc Ninh, Hà Nam và Vĩnh Phúc 100% CTR y tế xử

lý phân tán tại các bệnh viện

Vùng Đông Bắc và Tây Bắc Bắc Bộ có 209 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương 93 cơ sở có trang bị lò đốt CTR y

tế (chiếm hơn 44%), số lò đốt còn hoạt động tốt là 42 (chiếm trên 45%) Có 9/15 tỉnh của vùng đã bố trí xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung của tỉnh và thành phố Chỉ có 31 cơ

sở y tế xử lý tại các khu xử lý CTR chung, tương đương gần 15% Một số tỉnh đã có khu vực xử lý CTR y tế chung nhưng rất ít cơ sở vận chuyển đến như Cao Bằng, Bắc Kạn… Phần lớn CTR y tế ở các tỉnh như Bắc Kạn, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La được xử lý tại chỗ, không đạt yêu cầu

Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có 236

cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương trong đó 168 cơ

sở có trang bị lò đốt CTR y tế (chiếm 50%), số lò đốt còn hoạt động tốt là 79 (chiếm 47%) Có 12/14 tỉnh đã bố trí xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung của tỉnh; 47% số cơ

sở y tế xử lý tại khu xử lý tại khu xử lý CTR tập trung Đối với bệnh viện tuyến Trung ương tập trung tại Đà Nẵng thì 100% CTR y tế nguy hại được đưa về lò đốt CTR tại khu xử

lý Khánh Sơn

Vùng Tây Nguyên có 32/74 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương trang bị lò đốt CTR y tế (43 %), trong đó 23 lò còn hoạt động tốt (chiếm 72%) Với 4/5 tỉnh đã bố trí xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung của tỉnh và thành phố 38

cơ sở (51%) xử lý tại khu xử lý CTR tập trung

Vùng Đông Nam Bộ có 34/100 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương có trang bị lò đốt CTR y tế (chiếm 34%), trong đó có 7 lò đốt hoạt động tốt (20%) Tại Tp Hồ Chí Minh 100% CTR y tế nguy hại được đưa về lò đốt CTR của thành phố

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 110/164 cơ sở khám bệnh cấp địa phương (chiếm 67%), số lò đốt hoạt động tốt là 64 lò (58%) Có 10/13 tỉnh đã bố trí xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung của tỉnh và thành phố Với 74 cơ sở (45%) số cơ sở xử lý tại khu xử lý CTR tập trung

Ngày đăng: 17/05/2016, 16:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5.2. Khối lượng chất thải y tế của một số địa phương năm 2009 - Bài giảng chương 5  chất thải rắn y tế
Bảng 5.2. Khối lượng chất thải y tế của một số địa phương năm 2009 (Trang 2)
Bảng 5.1. Nguồn phát sinh các loại CTR - Bài giảng chương 5  chất thải rắn y tế
Bảng 5.1. Nguồn phát sinh các loại CTR (Trang 2)
Bảng 5.3. Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện - Bài giảng chương 5  chất thải rắn y tế
Bảng 5.3. Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện (Trang 3)
Bảng 5.4. Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải y tế tại các bệnh viện trên địa bàn - Bài giảng chương 5  chất thải rắn y tế
Bảng 5.4. Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải y tế tại các bệnh viện trên địa bàn (Trang 5)
Bảng 5.6. Sự biến động về khối lượng chất thải y tế nguy  hại phát sinh tại các loại cơ sở y tế khác nhau - Bài giảng chương 5  chất thải rắn y tế
Bảng 5.6. Sự biến động về khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại các loại cơ sở y tế khác nhau (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w