Là một trong những chính sách về ASXH, quyền được BHTN đã được quan tâm song, thực tế cho thấy còn nhiều khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện như: đối tượng tham gia B
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HOA
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HOA
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lí luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số : 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Duyên Thảo
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Hoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Kính thưa các thầy cô trong Hội đồng khoa học
Kính thưa các thầy giáo, cô giáo, các quý vị đại biểu cùng toàn thể các bạnTrong suốt hai năm ho ̣c tâ ̣p và nghiên cứu có được kết quả hôm nay , ngoài sự nỗ lực của bản thân, em còn được sự quan tâm giúp đỡ của quý thầy,
cô Khoa Luâ ̣t, ĐHQG Hà Nô ̣i; đă ̣c biê ̣t là sự hướng dẫn tâ ̣n tâm và đầy trách nhiê ̣m của TS Pha ̣m Thi ̣ Duyên Thảo; sự nhâ ̣n xét, đóng góp vô cùng quý báu của các nhà khoa học trong Hội đồng; Sự giúp đỡ, tạo điều kiện của giáo viên chủ nhiệm lớp; cùng sự giúp đỡ, cổ vũ, đô ̣ng viên của ba ̣n bè, anh, chị, em lớp Lý luận khóa 19 Bên ca ̣nh đó, em còn nhâ ̣n được sự quan tâm giúp đỡ , đô ̣ng viên từ phía Ban giám hiệu, anh, chị, em đồng nghiê ̣p ta ̣i Trường cao đẳng Thương Ma ̣i và Du li ̣ch, nơi em công tác
Nhân buổi bảo vê ̣ luâ ̣n văn hôm nay , cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn các nhà khoa ho ̣c , các thầy cô Khoa Luật , ĐHQG Hà Nô ̣i, Ban giám hiê ̣u cùng toàn thể đồng nghiê ̣p Trường cao đẳng Thương Ma ̣i và Du li ̣ch Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Pha ̣m Thi ̣ Duyên Thảo người đã trực tiếp hướng dẫn khoa ho ̣c để em bảo vê ̣ hoàn thành luâ ̣n văn thạc sỹ Luật học của mình Em cũng xin gửi lời cảm ơn những người thân trong gia đình cùng toàn thể ba ̣n bè luôn đô ̣ng viên và ta ̣o điều kiê ̣n để em hoàn thành khóa đào tạo Em tin rằng , tất cả những tình cảm mà em có được sẽ là sự đô ̣ng viên , tiếp thêm sức ma ̣nh để em tiếp tu ̣c vững bước trên con đường học tập, nghiên cứu và công tác sau này
Cuối cùng em xin kính chúc các nhà khoa ho ̣c , các thầy cô , quý vị đại biểu cùng toàn thể anh chi ̣ em, bạn bè sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt
Xin trân tro ̣ng cảm ơn
Trang 5BẢNG VIẾT TẮT
Người sử du ̣ng lao đô ̣ng NSDLĐ
Trang 6MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
BẢNG VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 6
1.1 Bảo hiểm thất nghiệp 6
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp 6
1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp 8
1.2 Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 10
1.2.1 Khái niệm pháp luật bảo hiểm thất nghiệp 10
1.2.2 Nội dung của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 13
1.3 Vai tro ̀, mục đích của pháp luật BHTN 22
1.4 Các yếu tố tác động đến pháp luật bảo hiểm thất nghiệp 25
1.4.1 Các yếu tố tác động đến việc xây dựng , ban ha ̀nh pháp luật bảo hiểm thất nghiê ̣p 25
1.4.2 Các yếu tố tác động đến việc thư ̣c hiê ̣n pháp luật BHTN 27
1.5 Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 28
1.6 Khái lược lịch sử phát triển của pháp luật bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 32
1.6.1 Giai đoa ̣n từ năm 1945 đến năm 1985 32
1.6.2 Giai đoa ̣n từ năm 1986 đến năm 1994 33
1.6.3 Giai đoa ̣n từ năm 1994 đến năm 2006 35
1.6.4 Giai đoa ̣n từ năm 2006 đến nay 38
1.7 Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở một số nước trên thế giới, kinh nghiệm với Việt Nam 40
Trang 71.7.1 Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp của Trung Quốc 40
1.7.2 Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp của Nga 42
1.7.3 Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp của Thụy Điển 43
Kết luâ ̣n chương 1 45
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤ T NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 47
2.1 Hê ̣ thống các văn bản pháp luâ ̣t điều chỉnh vấn đề bảo hiểm thất nghiê ̣p ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay 47
2.1.1 Các Điều ước quốc tế liên quan đến bảo vệ việc làm và chống thất nghiê ̣p mà Viê ̣t Nam đã gia nhập 47
2.1.2 Hê ̣ thống các văn bản quy phạm do Nhà nước ban hành liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp 47
2.2 Nguyên tắc của bảo hiểm thất nghiệp trong pháp luật bảo hiểm thất nghiệp Việt Nam 49
2.2.1 Bảo hiểm thất nghiệp phải gắn liền TCTN với giải quyết việc làm cho người thất nghiê ̣p 49
2.2.2 Trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp phải đảm bảo khuyến khích ngươ ̀ i thất nghiê ̣p chủ động tìm kiếm việc làm 50
2.2.3 Mức hưởng BHTN được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng và có sự chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHTN 51
2.2.4 Quỹ bảo hiểm thất nghiệp phải có sự hỗ trợ của nhà nước 52
2.3 Thực trạng các quy định pháp luật về BHTN ở Việt Nam 52
2.3.1 Về đối tượng tham gia BHTN 52
2.3.2 Về điều kiê ̣n hưởng BHTN 55
2.3.3 Về ca ́ c chế độ bảo hiểm thất nghiê ̣p 60
2.3.4 Về quỹ bảo hiểm thất nghiệp 70
2.4 Thành tựu cu ̉ a hê ̣ thống pháp luâ ̣t về BHTN ở Việt Nam 73
Trang 82.4.1 Thành tựu ở góc độ các quy định pháp luật hiện hành về bảo hiểm
thất nghiệp 73
2.4.2 Thành tựu từ thực tiễn điều chỉnh của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 77
2.5 Hạn chế và những vấn đề đang đặt ra của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 83
2.5.1 Những hạn chế của pháp luật bảo hiểm thất nghiệp 83
2.5.2 Những vấn đề đang tồn tại đối với pháp luật và quá trình vận hành pháp luật bảo hiểm thất nghiệp 86
2.6 Nguyên nhân những thành tựu và hạn chế của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 90
2.6.1 Nguyên nhân cu ̉ a những thành tựu 90
2.6.2 Nguyên nhân cu ̉ a những hạn chế 91
Kết luâ ̣n chương 2 94
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM 97
3.1 Các phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 97
3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 101
3.2.1 Mở rộng đối tượng có thể tham gia bảo hiểm thất nghiệp để đảm bảo công bằng xã hội và đảm bảo sự tương thích với pháp luật quốc tế 101
3.2.2 Quy định hợp lý, linh hoạt hơn về điều kiện tham gia bảo hiểm thất nghiệp để đảm bảo quyền lợi cho người lao động 102
3.2.3 Tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm việc làm, quỹ bảo hiểm thất nghiệp 103
Trang 93.2.4 Bổ sung quy chế đảm bảo, ràng buộc trách nhiệm của người sử dụng lao động, của nhà nước trong các vấn đề liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp 104 3.2.5 Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp cần phải đảm bảo hơn nữa mức độ tương thích với các quy định trong các điều ước quốc tế liên quan 105 3.2.6 Đảm bảo sự tham gia thực sự của những người lao động, của các tổ chức xã hội nghề nghiệp trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp 106 3.2.7 Cần tăng cường công tác hướng dẫn, quy định chi tiết thi hành, giải thích pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 107 3.2.8 Cần tăng cường hợp tác quốc tế trong quá trình xây dựng, thực hiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 107
3.3 Các giải pháp hỗ trợ để nâng cao hiệu quả của pháp luật về ba ̉ o hiểm thất nghiê ̣p trong thực tiễn 108
3.3.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến gia ́ o dục pháp luật BHTN cho NLĐ 108 3.3.2 Tiếp tu ̣c kiê ̣n toàn tổ chức , bộ máy cơ quan quản lý nhà nước về BHTN; Nâng cao chất lươ ̣ng di ̣ch vụ và công tác thực hiê ̣ n chế độ BHTN
109
3.3.3 Tăng cươ ̀ng công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ BHTN, có cơ chế xử lý đủ mạnh để xử lý vi phạm , giải quyết tranh chấp về BHTN 111 3.3.4 Kiê ̣n toàn công tác quản lý lao động thất nghiê ̣p , chi trả quyền lợi bảo hiểm thất nghiệp 112
Kết luận chương 3 112 KẾT LUẬN 114 TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mất việc làm, thất nghiệp luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của xã hội không chỉ ở Việt Nam mà ở cả trên thế giới Sự suy thoái của nền kinh tế, kinh doanh thua lỗ, nợ đọng kéo dài là những nguyên nhân có thể khiến nhiều doanh nghiệp phá sản , góp phần gia tăng tình trạng thất nghiệp hàng loạt đối với người lao động Thất nghiệp làm người lao động mất đi khoản thu nhập vốn để nuôi sống bản thân và gia đình ho ̣ Tình trạng thất nghiệp kéo dài cùng với chất lượng cuộc sống không được đảm bảo sẽ làm suy giảm niềm tin của người lao động đến những chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thậm chí có thể gây ra biến động không tốt về chính trị
Như không ít quốc gia trên thế giới, trước những biến động của bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, Việt Nam cũng là quốc gia đã và đang chịu những ảnh hưởng nhất định của khủng hoảng kinh tế thế giới, trong đó có sự gia tăng số lượng người lao động mất việc làm Là một nước đang phát triển, với mức sống của người dân còn nhiều khó khăn, việc những người lao động
bị thất nghiệp đã tác động không nhỏ đến đời sống gia đình và xã hội của Việt Nam Do đó, việc hạn chế thất nghiệp và đảm bảo ổn định đời sống người lao động trong trường hợp bị thất nghiệp là yêu cầu và cũng là mục tiêu quan trọng của nhà nước ta
Nhâ ̣n thức được điều này, Đảng ta đã xác định: “Từng bước hình thành quỹ bảo trợ thất nghiệp ở thành thị, đảm bảo công ăn việc làm cho dân là mục tiêu hàng đầu, không để thất nghiệp trở thành căn bệnh kinh niên” [15] Chính sách này đã được đề cập và khẳng định lại trong nhiều văn kiện Đặc biệt, Bộ luật lao động năm 2013, Luật bảo hiểm xã hội ngày 29/6/2006 và Luật việc làm ngày 16/11/2013 là những văn bản pháp lý quan trọng góp phần bảo đảm quyền được BHTN cho NLĐ bị thất nghiệp
Là một trong những chính sách về ASXH, quyền được BHTN đã được quan tâm song, thực tế cho thấy còn nhiều khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện như: đối tượng tham gia BHTN còn hạn chế dẫn tới một bộ phận không nhỏ NLĐ chưa được bảo đảm quyền lợi khi họ bị mất việc làm; tình trạng NSDLĐ nợ đóng BHTN; sự lợi dụng của NLĐ đối với
Trang 11việc chi trả BHTN, …Do vậy, việc tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm khắc phục tình trạng trên là hết sức cần thiết để bảo đảm quyền được BHTN cho người bị mất việc, góp phần củng cố niềm tin của NLĐ đối với chính sách, pháp luật của nhà nước, ổn định đời sống xã hội Hơn nữa, Điều 22 của Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền đã khẳng định: “Mọi người, như một thành viên của xã hội, có quyền ASXH và được quyền thực hiện, thông qua nỗ lực quốc gia và hợp tác quốc tế và phù hợp với tổ chức và các nguồn lực của mỗi quốc gia, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa không thể thiếu cho nhân phẩm của mình và sự phát triển tự do của nhân cách của mình”
Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn thạc sỹ luật học của mình
với mong muốn tìm ra những vướng mắc, tồn tại trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về BHTN, từ đó làm cơ sở để tìm ra những giải pháp nhằm bảo đảm quyền được BHTN
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Là một bộ phận cấu thành của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam về ASXH, tuy mới thực thi được sáu năm song BHTN đã phát huy vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vì thế, trong thời gian qua đã thu hút nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này, trong số đó cần phải kể đến các công trình:
Đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước “Nghiên cứu những nội dung cơ bản của BHTN hiện đại, vấn đề lựa chọn hình thức thất nghiệp tại Việt Nam” (2004) của TS Nguyễn Huy Ban đã nêu lên vấn đề thất nghiệp và BHTN, cũng như yêu cầu xây dựng chế độ BHTN ở Việt Nam
Luận án tiến sĩ luật học “Chế độ BHTN trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” (2005) của NCS Lê Thị Hoài Thu đã đi sâu nghiên cứu, trình bày một cách hệ thống những nội dung chủ yếu của chế độ BHTN, những yêu cầu đặt ra đối với việc xây dựng chế độ BHTN ở Việt Nam, đồng thời có sự so sánh với quy định của Tổ chức lao động quốc tế và một số nước trên thế giới Luận văn thạc sĩ luật học “BHTN trong luật bảo hiểm xã hội ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” (2014) của Ngô Thu Phương (2014) đã nêu ra một
Trang 12số nội dung cơ bản của BHTN cũng như thực trạng áp dụng BHTN ở Việt Nam sau 5 năm thực hiện
Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học pháp lý như: “BHTN và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ”; “Những bất cập trong thi hành pháp luật về BHTN”; “Kết quả 6 năm thực hiê ̣n BHTN theo quy đi ̣nh của Luâ ̣t bảo hiểm xã hô ̣i”; “Những điểm mới về chính sách BHTN” …
Qua các công trình nghiên cứu trên cho thấy , những vấn đề liên quan đến nội dung cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp đã được giải quyết Song, những cơ chế để giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật bảo hiểm thất nghiệp vẫn chưa thực sự đầy đủ, thâ ̣m chí còn yếu dẫn đến viê ̣c giải quyết hâ ̣u quả của tình trạng thất nghiệp mang lại hiệu quả không cao Điều này đòi hỏi cần phải có công trình nghiên cứu bổ sung , góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp
Hơn nữa , các công trình trên đã đi sâu vào nghiên cứu về những nô ̣i dung cơ bản của pháp luâ ̣t BHTN, đã chỉ ra thực tra ̣ng và giải pháp cho viê ̣c hoàn thiện pháp luật BHTN nhưng đó là những nghiên cứu trước khi chính sách BHTN ở Việt Nam chính thức ban hành , hay sau thời điểm chính sách ban hành nhưng chỉ tâ ̣p trung nghiên cứu theo từng mảng nô ̣i dung mà chưa đánh giá toàn diện về thực trạng pháp luật BHTN ở Việt Nam từ khi thực hiện cho đến nay Chính vì vậy, đề tài “Pháp luật về BHTN ở Việt Nam hiện nay ” sẽ làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về BHTN cũng như thực trạng BHTN ở nước ta từ khi có hiệu lực cho đến nay
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát là tập trung nghiên cứu phân tích chính sách, pháp luật về BHTN ở Việt Nam hiện nay, qua đó tìm ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về BHTN
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, các khái niệm có liên quan, nghiên cứu việc thu thập số liệu, căn cứ và o thực tra ̣ng của quá trình thực hiê ̣n chính sách, pháp luật BHTN ở việt Nam hiện nay , đề tài sẽ đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về BHTN
Trang 134 Tính mới và những đóng góp của luận văn
Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành
về BHTN và thực tiễn áp dụng các quy định đó, đề tài đã chỉ ra những vướng mắc, khó khăn còn tồn tại và đưa ra một số kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung những điểm còn chưa hợp lý, góp phần hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật BHTN, nâng cao hiệu quả áp dụng của BHTN trong đời sống xã hội hiện nay nhằm bảo đảm quyền được BHTN Những đóng góp có thể kể đến như: So sánh những ưu điểm , hạn chế của quy định cũ với quy định mới ; So sánh mức độ tương thích của pháp luâ ̣t BHTN của Việt Nam với các quy định của điều ước quốc tế ; Kinh nghiê ̣m cho viê ̣c xây dựng và thực hiê ̣n pháp luâ ̣t BHTN ở Việt Nam từ thực tiễn áp dụng pháp luật BHTN của Trung Quốc , Nga, Thụy Điển; Một số giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật BHTN
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu nô ̣i dung, vai trò , mục đích của pháp luâ ̣t về BHTN ở Việt Nam hiện nay; Các yếu tố tác động đến pháp luật BHTN; Lịch sử h ình thành và phát triển của pháp luật BHTN ở Việt Nam ; Pháp luật BHTN của Nga, Trung Quốc, Thụy Điển; Những thành tựu, hạn chế của pháp luật BHTN ở Việt Nam , từ đó đề ra các giải pháp hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t BHTN ở Việt Nam
Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về BHTN ở Việt Nam hiện nay
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cũng như quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật nói chung và về pháp luật BHTN nói riêng Nội dung nghiên cứu bám sát đường lối, chủ trương của Đảng về vấn đề an sinh xã hội, với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa gắn với việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong đó có quyền được BHTN
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa
Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, quan điểm tiếp cận các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trang 14Các phương pháp cụ thể được sử dụng trong luận văn gồm: phương pháp lôgíc, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp quy nạp - diễn dịch
7 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lí luận và thực tiễn của pháp luật về BHTN ở Việt Nam hiện nay; Nâng cao nhận thức của người dân đối với chính sách BHTN; Thực hiện pháp luật về BHTN của các cơ quan, tổ chức liên quan đến quyền được BHTN Luận văn cũng nêu ra những yêu cầu khách quan của nhiệm vụ hoàn thiện pháp luật về BHTN, qua đó đề ra những quan điểm, giải pháp nhằm bảo đảm quyền được BHTN trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Trên cơ sở phân tích thự c tra ̣ng pháp luâ ̣t BHTN ở Việt nam hiện nay , luâ ̣n văn đã chỉ ra những bất câ ̣p , khó khăn trong công tác áp dụng , thực thi pháp luật BHTN Bên ca ̣nh đó , luâ ̣n văn cũng đề ra mô ̣t số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật BHTN Điều này góp phần bổ khuyết cho những thiếu sót của những quy đi ̣nh trong pháp luật BHTN hiê ̣n ta ̣i, đồng thời
là cơ sở cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về BHTN trong thời gian tới
Các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung vào lí luận về BHTN, làm phong phú thêm lí luận chung về nhà nước và pháp luật Luận văn có thể là tài liệu tham khảo của các tổ chức, cá nhân có liên quan đến BHTN, và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp tục nghiên cứu về BHTN
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ
BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
1.1 Bảo hiểm thất nghiệp
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp
Khái niệm BHTN là một vấn đề lí luận cơ bản có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ các vấn đề liên quan tới chế định BHTN Việc xác định khái niệm BHTN có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật về BHTN; kiến tạo, thực thi quy trình, thủ tục giải quyết chế độ BHTN; xác định đối tượng của BHTN sao cho phát huy được cao nhất vị trí, vai trò của BHTN trong đời sống xã hội cũng như việc xác định vị trí, vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về BHTN Tùy thuộc vào từng khía cạnh của đời sống xã hội, BHTN được nhìn nhận, đánh giá ở nhiều góc độ khác nhau Dưới góc độ kinh tế - xã hội, BHTN được hiểu là giải pháp nhằm khắc phục hậu quả của tình trạng thất nghiệp, giúp NTN tạm thời đảm bảo được cuộc sống và tìm kiếm việc làm thông qua việc tạo lập và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung Quỹ này được hình thành qua sự đóng góp của NLĐ và NSDLĐ có sự hỗ trợ của nhà nước, được sử dụng để trả TCTN, cũng như tiến hành các biện pháp nhằm nhanh chóng giúp NTN cải thiện cơ hội việc làm, sớm trở lại với thị trường lao động
Dưới góc độ pháp lý, BHTN là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định việc đóng góp và sử dụng quỹ BHTN, chi trả cho TCTN để bù đắp thu nhập cho NLĐ bị mất việc làm và thực hiện các biện pháp đưa NTN trở lại làm việc BHTN vì thế thường được hiểu là một chế độ trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội, có mục đích hỗ trợ thu nhập cho NLĐ bị mất thu nhập do thất nghiệp [10]
Theo Công ước số 102 năm 1952 của ILO, BHTN là một trong chín nhánh của bảo hiểm xã hội, là một biện pháp hỗ trợ thiết thực về mặt tài chính cho NLĐ trong lúc mất việc làm nhằm giúp họ khắc phục khó khăn, ổn định
Trang 16cuộc sống Ngoài ra, cơ chế pháp lý này còn tạo dựng hệ thống các giải pháp như: hỗ trợ học nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm góp phần ổn định tâm lý, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động bị mất việc có cơ hội tìm kiếm, thích ứng với công việc mới
Ở nước ta , trong tiến trình sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, Đảng và nhà nước đã nhận thức rõ ASXH là một trong những vấn đề cần phải được lưu xét Vì thế, lần sửa đổi này đã mở rộng hơn đối tượng có quyền được bảo trợ
Cụ thể, tại Điều 35 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền được bảo đảm ASXH” Hơn nữa, ASXH là mục tiêu, chính sách phát triển của mỗi quốc gia nhằm thúc đẩy phúc lợi của người dân thông qua các biện pháp hỗ trợ đảm bảo quyền tiếp cận các nguồn lực đầy đủ trong đó có quyền được BHTN Do đó, dưới góc độ nhân quyền, quyền được BHTN là quyền con người cần được quan tâm, bảo đảm, bảo vệ Thực chất, đây là quyền lợi riêng nhưng được toàn thể xã hội chung tay bù đắp
Tuy nhiên, đó mới chỉ là cách nhìn nhâ ̣n về BHTN ở từng khía cạnh của đời sống xã hô ̣i Ở Việt Nam, tính đến thời điểm trước ngày Luật việc làm ra đời 16/11/2013, chưa có một định nghĩa chính thức nào về BHTN được ghi nhận trong hệ thống các văn bản pháp quy Mặc dù, Luật số 71/2006/QH11 ngày 29/6/2006 của Quốc hội về Bảo hiểm xã hội là văn bản pháp lý có giá trị cao nhất về lĩnh vực bảo hiểm xã hội, trong đó có chế định BHTN song cũng chỉ đưa ra các nội dung cơ bản liên quan đến BHTN chứ không có điều nào định nghĩa cụ thể về BHTN Do đó, chúng ta chưa có một khái niệm chính
thức về BHTN Còn nay, theo Luâ ̣t viê ̣c làm thì : BHTN là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi bi ̣ mất viê ̣c làm , hỗ trợ NLĐ học nghề, duy trì viê ̣c làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ BHTN
Với khái niê ̣m trên cho thấy, BHTN là chế độ nhằm đảm bảo quyền lợi cho NLĐ bị thất nghiệp So vớ i tiêu chuẩn của công ước 102 về Quy pha ̣m tối thiểu về ASXH, 1952 của ILO thì Luật việc làm đã đưa ra khái niệm về
Trang 17BHTN tương đối toàn diê ̣n , đã thể hiê ̣n được bản chất của BHTN Sự ra đời của Luật việc làm là một bước tiến mới của BHTN ở Việt Nam
Như vậy, xét về bản chất, BHTN chính là sự bù đắp những tổn thất về thu nhập cho NLĐ thất nghiệp giúp họ duy trì sinh hoạt trong thời gian mất việc, tạo điều kiện tái tạo việc làm; là một biện pháp mang tính cấp thiết, bảo đảm cho sự sinh tồn của người mất việc Đồng thời, giúp NTN né tránh rủi ro thông qua việc tạo lập quỹ BHTN Do đó, NTN từ chỗ bị mất thu nhập do thất nghiệp lại vẫn nhận được tiền TCTN do có tham gia đóng BHTN
1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp
BHTN bảo đảm cho quá trình tái tạo việc làm và đời sống của NTN được diễn ra bình thường Vì vậy, ngoài hỗ trợ về vật chất, BHTN còn hỗ trợ
về mặt tinh thần cho họ Là một chế độ trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội nên BHTN cũng có các đặc điểm chung giống bảo hiểm xã hội như:
Về đối tượng hưởng: Là NLĐ thuộc trường hợp được tham gia đóng bảo hiểm và thân nhân của họ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội
Về điều kiện hưởng chế độ: Phải là NLĐ được tham gia đóng bảo hiểm thuộc các trường hợp được hưởng chế độ
Về nguồn hình thành quỹ: Dựa vào sự đóng góp bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định căn cứ trên mức tiền lương của người tham gia đóng bảo hiểm Ngoài ra, quỹ bảo hiểm còn được hình thành từ sự hỗ trợ của nhà nước, tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ, sự đóng góp của NSDLĐ (trừ trường hợp thuộc diện tham gia đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện) và các nguồn thu hợp pháp khác
Về nguồn bảo đảm chi trả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam – cơ quan thuộc Chính Phủ sẽ chịu trách nhiệm bảo đảm chi trả quyền lợi bảo hiểm cho những trường hợp được hưởng chế độ bảo hiểm
Về căn cứ chi trả quyền lợi bảo hiểm: Phụ thuộc vào thời gian tham gia bảo hiểm mà NLĐ được hưởng các quyền lợi bảo hiểm
Trang 18Với năm tiêu chí nêu trên cho thấy, BHTN là lựa chọn thích hợp, đảm bảo độ tin cậy cho người tham gia, giảm thiểu sự mất cân bằng thu nhập cho NTN trong thời gian bị mất việc làm Tuy nhiên, bên cạnh những đă ̣c điểm chung, BHTN cũng có những đặc điểm riêng nhất định
Mô ̣t là, NTN nhâ ̣n trợ cấp trên cơ sở đóng phí BHTN Với mu ̣c đích hỗ
trợ NLĐ khi bi ̣ thất nghiê ̣p, để giải quyết tình trạng thất nghiệp , góp phần cải thiê ̣n đời sống của NLĐ sau khi mất viê ̣c làm , Nhà nước đã ban hành chính sách nhằm giúp NTN thoát khỏi khó khăn, ổn định cuộc sống Tuy nhiên, phụ thuộc vào mức đóng góp, thời gian tham gia bảo hiểm mà NLĐ được hưởng các quyền lợi bảo hiểm khác nhau theo nguyên tắc có đóng, có hưởng Song mức đóng góp chỉ là mô ̣t tỉ lê ̣ phần trăm rất nhỏ trên mức lương của NLĐ và mức hỗ trợ không cao hơn lương tháng họ đang hưởng trong thời gian nhất
đi ̣nh chứ không giống như quyền lợi được hưởng nếu tham gia bảo hiểm xã
hô ̣i Hơn nữa , trong suốt quá trình tham gia BHTN mà NLĐ không bi ̣ mất viê ̣c làm thì chẳng được hưởng chế đô ̣ gì, coi như ho ̣ bị mất toàn bộ số tiền đã đóng góp, còn nếu họ tham gia bảo hiểm xã hội thì đương nhiên họ sẽ được hưởng quyền lợi do chế đô ̣ đó mang la ̣i , nhưng phu ̣ thuô ̣c vào mức đóng và thời gian mà ho ̣ đã tham gia
Hai la ̀, đối tượng tham gia và hưởng BHTN Cùng xuất phát từ quan hệ
lao động, nhưng đối tượng hưởng BHTN là những NLĐ, có khả năng lao động bị chấm dứt quan hệ lao động do không có việc làm, hay có việc làm nhưng không đáp ứng được yêu cầu của NSDLĐ và họ luôn sẵn sàng trở lại làm việc Còn đối tượng của các chế độ bảo hiểm khác là những NLĐ vẫn đang tồn tại quan hệ lao động nhưng do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hoặc đã chấm dứt quan hệ lao động như hết tuổi lao động hay chết Do đó, kể cả có việc làm phù hợp cũng không thể chắc chắn ai trong
số đó sẵn sàng quay trở lại thị trường lao động
Ba là, trong chế độ BHTN, bên cạnh việc bù đắp thu nhập bị mất do mất việc làm còn có những giải pháp tình thế hữu ích giúp NTN cải thiện tình
Trang 19trạng thất nghiệp như hỗ trợ chi phí học nghề, giới thiệu việc làm Điều này cho thấy, chính sách này không chỉ cải thiện điều kiện sống cho NLĐ trong lúc mất việc mà còn tạo động lực, khuyến khích NTN tìm việc, hạn chế sự gia tăng số lượng lao động thất nghiệp, góp phần phát triển kinh tế đất nước Như
vâ ̣y, chính sách này không chỉ bảo đảm quyền lợi vật chất cho người mất việc
mà còn hỗ trợ về tinh thần cho họ khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Còn ở chính sách bảo hiểm xã hội chỉ hỗ trợ thu nhâ ̣p cho NLĐ chứ không giúp ho ̣ cải thiê ̣n cơ hô ̣i viê ̣c làm cũng như nâng cao trình đô ̣, tay nghề
1.2 Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp
1.2.1 Khái niệm pháp luật bảo hiểm thất nghiệp
Cùng với sự khủng hoảng kinh tế thế giới, thất nghiệp đã trở thành vấn
đề không còn xa lạ ở nhiều nước Đặc biệt, với những quốc gia có dân số dồi dào trong độ tuổi lao động, nếu không có một kế hoạch quản lý, sử dụng lao động tốt, sẽ không thể phát huy tối đa được nguồn nhân lực này Có nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến: trình độ nhận thức còn hạn chế, thiếu chuyên nghiệp, kỷ luật lao động chưa cao, việc giải quyết tranh chấp lao động chưa hiệu quả, thu nhập thấp; diện tích đất canh tác bị thu hẹp; sự di dân tự do giữa các vùng miền; cơ cấu ngành kinh tế chưa hợp lý đều có thể dẫn đến gia tăng tình trạng thất nghiệp Bên cạnh đó, một thực tế là, nguồn nhân công lao động nhiều nhưng không phải ai trong số đó cũng có khả năng đáp ứng nhu cầu công việc Vì thế, thị trường lao động tồn tại thực trạng mất cân đối giữa cung và cầu, đòi hỏi các nhà nước cần có những giải pháp đủ mạnh để cải thiện thị trường lao động vốn hùng hậu về số lượng nhưng đang ngày càng xấu đi về chất lượng
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các quốc gia đều đang phải nỗ lực phát triển kinh tế, bên cạnh việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững khác, trong đó có bảo vệ, bảo đảm các quyền con người, coi con người là trung tâm của mọi sự phát triển Trách nhiệm của các nhà nước được đề cao hơn bao giờ
Trang 20hết, trong đó có trách nhiệm giải quyết các vấn đề xã hội; tránh nguy cơ bùng phát tràn lan nạn thất nghiệp; bảo vệ người mất việc làm; ổn định trật tự xã hội; hạn chế hậu quả do thất nghiệp mang lại; tránh lãng phí nguồn nhân lực Pháp luật BHTN, do vậy đã được hình thành, ngày càng phát triển với mục tiêu nhằm bảo trợ, bù đắp sự mất thu nhập tạm thời trong thời gian NLĐ bị mất việc, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho NTN có cơ hội tiếp cận việc làm mới, góp phần điều chỉnh các quan hê ̣ liên quan đến thất nghiệp, BHTN Ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt các nước theo hệ thống pháp luật Anh-Mĩ, nguồn pháp luật BHTN khá rộng Hệ thống nguồn pháp luật ở các nước này ngoài các văn bản quy phạm do nhà nước ban hành, các án lệ của tòa án và tập quán quốc tế liên quan đến BHTN cũng có vai trò quan trọng Ở các nước theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, nguồn pháp luật BHTN trước đây chủ yếu là các văn bản quy phạm do cơ quan có thẩm quyền ban hành Án lệ, tập quán và các nguồn khác không hoặc ít được xem là nguồn chính thức Tuy nhiên, hiện nay, do sự phát triển của các giao lưu thương mại, dịch vụ, sự dịch chuyển của các nguồn nhân lực mang tính quốc
tế, nguồn pháp luật của không ít quốc gia thuộc hệ thống pháp luật này đã có
sự linh hoạt, mở rộng hơn
Ở Việt Nam hiện nay, nguồn cơ bản của hệ thống pháp luật BHTN là các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành và các điều ước quốc
tế liên quan mà Việt Nam là thành viên Án lệ về BHTN chưa được xem là một nguồn chính thức ở Việt Nam, tuy nhiên, trong thực tế, hàng năm, Tòa án Nhân dân Tối cao vẫn làm công tác hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật
và tổng kết kinh nghiệm xét xử, theo đó, những vấn đề liên quan đến BHTN vẫn được xem xét dưới góc độ định hướng, tham khảo từ "nguồn pháp luật không chính thức này" Với sự ra đời của Nghị quyết 49 năm 2005 của Bộ Chính trị về Cải cách tư pháp đến năm 2020, từ quy định: giao cho Tòa án Nhân dân tối cao công tác "phát triển án lệ", có lẽ trong tương lai, dù còn rất
Trang 21nhiều khó khăn, nhưng Việt Nam có thể sẽ có sự bổ sung về loại nguồn pháp luật này nói chung và cho hệ thống pháp luật BHTN nói riêng
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam được xem là một nguồn chính thức, quan trọng nhất, bao gồm các quy định trong các văn bản như Hiến pháp, luật Lao động, luật Việc làm, luật Bảo hiểm xã hội cùng các văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết liên quan như các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của các Bộ trưởng Các văn bản này điều chỉnh mối quan hê ̣ giữa NLĐ thất nghiê ̣p với cơ quan quản lý về BHTN; giữa NLĐ thất nghiê ̣p với NSDLĐ có NLĐ mất viê ̣c và các mối quan hê ̣ khác có liên quan đến BHTN Tuy nhiên, ở Việt Nam, BHTN được coi là mô ̣t chế đô ̣ trong hê ̣ thống các chế độ của bảo hiểm xã hội , nên các quy phạm pháp luật BHTN điều chỉnh các quan hệ về BHTN cũng có sự tương tự như các quy định pháp luật bảo hiểm xã hội trong quá trình điều chỉnh các quan hệ của bảo hiểm xã hội Bên cạnh các văn bản quy phạm do cơ quan có thẩm quyền ban hành, điều ước quôc tế tương ứng mà Việt Nam đã tham gia cũng được xem là một nguồn pháp luật quan trọng về BHTN ở Việt Nam Tính đến tháng 12/2010, Viê ̣t Nam đã phê chuẩn 17 Công ước của Tổ chức Lao đô ̣ng quốc tế (ILO), trong đó có 2 Công ước ưu tiên đó là Công ước số 81 về Thanh tra lao đô ̣ng trong công nghiệp và thương ma ̣i , 1947 và Công ước 144 về Sự tham khảo ý kiến ba bên nhằm xúc tiến viê ̣c thi hành các quy pha ̣m quốc tế về lao đô ̣ng ,
1976 [39] Các công ước này, trong quá trình nội luật hóa, sẽ được cụ thể, quy định tương thích trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam ban hành Việt Nam là nước ít áp dụng trực tiếp các điều ước quốc tế trong quá trình thực thi các vấn đề liên quan trong thực tế Cho nên, hoạt động xây dựng, sửa đổi, bổ sung pháp luật trong nước cho phù hợp
và tương thích với pháp luật quốc tế; hoặc ngược lại, pháp luật trong nước sẽ được sửa đổi, bổ sung, ban hành cho phù hợp với công ước quốc tế mà Việt Nam sẽ tham gia là hoạt động cũng thường diễn ra
Trang 22Như vậy, cho thấy, pháp luật về BHTN ở Việt Nam được tiếp cận theo góc độ hẹp Ở khía cạnh tích cực, góc độ hẹp này sẽ cho phép tiếp cận được
dễ dàng, tổng thể tất cả các vấn đề về BHTN
Từ những phân tích trên đây, cùng với bản chất của hoạt động BHTN,
có thể đưa ra một khái niệm về pháp luật BHTN ở Việt Nam như sau:
hiểm xã hội, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan
hệ giữa NSDLĐ với NLĐ bị mất việc; giữa NLĐ thất nghiê ̣p với cơ quan quản lý BHTN và các mối quan hê ̣ khác có liên quan đến BHTN; được hình thành
do sự đóng góp của NLĐ, NSDLĐ dưới sự bảo trợ của nhà nước Theo đó, chế độ này quy định mức đóng góp, điều kiện hưởng, cách thức chi trả quyền lợi bảo hiểm và các giải pháp nhằm hỗ trợ cho NLĐ mất việc khắc phục khó
khăn, sớm có cơ hội tiếp cận việc làm mới
1.2.2 Nội dung của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp
Thất nghiệp là rủi ro ngoài ý muốn của NLĐ, hậu quả mà NTN phải gánh chịu bao gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Vì thế, mặc dù không mong muốn song nó vẫn xảy ra, mang theo gánh nặng tâm lý bất an không chỉ với người mất việc mà còn đối với quốc gia nơi có NTN Do vậy, việc kiến tạo quy chế về BHTN mang ý nghĩa xã hội to lớn, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp Với mu ̣c tiêu hỗ trợ, bảo vệ vị trí việc làm của NLĐ cũng như phòng ngừa rủi ro có thể xảy đến cho họ khi bị mất việc Nội dung của pháp luật về BHTN là những khía cạnh nhất định của bảo hiểm thất nghiệp, bao gồm: đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, điều kiê ̣n giải quyết bảo hiểm thất nghiệp và quy trình giải quyết bảo hiểm thất nghiệp
1.2.2.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp
Đối tượng tham gia BHTN là những người làm công ăn lương theo mô ̣t thời ha ̣n nhất đi ̣nh trong các doanh nghiê ̣p Về cơ bản, đối tượng này bao gồm: NLĐ và NSDLĐ Tuy nhiên, quy định pháp lý cụ thể với từng nhóm đối
Trang 23tượng này lại không hoàn toàn giống nhau ở pháp luật mỗi quốc gia và ở bản thân các điều ước quốc tế được ban hành theo những thời điểm khác nhau
- Nhóm đối tượng thứ nhất là người lao động:
Theo Công ước số 44 ngày 04/6/1934 “về bảo đảm tiền trợ cấp cho những NTN không tự nguyện”, thì BHTN áp dụng cho tất cả những người làm việc được trả tiền công hoặc tiền lương Khi cần thiết pháp luật của mỗi quốc gia có thể quy định những ngoại lệ đối với những người giúp việc gia đình, làm việc tại nhà, những người làm công ăn lương trong các hệ thống dịch vụ công ích của Nhà nước, những NLĐ chưa đến tuổi quy định, những người đã đến tuổi nghỉ hưu, chưa có thu nhập đủ đảm bảo tham gia BHTN (Điều 2) 12, tr96-98] Tức là, đối tượng tham gia BHTN phải là những người đang làm việc dù thuộc biên chế nhà nước hay không (ngoại trừ những trường hợp không đủ điều kiện tham gia) Như vậy, với công ước 44, NLĐ đang làm việc mà bị mất việc làm sẽ được hưởng TCTN Quy định này nhằm bảo đảm cho NTN né tránh rủi ro tài chính trong thời gian chưa kiếm được việc làm Trong khi đó, theo Công ước số 102 của Tổ chức Lao đô ̣ng qu ốc tế về Quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội, 1952, Điều 21, thì đối tượng nhận TCTN phải thuộc trường hợp những người được bảo vệ, đó là: Những người làm công ăn lương được quy định, tổng số ít nhất chiếm 50% toàn bộ những người làm công ăn lương; Hoặc mọi người thường trú mà phương tiện sinh sống trong khi trường hợp bảo vệ xảy ra không vượt quá giới hạn quy định theo Điều 67; Hoặc, nếu đã có bản tuyên bố để áp dụng Điều 3, bao gồm những người làm công ăn lương mà tổng số ít nhất chiếm 50% toàn bộ những người làm công ăn lương làm việc trong các cơ sở công nghiệp đang sử dụng
20 người trở lên Và, "Trường hợp bảo vệ phải bao gồm tình trạng gián đoạn thu nhập như pháp luật hoặc quy định quốc gia quy định, và xảy ra do không thể có được một công việc thích hợp, trong tình hình người được bảo vệ có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc” (Điều 20) [7]
Trang 24Liên quan đến chế định BHTN, còn có hàng loạt các văn kiện pháp lý quốc tế như: Công ước và Khuyến nghị về Thất nghiệp, 1934; Khuyến nghị
về Thất nghiệp, (lao động trẻ em), 1935; Khuyến nghị về đảm bảo thu nhập, 1944; Công ước về an toàn xã hội (tiêu chuẩn tối thiểu), 1952; Công ước và Khuyến nghị về chính sách việc làm, 1964;
Đặc biệt, ngày 1/6/1988, Hội nghị toàn thể của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), đã thông qua Công ước về xúc tiến việc làm và Bảo vệ chống thất nghiệp, 1988 (Công ước 168) với mong muốn bổ sung, hoàn thiện những quy định trước đó nhằm bảo vệ NLĐ bị mất việc tránh khỏi tình trạng thất nghiệp Theo đó, “Những người được bảo vệ sẽ bao gồm những người làm công ăn lương theo quy định không ít hơn 85% toàn bộ những người làm công ăn lương, kể cả người làm công ăn lương khu vực công cộng và những người học nghề” (Khoản 1 Điều 11) Và cũng vẫn “có thể loại trừ việc bảo vệ đối với những NLĐ làm công ăn lương mà pháp luật hoặc quy định bảo đảm có việc làm đến tuổi nghỉ hưu bình thường” (Khoản 2 Điều 11) Như vậy, quy định mới này đã góp phần mở rộng đối tượng được bảo vệ, đó là người làm công ăn lương khu vực công cộng và những người học nghề
Quan niệm về thất nghiệp cũng được Công ước chỉ ra rất cụ thể, làm căn
cứ cho việc xác định đối tượng tham gia BHTN Theo Điều 10, những trường hợp thất nghiệp bao gồm: thất nghiệp toàn phần là trường hợp được xác định
bị mất nguồn sống do không có khả năng đạt được việc làm phù hợp (do ảnh hưởng bởi các yếu tố như độ tuổi, thời gian làm việc trước đó, kinh nghiệm làm việc, tình hình của thị trường lao động, (Khoản 2 Điều 21)), nếu là người có khả năng lao động, có thể được làm việc và tìm kiếm việc làm hơn thế; thất nghiệp từng phần là trường hợp được xác định bị mất tiền lương do tạm thời giảm bớt công việc bình thường tại nhà hoặc do pháp luật quy định; hay được xác định bởi sự đình chỉ hoặc sự giảm bớt thu nhập do đình chỉ công việc tạm thời mà không có bất cứ sự gián đoạn nào trong mối quan hệ
Trang 25việc làm bởi những lý do, đặc biệt là kinh tế, công nghệ, cơ cấu hoặc nhu cầu
tự nhiên tương tự
Công ước 168 cũng khuyến cáo, mỗi nước thành viên cố gắng mở rộng các trường hợp được bảo vệ thuộc diện thất nghiệp từng phần, khuyến khích việc trả thêm trợ cấp làm việc không trọn giờ cho những NLĐ đang tìm kiếm việc làm đầy đủ Đồng thời, trừ phi có quy định khác với Công ước 168, mỗi nước thành viên sẽ có thể lựa chọn một hoặc nhiều phương pháp bảo vệ dù có hay không có hệ thống đóng góp, hoặc bằng sự kết hợp giữa các hệ thống đó (Điều 12) Tuy nhiên, sự bảo vệ đó có thể được giới hạn, tùy thuộc vào nguồn trợ cấp, hoàn cảnh của người được trợ cấp và gia đình họ Hơn nữa, để được hưởng TCTN, NTN phải hoàn thành một thời gian làm việc nhưng không được vượt quá mức cần thiết để tránh sự lạm dụng Khoảng thời gian làm việc cần thiết đối với từng nghề nghiệp phải được xem xét, cân đối với những NLĐ thời vụ (Điều 17) Những quy định này không chỉ bảo đảm bù đắp thu nhập bị mất do gián đoạn công việc của NLĐ mà còn là sự bảo đảm, bảo vệ cho quyền lợi của người mất việc, góp phần thực hiện tốt chính sách ASXH của mỗi quốc gia nơi có NTN
Điều 26 Công ước 168 còn đề ra những quy định đặc biệt cho người mới xin việc trong trường hợp chưa bao giờ hoặc không được xem là thất nghiệp, hoặc chưa bao giờ hoặc không được tham gia chương trình bảo vệ NTN như: những thiếu niên đã hoàn thành chương trình học, thanh niên đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự bắt buộc, người mãn hạn tù và yêu cầu mỗi nước thành viên phải xác định rõ trong báo cáo theo Điều 22, Điều lệ của Tổ chức lao động quốc tế những trường hợp cụ thể nào trong số đó được bảo vệ
Như vậy, theo tinh thần các Công ước quốc tế liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp, đối tượng tham gia BHTN không chỉ thuộc trường hợp thất nghiệp toàn phần mà còn cả trường hợp thất nghiệp từng phần Để hạn chế xung đột xảy ra trong xã hội, vì mục tiêu phát triển ổn định, bền vững, Công
Trang 26ước khuyến nghị các nước thành viên có biện pháp bảo vệ cả hai đối tượng này Song, cho dù thế nào, đối tượng tham gia BHTN cũng phải đáp ứng điều kiện là người làm công ăn lương (có thể mở rộng thêm đối tượng tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia), có khả năng lao động và sẵn sàng làm việc Trong quá trình các nước thành viên nội luật hóa các công ước quốc tế liên quan, do đặc điểm xã hội và chính sách kinh tế của từng quốc gia mà có
sự khác nhau trong việc quy định đối tượng được tham gia BHTN Ví dụ, ở Trung Quốc , đối tượng tham gia BHTN bao gồm tất cả NLĐ ở thành thị, NLĐ làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân ở các thành phố, thị trấn, doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp khác; nông dân làm hợp đồng trong các doanh nghiệp, cơ quan; NLĐ làm việc trong các
tổ chức xã hội hoặc các đơn vị do cộng đồng điều hành
Ở Việt Nam, pháp luật có quy định sự khác biệt giữa NLĐ trong khối nhà nước với NLĐ ngoài quốc doanh Thường thì người làm việc trong khối nhà nước sẽ ổn định hơn nên khả năng mất việc làm ít hơn Hay cũng là NLĐ nhưng chỉ những người làm việc trong doanh nghiệp mới được tham gia BHTN Do đó, việc đặt ra quy định này phần nào đã làm ảnh hưởng tới quyền được BHTN
- Nhóm đối tượng thứ hai là người sử dụng lao động
NSDLĐ là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoă ̣c cá nhân có thuê mướn, sử du ̣ng và trả công lao đô ̣ng Theo quy đi ̣nh , đối tượng này c ó quyền tham gia BHTN Thực tế cho thấy , BHTN không chỉ bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng cho NLĐ mà còn hỗ trợ NSDLĐ trong trường hợp có NLĐ mất viê ̣c Nếu được tham gia, họ sẽ được san sẻ gánh nặng trả trợ cấp Bởi nhờ có tham gia đóng BHTN nên khi NLĐ bị mất việc làm thì NSDLĐ sẽ không phải đối mă ̣t với viê ̣c trả TCTN nữa, mà thay vào đó đã có cơ quan quản lý về BHTN chịu trách nhiê ̣m chi trả
Hơn nữa, đóng BHTN là một hình thức để tri ân với người đã góp phần nâng cao lợi nhuâ ̣n trong kinh doanh, cải thiện mối quan hệ hai bên, đồng thời
Trang 27khi biết được sự quan tâm đó , NLĐ cũng an tâm cống hiến s ức lực của mình Ngoài ra, để chính sách ASXH đi vào hiê ̣n thực thì viê ̣c tham gia BHTN còn
là nghĩa vụ bắt buộc đối với NSDLĐ Hiê ̣n ta ̣i, trong các Điều ước quốc tế chưa quy đi ̣nh điều kiê ̣n cu ̣ thể cho nhóm đối tượng này , mà phụ thuộc vào điều kiê ̣n kinh tế , chính sách ASXH, mỗi quốc gia đă ̣t ra những điều kiê ̣n tham gia BHTN nhất đi ̣nh cho NSDLĐ
Thất nghiệp là vấn đề hết sức nan giải, hậu quả do nó để lại ảnh hưởng rất lớn về mặt kinh tế, xã hội Song, dù không muốn nhưng nó vẫn xảy ra với bất cứ NLĐ nào Theo tinh thần Công ước 168, thì tùy theo thực tiễn và pháp luâ ̣t hoă ̣c quy đi ̣nh quốc gia, mỗi Nước thành viên sẽ cố gắng thiết lâ ̣p chương trình đặc biê ̣t để khuyến khích những cơ hô ̣i có viê ̣c làm thêm , và sự trợ giúp viê ̣c làm và khuyến khích tự do lựa cho ̣n viê ̣c làm có hiê ̣u quả những loa ̣i người bi ̣ bất lợi đã được xác đi ̣nh có thể bi ̣ khó khăn trong viê ̣c tìm kiế m viê ̣c làm lâu dài (Điều 8) trong đó có NTN Do vâ ̣y, để khắc phục tình trạng này, pháp luật mỗi quốc gia đều có biện pháp phòng tránh chính là BHTN Theo đó, người thất nghiê ̣p muốn được hỗ trợ, giải quyết quyền lợi BHTN thì phải tham gia BHTN Tuy nhiên, trong số đó không phải ai tham gia cũng được được hưởng quyền lợi mà phải đáp ứng mô ̣t số điều kiê ̣n sau đây:
- Người lao động phải nộp phí BHTN trong một thời gian nhất định
Theo Công ước về xúc tiến việc làm và Bảo vệ chống thất nghiệp, 1988 (Công ước 168), đối với mỗi trường hợp được bảo vệ khác nhau, mức hưởng trợ cấp có sự khác nhau TCTN sẽ được chi trả định kỳ Đối với trường hợp thất nghiệp hoàn toàn, “khoản trợ cấp được chi trả định kỳ sẽ được tính toán trên cơ sở cung cấp cho người được hưởng một khoản thay thế một phần tiền công và chuyển tiếp, đồng thời tránh tạo ra việc không khuyến khích làm việc hoặc tạo ra việc làm” (Điều 14) Còn trong trường hợp thất nghiệp từng phần, tùy từng trường hợp khác nhau “thì sẽ được ấn đi ̣nh mức trợ cấp tối đa hoă ̣c
Trang 28mức thu nhâ ̣p được xem xét liên quan” hoă ̣c “có thể được ấn đi ̣nh không ít hơn 50% tiền lương tối thiểu đã được ấn đi ̣nh hoă ̣c mức tiền lương của NLĐ bình thường, hoă ̣c theo mức bả o đảm mức sống cơ bản tối thiểu ở mức cao nhất” (Điểm a, b khoản 1 Điều 15 Công ước 168)
Tuy nhiên, muốn được hưởng trợ cấp khi bị thất nghiệp, ngườ i tham gia phải đóng phí BHTN Đây là cơ sở để cơ quan bảo hiểm giải quyết quyền lợ i cho người tham gia Mức hưởng phụ thuộc vào mức đóng phí , đóng cao hưởng cao, đóng thấp hưởng thấp nhưng không vì thế mà thích đóng thế nào cũng được mà có giới hạn Cụ thể, Điều 16 Công ước 168 chỉ ra, “nếu pháp luâ ̣t của các nước thành viên bảo vệ tất cả mọi công dân , trong trường hợp đó thì trợ cấp không được vượt quá mức quy định cho phép , sự bảo vê ̣ có thể được giới ha ̣n , tùy thuộc vào nguồn trợ cấp và hoàn cảnh trợ cấp của người được hưởng trợ cấp và gia đình họ” Nhưng, “Trong mo ̣i trường hợp , những khoản trợ cấp này cùng với những nguồn trợ cấp khác mà họ có quyền được hưởng phải đảm bảo sức khỏe cho ho ̣ và mức sống hợp lý phù hợp với các tiêu chuẩn quốc gia” Theo đó, TCTN chỉ là sự hỗ trợ đủ để nuôi sống bản thân NLĐ và gia đình ở mức tối thiểu khi họ mất việc làm chứ không bù đắp toàn bộ thu nhập bị mất của họ Bởi lẽ, chính sách BHTN khuyến khích NTN chủ động tìm kiếm việc làm
Thời gian để hưởng trợ cấp “không được vượt quá mức cần thiết để tránh sự lạm dụng” và “mỗi nước thành viên phải cố gắng tính toán khoảng thời gian làm viê ̣c cần thiết đối với từng nghề nghiê ̣p của những người lao
đô ̣ng theo thời vu ̣” (Điều 17, Công ước 168) Như vậy, không phải NLĐ đã đóng BHTN là được hưởng TCTN NLĐ phải có một khoảng thời gian làm việc tối thiểu đủ để được hưởng trợ cấp, trong thời gian đó có tham gia BHTN
và đã nộp phí, mà sau đó mất việc thì được hưởng TCTN
- Người lao động phải đăng ký thất nghiệp, đăng ký tìm việc làm tại cơ quan lao động có thẩm quyền do nhà nước quy định
Trang 29Đăng ký thất nghiê ̣p , đăng ký tìm viê ̣c làm là thủ tu ̣c bắt buô ̣c đối với người lao đô ̣ng đã tham gia bảo hiểm thất nghiê ̣p trong thờ i ha ̣n nhất đi ̣nh theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t nhưng bi ̣ mất viê ̣c làm Người lao đô ̣ng bi ̣ thất nghiê ̣p chỉ được nhâ ̣n trợ cấp thất nghiê ̣p , hỗ trợ tìm kiếm viê ̣c làm mới nếu đã tiến hành thủ tu ̣c này Viê ̣c đăng ký thất nghiê ̣p, đăng ký tìm viê ̣c làm được thực hiê ̣n ta ̣i cơ quan lao đô ̣ng có thẩm quyền do nhà nước quy đi ̣nh
Đây là việc làm hết sức cần thiết đối với mỗi NLĐ sau khi mất viê ̣c Điều này không chỉ giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thống kê được số lượng NLĐ thất nghiệp mà trên cơ sở đó còn có những điều chỉnh kịp thời với chính sách BHTN Bên cạnh đó , viê ̣c đăng ký này cũng giúp cho cơ quan chức năng có thể cân nhắc, thực hiện tốt việc chi trả quyền lợi bảo hiểm
- Ngươ ̀i lao động bị thất nghiệp không phải do lỗi của họ
Nghĩa là, NLĐ phải chứng minh trong thời gian làm việc, nguyên nhân thất nghiệp không phải ở họ, các hành vi dẫn đến thất nghiệp không phải do
họ tự quyết định, tự lựa chọn và tự thực hiện, việc họ mất việc là do những nguyên nhân khác, ngoài mong muốn của bản thân người lao động Do vậy, trong quá trình hoạch định chính sách, nhà làm luật thường đưa ra các tiêu chí xác định trường hợp mất quyền hưởng trợ cấp BHTN như: tự ý bỏ việc, nghỉ việc mà không có lý do chính đáng, vi phạm kỷ luật dẫn đến mất việc…Ví du ̣ như quy đi ̣nh trong chính sách BHTN của Nga, Trung Quốc
- Ngươ ̀i lao động phải có sổ bảo hiểm thất nghiệp
Sổ bảo hiểm thất nghiê ̣p là văn bản do cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiê ̣p phát hành Hiê ̣n Công ước chưa có điều nào cu ̣ thể quy đi ̣nh về sổ bảo hiểm thất nghiê ̣p Tùy thuộc vào pháp luật mỗi quốc gia mà đặt ra quy đi ̣nh về sổ bảo hiểm thất nghiê ̣p Ở Việt Nam , người lao đô ̣ng tham gia bảo hiểm thất nghiệp sẽ được cơ quan quản lý về bảo hiểm thất nghiệp cấp sổ bảo hiểm thất nghiệp
Đây là cơ sở pháp lý minh chứng sự tham gia BHTN của NLĐ Nếu thiếu quyển sổ này, người đã tham gia sẽ khó khăn trong việc hưởng chế độ
Sổ bảo hiểm gồm hai nội dung chính là mức đóng và thời hạn đóng bảo hiểm
Trang 301.2.2.3 Về quy tri ̀nh hưởng bảo hiểm thất nghiệp
Đây là các bước để xúc tiến viê ̣c hưởng quyền lợi của bảo hiểm thất nghiê ̣p Quá trình nghiên cứu cho thấy , các Công ước liên quan đến viê ̣c làm
và bảo vệ chống thất nghiệp mới chỉ đưa ra những khuyến nghị để xem xét bảo vệ vị trí việc làm cho những người thất nghiệp mà chưa đưa ra quy định
cụ thể về quy trình hưởng quyền lợi cho những người đó khi ho ̣ có quyền được hưởng Có lẽ, sự bỏ ngỏ này là để mỗi quốc gia tùy theo điều kiê ̣n, hoàn cảnh của mình mà linh hoa ̣t trong viê ̣c áp du ̣ng chính sách BHTN với đối tượng của mình Song, dù thế nào, người tham gia BHTN sau khi đã đóng phí trong thời ha ̣n theo quy đi ̣nh mà bi ̣ mất viê ̣c , muốn hưởng quyền lợi thì phải tiến hành các thủ tu ̣c sau:
- Ngươ ̀i thất nghiê ̣p phải dăng ký thất nghiê ̣p
NLĐ sau khi bị mất viê ̣c làm phải tiến hành thủ tu ̣c đăng ký thất nghiê ̣p Viê ̣c làm này không chỉ giúp cơ quan quản lý lao đô ̣ng thất nghiê ̣p kiểm soát được tình tra ̣ng thất nghiê ̣p mà trên cơ sở đó các cơ quan này còn đề ra những giải pháp giải quyết tình trạng thất nghiê ̣p
- Nộp hồ sơ đề nghị giải quyết hưởng bảo hiểm thất nghiệp
Trong mô ̣t thời ha ̣n nhất đi ̣nh kể từ ngày NLĐ đăng ký thất nghiê ̣p, NLĐ
bị thất nghiệp phải nộp đầy đủ hồ sơ hưởng BHTN Cơ quan quản lý BHTN
có trách nhiê ̣m tiếp nhâ ̣n và thẩm đi ̣nh hồ sơ hưởng BHTN Hồ sơ bao gồm đề nghị hưởng BHTN và các văn bản kèm theo có xác nhận về việc NLĐ đủ điều kiê ̣n hưởng BHTN Sau mô ̣t thời ha ̣n nhất đi ̣nh kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp
lê ̣, NLĐ sẽ nhận được quyết định hưởng TCTN trong đó xác nhâ ̣n về mức hưởng, thời gian hưởng TCTN
- Nhâ ̣n tiền trợ cấp thất nghiê ̣p
Trong mô ̣t thời ha ̣n nhất đi ̣nh , kể từ ngày NLĐ nhâ ̣n được quyết đi ̣nh hưởng trợ cấp thất nghiê ̣p, NLĐ sẽ nhận được tiền TCTN Khoản trợ cấp này nhiều hay ít phu ̣ thuô ̣c vào thời gian đóng , mức đóng của người tham gia và được giới ha ̣n
- Tạm dừng và chấm dư ́ t hưởng trợ cấp thất nghiê ̣p
Trang 31Ngườ i thất nghiê ̣p đáp ứng đủ điều k iê ̣n của đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiê ̣p sẽ được hưởng trợ cấp Nhưng ho ̣ cũng có thể bị tạm dừng thâ ̣m chí chấm dứt hưởng TCTN nếu họ vi phạm trường hợp tạm dừng hoặc chấm dứt hưởng trợ cấp Theo Điều 20, 21 Công ước 168, tiền trợ cấp có thể
bị từ chối , hủy bỏ, gián đoạn hoặc bị cắt giảm tùy từng trường hợp như : khi đương sự có ý đi ̣nh nhâ ̣n hoă ̣c đã nhâ ̣n trợ cấp mô ̣t cách gian lâ ̣n ; có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền rằng đương sự tự ý bỏ viê ̣c không có lý do chính đáng; khi đương sự từ chối không nhâ ̣n viê ̣c làm thích hợp
- Hỗ trợ học nghề
Các Công ước liên quan đến việc làm và bảo vệ chống thất nghiệp
không quy đi ̣nh cu ̣ thể viê ̣c hỗ trợ học nghề cho người lao động thất nghiệp Tuy nhiên, Điều 7, Công ướ c 168, khuyến cáo “Mỗi nước thành viên sẽ tuyên bố như mô ̣t quyền ưu tiên về mu ̣c tiêu chính sách đã được dự kiến khuyến khích đầy đủ việc lựa chọn việc làm tự do và có hiê ̣u quả bằng mo ̣i biê ̣n pháp phù hợp, bao gồm cả bảo đảm xã hô ̣i Những biê ̣n pháp này bao gồm cả di ̣ch
vụ việc làm , đào ta ̣o nghề và hướng nghiê ̣p” Như vâ ̣y, theo tinh thần Công ước này, những người thất nghi ệp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm lâu dài sẽ được trợ giúp việc làm và khuyến khích tự do lựa chọn việc làm có hiệu quả Vấn đề trợ giúp viê ̣c làm được thực hiê ̣n “tùy theo thực tiễn và pháp luâ ̣t hoă ̣c quy đi ̣nh quốc gia” (Điều 8)
Tóm lại, không có mô hình chung cho pháp luâ ̣t bảo hiểm thất nghiê ̣p , mỗi quốc gia tùy thuô ̣c vào từng điều kiê ̣n, hoàn cảnh của mình mà đưa ra mô hình pháp luật bảo hiểm thất nghiệp riêng Tuy nhiên, dù theo mô hình nào thì pháp luật bảo hiểm thất nghiệp mỗi nước cũng phải đảm bảo các tiêu chí và không được trái với Điều ước quốc tế có liên quan đến bảo hiểm thất nghiê ̣p
1.3 Vai tro ̀, mục đích của pháp luật BHTN
- Chính sa ́ ch BHTN là chỗ dựa cho NLĐ trong thời gian bi ̣ mất viê ̣c làm, giúp họ có thể ổn định cuộc sống , có điều kiện học nghề và tìm việc làm mới
Khi tham gia NTN không chỉ được trợ cấp mô ̣t khoản kinh phí để trang trải cuộc sống mà còn không phải lo lắng khi ốm đau vì trong thời gian hưởng
Trang 32trợ cấp , họ được cơ quan bảo hiểm đóng bảo hiểm y tế Vì vậy, nếu được tham gia BHTN, NLĐ sẽ phòng, tránh được những rủi ro có thể xảy đến trong tương lai, và đó cũng là một cách hoán chuyển rủi ro từ NLĐ, NSDLĐ sang
cơ quan bảo hiểm Theo đó, khi NLĐ thất nghiê ̣p, cơ quan bảo hiểm sẽ hỗ trợ
mô ̣t phần thu nhâ ̣p bi ̣ mất thông qua viê ̣c trích từ quỹ bảo hiểm Bên ca ̣nh đó, người tham gia còn có cơ hô ̣i được hỗ trợ viê ̣c làm thông qua viê ̣c đào ta ̣o nâng cao trình đô ̣, tay nghề, giới thiê ̣u viê ̣c làm mới Vâ ̣y nên, người tham gia sẽ bớt phải lo sợ nếu bị mất việc làm , tệ na ̣n xã hô ̣i theo đó cũng ha ̣n chế
Do đó , thực hiê ̣n tốt chính sách này sẽ góp phần cải thiê ̣n phúc lợi xã hô ̣i ,
mang la ̣i lợi ích thiết thực cho người tham gia và ngược la ̣i
- Chính sách BHTN góp phần ổn định kinh tế - xã hội , hạn chế những mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường
Kinh tế khủng hoảng khiến sản xuất trì trê ̣ , hàng hóa chậm lưu thông kéo theo số lượng người thất nghiệp gia tăng Bị thất nghiệp, NLĐ sẽ phải đối
mă ̣t với nhiều khó khăn , nhất là vấn đề tài chí nh Vì thế, để khắc phục cần phải có biệp pháp hữu hiệu đó chính là BHTN, thông qua đó sẽ góp phần ngăn ngừa rủi ro, hạn chế tổn thất khi NLĐ mất viê ̣c làm Những người tham gia BHTN nếu chẳng may bi ̣ mất viê ̣c sẽ được nhận trợ cấp từ quỹ BHTN để duy trì cuô ̣c sống của bản thân và gia đình , đồng thời sẽ yên tâm hơn trong khi tìm kiếm viê ̣c làm mới Đối với NSDLĐ, do đã đóng BHTN nên khi xảy
ra trường hợp mất viê ̣c làm , họ sẽ không phải bỏ ra mô ̣t khoản chi phí lớn để giải quyết chế độ cho NLĐ, nhờ đó mà gánh nă ̣ng tài chính được san sẻ Ngoài ra, nếu tình tra ̣ng thất nghiê ̣p không được khắc phu ̣c ki ̣p thời sẽ gây ra sự lãng phí lớn về nguồn nhân lực Khi số lượng người thất nghiê ̣p tăng lên , thu nhâ ̣p bình quân đầu người giảm xuống , nhu cầu tiêu dùng ít đi , nếu hàng hóa sản xuất nhiều sẽ khó tiêu thụ , vì thế kinh tế đất nước theo đó cũng sớm
bị suy thoái Do vâ ̣y, viê ̣c nhà nước ba n hành chính sách BHTN góp phần ổn
đi ̣nh kinh tế - xã hội, hạn chế những mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường
Trang 33- Chính sách BHTN góp phần ràng buộc nghĩa vụ, đề cao trách nhiệm của NSDLĐ với NLĐ, nhất là khi họ đang chịu rủi ro là thất nghiệp
Cũng như các chế độ bảo hiểm xã hội khác , BHTN đem la ̣i sự an tâm cho người được bảo hiểm, đồng thời cũng ràng buô ̣c trách nhiê ̣m của NSDLĐ
và nhà nước Do NLĐ thuô ̣c đối tượng dễ rơi vào rủi ro, mă ̣c dù đã nhâ ̣n được sự san sẻ của những người cùng tham gia nhưng sự hỗ trợ đó không đủ để đùm bo ̣c những người kém may mắn Vì thế, đòi hỏi NSDLĐ cũng phải có
mô ̣t phần trách nhiê ̣m để chia sẻ bớt gánh nă ̣ng Còn đối với nhà nước , viê ̣c chuyển mô ̣t phần ngân sách nhà nước vào quỹ BHTN chính là một trong những giải pháp đảm bảo ASXH Bởi lẽ, nếu xảy ra tình tra ̣ng thất nghiê ̣p , người đã tham gia chế đô ̣ sẽ được hưởng các quyền lợi bảo hiểm Tuy nhiên, người tham gia sẵn sàng đóng góp nhưng không mong chờ được lo ̣t vào danh sách hưởng chế độ Vì thế, viê ̣c đề ra pháp luâ ̣t về BHTN nhằm bảo đảm cuô ̣c sống cho NLĐ trong thời gian bi ̣ mất viê ̣c , hỗ trợ kỹ năng , tạo điều kiện cho
họ có cơ hội việc làm, góp phần giữ gìn, ổn định trật tự xã hội
- Chính sách BHTN là một trong những chính sách ASXH của nhà nước, góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng, công bằng xã hội
BHTN không chỉ hỗ trợ những thiếu hu ̣t về tài chí nh cho NLĐ trong thời gian mất viê ̣c mà còn là mô ̣t chính sách ASXH của mỗi quốc gia Với nhu cầu bảo vê ̣ quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ, đòi hỏi nhà nước phải có sự can thiệp, điều tiết nhất đ ịnh, phải cân đối mức phí cầ n đóng đảm bảo người
có thu nhập cao đóng cao , người có thu nhâ ̣p thấp đóng thấp , thâ ̣m chí xem xét miễn đóng cho người có thu nhập quá thấp , tránh tình trạng cào bằng Tuy nhiên, phụ thuộc điều kiện, hoàn cảnh, mỗi quốc gia đă ̣t ra những chiến lược , mục tiêu bảo đảm ASXH của riêng mình Ở Việt Nam , chính sách BHTN ra đời nhằm ta ̣o điều kiê ̣n cho NLĐ có cơ hội tham gia Nếu bi ̣ thất nghiê ̣p, họ sẽ được bù đắp mô ̣t phần thu nhâ ̣p bi ̣ mất để trang trải cuộc sống Bên ca ̣nh đó, chính sách này còn cho phép NLĐ bị thất nghiệp được hỗ trợ học nghề , giới
Trang 34thiê ̣u viê ̣c làm sao cho tìm viê ̣c làm mới trong thời gian nhanh nhất có thể Ngoài ra , khi tham gia NSDLĐ và nhà nước cũ ng giảm bớt gánh nă ̣ng tài chính khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Với quy đi ̣nh này , NLĐ tham gia BHTN vừa thể hiê ̣n trách nhiê ̣m với bản thân mình , vừa thể hiê ̣n trách nhiê ̣m với
cô ̣ng đồng NSDLĐ đóng phí bảo hiểm thể hiê ̣n trách nhiê ̣m của mình với người đã cống hiến , góp phần tăng hiệu quả sử dụng lao động , còn nhà nước đóng thể hiê ̣n chức năng xã hô ̣i, chức năng quản lý xã hô ̣i
1.4 Các yếu tố tác động đến pháp luật bảo hiểm thất nghiệp
1.4.1 Các yếu tố ta ́ c động đến viê ̣c xây dựng, ban hành pháp luật bảo hiểm thất nghiê ̣p
- Nhu cầu xa ̃ hội
Mă ̣t trái của nền kinh tế thi ̣ trường đã và đang có những tác động không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh Để đứng vững trên thương trường đòi hỏi người kinh doanh phải có chiến lược , song không phải chiến lược kinh doanh nào cũng đáp ứng được yêu cầu của thị trường Vì thế, bên ca ̣nh những doanh nghiê ̣p làm ăn hiê ̣u quả vẫn còn tồn ta ̣i nhiều doanh nghiê ̣p kinh doanh thua lỗ , nợ đo ̣ng kéo dài , sản phẩm làm ra không tiêu thụ được Do đó, những doanh nghiê ̣p kinh doanh kém hiê ̣u quả buộc phải đóng cửa , rút lui khỏi thương trường , kéo theo hàng loạt NLĐ thất nghiê ̣p Hâ ̣u quả của tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến đời sống từng cá nhân NTN mà còn có thể gây ra những bất ổn trong xã hội Mă ̣c dù, nhà nước đã có các giải pháp để giải quyết như trợ cấp thôi việc , trợ cấp mất viê ̣c làm , song chỉ là những giải giáp tình thế mà chưa đáp ứng được yêu cầu , đòi hỏi mang tính ổn đi ̣nh , lâu dài Trước những rủi ro tiềm ẩn đó, nhà nước cần phải có biện pháp kịp thời mang tính khả thi để đẩy lùi nạn thất nghiê ̣p Vì vâ ̣y, viê ̣c xây dựng và ban hành pháp luật BHTN là vấn đề mang tính cấp bách nhằm bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp cho người mất việc
- Chính sách của nhà nước
Bên ca ̣nh viê ̣c đáp ứng nhu cầu hoàn thiê ̣n hê ̣ thống pháp luật, đáp ứng đòi hỏi do xã hô ̣i đă ̣t ra , BHTN còn là chính sách của nhà nước nhằm thực
Trang 35hiê ̣n công tác quản lý xã hô ̣i Mặc dù, Nhà nước đã có những giải pháp hỗ trợ NTN song chưa thực sự giải quyết được những vấ n đề thực tế đă ̣t ra , gánh
nă ̣ng hỗ trợ đè nă ̣ng lên vai NSDLĐ Vì thế, tình trạng thất nghiệp chưa được giải quyết một cách triệt để, trong khi số lượng NLĐ thất nghiê ̣p không ngừng tăng lên Trong vai trò của người bảo trợ , Nhà nước ban hành chính sách BHTN nhằm hỗ trợ NLĐ khi bi ̣ mất viê ̣c do các nguyên nhân khác nhau Viê ̣c ban hành chính sách này sẽ phần nào giảm bớt khó khăn về tài chính cho doanh nghiê ̣p, đồng thời giúp NLĐ yên tâm, ổn định cuộc sống
- Nhâ ̣n thức của nhà lập pháp
Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội Trong lĩnh vực việc làm , pháp luật là phương tiện pháp lý để xác lập mối quan hệ giữa NLĐ, NSDLĐ, nhà nước; là công cụ, phương tiê ̣n hữu hiê ̣u để quản lý , kiểm soát các vấn đề viê ̣c làm và bảo vê ̣ chống thất nghiê ̣p Tuy nhiên, chất lượng, hiê ̣u quả của pháp luâ ̣t nói chung cũng như chất lượng , hiê ̣u quả của pháp luật BHTN nói riêng bị chi phối bởi trình đô ̣, năng lực nhâ ̣n thức của các nhà lập pháp Vì thế, muốn phát huy hiê ̣u lực , hiê ̣u quả của hoa ̣t đô ̣ng xây dựng pháp luâ ̣t BHTN trong thực tế đòi hỏi Nhà nước phải có các cơ chế, biê ̣n pháp nhằm góp phần nâng cao hiểu biết của nhà làm luâ ̣t Ví dụ: Cử chuyên gia đi ho ̣c tâ ̣p kinh nghiê ̣m xây dựng pháp luâ ̣t BHTN ở nước ngoài; Mời các chuyên gia làm luâ ̣t trong lĩnh vực BHTN của nước ngoài đến trao đổi kinh nghiê ̣m; Thường xuyên mở các lớp tập huấn , hô ̣i nghi ̣, hô ̣i thảo về BHTN ở trong nước
- Sư ̣ ràng buộc của các cam kết quốc tế liên quan
Xuất phát từ nhu cầu của cuô ̣c sống là cần phải có mô ̣t biê ̣n pháp hữu hiê ̣u để giải quyết vấn đề thất nghiê ̣p, nên đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng và ban hành các quy đi ̣nh điều chỉnh chế đô ̣ BHTN Tuy nhiên, để thúc đẩy sự hợp tác và phát triển thi ̣ trường lao đô ̣ng chung, đảm bảo cân bằng, hài hòa lợi ích giữa các đối tượng lao đô ̣ng bi ̣ thất nghiê ̣p thì viê ̣c xây dựng và ban hành
Trang 36các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề này phải đảm bảo tương thích với các chuẩn mực quốc tế Là một trong những quốc gia thành viên của Tổ chức Lao đô ̣ng quốc tế (ILO), Viê ̣t Nam đã gia nhâ ̣p mô ̣t số Công ước liên quan đến vấn đề viê ̣c làm và giải quyết viê ̣c làm cho NLĐ Ví dụ: Công ước
111 về phân biệt đối xử trong viê ̣c làm và nghề nghiê ̣p ; Công ướ c 122 về chính sách việc là m; Công ước 144 về sự tham khảo ý kiến ba bên nhằm xúc tiến viê ̣c thi hành các quy pha ̣m quốc tế về lao đô ̣ng Do vâ ̣y, viê ̣c xây dựng
và ban hành pháp luật BHTN ở Việt Nam phải trên cơ sở tôn trọng , thực hiê ̣n nghiêm chỉnh những Điều ước quốc tế đã tham gia hoă ̣c ký kết
1.4.2 Các yếu tố tác động đến viê ̣c thực hiê ̣n pháp luật BHTN
- Vấn đề đo ́ng phí và mức phí đóng BHTN
Mức phí đóng BHTN có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện pháp luật về BHTN Do nguồn hình thành Quỹ BHTN xuất phát từ NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước, nên để pháp luâ ̣t BHTN được thực thi có hiê ̣u quả , đòi hỏi phải có quy
đi ̣nh cu ̣ thể, phù hợp cho việc đóng phí và mức phí tham gia
Đối với NLĐ, thu nhâ ̣p là yếu tố quyết định sự tồn ta ̣i của ho ̣ Nếu bi ̣ thất nghiê ̣p, cuô ̣c sống của ho ̣ và gia đình sẽ bi ̣ đe do ̣a Do đó, để được hưởng trợ cấp BHTN, NLĐ phải tham gia đóng phí Tuy nhiên, mức phí đóng phải được tính toán bằng mô ̣t tỷ lê ̣ phần trăm phù hợp trên mức lương NLĐ đang hưởng, sao cho sau khi trừ khoản tiền tham gia BHTN, NLĐ vẫn có thể trang trải cuộc sống của mình ở mức tối thiểu Song quyền lợi BHTN cũng không dành cho tất cả, bởi không phải NLĐ nào cũng thuộc đối tượng tham gia
Đối với NSDLĐ, viê ̣c tham gia BHTN sẽ giúp họ giảm bớt gánh nặng phải trả số tiền lớn một lúc cho khoản trợ cấp khi NLĐ thôi viê ̣c, đồng thời, tạo tâm lý yên tâm làm việc cho NLĐ Song, để NSDLĐ có trách nhiệm đóng phí thì mức phí cũng phải được tính toán cho phù hợp Bên ca ̣nh đó, nhà nước cần có biê ̣n pháp , chế tài cu ̣ thể đối với hành vi châ ̣m hoă ̣c không thực hiê ̣n nghĩa vụ đóng phí của NSDLĐ nhằm bảo đảm quyền lợi cho NLĐ
Trang 37Đối với Nhà nước, viê ̣c trích mô ̣t phần từ ngân sách vào Quỹ BHTN có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan trọng Có khoản hỗ trợ này sẽ giúp NSDLĐ và
NLĐ giảm bớt gánh nặng đóng phí , đồng thời hạn chế khả năng vỡ quỹ Do
đó, đòi hỏi ngân sách Nhà nước có khoản chi thường xuyên cho chính sách BHTN, để duy trì sự tồn tại của quỹ cũng như bảo đảm cho chính sách ASXH
được thực hiê ̣n
- Quy tri ̀nh, thủ tục giải quyết quyền lợi BHTN
Để viê ̣c thực hiê ̣n pháp luâ ̣t BHTN mang la ̣i hiê ̣u quả , bên ca ̣nh sự thống nhất tham gia đóng phí bảo hiểm của NLĐ, NSDLĐ, Nhà nước thì quy trình, thủ tục giải quyết quyền lợi BHTN cũng phải đơn giản , dễ thực hi ện Bởi nếu quyền lợi dễ dàng được giải quyết , điều đó sẽ ta ̣o hiê ̣u ứng tốt cho người đã, đang và sẽ tham gia Ngược la ̣i, nếu thủ tu ̣c rườm rà , phức ta ̣p sẽ gây khó khăn cho quá trình giải quyết quyền lợi của NTN Khi đó, chính sách ASXH này sẽ không đạt được mục tiêu mang lại sự an tâm cho người tham gia Do vậy, đòi hỏi viê ̣c xây dựng và ban hành quy trình , thủ tục giải quyết quyền lợi BHTN phải đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn
- Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
Đây là công viê ̣c vô cùng quan tro ̣ng , là cầu nối từ khâu xây dựng , ban hành đến quá trình tổ chức thực hiện , đảm bảo cho chính sách BHTN thực hiê ̣n trên thực tế Thông qua công tác này, NLĐ, NSDLĐ ý thức được vai trò, trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ của mình Từ đó, họ sẽ tích cực, tự giác tham gia, góp phần nâng cao nhận thức , hiểu biết đầy đủ về chính sách này , đồng thời, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cho người khác hiểu thêm Để làm tốt cần sự nỗ lực , phối hợp của các cơ quan chức năng , doanh nghiê ̣p và chính
NLĐ, qua đó, làm tăng tính hiệu lực, hiê ̣u quả của chính sách
1.5 Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp
Tiêu chí đánh giá mức đô ̣ hoàn thiê ̣n của pháp luâ ̣t BHTN là những tính chất, dấu hiê ̣u đă ̣c trưng để căn cứ vào đó nhâ ̣n biết , xem xét hoă ̣c phân loa ̣i
Trang 38được mức đô ̣ hoàn thiê ̣n của pháp luâ ̣t BHTN là phù hợp, đồng bô ̣ hay chưa Viê ̣c xác đi ̣nh các tiêu chí này có ý nghĩa quan tro ̣ng cả về lý luâ ̣n và thực tiễn Để có cơ sở đánh giá mức đô ̣ hoàn thiê ̣n của pháp luâ ̣t BHTN cần đảm
bảo các tiêu chí sau:
- Tiêu chi ́ về nội dung
Pháp luật về BHTN được coi là hoàn thiê ̣n phải đáp ứng được các nô ̣i dung cơ bản sau đây:
+ Pháp luật về BHTN phải có nội dung phù hợp với chủ trương , đườ ng lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề ASXH;
+ Pháp luật về BHTN phải phù hợp với cuộc sống thể hiện ở sự cân bằng, hài hòa lợi ích của NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước ; Đây là điều kiê ̣n tiên quyết nhằm đảm bảo đưa chính sách vào đời sống Có như vậy mới thu hút được sự ủng hô ̣ đông đảo từ phía NLĐ, NSDLĐ cũng như từ dư luận xã hội;
+ Pháp luật về BHTN phải đảm bảo những nguyên tắc cơ bản như : dân chủ, công khai, minh ba ̣ch, khách quan ; Đây là yêu cầu hết sức cần thiết để đảm bảo tính khả thi của viê ̣c ban hành chính sách , đáp ứng sự mong đợi của đối tượng tham gia;
+ Pháp luật về BHTN đảm bảo sự tương thích của pháp luật quốc gia với pháp luâ ̣t quốc tế để đáp ứng yêu cầu hô ̣i nhâ ̣p , đồng thời phải phù hợp với điều kiê ̣n kinh tế – xã hội của đất nước Điều này đòi hỏi trong quá trình xây dựng và ban hành , bên ca ̣nh viê ̣c ho ̣c hỏi kinh nghiê ̣m của những quốc gia đã, đang áp du ̣ng chính sách này , nhà làm luật phải tính đến yếu tố phù hợp giữa pháp luâ ̣t trong và ngoài nước
- Tiêu chi ́ về hình thức
+ Tính toàn diện của hệ thống pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp
Đây là tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá mức đô ̣ hoàn thiê ̣n của pháp luâ ̣t về BHTN Tính toàn diện đòi hỏi pháp luật về BHTN phải có hệ thống các quy định về đi ̣a vi ̣ pháp lý , quy trình, thủ tục nộp hồ sơ tham gia , giải quyết
Trang 39chế đô ̣ bảo hiểm ; điều kiê ̣n tham gia và hưởng quyền lợi bảo hiểm ; cơ quan giải quyết tranh chấp về bảo hiểm Những quy đi ̣nh này phải được thể hiê ̣n thống nhất trong hê ̣ thống các văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t về BHTN
+ Tính thống nhất của hệ thống pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp
Tính này đ òi hỏi viê ̣c xây dựng , ban hành, tổ chức thực hiê ̣n các văn bản quy phạm pháp luật về BHTN phải đảm bảo tính thống nhất và phải thống nhất trong chính nô ̣i dung của từng văn bản Tính thống nhất đó được
thể hiê ̣n ở các khía ca ̣nh:
Hệ thống các văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t về BHTN được ban hành không được mâu thuẫn, chồng chéo, triê ̣t tiêu lẫn nhau;
Đảm bảo sự thống nhất giữa nội dung ban hành với với viê ̣c tổ chức thực hiê ̣n, không chấp nhâ ̣n những đă ̣c quyền, biê ̣t lê ̣;
Việc ban hành văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t về BHTN phải tuân thủ theo đúng thẩm quyền , quy trình Thực hiê ̣n yêu cầu này nhằm thiết lâ ̣p mô ̣t trâ ̣t tự, kỷ cương, đảm bảo cơ quan cấp dưới phải phu ̣c tùng cơ quan cấp trên
+ Tính đồng bộ của hệ thống pháp luật về BHTN
Đòi hỏi hê ̣ thống văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t về BHTN được ban hành phải đầy đủ, phù hợp Những văn bản mâu thuẫn, chồng chéo, không còn phù hợp cần phải xem xét hủy bỏ, sửa đổi hay bổ sung ki ̣p thời
+ Bảo đảm tính minh bạch, hiê ̣u quả và khả thi
Tính m inh ba ̣ch thể hiê ̣n ở sự công khai , chính xác , rõ ràng của cá nhân, cơ quan ban hành , tổ chức thực hiê ̣n pháp luâ ̣t về BHTN Để bảo đảm tính minh bạch này cần có cơ chế để giám sát nhất là khâu đóng phí và giải quyết quyền lợi bảo hiểm, tránh tình trạng gây khó khăn cho người hưởng chế
đô ̣ Đồng thời , cơ quan có thẩm quyền cũng theo dõi , kiểm soát được quá trình tổ chức thực hiện , từ đó có biê ̣n pháp giải quyết ki ̣p thời , nâng cao hiê ̣u quả của việc thực hiện pháp luật về BHTN
Trang 40đă ̣t vào điều kiê ̣n ấy cũng không thể làm khác được” Theo đó, nô ̣i dung phải
rõ ràng, ngôn ngữ sử du ̣ng ngắn go ̣n , trực tiếp đảm bảo tính phổ thông , dễ hiểu, dễ vâ ̣n du ̣ng, tránh việc hiểu theo đa nghĩa
- Tiêu chi ́ về tổ chức thực hiê ̣n
+ Tuyên truyền, giáo dục pháp luật về BHTN
Viê ̣c làm này rất có ý nghĩa về mặt thực tế Bởi lẽ, pháp luật về BHTN được ban hành đầy đủ và toàn diê ̣n mà không được tuyên truyền , hướng dẫn, giáo dục, giải thích thì cũng vẫn chỉ là pháp luật trên giấy Như vâ ̣y sẽ khó cho viê ̣c thực hiê ̣n, vâ ̣n du ̣ng trong cuô ̣c sống Vì vậy, muốn hoàn thiê ̣n đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ cả việc ban hành cũng như tổ chức thực hiện các quy đi ̣nh về BHTN Để làm được điều đó cần phải coi tro ̣ng công tác tuyên truyền, phổ biến giáo du ̣c pháp luâ ̣t, góp phần nâng cao ý thức pháp luật
+ Đa ̀o tạo đội ngũ cán bộ, công chức
Để pháp luâ ̣t BHTN đi vào cuô ̣c sống đòi hỏi đô ̣i ngũ cán bô ̣ , công chức trong lĩnh vực này phải có trình đô ̣ chuyên môn nh ất định Khi am hiểu kiến thức về BHTN, những người được trao quyền mới có thể thực hiê ̣n , hướng dẫn, giải thích vướng mắc cho người tham gia Theo thời gian, quan hê ̣ pháp luật này có thể thay đổi , vì vậy, cần thiết phải c ó kế hoạch học tập , bồi dưỡng, nâng cao trình đô ̣ hiểu biết pháp luâ ̣t BHTN đi ̣nh kỳ cho đô ̣i ngũ này
để thuận lợi cho quá trình tổ chức thực hiện