Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện; các cơ sở y tế khác như: trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ s
Trang 1Chương 5:
CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
5.1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN CÁC BỆNH VIỆN VÀ CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH
Hệ thống các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn toàn quốc được phân cấp quản lý theo tính chất chuyên khoa Cụ thể,
Bộ Y tế quản lý 11 bệnh viện đa khoa tuyến trung ương, 25 bệnh viện chuyên khoa tuyến trung ương; địa phương quản lý 743 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh/thành phố, 239 bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh/thành phố, 595 bệnh viện đa khoa quận/huyện/thị xã và 11.810 trung tâm y tế các cấp; các đơn vị khác quản lý 88 Trung tâm/Nhà điều dưỡng/
bệnh viện tư nhân (Cục Khám chữa bệnh -
Bộ Y tế, 2009).
Mức độ đáp ứng nhu cầu chữa trị tính chung trong cả nước tăng lên rõ rệt trong những năm gần đây, năm 2005 là 17,7 giường bệnh/1 vạn dân, đến năm 2009 là 22
giường bệnh/1 vạn dân (TCTK, 2011) Việc
tăng số lượng giường bệnh thực tế do tăng nhu cầu về khám chữa bệnh đồng nghĩa với việc tăng khối lượng chất thải y tế cần phải xử lý
5.2 PHÁT SINH CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
5.2.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế
Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện; các cơ sở y tế khác như: trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu ; các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y sinh học; ngân hàng máu Hầu hết các CTR y tế đều có tính chất độc hại và tính đặc thù khác với các loại CTR khác Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu phẫu
thuật, bào chế dược (Bảng 5.1).
(*) Không tính số cơ sở khám chữa bệnh tư nhân
Biểu đồ 5.1 Sự phát triển của các điều kiện
chăm sóc sức khỏe
Nguồn: TCTK, 2011
Trang 25.2.2 Lượng phát sinh chất thải rắn y tế
Theo nghiên cứu điều tra mới nhất của
Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế và Viện Kiến
trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ
Xây dựng, năm 2009-2010, tổng lượng CTR y
tế trong toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ngày,
trong đó có 16-30 tấn/ngày là CTR y tế nguy
hại Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/
ngày, trong đó CTR y tế nguy hại tính trung
bình là 0,14 - 0,2 kg/giường/ngày
CTR y tế phát sinh ngày càng gia tăng ở
hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số
nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế
và tăng số giường bệnh; tăng cường sử dụng
các sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân số
gia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận
nhiều hơn với dịch vụ y tế
Chất thải sinh hoạt
Các chất thải ra từ nhà bếp, các khu nhà hành chính, các loại bao gói
Chất thải chứa các vi trùng gây bệnh
Các phế thải từ phẫu thuật, các
cơ quan nội tạng của người sau khi mổ xẻ và của các động vật sau quá trình xét nghiệm, các gạc bông lẫn máu mủ của bệnh nhân
Chất thải bị
nhiễm bẩn
Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh nhân, các chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà
Chất thải đặc biệt
Các loại chất thải độc hại hơn các loại trên, các chất phóng
xạ, hóa chất dược từ các khoa khám, chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm, khoa dược…
Bảng 5.1 Nguồn phát sinh các loại CTR
đặc thù từ hoạt động y tế
Bảng 5.2 Khối lượng chất thải y tế của một số địa phương năm 2009
Ghi chú: (*) Số liệu năm 2006; (**) Số liệu năm 2007
Nguồn: Báo cáo Hiện trạng môi trường địa phương 2006-2010, Sở TN&MT các địa phương, 2010
Loại đô
thị Tỉnh/Tp.
Lượng CTR y tế (tấn/năm)
Loại
đô thị Tỉnh/Tp.
Lượng CTR y tế (tấn/năm)
Loại
đô thị Tỉnh/Tp.
Lượng CTR y tế (tấn/năm) Tỉnh có
đô thị
loại I
Tỉnh
có đô thị loại III
có đô thị loại III
Quảng Trị 272,116
Tỉnh có
đô thị
loại II
đặc biệt
Trang 3Tính riêng cho 36 bệnh viện thuộc Bộ Y
tế quản lý, theo khảo sát năm 2009, tổng lượng CTR y tế phát sinh trong 1 ngày là 31,68 tấn, trung bình là 1,53 kg/giường/ ngày Lượng chất thải phát sinh tính theo giường bệnh cao nhất là bệnh viện Chợ Rẫy 3,72 kg/giường/ngày, thấp nhất là bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Trung ương và bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 với 0,01 kg/giường/ngày
Lượng CTR y tế phát sinh trong ngày khác nhau giữa các bệnh viện tùy thuộc số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật tư tiêu hao được sử
dụng (Bảng 5.3).
Biểu đồ 5.2 Gia tăng chất thải y tế của một số
địa phương giai đoạn 2005 - 2009
Nguồn: Sở TN&MT các địa phương, 2010
Khoa
Tổng lượng chất thải phát sinh (kg/giường/ngày) Tổng lượng chất thải y tế nguy hại (kg/giường/ngày)
BV TW BV Tỉnh Huyện BV Trung bình TW BV Tỉnh BV BV Huyện Trung bình
0,86
0,14
Khoa hồi sức
Bảng 5.3 Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện
Nguồn: Quy hoạch quản lý chất thải y tế, Bộ Y tế, 2009
Trang 45.2.3 Thành phần chất thải rắn y tế
Hầu hết các CTR y tế là các chất thải sinh
học độc hại và mang tính đặc thù so với các
loại CTR khác Các loại chất thải này nếu
không được phân loại cẩn thận trước khi xả
chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây
ra những nguy hại đáng kể
Xét về các thành phần chất thải dựa trên
đặc tính lý hóa thì tỷ lệ các thành phần có
thể tái chế là khá cao, chiếm trên 25% tổng
lượng CTR y tế, chưa kể 52% CTR y tế là các
chất hữu cơ
Trong thành phần CTR y tế có lượng lớn
chất hữu cơ và thường có độ ẩm tương đối
cao, ngoài ra còn có thành phần chất nhựa
chiếm khoảng 10%, vì vậy khi lựa chọn công
nghệ thiêu đốt cần lưu ý đốt triệt để và không
phát sinh khí độc hại
Biểu đồ 5.3 Thành phần CTR y tế dựa trên
đặc tính lý hóa
Nguồn: Kết quả điều tra của dự án hợp tác giữa Bộ y tế và WHO, 2009
Phân loại và lưu giữ CTR y tế tại một số bệnh viện
Trang 55.3 PHÂN LOẠI, THU GOM VÀ VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
Công tác thu gom, lưu trữ CTR y tế nói chung đã được quan tâm bởi các cấp từ Trung ương đến địa phương, thể hiện ở mức độ thực hiện quy định ở các bệnh viện khá cao Chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sự quản lý của Bộ Y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ sau đó được xử lý tại các
lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển và xử lý đối với các cơ
sở xử lý chất thải đã được cấp phép tại địa bàn cơ sở khám chữa bệnh đó
Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở Y tế quản lý, công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR chưa được chú trọng, đặc biệt là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn (chất thải y tế thông thường, chất thải y tế nguy hại ) Trong vận chuyển CTR y tế, chỉ có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy để vận chuyển chất thải y tế nguy hại; 53,4% bệnh viện có mái che để lưu giữ CTR đây là những yếu tố để đảm bảo an toàn cho người bệnh và môi trường
Khung 5.1 Thống kê mức độ phân loại, thu
gom chất thải trong các bệnh viện
Có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại
chất thải trong đó 91,1% đã sử dụng dụng cụ tách
riêng vật sắc nhọn Theo báo cáo kiểm tra của
các tỉnh và nhận xét của đoàn kiểm tra liên Bộ,
còn có hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một
số loại chất thải thông thường được đưa vào chất
thải y tế nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý
Có 63,6% sử dụng túi nhựa làm bằng nhựa
PE, PP Chỉ có 29,3% sử dụng túi có thành dày
theo đúng quy chế
Chất thải y tế đã được chứa trong các thùng
đựng chất thải Tuy nhiên, các bệnh viện có các
mức độ đáp ứng yêu cầu khác nhau, chỉ có một
số ít bệnh viện có thùng đựng chất thải theo
đúng quy chế (bệnh viện trung ương và bệnh
viện tỉnh)
Hầu hết ở các bệnh viện (90,9%) CTR được
thu gom hàng ngày, một số bệnh viện có diện
tích chật hẹp nên gặp khó khăn trong việc thiết
kế lối đi riêng để vận chuyển chất thải Chỉ có
53% số bệnh viện chất thải được vận chuyển
trong xe có nắp đậy Có 53,4% bệnh viện có nơi
lưu giữ chất thải có mái che, trong đó có 45,3%
đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế
Nguồn: Kết quả khảo sát 834 bệnh viện của
Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường năm 2006 và
báo cáo của các Sở Y tế từ các địa phương từ 2007-2009
Các yêu cầu theo quy chế quản lý CTYT Tỷ lệ tuân thủ (%)
Bảng 5.4 Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải y tế tại các bệnh viện trên địa bàn
thành phố Hà Nội năm 2010
Nguồn: Số liệu thống kê trung bình của Sở Y tế từ kết quả khảo sát
74 bệnh viện Hà Nội năm 2009-2010
Trang 6Phương tiện thu gom chất thải còn thiếu và chưa
đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn Nguyên nhân
do có rất ít nhà sản xuất quan tâm đến mặt hàng này,
do vậy mua sắm phương tiện thu gom CTR đúng tiêu
chuẩn của các bệnh viện gặp khó khăn Theo báo
cáo của JICA (2011), các cơ sở y tế của 5 thành phố
điển hình là Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng và
thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết các bệnh viện sử
dụng thùng nhựa có bánh xe, xe tay, các dụng cụ vận
chuyển bằng tay khác Một số khu vực lưu trữ CTR
trước khi xử lý tại chỗ hoặc tại các khu vực xử lý bên
ngoài được trang bị điều hoà và hệ thống thông gió
theo Quy định
Nhìn chung các phương tiện vận chuyển chất
thải y tế còn thiếu, đặc biệt là các xe chuyên dụng
Hoạt động vận chuyển chất thải y tế nguy hại từ
bệnh viện, cơ sở y tế đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết
do Công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, không có
các trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển
CTR y tế tại một số bệnh viện
Bảng 5.5.Thực trạng các trang thiết bị thu gom lưu giữ CTR y tế tại một số thành phố
Nguồn: Nghiên cứu Quản lý môi trường đô thị tại Việt Nam - Tập 6 Nghiên cứu về quản lý CTR
ở Việt Nam, JICA, tháng 5 - 2011.
Loại đô thị
Thành
phố
Số lượng đơn vị trả lời phiếu điều tra
Dụng cụ thu gom
Xe tay Thùng có bánh xe Khác
Có điều hoà và thông gió
Không có điều hoà và thông gió
Phòng chung
Không
có khu lưu trữ
Đô thị loại
đặc biệt Hà NộiTp.HCM 5161 3230 2527 157 2438 1113 151 91
Đô thị
loại I Đà NẵngHải Phòng 2017 92 54 116 21 133 28 35
Trang 75.4 XỬ LÝ VÀ TÁI CHẾ CHẤT THẢI RẮN
Y TẾ THÔNG THƯỜNG
CTR y tế không nguy hại ở hầu hết các tỉnh, thành phố đều do Công ty môi trường
đô thị thu gom, vận chuyển và được xử lý tại các khu xử lý CTR tập trung của địa phương Hoạt động thu hồi và tái chế CTR y tế tại Việt Nam hiện đang thực hiện không theo đúng quy chế quản lý CTR y tế đã ban hành Chưa có các cơ sở chính thống thực hiện các hoạt động thu mua và tái chế các loại chất thải từ hoạt động y tế ở Việt Nam Quy chế Quản lý chất thải y tế (2007) đã bổ sung nội dung tái chế CTR y tế không nguy hại làm căn cứ để các cơ sở y tế thực hiện Tuy nhiên, nhiều địa phương chưa có cơ sở tái chế, do vậy việc quản lý tái chế các CTR y tế không nguy hại còn gặp nhiều khó khăn Một số vật liệu từ chất thải bệnh viện như: chai dịch truyền chứa dung dịch huyết thanh ngọt (đường glucose 5%, 20%), huyết thanh mặn (NaCl 0,9%), các dung dịch acide amine, các loại muối khác; các loại bao gói nilon và một số chất nhựa khác; một số vật liệu giấy, thuỷ tinh hoàn toàn không có yếu tố nguy hại,
có thể tái chế để hạn chế việc thiêu đốt chất thải gây ô nhiễm
Năm 2010, đã phát hiện nhiều hiện tượng đưa CTR y tế ra ngoài bán, tái chế trái phép thành các vật dụng thường ngày Việc tái sử dụng các găng tay cao su, các vật liệu nhựa
đã và đang tạo ra nhiều rủi ro cho những người trực tiếp tham gia như các nhân viên thu gom, những người thu mua và những người tái chế phế liệu
Tái chế và tái sử dụng găng tay khám bệnh để bán
Trang 85.5 CHẤT THẢI Y TẾ NGUY HẠI
5.5.1 Phát sinh chất thải y tế nguy hại
Trong CTR y tế, thành phần đáng quan tâm
nhất là dạng CTNH, do nguy cơ lây nhiễm
mầm bệnh và hóa chất độc cho con người
Lượng CTNH y tế phát sinh không đồng đều
tại các địa phương, chủ yếu tập trung ở các
tỉnh, thành phố lớn Xét theo 7 vùng kinh tế
trong cả nước (trong đó vùng Đông Bắc và
vùng Tây Bắc Bắc Bộ được gộp chung vào 1
vùng), vùng Đông Nam Bộ phát sinh lượng
thải nguy hại lớn nhất trong cả nước (32%),
với tổng lượng thải là 10.502,8 tấn/năm, tiếp
đến là vùng Đồng bằng sông Hồng (chiếm
21%) Các tỉnh có mức thải CTNH lớn (> 500
tấn/năm) tính trong cả nước theo thứ tự như
sau: Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thanh Hóa,
Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Khánh Hòa,
Thừa Thiên Huế, An Giang, Cần Thơ, Nghệ
An, Phú Thọ, Hải Phòng, Long An
Lượng CTNH y tế phát sinh khác nhau giữa
các loại cơ sở y tế khác nhau Các nghiên cứu
cho thấy các bệnh viện tuyến trung ương và
tại các thành phố lớn có tỷ lệ phát sinh CTNH
y tế cao nhất Tính trong 36 bệnh viện thuộc
Bộ Y tế, tổng lượng CTNH y tế cần được xử lý
trong 1 ngày là 5.122 kg, chiếm 16,2% tổng
lượng CTR y tế Trong đó, lượng CTNH y tế
tính trung bình theo giường bệnh là 0,25 kg/
giường/ngày Chỉ có 4 bệnh viện có chất thải
phóng xạ là bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện
Đa khoa Trung ương Huế, bệnh viện Đa khoa
Trung ương Thái Nguyên và Bệnh viện K Các
phương pháp xử lý đặc biệt đối với CTNH y
tế đắt hơn rất nhiều so với các CTR sinh hoạt,
do vậy đòi hỏi việc phân loại chất thải phải
đạt hiệu quả và chính xác
Theo số liệu điều tra của Cục Khám chữa
bệnh - Bộ Y tế và Viện Kiến trúc, Quy hoạch
Biểu đồ 5.4 Mức độ phát sinh CTNH y tế theo các
vùng kinh tế
Nguồn: Cục Khám chữa bệnh, Bộ Y tế; Viện Kiến trúc, Quy hoạch đô thị và nông thôn, Bộ Xây dựng, 2010
Loại bệnh viện Năm 2005 Năm 2010
Bệnh viện đa khoa TW 0,35 0,42 Bệnh viện chuyên khoa
Bệnh viện đa khoa tỉnh 0,29 0,35 Bệnh viện chuyên khoa
Bệnh viện huyện, ngành 0,17-0,22 0,21-0,28
Bảng 5.6 Sự biến động về khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại các loại cơ sở y tế khác nhau
ĐVT: kg/giường bệnh/ngày
Nguồn: Bộ Y tế, 2010
Trang 9Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng thực hiện năm 2009 - 2010, cũng như số liệu tổng kết của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về thành phần CTR y tế tại các nước đang phát triển có thể thấy lượng CTR y tế nguy hại chiếm 22,5%,
trong đó phần lớn là CTR lây nhiễm (Biểu đồ
5.5) Do đó, cần xác định hướng xử lý chính là
loại bỏ được tính lây nhiễm của chất thải
0 0.2 0.4 0.6 0.81 1.2 1.4 1.6
Đà Nẵng Quảng Nam Quảng Ngãi Bình Định Phú Yên Khánh Hoà ThuậnNinh ThuậnBình
tấn/ngày
Tây Nguyên
Duyên hải Nam Trung bộ
Đông Nam Bộ
Đồng bằng sông Cửu Long
Biểu đồ 5.5 Phát sinh chất thải y tế nguy hại tại một số tỉnh, thành phố qua các năm
Nguồn: TCMT, 2011
Trang 105.5.2 Xử lý và tiêu hủy chất thải y tế
nguy hại
Khối lượng CTR y tế nguy hại được xử
lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổng lượng
phát sinh CTR y tế nguy hại trên toàn
quốc CTR y tế xử lý không đạt chuẩn
(32%) là nguyên nhân gây ô nhiễm môi
trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng
đồng Các thành phố lớn như Tp Hồ
Chí Minh và Hà Nội đã có xí nghiệp
xử lý CTR y tế nguy hại vận hành tốt,
tổ chức thu gom và xử lý, tiêu huỷ CTR
y tế nguy hại cho toàn bộ cơ sở y tế
trên địa bàn CTR y tế nguy hại của các
tỉnh, thành phố khác hiện được xử lý và
tiêu huỷ với các mức độ khác nhau: một
số địa phương như Thái Nguyên, Hải
Phòng, Cần Thơ đã tận dụng tốt lò đốt
trang bị cho cụm bệnh viện, chủ động
chuyển giao lò đốt cho công ty môi
trường đô thị tổ chức vận hành và thu
gom xử lý CTR y tế nguy hại cho toàn
tỉnh, thành phố; Nghệ An có lò đốt đặt
tại bệnh viện tỉnh xử lý CTR y tế nguy
hại cho các bệnh viện khác thuộc địa
bàn thành phố, thị xã
Một số thành phố lớn đã bố trí lò đốt
CTR y tế nguy hại tập trung tại khu xử lý
chung của thành phố Tỷ lệ lò đốt CTR
y tế phân tán được vận hành tốt chỉ
chiếm khoảng xấp xỉ 50% số lò được
trang bị, có vùng chỉ đạt 20% Nếu xét
mức độ xử lý của các cơ sở y tế theo
tuyến trung ương và địa phương, các sở
sở trực thuộc Bộ Y tế có mức độ đầu tư
xử lý CTR y tế nguy hại cao hơn hẳn
các cơ sở tuyến địa phương Bên cạnh
lí do về công nghệ và trình độ quản
lý, thì thiếu kinh phí vận hành là yếu
tố quan trọng dẫn đến các lò đốt hoạt
động phân tán không đạt hiệu quả
Khung 5.2 Công tác xử lý CTR y tế nguy hại tại 7 vùng
trong cả nước
Vùng Đồng bằng sông Hồng có 244 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương trong đó 98 cơ sở có trang bị lò đốt CTR y tế (chiếm 40%), số lò đốt còn hoạt động tốt là 63 (chiếm 64%) Đối với các cơ sở y tế chưa được trang bị lò đốt, hoặc lò đốt không hoạt động, CTR y tế nguy hại xử lý tập trung tại khu xử lý CTR chung Có 8/11 tỉnh của vùng đã bố trí xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung, số cơ sở y tế cấp địa phương xử lý tại khu xử lý tập trung chiếm 65% Tại
3 tỉnh Bắc Ninh, Hà Nam và Vĩnh Phúc 100% CTR y tế xử
lý phân tán tại các bệnh viện
Vùng Đông Bắc và Tây Bắc Bắc Bộ có 209 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương 93 cơ sở có trang bị lò đốt CTR y
tế (chiếm hơn 44%), số lò đốt còn hoạt động tốt là 42 (chiếm trên 45%) Có 9/15 tỉnh của vùng đã bố trí xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung của tỉnh và thành phố Chỉ có 31 cơ
sở y tế xử lý tại các khu xử lý CTR chung, tương đương gần 15% Một số tỉnh đã có khu vực xử lý CTR y tế chung nhưng rất ít cơ sở vận chuyển đến như Cao Bằng, Bắc Kạn… Phần lớn CTR y tế ở các tỉnh như Bắc Kạn, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La được xử lý tại chỗ, không đạt yêu cầu
Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có 236
cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương trong đó 168 cơ
sở có trang bị lò đốt CTR y tế (chiếm 50%), số lò đốt còn hoạt động tốt là 79 (chiếm 47%) Có 12/14 tỉnh đã bố trí xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung của tỉnh; 47% số cơ
sở y tế xử lý tại khu xử lý tại khu xử lý CTR tập trung Đối với bệnh viện tuyến Trung ương tập trung tại Đà Nẵng thì 100% CTR y tế nguy hại được đưa về lò đốt CTR tại khu xử
lý Khánh Sơn
Vùng Tây Nguyên có 32/74 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương trang bị lò đốt CTR y tế (43 %), trong đó 23 lò còn hoạt động tốt (chiếm 72%) Với 4/5 tỉnh đã bố trí xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung của tỉnh và thành phố 38
cơ sở (51%) xử lý tại khu xử lý CTR tập trung
Vùng Đông Nam Bộ có 34/100 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương có trang bị lò đốt CTR y tế (chiếm 34%), trong đó có 7 lò đốt hoạt động tốt (20%) Tại Tp Hồ Chí Minh 100% CTR y tế nguy hại được đưa về lò đốt CTR của thành phố
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 110/164 cơ sở khám bệnh cấp địa phương (chiếm 67%), số lò đốt hoạt động tốt là 64 lò (58%) Có 10/13 tỉnh đã bố trí xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung của tỉnh và thành phố Với 74 cơ sở (45%) số cơ sở xử lý tại khu xử lý CTR tập trung