Nhiệm vụ của Luận văn Để thực hiện được mục đích trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ: - Phân tích để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT, p
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ÂU THỊ DIỆU LINH
CÁC BIỆN PHÁP PHÁP LÝ HẠN CHẾ TRỤC LỢI BẢO HIỂM NHÂN THỌ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI -2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ÂU THỊ DIỆU LINH
CÁC BIỆN PHÁP PHÁP LÝ HẠN CHẾ
TRỤC LỢI BẢO HIỂM NHÂN THỌ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số : 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
HÀ NỘI -2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
ÂU THỊ DIỆU LINH
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN PHÁP PHÁP LÝ HẠN CHẾ TRỤC LỢI BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ TRỤC LỢI BẢO HIỂM NHÂN THỌ 6 1.1 Lý luận chung về biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi bảo hiểm nhân thọ 6
1.1.1 Khái quát về bảo hiểm nhân thọ 61.1.2 Một số vấn đề về trục lợi bảo hiểm nhân thọ 121.1.3 Biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi bảo hiểm nhân thọ 18
1.2 Khái quát pháp luật điều chỉnh về trục lợi bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam hiện nay 22
1.2.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật về trục lợi bảo hiểm nhân thọ 221.2.2 Nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh về trục lợi bảo hiểm nhân thọ 261.2.3 Một số nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh về bảo hiểm nhân thọ nhằm hạn chế trục lợi bảo hiểm nhân thọ 28
1.3 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về trục lợi bảo hiểm nhân thọ ở một
số nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 34 Kết luận chương 1 38
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHÁP LÝ HẠN
CHẾ TRỤC LỢI BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 39
2.1 Thực trạng trục lợi bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam hiện nay 39
2.1.1 Trục lợi bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm 39
2.1.2 Trục lợi bảo hiểm của đại lý bảo hiểm 43
2.2 Những tồn tại, hạn chế trong quá trình áp dụng các biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam hiện nay 47
2.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong quá trình áp dụng các biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam hiện nay 53 2.3.1 Nguyên nhân từ phía pháp luật điều chỉnh về trục lợi bảo hiểm nhân thọ 54 2.3.2 Nguyên nhân từ khả năng nhận thức và áp dụng pháp luật của doanh nghiệp bảo hiểm và cơ quan xét xử 62
2.3.3 Nguyên nhân từ phía ý thức xã hội và nhận thức của người dân 65
2.3.4 Nguyên nhân từ phía các cơ quan hữu quan 66
Kết luận chương 2 67
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁC BIỆN PHÁP PHÁP LÝ HẠN CHẾ TRỤC LỢI BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 68
3.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm hạn chế hành vi trục lợi bảo hiểm nhân thọ 68
3.1.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin 68
3.1.2 Hoàn thiện quy định về thời hạn trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường 71 3.1.3 Hoàn thiện các chế tài xử lý hành vi trục lợi bảo hiểm 71
3.1.4 Hoàn thiện quy định về giám sát hoạt động bảo hiểm nhân thọ nhằm hạn chế trục lợi bảo hiểm 75
Trang 63.2 Tăng cường tuyên truyền phổ biến pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân
thọ nhằm hạn chế trục lợi bảo hiểm nhân thọ 78
3.3 Tăng cường năng lực và trình độ đội ngũ cán bộ tham gia xử lý, giải quyết các hành vi trục lợi bảo hiểm nhân thọ 79
3.3.1 Đối với doanh nghiệp bảo hiểm và đại lý bảo hiểm 79
3.3.2 Đối với Cục quản lý, giám sát bảo hiểm 81
3.3.1 Đối với ngành Toà án 82
Kết luận chương 3 83
KẾT LUẬN CHUNG 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHNT DNBH ĐLBH HHBH HĐBH KDBH STBH TLBH
Bảo hiểm nhân thọ Doanh nghiệp bảo hiểm Đại lý bảo hiểm
Hiệp hội bảo hiểm Hợp đồng bảo hiểm Kinh doanh bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm Trục lợi bảo hiểm
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc sống luôn tồn tại những rủi ro, biến cố mà không ai có thể lường trước được như tai nạn, bệnh tật Và khi những biến cố kể trên xảy ra đối với một người thì nó thường kéo theo những mất mát, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe đối với bản thân họ Điều này dẫn đến hệ quả là người đó hoặc gia đình của họ sẽ phải đối mặt với những khó khăn nhất định về tài chính Đây là lý
do mà vì sao loại hình BHNT được đặt ra Trong loại hình bảo hiểm này, DNBH cam kết một sự bảo vệ về mặt tài chính đối với những người tham gia bảo hiểm và gia đình họ trước những rủi ro, mất mát xảy ra trong cuộc sống
Ở Việt Nam, BHNT xuất hiện muộn cùng với sự ra đời của Tổng công
ty Bảo Việt nhân thọ năm 1996, Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển, là một thị trường năng động mới nổi ở Đông Nam Á, có cơ cấu dân số
lý tưởng ngày một gia tăng với khoảng 90 triệu người trong năm 2015, và quan trọng hơn, ngày càng có nhiều người thoát ra khỏi nghèo đói, tầng lớp trung lưu gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế những điều này cho thấy tiềm năng phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam nói chung và phân khúc BHNT nói riêng còn rất lớn, được các chuyên gia kinh tế thế giới đánh giá là mảnh đất màu mỡ cho bảo hiểm phát triển trong tương lai
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, trong quá trình phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam nói chung và BHNT nói riêng đang phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có những thách thức từ các hành vi TLBH với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp hơn, gây thất thoát lớn về tài chính cho cả Nhà nước và các DNBH, gián tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm chân chính Các hành vi TLBH diễn ra ở
Trang 92
mọi đối tượng tham gia bảo hiểm, không chỉ có ở bên được bảo hiểm mà còn
có ở bên bảo hiểm hay cao hơn nữa là sự câu kết giữa các bên để trục lợi, theo thống kê cho thấy có 90% các vụ trục lợi có “chân trong”[20], hay nói cách khác là sự tiếp tay của các cán bộ, công nhân viên trong ngành và ĐLBH Những hành vi này đã gây hậu quả nghiêm trọng không chỉ đến sự phát triển của thị trường bảo hiểm mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của cả nền kinh tế Theo Cục quản lý, giám sát hảo hiểm, trong giai đoạn 2007 - 2013, thị trường BHNT có khoảng 52.860 vụ trục lợi với số tiền bị trục lợi ước tính 530 tỷ đồng Trung bình mỗi năm có khoảng 9.000 vụ TLBH được phát hiện[20] Như vậy, có thể thấy rằng tình trạng TLBH đặc biệt là BHNT ở Việt Nam đã bắt đầu có dấu hiệu gia tăng rất cần thiết phải được kiểm soát và ngăn chặn
Chính vì lẽ đó, tác giả đã quyết định chọn đề tài luận văn thạc sĩ: “Các
biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam hiện nay”
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về Pháp luật kinh doanh BHNT nói chung, các biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT nói riêng là một vấn đề còn khá mới mẻ về mặt lý luận cũng như thực tiễn Vì vậy, các công trình nghiên cứu chuyên sâu
về lĩnh vực này gần như chưa có nhiều
Về vấn đề Pháp luật kinh doanh BHNT, có thể thấy việc giảng dạy về BHNT ở các trường đại học chuyên ngành kinh tế, tài chính và luật ở Việt Nam mới chỉ ở bước đầu bằng việc cung cấp những kiến thức cơ bản Năm
2001, Nhà xuất bản Thống kê cho tái bản lần thứ nhất cuốn “Một số điều cần biết về pháp lý trong KDBH” của GS.TSKH Trương Mộc Lâm và Lưu Nguyên Khánh Trong lần tái bản này, cuốn sách đã bước đầu đề cập những nguyên tắc pháp lý trong kinh doanh BHNT và đây có thể coi là cuốn sách đầu tiên của Việt Nam về vấn đề này Ngoài ra, còn có một số công trình
Trang 103
nghiên cứu liên quan như: Nguyễn Anh Tố “Một số vấn đề pháp lý về HĐBH”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, 2001; Thái Văn Cách “Thực trạng pháp luật về KDBH, phương hướng hoàn thiện”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, 2001; Vương Việt Đức “HĐBH tài sản”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, 2003; Phí Thị Quỳnh Nga “Pháp luật về giao dịch BHNT ở Việt Nam”, 2006; Trịnh Thị Bích Thủy “BHNT theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật kinh tế, 2014… Bên cạnh đó, một loạt bài viết của tác giả Trần Vũ Hải và đặc biệt là Luận án tiến sĩ của NCS Trần Vũ Hải “Pháp luật về kinh doanh BHNT ở Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Trường
ĐH Luật Hà Nội, 2013 Đây là công trình chuyên khảo xây dựng hệ thống lý luận về pháp luật kinh doanh BHNT cũng như đánh giá tương đối toàn diện thực trạng pháp luật hiện hành điều chỉnh lĩnh vực này, đóng góp những căn
cứ khoa học cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về kinh doanh BHNT ở Việt Nam Đồng thời đóng góp vào hệ thống kiến thức pháp lý để các cơ quan quản lý nhà nước, DNBH và người tham gia bảo hiểm áp dụng các quy định của pháp luật một cách hiệu quả
Như vậy, nhìn một cách tổng quát, khoa học pháp lý nước ta hiện nay, việc nghiên cứu chuyên sâu về bảo hiểm nói chung và BHNT nói riêng đã bắt đầu được chú trọng Tuy nhiên, đề cập tới vấn đề TLBH và hạn chế TLBH,
có thể kể đến tài liệu kỷ yếu hội thảo của Cục quản lý, giám sát bảo hiểm và HHBH Việt Nam trong những năm gần đây và bài viết của PGS,TS Doãn Hồng Nhung “Một số ý kiến hoàn thiện pháp luật về phòng ngừa, ngăn chặn TLBH trong KDBH ở Việt Nam” Điều đó cho thấy, những công trình nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn hạn chế
Chính vì vậy, với mong muốn tìm hiểu cụ thể về các biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT và thực tiễn áp dụng các biện pháp pháp lý hạn chế trục
Trang 114
lợi BHNT ở Việt Nam hiện nay từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT, tác giả đã lựa chọn đề tài:
“Các biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT ở Việt Nam hiện nay”
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của Luận văn
3.1.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT ở Việt Nam hiện nay, luận văn đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả các biện pháp lý hạn chế trục lợi BHNT
3.2 Nhiệm vụ của Luận văn
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ:
- Phân tích để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT, pháp luật điều chỉnh về trục lợi BHNT và kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về TLBH ở một số nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
- Tìm hiểu những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân về thực tiễn áp dụng các biện pháp hạn chế trục lợi BHNT ở Việt Nam hiện nay
- Từ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân về thực tiễn áp dụng các biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT luận văn đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả các biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: lĩnh vực BHNT ở Việt Nam
Trang 125
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với tính chất và yêu cầu của đề tài như phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp liệt kê, phương pháp so sánh, phương pháp chứng minh và phương pháp duy vật biện chứng
6 Điểm mới của Luận văn
Thứ nhất, luận văn đã khái quát một cách hệ thống những vấn đề lý luận
chung về trục lợi BHNT, biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT, khái quát pháp luật điều chỉnh trục lợi BHNT ở Việt Nam hiện nay, kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về trục lợi BHNT ở một số nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Thứ hai, luận văn chỉ ra được thực trạng trục lợi BHNT Những tồn tại,
hạn chế và nguyên nhân của thực tiễn áp dụng các biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT ở Việt Nam hiện nay
Thứ ba, trên cơ sở thực tiễn áp dụng các biện pháp hạn chế trục lợi
BHNT, luận văn đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả các biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT ở Việt Nam hiện nay
7 Kết cấu Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT và
khái quát pháp luật điều chỉnh về trục lợi BHNT
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT ở
Việt Nam hiện nay
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả các biện pháp pháp lý
hạn chế trục lợi BHNT ở Việt Nam hiện nay
Trang 136
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN PHÁP PHÁP LÝ HẠN CHẾ TRỤC LỢI BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT
ĐIỀU CHỈNH VỀ TRỤC LỢI BẢO HIỂM NHÂN THỌ
1.1 Lý luận chung về biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi bảo hiểm nhân thọ
1.1.1 Khái quát về bảo hiểm nhân thọ
Năm 1762, Công ty BHNT đầu tiên trên thế giới được thành lập ở nước Anh, tên là Equitable Sau đó đến Pháp, là nước thứ hai cho phép BHNT được hoạt động Vào năm 1787 công ty BHNT đầu tiên tại Pháp được thành lập mang tên là Công ty BHNT Hoàng gia, sau đó một thời gian ở các nước Châu
Âu khác cũng dần dần xuất hiện BHNT Ở Châu Á, công ty BHNT lần đầu tiên được ra đời ở Nhật Bản, đó là công ty BHNT Meiji đã ra đời và đi vào hoạt động năm 1868[12]
Theo thời gian, BHNT phát triển và trở thành một ngành dịch vụ tài chính, với nhiều loại hình bảo hiểm khác nhau mà tiện ích cơ bản của nó là mang tính tiết kiệm và trợ giúp khi sự kiện bảo hiểm xảy ra đối với người mua bảo hiểm
Theo tài liệu của Viện Quản lý BHNT Hoa Kỳ (LOMA) nêu định nghĩa BHNT như một loại hình bảo hiểm trả tiền khi phát sinh cái chết của người được bảo hiểm Trên phương diện pháp lý, BHNT là một thể loại bảo hiểm, trong đó để nhận được phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm thông qua một hợp đồng, nhà bảo hiểm cam kết sẽ trả cho một hoặc nhiều người thụ hưởng bảo hiểm một số tiền nhất định hoặc những khoản trợ cấp nhất định trong trường hợp người được bảo hiểm bị tử vong hoặc người được bảo hiểm sống đến một thời điểm đã được chỉ rõ trong hợp đồng Trên
Trang 14Dưới góc độ kinh tế, theo Ngô Trung Dũng định nghĩa: “BHNT là sự bảo vệ trường hợp tử vong của một người bằng hình thức trả tiền cho người thụ hưởng - thường là thành viên của gia đình, doanh nghiệp hoặc tổ chức Bằng cách đổi một loạt các khoản phí bảo hiểm hoặc thanh toán phí bảo hiểm một lần khi người được bảo hiểm chết, STBH (và bất kỳ STBH bổ sung nào được kèm theo đơn bảo hiểm) trừ đi khoản vay chưa trả theo HĐBH và khoản lãi cho vay, sẽ được trả cho người thụ hưởng Những khoản trợ cấp trả khi còn sống cho người được bảo hiểm dưới hình thức giá trị giải ước hoặc các khoản trợ cấp thu nhập”[11]
Theo Nguyễn Tiến Hùng định nghĩa: “BHNT là một nghiệp vụ qua đó
để nhận được phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm (kí kết hợp đồng), người bảo hiểm cam kết sẽ trả cho một hoặc nhiều người thụ hưởng bảo hiểm
Trang 158
một số tiền nhất định (trong trường hợp người được bảo hiểm tử vong) hoặc trả người được bảo hiểm khi họ sống đến một thời điểm đã được ghi rõ trên hợp đồng”[18]
Theo Nguyễn Thị Hải Đường định nghĩa: “BHNT là những hình thức bảo hiểm rủi ro liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của người được bảo hiểm”[15] Định nghĩa này tuy rộng và khái quát, nhưng lại gắn chặt nghiệp vụ BHNT với rủi ro, mà chưa đề cập đến tính tiết kiệm trong các sản phẩm BHNT
Dưới góc độ luật học, Luật KDBH định nghĩa: "BHNT là loại nghiệp
vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết"[27] Định nghĩa này mặc dù đã khái quát được về sự kiện bảo hiểm là sống hoặc chết nhưng có nhiều hạn chế như chưa làm rõ được đối tượng bảo hiểm cũng như
sự kiện bảo hiểm thực sự là gì, cũng như định nghĩa BHNT của Nguyễn Thị Hải Đường chưa nêu được đặc trưng phổ biến của hầu hết các sản phẩm BHNT là tính tiết kiệm đối với người tham gia bảo hiểm
Những định nghĩa trên đây tuy được trình bày khác nhau, nhưng đều thể hiện những đặc trưng nổi bật của BHNT, đó là:
- BHNT là một nghiệp vụ bảo hiểm thương mại, hay nói cách khác là loại hình kinh doanh thu lợi nhuận (phân biệt với các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội của Nhà nước)
- BHNT có tính đa mục đích, có thể được sử dụng để áp ứng nhiều mục đích khác nhau tùy theo nhu cầu của khách hàng Do vậy, sản phẩm BHNT thường rất đa dạng (mỗi sản phẩm chỉ đáp ứng được một hoặc một vài nhu cầu) và hoạt động tiếp thị sản phẩm này phải mang tính năng động và linh hoạt cao
Trang 169
- BHNT là loại hình bảo hiểm duy nhất cho phép bảo hiểm cho hai sự kiện trái ngược nhau là sống và chết Điều này cũng có nghĩa là, trong hầu hết trường hợp, việc DNBH phải trả tiền với một hợp đồng BHNT là chắc chắn xảy ra (phân biệt với bảo hiểm phi nhân thọ - là loại hình bảo hiểm chỉ trả tiền khi có rủi ro xảy ra)
- BHNT là loại hình bảo hiểm dài hạn, do đó điều khoản hợp đồng phải được trình bày đầy đủ, khoa học dưới dạng văn bản, làm cơ sở cho sự duy trì quan hệ hợp đồng lâu dài, thậm chí là cả đời người Mặt khác, các thông số kỹ thuật của từng sản phẩm, từng hợp đồng phải được tính toán cẩn thận và công bố rõ ràng tới khách hàng
- BHNT là loại hình sản phẩm bảo hiểm vô hình Vì vậy, DNBH phải đặc biệt quan tâm đến việc giải thích cho khách hàng hiểu rõ về sản phẩm Hơn nữa, việc thực hiện đúng và đầy đủ cam kết là đòi hỏi nghiêm ngặt đối với các DNBH
Như vậy, hiểu một cách đơn giản nhất, BHNT là loại hình nghiệp vụ bảo hiểm thương mại, thể hiện ở sự cam kết giữa DNBH và người tham gia bảo hiểm mà theo đó, DNBH cam kết trả một khoản tiền xác định theo thỏa thuận khi xảy ra sự kiện bảo hiểm (người được bảo hiểm sống hoặc chết) trong một thời gian nhất định cho người tham gia bảo hiểm (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm), với điều kiện người tham gia bảo hiểm đóng phí bảo hiểm theo thỏa thuận
Đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ
Thứ nhất, đối tượng của BHNT là con người: không như bảo hiểm sinh
mạng hay bảo hiểm tai nạn con người trong bảo hiểm phi nhân thọ, chỉ rủi ro chết hay thương tật toàn bộ vĩnh viễn của đối tượng được bảo hiểm mới thuộc
Trang 1710
phạm vi bảo hiểm của hợp đồng BHNT Bên cạnh đó, mặc dù đối tượng của BHNT là con người nhưng BHNT không đảm bảo những chi phí y tế như trong các loại hình bảo hiểm tai nạn và sinh mạng cá nhân trong bảo hiểm phi nhân thọ
Cụ thể hơn đối tượng của BHNT là tuổi thọ của con người: Trong
BHNT, nghĩa vụ khai báo đúng tuổi của người được bảo hiểm là rất quan trọng Căn cứ vào độ tuổi của người được bảo hiểm, bên bán bảo hiểm sẽ xác định người đó có thuộc nhóm tuổi tham gia bảo hiểm hay không cũng như tính toán mức phí bảo hiểm Về lý thuyết, mức độ rủi ro sẽ khác nhau nếu người được bảo hiểm có độ tuổi khác nhau Ngoài ra, tuổi thọ của con người còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác như sức khoẻ, bệnh tật, nếp sinh hoạt, gen di truyền…
Thứ hai, BHNT mang tính tiết kiệm: Tính tiết kiệm của BHNT thể hiện
ở việc tham gia BHNT cũng giống như việc gửi tiết kiệm, bên mua bảo hiểm dùng từng khoản tiền nhỏ để đóng phí bảo hiểm, khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, người thụ hưởng có thể có được khoản tiền lớn hơn Việc nộp phí bảo hiểm là nghĩa vụ theo thoả thuận, đồng thời bên mua bảo hiểm không thể tuỳ tiện lấy lại các khoản phí đã nộp (khác với việc gửi tiền tại ngân hàng), chính vì vậy tiết kiệm cho bên mua bảo hiểm những khoản chi tiêu không thật sự cần thiết Đây là một trong những hình thức huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư có hiệu quả; hình thức huy động dần dần, phù hợp với khả năng tích lũy của mọi đối tượng, từ những người có thu nhập thấp đến những người có thu nhập cao Chính hình thức tổ chức đóng phí bảo hiểm tại nhà, có thể theo tháng, quý, 6 tháng hay một năm, có nhiều mức phí tùy theo sự lựa chọn và khả năng tài chính của người tham gia bảo hiểm đã tạo nên sự khác biệt, hình thành ý thức tiết kiệm trong dân cư đã đem lại thành công cho BHNT
Trang 1811
Thứ ba, BHNT là loại hình bảo hiểm duy nhất có thể chi trả cho dù có rủi ro hay không có rủi ro xảy ra: Đây là một trong những điểm khác nhau
cơ bản giữa BHNT và bảo hiểm phi nhân thọ Mỗi người mua BHNT sẽ định
kì nộp một khoản tiền nhỏ có thể theo từng tháng, từng quý hay từng năm cho công ty BHNT Ngược lại, công ty BHNT có trách nhiệm trả một số tiền lớn, tức STBH cho người được hưởng quyền lợi bảo hiểm theo thoả thuận từ trước khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra STBH được trả khi người được bảo hiểm đạt đến độ tuổi nhất định trong hợp đồng Nhưng nếu không may người được bảo hiểm bị chết sớm thì công ty BHNT cũng sẽ trả toàn bộ STBH cho thân nhân và gia đình người đó cho dù họ mới chỉ tiết kiệm được một khoản tiền rất nhỏ qua việc đóng phí
Thứ tư, hợp đồng BHNT thường dài hạn và rất đa dạng và phức tạp:
Trên thực tế hiện nay, thời hạn ngắn nhất của hợp đồng BHNT mà các nhà bảo hiểm cung cấp là 5 năm Tính dài hạn của hợp đồng BHNT nhằm đảm bảo quyền lợi cho nhà bảo hiểm trong hoạt động đầu tư đồng thời đáp ứng được mục đích tiết kiệm của bên mua bảo hiểm Mặt khác, thời hạn hợp đồng dài sẽ giúp bên mua bảo hiểm có khả năng nộp phí bảo hiểm Bên cạnh đó, nguồn phí bảo hiểm được sử dụng để đầu tư và người tham gia bảo hiểm được hưởng một phần lãi từ hoạt động đầu tư đó vì BHNT mang tính tiết kiệm Trong khi đó, bảo hiểm phi nhân thọ mang tính ngắn hạn, chỉ bồi thường khi có tai nạn, rủi ro xảy ra nên các DNBH không được phép kinh doanh đồng thời BHNT và bảo hiểm phi nhân thọ
Tính đa dạng và phức tạp trong BHNT được thể hiện ở ngay các sản phẩm của nó Mỗi sản phẩm BHNT có nhiều loại khác nhau Mỗi hợp đồng lại có thời hạn khác nhau, STBH khác nhau, độ tuổi người tham gia cũng khác nhau Ngay cả các mối quan hệ trong một bản hợp đồng cũng khá phức
Trang 1912
tạp Mỗi một hợp đồng BHNT có thể có 4 bên tham gia: người bảo hiểm, người được bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm và người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm Có thể nói HĐBH phong phú hơn nhưng cũng phức tạp hơn HĐBH phi nhân thọ rất nhiều
1.1.2 Một số vấn đề về trục lợi bảo hiểm nhân thọ
Xét về khái niệm, có thể thấy, cụm từ “trục lợi bảo hiểm” trong pháp luật Việt Nam lần đầu tiên được đề cập đến tại Điều 15 Nghị định 118/2003/NĐ-
CP hướng dẫn về mức xử phạt đối với hành vi “trục lợi trong việc tham gia
bảo hiểm, bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm, giải quyết khiếu nại bảo hiểm”[5] Bên cạnh đó, Điều 4 Mục V Thông tư 31/2004/TT-BTC cũng định
nghĩa rõ hơn về vấn đề “trục lợi bảo hiểm” như sau: Hành vi trục lợi trong việc tham gia bảo hiểm, bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm và giải quyết
khiếu nại bảo hiểm được hiểu là “hành vi cố ý lừa dối của tổ chức, cá nhân
nhằm thu lợi bất chính khi tham gia bảo hiểm, yêu cầu, giải quyết bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm, giải quyết khiếu nại bảo hiểm”[2]
Tuy nhiên, Nghị định 118/2003/NĐ-CP nêu trên đã hết hiệu lực do đã bị thay thế hoàn toàn bởi Nghị định số 41/2009/NĐ-CP và sau đó Nghị định 41/2009/NĐ-CP lại tiếp tục bị thay thế bởi Nghị định 98/2013/NĐ-CP Hệ quả là, Thông tư 31/2004/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 118/2003/NĐ-CP, cũng như khái niệm về “trục lợi bảo hiểm” được đưa ra trong Thông tư đã bị mất giá trị pháp lý Hiện nay, vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực KDBH được điều chỉnh bởi Nghị định số 98/2013/NĐ-CP và Nghị định này hoàn toàn không có một quy định nào đưa
ra định nghĩa rõ ràng về “trục lợi bảo hiểm” hay thậm chí là đề cập đến khái niệm này Như vậy, có thể thấy, pháp luật KDBH hiện hành của Việt Nam đã hoàn toàn bỏ ngỏ trong việc định nghĩa về khái niệm “trục lợi bảo hiểm”
Trang 2013
Do thiếu sự nhất quán trong quy định của hệ thống pháp luật hiện hành nên hiện nay việc hiểu và sử dụng khái niệm “trục lợi bảo hiểm”, đặc biệt là trong lĩnh vực BHNT còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Trên thế giới,
có hai quan điểm lớn về vấn đề trục lợi bảo hiểm Có thể tóm lược như sau:
- Quan điểm thứ nhất cho r ằng: trục lợi bảo hiểm là hành vi gian dối nhằm kiếm lợi bất hợp pháp của các chủ thể t ham gia vào quan hê ̣ KDBH Vì HĐBH là sự thỏa thuâ ̣n giữa DNBH và bên mua bảo hiểm , như vâ ̣y, chủ thể thực hiê ̣n hành vi này có thể là bên mua bảo hiểm và DNBH (bao gồm: ĐLBH
- người được ủy quyền của DNBH , nhân viên của DNBH , người điều hành
như định nghĩa đã được đưa ra tại Thông tư 31/2004/TT-BTC
Quan điểm này cũng tương thích với k hái niê ̣m “gian lâ ̣n bảo hiểm”
giao dịch bảo hiểm thương mại được hiểu là “cố ý không nói sự th ật hoặc che
khoản tiền bảo hiểm mà lẽ ra không được nhâ ̣n” hoă ̣c “không nói sự thâ ̣t hoă ̣c cung cấp sai thông tin của người quản trị DNBH , nhân viên bảo hiểm , ĐLBH, môi giới bảo hiểm nhằm thu lợi tài chính”[38]
- Quan điểm thứ hai lại cho rằng: “Trục lợi bảo hiểm” chỉ được hiểu là hành vi trục lợi tiền b ồi thường bảo hiểm hoă ̣c tiền bảo hiểm trả từ phía bên
Những người ủng hộ quan điểm này xem “trục lợi bảo hiểm” như là một trong những biểu hiện của hoạt động “gian lận bảo hiểm” Theo đó, “gian lận bảo hiểm” bao gồm hành vi “trục lợi bảo hiểm” từ phía khách hàng, gian lận
từ phía đại lý, nhân viên bảo hiểm và gian lận từ phía DNBH[42] Đây là cách
Trang 2114
hiểu không được sử dụng phổ biến bởi các chuyên gia pháp luật Tuy nhiên,
điểm này, bởi quan tâm hàng đầu của DNBH là chống đỡ hành vi trục lợi của khách hàng nhằm đảm bảo hoạt động KDBH có hiê ̣u quả
Như vâ ̣y, sự khác biê ̣t của hai quan điểm trên ở chỗ chủ thể của hành vi TLBH, nếu quan điểm thứ hai chỉ coi đó là hành vi của khách hàng – bên mua bảo hiểm thì quan điểm thứ nhất cho rằng hành vi TLBH có thể gây ra của cả hai bên chủ thể của HĐBH
như sau: Trục lợi BHNT là hành vi gian dối được tiến hành bởi các chủ thể tham gia vào quan hệ BHNT : những cá nhân bên mua bảo hiểm , những cá nhân thuộc DNBH hoă ̣c đại diê ̣n DNBH trong quá trình giao kết , thực hiê ̣n hợp đồng BHNT có mục đích thu được những khoản lợi bất chính
Viê ̣c đưa ra định nghĩa và thống nhất quan điểm về TLBH nói chung
và trục lợi BHNT nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng cho viê ̣c thực hiện mục đích nghiên cứu của đề tài
Dấu hiệu trục lợi BHNT
Từ những tìm hiểu về khái niệm, có thể thấy TLBH là một vi phạm pháp luật, do đó trục lợi BHNT nói riêng và TLBH nói chung có một số dấu hiệu sau:
Thứ nhất, TLBH là hành vi trái pháp luật , quan hê ̣ giữa DNBH và bên mua bảo hiểm được xem là một quan hê ̣ hợp đồng , cho nên, trước hết, nó phải được thực hiê ̣n dựa trên những nguyên tắc của một quan hê ̣ pháp luâ ̣t dân sự thông thường, cụ thể đó là nguyên tắc “thiê ̣n chí , trung thực” trong quá trình
Trang 2215
giao kết , thực hiê ̣n hợp đồng Mă ̣t khá c, bảo hiểm là hoạt động được thực hiê ̣n dựa trên niềm tin lẫn nhau của các chủ thể , ở đó, bên mua nhâ ̣n lời cam
chấp nhâ ̣n đảm bảo rủi ro chủ yếu thông qua viê ̣c khai báo rủi ro của khách hàng Vì vậy, bất kỳ một hành vi cố ý gian dối , không trung thực nào nhằm gây bất lợi cho bên còn lại trong quan hê ̣ đều được xem là phi pháp
TLBH ở những mức độ khác nhau đều nguy hiểm và gây hại cho xã hội TLBH đã hoặc có nguy cơ gây ra những thiệt hại về vật chất cho DNBH, ảnh hưởng đến lòng tin của những người tham gia bảo hiểm chân chính và gây ra những thiệt hại lớn cho nền kinh tế Mức độ nguy hiểm của hành vi TLBH được xác định phụ thuộc vào tính chất và mức độ thiệt hại thực tế hoặc nguy
cơ gây thiệt hại cho DNBH, cho xã hội mà hành vi TLBH đó gây ra Trong trường hợp đã gây ra những thiệt hại, thì sự thiệt hại đó là hậu quả tất yếu của hành vi TLBH
Thứ hai, có hành vi cố ý lừa dối : chủ thể cố ý che giấu thông tin hoă ̣c cung cấp thông tin không trung thực nhằm làm cho đối tác hiểu sai thực chất của vấn đề Hành vi được thực hiện vì động cơ vụ lợi, nhằm mục đích thu lợi bất chính
mục đích trục lợi cá nhân như: khách hàng TLBH để hưởng quyền lợi tài chính
mà lẽ ra không được hưởng, hưởng quyền lợi tài chính cao hơn mức lẽ ra được hưởng Khoản lợi bất chính đó chính là khoản bồi thường hay tiền bảo hiểm trả – số tiền mà lẽ ra họ không được hưởng hoă ̣c ở mức cao mức mà lẽ ra họ được hưởng Ngược lại, một hành vi gian lâ ̣n của đại lý hay nhân viên kinh doanh , giám định viên, người quản trị DNBH có thể làm tăng thu nhâ ̣p từ hoa hồng , lương thưởng do giao dịch gian lâ ̣n mang lại hoă ̣c chiếm đoạt tiền của DNBH
Trang 2316
Thứ ba, về chủ thể thực hiện TLBH: phía DNBH, người có hành vi gian dối có thể là : Đại lý , nhân viên , người quản trị điều hành DNBH Về phía khách hàng bảo hiểm : Bên mua bảo hiểm có thể có nhiều tư cách gắn với nhiều cá nhân khác nhau : Tư cách người mua bảo hiểm (người giao kết hợp đồng); tư cách người được bảo hiểm (người có tuổi thọ , tính mạng, thân thể,
có thể xuất phát từ chủ thể là cá n hân có 1 trong 3 tư cách nói trên Thông tin
bị gian dối còn có thể là mối quan hê ̣ giữa các cá nhân đó như : Mối quan hê ̣ đảm bảo “có quyền lợi có thể bảo hiểm” của “người mua bảo hiểm” (Điều 3, khoản 9, Luâ ̣t KDBH) hay mối quan hê ̣ nhân thân để gi ao kết hợp đồng bảo hiểm (Điều 31, Luâ ̣t KDBH)
Thứ tư, TLBH xâm hại đến quan hệ hợp đồng giữa DNBH và bên mua bảo hiểm, cụ thể TLBH xâm phạm quyền lợi chính đáng của DNBH : Cho dù chủ thể của hành vi TLBH không phải là khách hàng bảo hiểm mà là ngườ i của phía DNBH như người quản trị, nhân viên hay người được ủy quyền đại diê ̣n thì DNBH cũng là người phải gánh chịu chi phí tăng lên hoă ̣c tổn hại uy tín, hình ảnh, thương hiê ̣u Xa hơn nữa, tình trạng trục lợi nếu phổ biến sẽ làm xấu đi môi trường của ngành bảo hiểm thương mại, làm ngăn cản sự phát triển lành mạnh của thị trường bảo hiểm
Ngoài ra, hành vi trục lợi BHNT nói riêng cũng mang một số đặc trưng riêng biệt so với các hành vi TLBH thông thường
Một là hành vi TLBH có thể được tiến hành bởi sự giúp sức của các chủ thể khác không liên quan đến quan hệ bảo hiểm Đó có thể là những người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước (trong trường hợp người trục lợi móc nối với cơ quan hộ tịch tại địa phương để yêu cầu họ ban hành những
Trang 2417
tài liệu chứng minh rằng người được bảo hiểm đã quan đời), nhân viên y tế của các trung tâm y tế (trong trường hợp trục lợi cố tình tạo ra những hồ sơ bệnh án cho thấy người được bảo hiểm bị bệnh và phải điều trị tại trung tâm y
tế mặc dù trên thực tế họ không hề gặp bất cứ vấn đề gì về sức khoẻ) và kể cả công an, cán bộ xã phường có liên quan…
Hai là do đối tượng của BHNT là tính mạng, tuổi thọ của con người cho nên hoạt động TLBH luôn tác động đến những yếu tố gắn liền với tính mạng, sức khoẻ của người được bảo hiểm Có thể thấy, trong BHNT, việc giải quyết quyền lợi bảo hiểm được đặt ra nếu như người được bảo hiểm gặp phải những rủi ro trong cuộc sống mà những rủi ro đó gây thiệt hại, tổn thất đến sức khoẻ, tính mạng của họ Do đó, để trục lợi BHNT thì người trục lợi phải tác động đến những yếu tố liên quan đến tính mạng, sức khoẻ của người được bảo hiểm như làm giả, làm sai lệch những tài liệu thể hiện tình trạng sức khoẻ của người được bảo hiểm hoặc che giấu những thông tin về bệnh tật, tai nạn của người được bảo hiểm
Ba là thông thường hành vi trục lợi BHNT chỉ nhắm vào tính bảo vệ của hoạt động BHNT Có thể thấy, BHNT không những là một phương thức
để bảo vệ người được bảo hiểm khỏi mọi rủi ro về tính mạng sức khoẻ xảy ra trong cuộc sống mà còn là một cách thức để người được bảo hiểm tiết kiệm cho các khoản chi tiêu của mình thông qua việc đóng phí bảo hiểm định kỳ và rút ra tại một thời điểm được dự liệu trong hợp đồng Tuy nhiên, khi hoạt động trục lợi BHNT diễn ra, người trục lợi chủ yếu nhắm vào tính bảo vệ của BHNT Thông thường, họ chỉ tập trung vào yếu tố, chi tiết có ảnh hưởng đến
sự kiện bảo hiểm như bệnh tật, thương tật, tử vong để từ đó yêu cầu DNBH giải quyết các quyền lợi bảo hiểm theo thoả thuận của hợp đồng
Trang 2518
1.1.3 Biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi bảo hiểm nhân thọ
Về biện pháp pháp lý, ở Việt Nam hiện nay chưa có một khái niệm nào mang tính học thuật về biện pháp pháp lý Do đó, theo quan điểm của tác giả
có thể hiểu biện pháp pháp lý trên cơ sở tìm hiểu khái niệm “biện pháp” và khái niệm “pháp lý” như sau:
Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể
Pháp lý (juridique) xuất phát từ tiếng La-tin “Jus” nghĩa là các quy định của pháp luật Theo giải thích của Đại từ điển Tiếng Việt thì: "pháp lý là căn
cứ , cơ sở lí luận của luật pháp"[35] Từ điển Pháp – Việt, pháp luật – hành chính định nghĩa: "pháp lý mang tính chất cưỡng bức của pháp luật, đặt dưới quyền lực của pháp luật bắt buộc phải thi hành"[33]
Như vậy, khái niệm pháp lý không đồng nghĩa với khái niệm pháp luật, bởi xét về khái niệm pháp luật (droit) xuất xứ La-tin “directum” nói lên khái niệm ngay thẳng, sự chính trực Theo Đại từ điển Tiếng Việt giải thích: "pháp luật là quy tắc, hành vi của công dân do nhà nước quy định, ban hành, buộc phải tuân theo không được trái phạm"[35] Theo định nghĩa này chúng ta có thể thấy sự chưa đầy đủ và chuẩn xác như định nghĩa trong giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật: "pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội"[34]
Trên cơ sở các định nghĩa trên, tựu trung lại có thể thấy rõ pháp lý có các thuộc tính khác biệt so với pháp luật sau đây: Tính liên quan đến hệ thống các quy phạm pháp luật, mọi lí lẽ, cơ sở hay căn cứ đều dựa trên các quy tắc hay đúng hơn là dựa vào pháp luật; Tính lệ thuộc vào pháp luật, không có các quy phạm pháp luật thì không thể chứng minh thế nào là đúng, sai, phù hợp
Trang 2619
hay không phù hợp, cho phép hay không cho phép; Pháp lý chính là cơ sở của
lí luận, là sự vận dụng, áp dụng có khoa học về pháp luật, về phương pháp nghiên cứu pháp luật một cách có hệ thống Với ý nghĩa này, pháp lý được xem là hệ quả tất yếu của pháp luật
Như vậy, có thể hiểu biện pháp pháp lý là cách giải quyết một vấn đề trên cơ sở các quy định của pháp luật
Tóm lại, biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT là các biện pháp hạn
chế trục lợi trong lĩnh vực BHNT trên cơ sở các quy định của pháp luật điều chỉnh về trục lợi BHNT (vận dụng, áp dụng khoa học các quy định của pháp luật điều chỉnh về trục lợi BHNT)
Đặc điểm của các biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT
Thứ nhất, là những biện pháp dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật điều chỉnh về hạn chế trục lợi BHNT
Các quy định về pháp luật điều chỉnh về hạn chế trục lợi BHNT không chỉ giới hạn ở một số quy phạm pháp luật trong Luật KDBH hiện hành mà còn được quy định trong Bộ luật Dân sự 2005 và Nghị định 98/2013/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực KDBH, kinh doanh
sổ số và một số văn bản pháp luật khác có liên quan
Cụ thể, các biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT là việc áp dụng các chế tài trong các quy phạm pháp luật để xử lý các chủ thể có hành vi trục lợi BHNT, đây là hậu quả pháp lý bất lợi mà các chủ thể thực hiện hành vi trục lợi BHNT phải gánh chịu hay nói cách khác là chủ thể phải gánh chịu các chế tài trong các quy phạm pháp luật là chủ thể thực hiện hành vi TLBH
Thứ hai, chủ thể thực hiện các biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT bao gồm:
Trang 2720
DNBH là một bên của HĐBH, do đó trong quá trình thực hiện hợp đồng doanh nghiệp có những quyền và nghĩa vụ nhất định được quy định cụ thể trong hợp đồng và trong các văn bản pháp luật có liên quan như Luật KDBH, Bộ Luật Dân sự, do đó DNBH là một chủ thể pháp luật thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Trong việc hạn chế trục lợi BHNT, DNBH tự kiểm soát bằng quyền pháp luật trao cho mình và thỏa thuận trong hợp đồng
để hạn chế hành vi trục lợi bảo vệ quyền lợi của mình Lúc này DNBH là chủ thể sử dụng pháp luật, cụ thể là sử dụng các quy phạm pháp luật trong Luật KDBH để thực hiện quyền của mình trong việc xử lý các hành vi TLBH Chẳng hạn: Khoản 2 Điều 19 Luật KDBH quy định: “DNBH có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện HĐBH và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện HĐBH khi bên mua bảo hiểm có hành vi cố ý cung cấp thông tin sai
sự thật nhằm giao kết HĐBH để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường”[27]
Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm là đơn vị thuộc bộ máy quản lý nhà nước của Bộ Tài chính, có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính thực hiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực KDBH trong phạm vi cả nước; trực tiếp quản lý, giám sát hoạt động KDBH và các hoạt động dịch vụ thuộc lĩnh vực KDBH theo quy định của pháp luật Từ vị trí và chức năng trên có thể nhận thấy, một trong những nhiệm vụ của Cục quản lý, giám sát bảo hiểm là xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực KDBH theo quy định của pháp luật Đối với việc thực hiện nhiệm vụ xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực KDBH, Cục quản lý, giám sát bảo hiểm là chủ thể tiến hành áp dụng pháp luật trong trường hợp truy cứu trách nhiệm hành chính đối với những chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực KDBH trong đó TLBH cũng là một trong những hành vi phạm hành chính trong lĩnh vực này Do vậy, trên cơ sở áp dụng những quy định của pháp luật, mà cụ thể là một số quy định trong Nghị đinh
Trang 2821
93/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực KDBH, kinh doanh sổ số, Cục quản lý, giám sát bảo hiểm thực hiện biện pháp pháp lý, mà
cụ thể là biện pháp trách nhiệm pháp lý hành chính đối với những chủ thể thực hiện hành vi TLBH nhằm hạn chế TLBH
Tòa án, hầu hết các tranh chấp hợp đồng BHNT đều được thực hiện tại tòa án trong đó có rất nhiều vụ việc TLBH được phát hiện thông qua giải quyết các tranh chấp bảo hiểm tại tòa án, phổ biến là hành vi khai báo không trung thực tình trạng của người được bảo hiểm để được chấp nhận bảo hiểm
và sau đó được trả tiền bảo hiểm Như vậy, trên cơ sở áp dụng các quy định của pháp luật tòa án đưa ra phán quyết của mình Do đó, tòa án cũng chính là một trong những chủ thể thực hiện biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT
Thứ ba, mục đích của việc thực hiện các biện pháp pháp lý nhằm hạn
chế tiến tới loại bỏ hành vi trục lợi BHNT
Các biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi bảo hiểm nhân thọ
Một là, DNBH đưa các điều khoản loại trừ trách nhiệm khi có hành vi TLBH vào hợp đồng BHNT, là cơ sở để từ chối bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi có hành vi trục lợi xảy ra Đây chính là những biện pháp phòng ngừa và
dự liệu trước đối với những hành vi trục lợi BHNT Bên cạnh đó, khi đã có hành vi TLBH diễn ra, DNBH sử dụng các chế tài trong Luật KHBH để từ chối giao dịch hoặc từ chối thực hiện nghĩa vụ dân sự theo hợp đồng (bồi thường/ trả tiền bảo hiểm) bằng cách tuyên bố “hợp đồng vô hiệu” hoặc “đình chỉ hợp đồng”
Hai là, Cục quản lý, giám sát bảo hiểm truy cứu trách nhiệm hành chính đối với những chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực KDBH trong đó TLBH cũng là một trong những hành vi phạm hành chính trong lĩnh vực này
Trang 2922
Do vậy, trên cơ sở áp dụng một số quy định trong Nghị đinh 93/2013/NĐ-CP
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực KDBH, kinh doanh sổ số, Cục quản lý, giám sát bảo hiểm thực hiện biện pháp pháp lý, mà cụ thể là biện pháp trách nhiệm pháp lý hành chính đối với những chủ thể thực hiện hành vi TLBH nhằm hạn chế TLBH
Ba là, khi có tranh chấp về hợp đồng BHNT mà người tham gia bảo hiểm khởi kiện ra Tòa án yêu cầu DNBH phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm, trên cơ sở những điều khoản loại trừ khi có hành vi TLBH đã dự liệu trước trong HĐBH cùng với những quy định của pháp luật, đặc biệt là những kết quả thu được từ phía DNBH về việc giám định, xác minh những hành vi có dấu hiệu TLBH, Tòa án giải quyết các tranh chấp về hợp đồng BHNT, từ chối bồi thường, trả tiền bảo hiểm và áp dụng các chế tài được quy định trong Luật KDBH đối với những hành vi có dấu hiệu TLBH Thêm vào đó, khi những hành vi TLBH, có đầy đủ những yếu tố cấu thành tội phạm chẳng hạn liên quan đến lừa đảo chiếm đoạt tài sản… Tòa án sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể theo quy định của Bộ luật Hình sự
1.2 Khái quát pháp luật điều chỉnh về trục lợi bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam hiện nay
1.2.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật về trục lợi bảo hiểm nhân thọ
Như đã trình bày ở phần trước, có thể thấy trục lợi BHNT là một hành
vi nguy hiểm cho xã hội và chứa đựng nhiều nguy cơ đe doạ đến sự phát triển của hoạt động KDBH nói riêng và nền kinh tế nói chung Do đó, xuất phát từ
sự nhận thức này mà trục lợi BHNT phải được pháp luật điều chỉnh nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHNT
Trang 30được, rủi ro luôn có thể xảy đến bất cứ lúc nào và với bất kỳ ai Không ai
khẳng định là mình chưa bao giờ gặp rủi ro, trước rủi ro của cuộc đời, con người thường có 4 sự lựa chọn: Chấp nhận rủi ro, né tránh rủi ro, kiểm soát rủi ro, chuyển giao rủi ro, trong đó chuyển giao rủi ro là phương án tốt nhất
để con người có thể đối phó với rủi ro, hình thức này được hiểu là chuyển giao rủi ro cho một công ty bảo hiểm, công ty bảo hiểm sẽ thay cho con người chịu gánh nặng rủi ro khi chuyện không may xảy đến với họ, mọi người sẽ cùng chia sẻ rủi ro, đó cũng chính là ý nghĩa của BHNT
Có những rủi ro lớn của cuộc đời, nó không chỉ làm con người ta đau đớn mà còn ảnh hưởng đến những người thân, con cái, bố mẹ, gia đình Những rủi ro làm bản thân họ thiệt hại lớn về tài chính, mà gánh nặng thuộc
về những người thân, một điều chắc chắn rằng không ai muốn gia đình phải đau khổ khi chịu những gánh nặng đó cho bản thân mình, đó là những rủi ro
về thương tật, bệnh hiểm nghèo, tính mạng BHNT ra đời, rủi ro sẽ chuyển giao lại cho các công ty bảo hiểm, khi rủi ro xảy đến, một khoản tài chính sẽ được bù đắp đảm bảo cho người được bảo hiểm an tâm rằng gia đình sẽ không phải chịu những khoản tài chính lớn BHNT bảo vệ tài chính cho người được bảo hiểm và gia đình để sự không may mắn đó được giảm nhẹ đi chứ không bị nhân lên do phải gánh chịu thêm khoản tài chính lớn sau đó
Như vậy, thực chất BHNT là một bản hợp đồng giữa người tham gia bảo hiểm và công ty BHNT, với mục đích bảo hiểm cho người đó hoặc người
Trang 3124
thân (bố, mẹ, con cái) của họ… khi rủi ro xảy ra, công ty bảo hiểm sẽ căn cứ trên HĐBH để chi trả quyền lợi bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm với một điều cơ bản là không có phí bảo hiểm nào lại cao hơn tổng số tiền bảo hiểm mà công ty bảo hiểm thanh toán khi đáo hạn hợp đồng Chính điều này
đã khơi gợi sự tham vọng lợi ích kinh tế của những người tham gia bảo hiểm, bản thân người tham gia bảo hiểm không mong muốn rủi ro sẽ xảy ra với mình hay với người thân của mình, nhưng họ vẫn muốn nhận tiền bảo hiểm, tiền bồi thường bảo hiểm từ phía công ty bảo hiểm do đó đã thực hiện những hành vi tạo dựng sự kiện bảo hiểm giả nhằm mục đích TLBH từ công ty bảo hiểm, thậm chí có những trường hợp khi biết việc tham gia BHNT khi sự kiện bảo hiểm xảy ra sẽ đem lại cho bản thân và gia đình một khoản tiền lớn, người tham gia bảo hiểm đã tìm cách cung cấp những thông tin sai sự thật để nhằm che đậy tình trạng thực tế của mình hay người được bảo hiểm (ví dụ: mắc các căn bệnh hiểm nghèo, hay người đã chết mua bảo hiểm xong mới khai tử…) trước khi giao kết HĐBH, để trục lợi BHNT với sự tin tưởng chắc chắn rằng sự kiện bảo hiểm sẽ xảy ra
Bên cạnh đó, xuất phát từ thực trạng trục lợi BHNT ở nước ta hiện nay,
dù chỉ là một loại hình bảo hiểm mới xuất hiện trên thị trường bảo hiểm, nhưng hoạt động trục lợi xảy ra đối với lĩnh vực BHNT lại có sự gia tăng nhanh về số lượng Bằng chứng là, theo Cục quản lý, giám sát bảo hiểm, giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2013, toàn thị trường BHNT thống kê được khoảng 52.860 vụ trục lợi với số tiền bị trục lợi ước tính khoảng 530 tỷ đồng Trung bình hàng năm có khoảng 9.000 trường hợp TLBH được phát hiện[20], gây thất thoát hàng trăm tỷ đồng của các DNBH, gián tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm trung thực cũng như gây mất an ninh, trật tự xã hội Từ lẽ đó, việc đặt ra một cơ chế pháp lý vững chắc hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay
Trang 3225
1.2.1.2 Xuất phát từ hậu quả nguy hại của hành vi trục lợi BHNT
Trục lợi BHNT nói riêng và TLBH nói chung là một hoạt động không chỉ gây bất lợi đối DNBH mà còn ảnh hưởng đến khách hàng và nguy hiểm hơn là tác động tiêu cực đến xã hội nói chung
Thứ nhất, TLBH để lại những hậu quả rất nặng nề đối với DNBH Nó không những làm giảm lợi nhuận, hiệu quả kinh doanh của DNBH mà còn gây tác động xấu đến uy tín của DNBH đó trên thị trường Rõ ràng, cơ quan truyền thông, báo chí có xu hướng đứng về phía về phía người tham gia bảo hiểm Cho nên, khi xảy ra bất kỳ trường hợp nào DNBH từ chối giải quyết quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm thì truyền thông, dư luận thường lên
án DNBH đó, mặc dù việc từ chối giải quyết quyền lợi có thể xuất phát từ hành vi trục lợi từ phía người tham gia bảo hiểm nhưng do sự thiếu chuyên môn về pháp luật nên các cơ quan truyền thông chỉ chú trọng vào việc bảo vệ người tham gia bảo hiểm chứ ít khi quan tâm đến những mất mát, thiệt hại của DNBH
Thứ hai, TLBH cũng gây ra tác động xấu đến quyền lợi của các khách hàng đã ký hợp đồng với DNBH bị trục lợi Có thể thấy, bản chất của hoạt động bảo hiểm là việc DNBH gom góp, tích luỹ những khoảng phí bảo hiểm
mà khách hàng đã đóng và dùng khoảng tiển đã tích luỹ đó để giải quyết quyền lợi cho các trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm Cho nên, hành vi TLBH cũng gây thiệt hại một cách gián tiếp đến quyền lợi của các khách hàng tham gia bảo hiểm chân chính vì khoảng phí mà họ đã đóng được sử dụng để chi trả cho những hành vi gian lận, lừa đảo
Thứ ba, đối với xã hội, TLBH cũng gây ra những tác động xấu đến đạo đức, cách hành xử của con người trong xã hội Bỡi lẽ, TLBH sẽ làm mất đi tính lành mạnh, công bằng của môi trường kinh doanh, hơn nữa còn tha hoá,
Trang 3326
biến chất một bộ phận công chức Nhà nước (do một số thủ đoạn TLBH phải
có sự phối hợp, móc nối với những người có thẩm quyền trong các cơ quan Nhà nước), và thậm chí có thể dẫn đến thái độ xem thường pháp luật
Từ những lý do trên, có thể kết luận rằng, trong giai đoạn hiện nay, TLBH đã trở thành một nguy cơ lớn cho xã hội, kìm hãm sự phát triển kinh tế thị trường và do đó nó cần phải bị ngăn chặn bởi một cơ chế pháp lý vững chắc, hiệu quả
1.2.2 Nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh về trục lợi bảo hiểm nhân thọ
Thứ nhất, nguyên tắc công khai minh bạch
Công khai minh bạch có vai trò hết sức quan trọng không chỉ nhằm đảm bảo cho hợp đồng BHNT được giao kết và thực hiện mà còn là một trong những nguyên tắc trong việc điều chỉnh pháp luật về TLBH
Nguyên tắc công khai minh bạch thể hiện rõ nét nhất ở việc công khai minh bạch thông tin Về phía DNBH phải đảm bảo cung cấp thông tin trung thực khi giao kết và thực hiện hợp đồng BHNT Đối tượng hướng tới của DNBH khi công bố thông tin bao gồm khách hàng của DNBH; cơ quan giám sát và công chúng Trước tiên, DNBH có trách nhiệm đảm bảo cho bên mua bảo hiểm hoàn toàn hiểu rõ các quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng Bên cạnh đó, bên mua bảo hiểm có thể lường trước những khó khăn, rủi ro mà mình có thể gặp phải khi giao kết và thực hiện hợp đồng Và cuối cùng, DNBH không thể che giấu hoạt động của chính mình trước cơ quan giám sát
và công chúng
Bên cạnh đó khi tiến hành giao kết và thực hiện hợp đồng BHNT với DNBH, người tham gia bảo hiểm cũng phải kê khai trung thực những thông tin có liên quan đến đối tượng bảo hiểm và được bảo mật những thông tin này
Trang 3427
Cân bằng với những nghĩa vụ công khai minh bạch thông tin của DNBH, người tham gia bảo hiểm cũng phải trung thực trong công bố thông tin khi giao kết, thực hiện hợp đồng nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng cho DNBH khi tính toán mức độ rủi ro bảo hiểm và ngăn chặn hành vi lừa dối, cung cấp thông tin sai sự thật của người mua bảo hiểm để hạn chế TLBH
Thứ hai, nguyên tắc mọi người không dám trục lợi BHNT
TLBH nói chung và trục lợi BHNT nói riêng là hành vi vi phạm pháp luật, do đó các chủ thể thực hiện hành vi TLBH phải chịu trách nhiệm pháp lý
do chính hành vi TLBH của mình gây ra, đây là hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ thể thực hiện hành vi TLBH thể hiện qua việc họ phải gánh chịu những biện pháp cưỡng chế nhà nước đã được quy định trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật vì sự vi phạm pháp luật của họ Chính vì lẽ đó, pháp luật điều chỉnh về trục lợi BHNT đưa ra các chế tài về dân sự, chế tài về hành chính, chế tài về hình sự đây là hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ thể thực hiện hành vi TLBH thể hiện qua việc họ phải gánh chịu những sự thiệt hại về tài sản, về nhân thân, về tự do… Như vậy, bên cạnh tính trừng phạt, những chế tài này còn mang tính chất răn đe, qua đó mọi người không dám thực hiện hành vi TLBH
Thứ ba, nguyên tắc bình đẳng
Trong giao kết và thực hiện HĐBH quyền lợi của người tham gia bảo hiểm được bình đẳng với DNBH Mặc dù nội dung nguyên tắc bình đẳng này được pháp luật ghi nhận, nhưng do đặc thù của quan hệ bảo hiểm, nhất là đối với BHNT khi người tham gia bảo hiểm thường là từng cá nhân riêng lẻ thì DNBH thường có vị thế mạnh hơn khi giao kết và thực hiện hợp đồng Do đó, đối với những vụ việc có hành vi trục lợi khi áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp bảo hiểm có dấu hiệu TLBH nguyên tắc bình đẳng phải được đặc
Trang 3528
biệt coi trọng, tránh tình trạng vì DNBH có vị thế mạnh hơn khi giao kết và thực hiện hợp đồng mà khi giải quyết tranh chấp cơ quan xét xử lại ưu tiên đứng về phía người mua bảo hiểm
1.2.3 Một số nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh về bảo hiểm nhân thọ nhằm hạn chế trục lợi bảo hiểm nhân thọ
1.2.3.1 Quy định pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm trước khi giao kết hợp đồng bảo hiểm
Nghĩa vụ cung cấp thông tin của người mua BHNT là một quy định điều chỉnh về trục lợi BHNT là vì các thủ đoạn TLBH thông thường được thực hiện dưới những hình thức đưa ra những thông tin sai lệch, bị bóp méo
để thu về những khoảng lợi bất chính từ phía DNBH Đó có thể là hành vi cố tình che giấu thông tin về sức khoẻ hoặc là hành vi đưa ra những thông tin gian dối về tình trạng bệnh tật, tử vong của người được bảo hiểm…Cho nên, việc đặt ra nghĩa vụ cung cấp thông tin theo pháp luật KDBH đã tạo ra một khung pháp lý vững chắc nhằm bắt buộc người mua bảo hiểm phải minh bạch hoá những thông tin về mình và những chủ thể khác như người thụ hưởng, người được bảo hiểm (nếu có) Điều này dẫn đến hệ quả là, bất kỳ sự vi phạm nào đối với nghĩa vụ này đều là cơ sở để DNBH áp dụng các chế tài theo quy định của pháp luật như là một sự chống lại các hành vi gian dối, lừa đảo này
Cơ sở hình thành nên quy định pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong quan hệ thương mại nói chung là tất cả các giao dịch kinh doanh cần thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau Trong thực tế, các bên khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh không được phép có bất kỳ hành vi gian lận hay mưu toan lừa đảo nào Điều này không có nghĩa rằng, người bán phải có nghĩa vụ chỉ ra các khiếm khuyết đối với sản phẩm mà họ bán ra, tuy nhiên, khi giới thiệu, thông báo hoặc trả lời câu hỏi, người bán hàng phải đưa ra
Trang 3629
những câu trả lời trung thực Mặt khác, trong hoạt động KDBH nói chung, DNBH không bán sản phẩm hữu hình mà bán sản phẩm vô hình, sản phẩm có thể hình thành hoặc không hình thành trong tương lai Tại thời điểm bán bảo hiểm, “sản phẩm” bảo hiểm là chưa có Vì vậy, để đảm bảo thực hiện hoạt động kinh doanh của DNBH, pháp luật KDBH phải tuân thủ nguyên tắc trung thực, tuyệt đối và phải có những quy định phù hợp với đặc thù của hoạt động kinh doanh này Để tuân thủ nguyên tắc trung thực tuyệt đối, người mua bảo hiểm phải có trách nhiệm khai báo cho DNBH biết về mọi yếu tố liên quan đến đối tượng bảo hiểm Nếu trong hợp đồng mua bán thông thường, nguyên tắc thông báo trước (về hàng hóa được đem ra bán) luôn luôn được áp dụng đối với bên bán, và hai bên mua, bán đều biết được (bằng mắt thường) về đối tượng của quan hệ mua bán, thì trong HĐBH cả bên mua và bên bán đều không thấy được bằng mắt thường sản phẩm mà mình mua, bán tại thời điểm giao kết hợp đồng Đặc biệt, trong quan hệ mua bán này, chỉ có một bên (bên yêu cầu bảo hiểm - bên mua bảo hiểm) biết rõ các đặc điểm có thể liên quan đến rủi ro đối với đối tượng mà mình yêu cầu bảo hiểm, còn bên kia (người bảo hiểm - DNBH) thường không biết được những điều đó DNBH gần như phụ thuộc hoàn toàn vào những thông tin do người mua bảo hiểm cung cấp để xét đoán mức độ rủi ro và quyết định thái độ của mình trong việc có chấp nhận bảo hiểm hay không Do hoạt động KDBH có đặc điểm các chủ thể thực hiện hoạt động KDBH phải là những chủ thể có trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ nhất định trong lĩnh vực bảo hiểm nên sự am hiểu của họ trong lĩnh vực này tốt hơn bên mua bảo hiểm Vì vậy, họ cũng phải có nghĩa vụ cung cấp những thông tin cần thiết liên quan đến dịch vụ bảo hiểm mà họ cung ứng Để quán triệt đặc trưng này của bảo hiểm, pháp luật bảo hiểm Việt Nam đã cụ thể hóa nguyên tắc này tại Điều 19 Luật KDBH Ngoài ra, còn phải kể đến một đặc thù: hoạt động KDBH là hoạt động mang tính nghiệp vụ cao, kỹ thuật
Trang 3730
BHNT mang tính trừu tượng và khó hiểu Các quy tắc, điều khoản bảo hiểm chứa đựng những thuật ngữ chuyên ngành thường khó hiểu, nên dẫn đến việc một số khách hàng khó nắm được nội dung của nó Như vậy, nếu thiếu sự cung cấp các thông tin liên quan đến HĐBH, bên mua bảo hiểm khó có thể đi đến quyết định giao kết hợp đồng
Theo quy định tại Điểm b, Khoản 2 Điều 18, Luật KDBH thì: “Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết có liên quan đến HĐBH theo yêu cầu của DNBH”[27] Và để đảm bảo nguyên tắc trung thực tuyệt đối của hoạt động KDBH, bên mua bảo hiểm cũng phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của những thông tin mà họ đưa ra Tuy nhiên, như đã trình bày, chỉ có DNBH là người biết rõ nhất sản phẩm bảo hiểm mà mình bán ra, bao gồm những thông tin nào là cần thiết cho việc hình thành nên quan hệ HĐBH, do vậy, pháp luật cho phép bên mua bảo hiểm phải cung cấp các thông tin liên quan đến HĐBH theo yêu cầu của DNBH
Ngoài ra trách nhiệm cung cấp thông tin của bên mua bảo hiểm còn được quy định tại Điểm c, Khoản 2, Điều 18 Luật KDBH: “Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ thông báo những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của DNBH trong quá trình thực hiện HĐBH theo yêu cầu của DNBH”[27]
Việc người tham gia bảo hiểm thực hiện đúng nghĩa vụ cung cấp thông tin là cơ sở cho DNBH đánh giá rủi ro, chấp nhận bảo hiểm hay không và thuận theo thỏa thuận của cụ thể về một số HĐBH hoặc khi xảy ra những thay đổi đến việc thực hiện hợp đồng đặc biệt là những yếu tố liên quan tới thông tin trọng yếu đã cung cấp khi giao kết hợp đồng đến cả những thay đổi làm gia tăng rủi ro thì bên mua bảo hiểm phải thông báo ngay cho DNBH
Trang 3831
Hậu quả pháp lý của việc cung cấp thông tin sai sự thật:
Việc cố ý cung cấp thông tin sai sự thật của người mua bảo hiểm nhằm giao kết HĐBH để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường thực chất cũng là một hành vi lừa dối Bởi một hành vi bị coi là lừa dối khi giao kết hợp đồng thông thường được xác định dựa trên các tiêu chí sau: đưa ra thông tin sai lệch về một sự việc; bản thân người đưa ra thông tin biết rõ rằng thông tin
đó sai lệch sự thật; với chủ ý làm cho người nghe tin vào thông tin đó; người nhận thông tin đã tin tưởng vào thông tin đó nên giao kết hợp đồng và có thiệt hại xảy ra Nói cách khác, lừa dối là việc một bên có những thủ đoạn (che giấu thông tin, cung cấp thông tin sai lệch) nhằm làm cho bên kia nhầm lẫn và
vì vậy đã giao kết hợp đồng Bộ luật dân sự Pháp cũng quy định hành vi lừa dối bao gồm hai yếu tố cấu thành: yếu tố cố ý (lừa dối là một hành vi cố ý, bên này chủ ý lừa dối bên kia) và yếu tố hiện thực (phải có thủ đoạn gian dối -
sự cố ý không cung cấp thông tin quan trọng mà nếu biết được thông tin đó thì người kia đã không ký kết hợp đồng)
Tuy nhiên, HĐBH là một loại hợp đồng chuyên biệt nên hậu quả pháp
lý của hành vi này sẽ chịu sự điều chỉnh của luật riêng - Luật KDBH, trừ khi Luật riêng không quy định hoặc dẫn chiếu tới Luật chung - Bộ luật dân sự Đối với hành vi lừa dối, Luật KDBH có những quy định sau:
Nếu là hành vi cố ý cung cấp thông tin sai sự thật của người mua bảo hiểm sẽ áp dụng Khoản 2 Điều 19 Luật KDBH: “DNBH có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện HĐBH và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện HĐBH khi bên mua bảo hiểm có một trong những hành vi sau đây: + Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết HĐBH để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường
Trang 3932
+ Không thực hiện các nghĩa vụ trong việc cung cấp thông tin cho DNBH theo qui định tại điểm c khoản 2 Điều 18 của Luật này” (Thông báo những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của DNBH trong quá trình thực hiện HĐBH theo yêu cầu của DNBH)”
Còn là hành vi lừa dối khác thì áp dụng khoản 1 Điều 22 Luật KDBH:
“HĐBH vô hiệu trong các trường hợp… Bên mua bảo hiểm hoặc DNBH có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng…”
Như vậy, về hậu quả pháp lý về việc cung cấp thông tin sai sự thật của bên mua bảo hiểm khi giao kết HĐBH có hai cách xử lý khác nhau cùng được quy định trong Luật KDBH
1.2.3.2 Quy định về xử lý vi phạm hợp đồng bảo hiểm đối với đại lý bảo hiểm
Khi phát hiện ĐLBH có hành vi vi pha ̣m về HĐBH, có dấu hiệu TLBH tất cả công ty bảo hiểm đều cần phân tích , đánh giá về tài li ệu, chứng cứ có trong hồ sơ vu ̣ việc và căn cứ vào những quy đi ̣nh trong HĐBH, hợp đồng đa ̣i
lý, quy đi ̣nh của pháp lu ật để xác đi ̣nh trách nhi ệm của mình đối với hành vi
vi pha ̣m của ĐLBH
Theo Điều 84 Luật KDBH, quan hệ giữa DNBH và đa ̣i lý là quan hệ ủy quyền trên cơ sở hợp đồng đa ̣i lý , trong đó , Bên ủy quyền là DNBH , Bên được ủy quyền là ĐLBH Với tính chất quan h ệ ủy quyền này, khi Đa ̣i lý có hành vi vi phạm, trách nhiệm của DNBH đối với khách hàng sẽ được xem xét dựa trên những quy đi ̣nh pháp lý sau:
Điều 88 Luật KDBH quy đi ̣nh: “Trong trường hợp ĐLBH vi pha ̣m hợp đồng ĐLBH, gây thiệt ha ̣i đến quyền , lợi ích hợp pháp của người được bảo hiểm thì DNBH vẫn phải chi ̣u trách nhi ệm về HĐBH do ĐLBH thu xếp giao
Trang 4033
kết; ĐLBH có trách nhiệm bồi hoàn cho DNBH các khoản tiền mà DNBH đã bồi thường cho người được bảo hiểm”[27]
Điểm e, Khoản 2 Điều 29 Nghị định 45/2007/NĐ-CP quy đi ̣nh “DNBH
có nghĩa vụ chịu trách nhi ệm về những thi ệt ha ̣i hay tổn thấ t do hoa ̣t đ ộng ĐLBH của mình gây ra theo thỏa thu ận trong hợp đồng ĐLBH” [6] Khoản 2 Điều 35 Thông tư 135/2012/TT- BTC Hướng dẫn triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vi ̣ quy đi ̣nh “DNBH phải chi ̣u trách nhi ệm về những thi ệt hại hay tổn thất do hoa ̣t đ ộng đa ̣i lý của mình gây ra theo thỏa thu ận ta ̣i hợp đồng đa ̣i lý”[3]
Ngoài ra, Bộ luật dân sự 2005 cũng quy định “Bên ủy quyền chịu trách nhiệm về cam kết do bên được ủy quyền thực hi ện trong pha ̣m vi ủy quyề n" Khoản 2 Điều 586 và “Bên ủy quyền phải thông báo bằng văn bản cho người thứ ba biết về việc bên ủy quyền chấm dứt thực hi ện hợp đồng ủy quyền, nếu không thông báo thì hợp đồng với người thứ ba vẫn có hi ệu lực, trừ trường hợp người thứ ba biết ho ặc phải biết về vi ệc hợp đồng ủy quyền bi ̣ chấm dứt”[29] - Khoản 1 Điều 588
Như vậy, khi ĐLBH vi phạm hợp đồng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được bảo hiểm thì DNBH vẫn phải chịu trách nhiệm về HĐBH do ĐLBH thu xếp giao kết; ĐLBH có trách nhiệm bồi hoàn cho DNBH các khoản tiền mà DNBH đã bồi thường cho người được bảo hiểm nhằm đảm bảo quyền lợi cho bên mua bảo hiểm trong trường hợp ĐLBH vi phạm
1.2.3.3 Quy định về chế tài xử lý hành vi trục lợi bảo hiểm
Xét dưới góc độ pháp lý, TLBH là hành vi vi phạm pháp luật Do đó, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, hậu quả gây ra, phương thức và thủ đoạn thực hiện mà người thực hiện hành vi vi phạm có thể bị xử lý về dân sự theo