như nguyên nhân dẫn tới những bất cập trong quản lý Nhà nước đối với sự phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam và đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản lý Nhà
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
CHU HỒNG UY
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
CHU HỒNG UY
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn
là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc công bố trong bất cứ công trình nào
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này , tôi đã nhận được sự hướng dẫn , giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô Trường Đại học Kinh tế - Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nội
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học Kinh tế, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Lê Thị Hồng Điệp đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp tận tình của quý thầy cô và các bạn
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên luận văn: Quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt
Nam hiện nay
Tác giả: Chu Hồng Uy
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Bảo vệ năm: 2015
Giáo viên hướng dẫn: TS Lê Thị Hồng Điệp
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động quản lý của Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ và phân tích thực tra ̣ng hoạt
đô ̣ng quản lý thị trường bảo hiểm nhân thọ Viê ̣t Nam, đề tài nhằm đưa ra một
số giải pháp để tăng cường hoạt động quản lý Nhà nước giúp cho thị trường bảo hiểm nhân thọ phát triển an toàn, lành mạnh và bền vững
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về hoạt động quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ;
- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động quản lý của Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ;
- Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản lý của Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ
Những đóng góp mới của luận văn:
- Thứ nhất, luận văn đã tổng quan được một số nghiên cứu tiêu biểu
về quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam và kết luận được chưa có công trình nào đi sâu phân tích, đánh giá toàn diện về thực trạng quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ cũng
Trang 6như nguyên nhân dẫn tới những bất cập trong quản lý Nhà nước đối với sự phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam và đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam;
- Thứ hai, luận văn đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về hoạt động quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ và tổng kết được kinh nghiệm quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ ở một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới;
- Thứ ba, luận văn đã phân tích và đánh giá được thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam giai đoạn
2007 -2013;
- Thứ tư, luận văn đã đề xuất được một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam trong thời gian tới
Trang 7MỤC LỤC
Danh mục các từ viết tắt i
Danh mục bảng biểu ii
Danh mục hình vẽ, sơ đồ iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU, NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ 6
1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu về hoạt động quản lý nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 6
1.1.1 Tình hình nghiên cứu cơ sở lý luận về thị trường bảo hiểm nhân thọ và quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 6
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về thực tế hoạt động quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 7
1.1.3 Vấn đề đặt ra đối với các nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 9
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ 10
1.2.1 Các khái niệm 10
1.2.2 Tầm quan trọng của quản lý Nhà nước đối với hoạt động của thị trường bảo hiểm nhân thọ 15
1.2.3 Nội dung quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ 18
1.2.4 Các yếu tố tác động tới hoạt động quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ 34
1.3 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ ở một số quốc gia 38
Trang 81.3.1 Quản lý nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ tại
Philippines 38
1.3.2 Quản lý nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Pháp 40
1.3.3 Quản lý nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Hà Lan 42
1.3.4 Quản lý nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Hàn Quốc 43
1.3.5 Bài học kinh nghiệm của các nước đối với hoạt động Quản lý nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam 47
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 49
2.1 Khung phân tích 49
2.2 Phương pháp nghiên cứu định tính 49
2.2.1 Mục tiêu 49
2.2.2 Nguồn dữ liệu 49
2.2.3 Xử lý dữ liệu 51
2.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng 52
2.3.1 Mục tiêu 52
2.3.2 Thu thập và xử lý dữ liệu 52
Chương 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 - 2013 55
3.1 Khát quát về thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 55
3.1.1 Lịch sử hình thành va ̀ phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 55
3.1.2 Hoạt động kinh doanh trên thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013 57
3.2 Thực trạng hoạt đô ̣ng quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ Viê ̣t Nam 62
Trang 93.2.1 Hoạt động lập quy hoạch phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 62 3.2.2 Tổ chức bộ máy qua ̉n lý thị trường bảo hiểm nhâ n thọ Viê ̣t Nam 66 3.2.3 Ban hành quy định pháp lý về hoạt động điều hành, giám sát nhằm quản lý thị trường bảo hiểm nhân thọ 74 3.2.4 Hoạt động điều hành, kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 83
3.3 Đánh giá hoạt động quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 87
3.3.1 Kết quả đạt được 87 3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 91
Chương 4: GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM 99 NHÂN THỌ VIỆT NAM 99 4.1 Định hướng phát triển thị trường và hoàn thiện hoạt động quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 99 4.2 Những giải pháp cơ bản nhằm tăng cường hoạt động quản lý thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam hiện nay 100
4.2.1 Hoàn thiện hệ thống các quy định pháp lý quản lý thị trường bảo hiểm Việt Nam 100 4.2.2 Hoàn thiện mô hình quản lý, giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam theo hướng hợp nhất 103 4.2.3 Phát triển nguồn nhân lực của các cơ quan quản lý Nhà nước 104 4.2.4 Hoàn thiện hoạt động tổ chức và thực hiện quản lý thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 107 4.2.5 Hiện đại hóa cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ thông tin phục
vụ công tác quản lý 109
Trang 104.2.6 Giải pháp hoàn thiện thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam nhằm tạo điều kiện cho hoạt động quản lý Nhà nước đạt hiệu quả cao hơn 109
KẾT LUẬN 112 TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 11DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 BHNT Bảo hiểm nhân thọ
2 DNBH Doanh nghiệp bảo hiểm
3 DNBHNT Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
4 QLNN Quản lý Nhà nước
5 thị trường bảo
hiểm Thị trường bảo hiểm
6 TTBHNT Thị trường bảo hiểm nhân thọ
Trang 12DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 3.1 Tình hình phát triển thị trường Bảo hiểm nhân thọ V N 56
5 Bảng 3.5 Số tiền chi trả tiền bảo hiểm giai đoạn 2007-2013 59
6 Bảng 3.6 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp bảo hiểm nhân thọ (2009-2012) 60
7 Bảng 3.7 Khả năng thanh toán DN BHNT giai đoạn
Trang 13DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
1 Hình 1.1 Mô hình tổ chức quản lý thị trường tài chính theo
2 Hình 1.2 Mô hình quản lý theo chức năng 21
3 Hình 1.3 Mô hình quản lý lưỡng đỉnh 23
4 Hình 1.4 Mô hình quản lý hợp nhất 25
5 Hình 1.5 Mô hình quản lý thị trường tài chính tại Philipines 38
6 Hình 1.6 Mô hình quản lý nhà nước đối với thị trường tài
7 Hình 1.7 Mô hình quản lý thị trường tài chính tại Hà Lan 43
8 Hình 1.8 Mô hình quản lý Nhà nước đối với thị trường tài
9 Hình 3.1 Mô hình giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam 68
10 Hình 3.2 Sơ đồ bộ máy Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm 71
11 Hình 4.1 Mô hình giám sát tài chính hợp nhất 103
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Bảo hiểm nhân thọ là quá trình bảo hiểm các rủi ro có liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người Mục đích chính của người tham gia bảo hiểm nhân thọ là nhằm bảo vệ con cái và những người trong gia đình khỏi những tổn thất về tài chính do mất người thân hoặc tiết kiệm để đáp ứng các nhu cầu về tài chính trong tương lai Như vậy, ngoài mục đích bảo vệ cho mỗi cá nhân và gia đình trước những rủi ro thì bảo hiểm nhân thọ còn góp phần đảm bảo an toàn, an sinh cho toàn xã hội Ngoài ra, doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh rủi ro nên kỹ thuật quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp bảo hiểm rất phức tạp, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm và quyền lợi của các khách hàng chịu chi phối lớn bởi sự biến động của rủi ro Bên cạnh đó, bảo hiểm nhân thọ còn là một kênh hữu hiệu để huy động vốn nhằm phát triển kinh
tế Chính vì vai trò đảm bảo an toàn tài chính cho mỗi cá nhân, mỗi gia đình; đảm bảo an sinh xã hội và cung cấp vốn cho phát triển kinh tế mà vấn đề quản lý nhà nước đối với thị trường bâỏ hiểm nhằm đảm bảo thị trường phát triển lành mạnh là hết sức cần thiết
Năm 1996 đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam khi Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam bán những sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đầu tiên trên thị trường Sau 19 năm hình thành và phát triển, thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể, đã có những đóng góp quan trọng vào phát triển kinh
tế và an sinh xã hội chung của nước nhà Bên cạnh đó, hiện nay, các kênh thu hút tiền nhàn rỗi trong dân cư như chứng khoán, bất động sản, tiền gửi ngân hàng, mua đô la, vàng, bạc đều kém hấp dẫn làm cho người dân có tiền lựa chọn tham gia bảo hiểm nhân thọ vừa tích lũy, vừa sinh lời, vừa bảo vệ những rủi ro thiên tai, tai nạn bất ngờ xảy ra Chính vì vậy, bảo hiểm nhân thọ có
Trang 15tăng trưởng cao cũng như góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội Năm 2013, bảo hiểm nhân thọ có tổng doanh thu ước đạt 22.650 tỷ đồng, tăng trưởng liên hoàn 23,1%; tổng số tiền chi trả quyền lợi bảo hiểm và bảo tức 8.095 tỷ đồng, tổng số tiền đầu tư vào nền kinh tế quốc dân khoảng 81.000 tỷ đồng, tăng 24% Ngoài ra ngành cũng tạo ra một số lượng lớn công
ăn việc làm với trên 200.000 cán bộ, nhân viên và đại lý bảo hiểm
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của thị trường bảo hiểm nhân thọ còn nhiều vấn đề tồn tại đang đặt ra cả về mặt vĩ mô và vi mô Sự tăng trưởng không bền vững của ngành bảo hiểm nhân thọ như quy mô thi ̣ t r-ường còn nhỏ so với GDP, vốn kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm còn hạn chế, khả năng khai thác và mở rộng thị trường còn yếu, văn bản hướng dẫn Luâ ̣t Kinh doanh bảo hiểm còn chưa đầy đủ, cạnh tranh không lành mạnh diễn ra ngày càng nhiều… Hoạt động quản lý, giám sát của Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm còn bất câ ̣p, gây cản trở cho sự phát triển của thi ̣ trường
Giai đoạn 2007 – 2013 và tầm nhìn đến năm 2020 là giai đoạn Việt Nam từng bước thực hiện cam kết khi gia nhập WTO nên đặt ra rất nhiều thách thức đối với TTBHNT Việt Nam khi đáp ứng các yêu cầu của tiến trình hội nhập Vì vậy, vấn đề đặt ra cấp bách hiện nay là nhà nước cần phải tiến hành quản lý thị trường bảo hiểm nhân thọ như thế nào nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn hội nhập quốc tế cũng như hỗ trợ các DNBHNT phát triển giúp TTBHNT Việt Nam phát triển lành mạnh? Đây là một câu hỏi lớn, có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn trong bối cảnh hiện nay nhằm phát triển bền vững và khai thác tối đa tiềm năng của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam Với mục
đích góp phần trả lời câu hỏi đó, tác giả lựa cho ̣n nghiên cứu đề tài “Quản lý
Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Viê ̣t Nam hiện nay” làm
đề tài luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Quản lý kinh tế
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cư ́ u của đề tài
Trang 162.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động quản lý của Nhà nước đối với TTBHNT và phân tích thực tra ̣ng hoạt động quản lý
TTBHNT Việt Nam, đề tài nhằm đưa ra một số giải pháp để tăng cường hoạt
động quản lý của Nhà nước giúp cho TTBHNT phát triển an toàn, lành mạnh
và bền vững
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về hoạt động quản lý của Nhà nước
đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ
- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động quản lý của Nhà nước đối
với thị trường bảo hiểm nhân thọ
- Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản lý của Nhà nước
đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động QLNN đối với TTBHNT
Việt Nam bao gồm: quy hoạch phát triển TTBHNT Việt Nam, tổ chức bộ
máy quản lý TTBHNT Việt Nam, môi trường pháp lý, hoạt động điều hành,
kiểm tra và giám sát đối với TTBHNT ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu hoạt động QLNN đối với TTBHNT
Việt Nam giai đoạn 2007-2013 và tầm nhìn đến năm 2020
Giai đoạn 2007 - 2013 và tầm nhìn đến năm 2020 cũng là giai đoạn
TTBHNT Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức sau khi gia nhập
WTO: các DNBH muốn tồn tại và phát triển cần khẳng định mình, hoạt động
QLNN cần hoàn thiện để đáp ứng các yêu cầu của hội nhập quốc tế cũng như
giúp TTBHNT VIệt Nam phát triển lành mạnh
Trang 17- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ là một chủ đề tương đối rộng, có liên quan tới một quá trình quản lý bao gồm từ việc lập kế hoạch quản lý, tổ chức bộ máy quản lý, điều hành và giám sát
Do TTBHNT có những đặc trưng nhất định khác với các thị trường khác nên trong hoạt động QLNN, hoạt động giám sát là hoạt động được đặc biệt chú trọng Thị trường bảo hiểm là thị trường dịch vụ tài chính, thị trường bảo hiểm có chức năng đảm bảo an toàn cho nền kinh tế trước những rủi ro và thị trường bảo hiểm cũng là trung gian tài chính cung cấp nguồn vốn lớn cho
sự phát triển của nền kinh tế Sản phẩm bảo hiểm là các hợp đồng bảo hiểm nhằm bảo vệ các cá nhân và tổ chức trong xã hội trước những rủi ro nên DNBH bán sản phẩm bảo hiểm chính là bán lời hứa, lời cam kết khi sự kiện bảo hiểm xảy ra sẽ được chi trả, bồi thường nên khách hàng là đối tượng yếu thế trong quan hệ với DNBH Với mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm, người được hưởng quyền lợi bảo hiểm ; đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo hô ̣ lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp bảo hiểm ; điều chỉnh, thúc đẩy hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm đảm bảo chức năng tạo lưới an toàn cho nền kinh tế thì hoạt động giám sát là hoạt động trọng yếu trong hoạt động QLNN
Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, luận văn tập trung và đi sâu phân tích nội dung được chú trọng nhất trong hoạt động QLNN đối với TTBHNT Việt Nam, đó
là hoạt động giám sát của nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ
4 Những đóng góp mới của luận văn
- Thứ nhất, luận văn đã tổng quan được một số nghiên cứu tiêu biểu về
quản lý Nhà nước đối với TTBHNT Việt Nam và kết luận được chưa có công trình nào đi sâu phân tích, đánh giá toàn diện về thực trạng QLNN đối với TTBHNT cũng như nguyên nhân dẫn tới những bất cập trong QLNN đối với
sự phát triển của TTBHNT Việt Nam và đưa ra các giải pháp nhằm tăng
Trang 18cường hoạt động QLNN đối với TTBHNT Việt Nam;
- Thứ hai, luận văn đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về hoạt động
QLNN đối với TTBHNT và tổng kết được kinh nghiệm QLNN đối với TTBHNT ở một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới
- Thứ ba, luận văn đã phân tích và đánh giá được thực trạng hoạt động
QLNN đối với TTBHNT Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013;
- Thứ tư, luận văn đã đề xuất được một số giải pháp nhằm tăng cường
hoạt động QLNN đối với TTBHNT Việt Nam trong thời gian tới
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 2 phần với 4 chương:
- Phần mở đầu:
Lý do lựa chọn đề tài
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Những đóng góp mới của luận văn
Kết cấu của luận văn
- Phần nội dung
Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu, những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về hoạt động quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng hoạt động quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013
Chương 4: Giải pháp tăng cường hoạt động quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam
Trang 19Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU, NHỮNG VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu về hoạt động quản lý nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam
Qua quá trình nghiên cứu tổng quan, học viên đã nghiên cứu một số các công tgrình khoa học đáng chú ý liên quan hoạt động QLNN đối với TTBHNT Mặc dù, số lượng các công trình nghiên cứu về hoạt động QLNN đối với TTBHNT còn hạn chế, nhưng vấn đề này cũng được đề cập qua một
số nghiên cứu tiêu biểu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu cơ sở lý luận về thị trường bảo hiểm nhân thọ và quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam
Vấn đề cơ sở lý luận về khái niệm, vai trò, mô hình và các nguyên tắc hoạt động của thị trường bảo hiểm nhân thọ đã được đề cập trong một số giáo trình về Lý thuyết bảo hiểm, tiêu biểu như trong chương 5 Giáo trình Lý thuyết bảo hiểm của Học viện tài chính do Ths Võ Thị Pha chủ biên, (NXB Tài chính 2010) Tuy nhiên, giáo trình cũng chưa đề cập có hệ thống cơ sở lý luận
về hoạt động QLNN đối với TTBHNT
Công trình “Hội nhập tài chính quốc tế và những vấn đề đặt ra cho hệ thống giám sát Tài chính Việt Nam” - Kỷ yếu hội thảo khoa học (2009), nhà
xuất bản Thống kê đã phân tích các mô hình QLNN như mô hình thể chế, mô hình theo chức năng, mô hình quản lý lưỡng đỉnh, mô hình quản lý hợp nhất
từ đó đánh giá ưu và nhược điểm từng mô hình Công trình “Hội nhập tài chính quốc tế và những vấn đề đặt ra cho hệ thống giám sát Tài chính Việt Nam” cũng giới thiệu mô hình quản lý Nhà nước của một số nước như Trung
Quốc, Pháp, Philippines, Hàn Quốc, phân tích sự phù hợp cũng như nhược
Trang 20điểm của các mô hình này trong điều kiện, hoàn cảnh phát triển của mỗi quốc gia là cơ sở đánh giá mô hình quản lý của Việt Nam cũng như đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình QLNN đối với TTBHNT Việt Nam phù hợp với đặc điểm và xu hướng phát triển của thị trường
Công trình “Hệ thống giám sát tài chính Việt Nam” của tác giả Tô Ngọc
Hưng, NXB Hà Nội, 2011 đã nghiên cứu một cách hệ thống và chi tiết về các nguyên tắc quản lý Insurance Core Principles (ICP) của Hiệp hội quốc tế của các cơ quan quản lý, giám sát bảo hiểm International Association of Insurance Supervisor(IAIS) quản lý bảo hiểm trên 190 quốc gia (Việt Nam đã tham gia vào IAIS vào năm 2007) và kinh nghiệm của một số nước về hoạt động QLNN đối với TTBHNT
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về thực tế hoạt động quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam
Thực trạng QLNN về TTBHNT Việt Nam được đề cập trong luận án
tiến sỹ “Một số giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam”, Nguyễn Thị Hải Đường - ĐH Kinh tế Quốc dân, 2007 nhưng chỉ dưới
khía cạnh phân tích thực trạng TTBHNT Việt Nam mà hoạt động QLNN là một trong những yếu tố tác động và đưa ra một số giải pháp trong đó có giải pháp về hoàn thiện hệ thống pháp lý Tuy nhiện, luận án chỉ đánh giá tác động hoạt động QLNN đối với TTBHNT Việt Nam giai đoạn trước 2006
- Trong công trình “Giám sát an toàn tài chính đối với các doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt Nam” của PGS.TS Hoàng Trần Hậu - Học viện Tài chính và
Ths Nguyễn Tiến Hùng - Trường Đại học Kinh tế TP.HCM đăng trên Tạp chí Phát triển và hội nhập số tháng 7-8/2014 đã đi sâu phân tích nội dung quản lý Nhà nước về tài chính đối với DNBH: kiểm tra các tiêu chuẩn, điều kiện về tài chính cho DNBH kinh doanh bảo hiểm; Quản lý, giám sát trong quá trình hoạt động (Khả năng thanh toán, dự phòng nghiệp vụ, hoạt động đầu tư) Các tác giả
Trang 21cũng đi sâu phân tích thực tế về hoạt động quản lý của Nhà nước đối với DNBH đánh giá những mặt đạt được và những hạn chế Trên cơ sở đó, các tác giả đưa ra các định hướng tăng cường năng lực cho hệ thống an toàn tài chính trong thời gian tới : hoàn thiện quy định về khả năng thanh toán của DNBH , nghiên cứu mô hình quản lý mức vốn yêu cầu theo rủi ro, hoàn thiện hoạt động đầu tư, hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát tài chính, hoàn thiện chế độ kế toán và trích lập dự phòng nghiệp vụ, hoàn thiện chế độ báo cáo tài chính Đây
là công trình đánh giá sâu sắc về quản lý tài chính của DNBH nói chung và DNBHNT nói riêng
- Thực tế hoạt động QLNN đối với TTBHNT Việt Nam được phân tích
rõ nét hơn, tổng thể hơn tại công trình “Hội nhập tài chính quốc tế và những vấn đề đặt ra cho hệ thống giám sát Tài chính Việt Nam” - Kỷ yếu hội thảo khoa học (2009), nhà xuất bản Thống kê và “Hệ thống giám sát tài chính Việt Nam” của Tô Ngọc Hưng (2011), Nhà xuất bản Hà Nội dưới các khía cạnh
các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế, mô hình, kinh nghiệm phát triển của một
số TTBHNT về QLNN đối với TTBHNT và thực trạng Việt Nam hiện nay; đánh giá và đưa ra khuyến nghị đối với sự phát triển của thị trường tài chính nói chung cũng như TTBHNT nói riêng, trong đó có giải pháp đối với vấn đề hoàn thiện mô hình QLNN đối với TTBHNT Việt Nam;
- Vấn đề QLNN đối với TTBHNT Việt Nam chưa được đánh giá toàn diện trong các luận văn thạc sỹ, chưa có đề tài luận văn thạc sỹ chỉ tập trung nghiên cứu sâu về QLNN đối với TTNHNT Các đề tài luận văn thạc sỹ trong lĩnh vực BHNT chủ yếu tập trung giải quyết các vấn đề về Quản trị kinh doanh trong chính các DNBHNT, vấn đề QLNN đối với TTBHNT chỉ được
đề cập như một trong những yếu tố tác động đến hoạt động kinh doanh của DNBHNT và các tác giả nêu các khuyến nghị nhằm tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi hơn cho các DNBHNT Các đề tài tập trung nghiên cứu về Quản trị
Trang 22sản phẩm trong DNBH như: ”Giải pháp phát triển sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư tại Việt Nam” của Nguyễn Hoàng Yến, K14 - Đại học Kinh tế Quốc dân; hay các đề tài giải quyết các vấn đề về kênh phân phối trong DNBH, hoạt động khai thác: “Hoàn thiện công tác khai thác bảo hiểm dự án tại Tập đoàn Tài chính Bảo hiểm Bảo Việt” - Nguyễn Thị Hải Yến, K12 - Đại học Kinh tế Quốc dân; “Phân tích hiệu quả sử dụng đại lý bảo hiểm nhân thọ Việt Nam” - Phạm Thị Hồng Dung, K12- Đại học Kinh tế Quốc dân; “Vấn đề liên kết hoạt động giữa doanh nghiệp bảo hiểm với các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay, Thực trạng và giải pháp” - Lê Thị Ngọc Diệp, K13 - Đại học Kinh tế Quốc dân; hay các luận văn giải quyết vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của DNBHNT như: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Bảo Việt Nhân thọ trong điều kiện hội nhập” - Nguyễn Thị Thanh Bình, K14 - Đại học Kinh tế Quốc dân
1.1.3 Vấn đề đặt ra đối với các nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên về cơ bản mới hệ thống hóa cơ
sở lý luận về TTBHNT (khái niệm, vai trò, cấu trúc TTBHNT) và hoạt động QLNN đối với TTBHNT (sự cần thiết khách quan, mô hình, nguyên tắc )
Bên cạnh đó, sự phát triển của TTBHNT Việt Nam và tác động của môi trường pháp lý đến sự phát triển của TTBHNT Việt Nam cũng được phân tích trong một số công trình Tuy nhiên, các công trình này chỉ đánh giá hoạt động QLNN như một trong các yếu tố tác động đến sự phát triển của thị trường trong đó tập trung phân tích về sự tác động của môi trường pháp lý đến sự phát triển của TTBHNT và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện của môi trường pháp lý
Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý TTBHNT Việt Nam cũng như mô hình QLNN đối với TTBHNT ở một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm
Trang 23cho Việt Nam được đánh giá, phân tích sâu sắc và một số giải pháp được đề cập nhằm hoàn thiện tổ chức bộ máy QLNN ở Việt Nam trên cơ sở phù hợp với thực trạng thị trường cũng như học tập kinh nghiệm một số quốc gia đã được đề cập trong một số nghiên cứu
Do đặc thù TTBHNT là một trung gian tài chính nên vấn đề quản lý tài chính đặc biệt được chú trọng được phân tích sâu và tương đối toàn diện trong một số công trình nghiên cứu như các tiêu chuẩn, điều kiện về tài chính cho DNBH kinh doanh bảo hiểm; vấn đề quản lý, giám sát tài chính trong quá trình hoạt động (Khả năng thanh toán, dự phòng nghiệp vụ, hoạt động đầu tư)
Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu phân tích, đánh giá toàn diện về thực trạng QLNN đối với TTBHNT cũng như nguyên nhân dẫn tới những bất cập trong QLNN đối với sự phát triển của TTBHNT Việt Nam và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động QLNN đối với TTBHNT Việt Nam Các vấn
đề như tổ chức bộ máy quản lý, quản lý tài chính hay môi trường pháp lý đối với TTBHNT Việt Nam mới được đề cập rải rác trong một số công trình và chưa được đánh giá toàn diện Vì vậy, học viên nhận thấy nghiên cứu hoạt động QLNN đối với TTBHNT là một công trình mới, không trùng lặp và lựa chọn đề
tài “Quản lý nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam hiện
nay” là hết sức cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ
1.2.1 Các khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm thị trường bảo hiểm nhân thọ
Rủi ro là nguồn gốc phát sinh nhu cầu bảo hiểm Bảo hiểm là một sự thoả thuận hợp pháp mà thông qua đó một cá nhân hay một tổ chức (người được bảo hiểm) chấp nhận đóng góp một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho một tổ chức khác (công ty bảo hiểm) để đổi lấy những cam kết về khoản
Trang 24bồi thường hoặc chi phí trả khi có sự kiện qui định trong bản thoả thuận (hợp đồng bảo hiểm) xảy ra Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm dài hạn liên quan đến tuổi thọ con người, sự sống và cái chết của con người là các sự kiện chủ yếu được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Sự xuất hiện người mua, người bán cùng với sự trao đổi các sản phẩm bảo hiểm đã hình thành nên thị trường bảo hiểm Thị trường bảo hiểm nhân thọ là nơi gặp gỡ của cung và cầu về các sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm nhân thọ Cầu trên thị trường bảo hiểm là nhu cầu có sức mua của người tiêu dùng
về các loại sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ Cung trên thị trường bảo hiểm là tổng lượng sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm nhân thọ mà năng lực bảo hiểm của những người bán bảo hiểm trên một thị trường cho phép họ đưa ra chào bán trên thị trường để thỏa mãn cầu trong một thời kỳ nhất định
Thị trường bảo hiểm nhân thọ được cấu thành từ nhiều bộ phận khác nhau Theo cấu trúc chung của một thị trường trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập, thị trường bảo hiểm bao gồm: phương tiện, hàng hóa trao đổi; các chủ thể tham gia trao đổi và các tổ chức khác hoạt động trên thị trường bảo hiểm; các điều kiện cho sự trao đổi
* Phương tiện, hàng hóa trao đổi
Hàng hóa được trao đổi chính là các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ và các dịch vụ liên quan Sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm nhân thọ là sự bảo đảm về mặt tài chính trước các hậu quả bất lợi của rủi ro/sự kiện bảo hiểm cùng các dịch
vụ bổ sung liên quan Giá trị sử dụng cốt lõi của sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ là việc thực hiện cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm của người bán sản phẩm khi rủi ro/sự kiện bảo hiểm xảy ra cho người mua sản phẩm Bên cạnh đó, người mua còn được hưởng các giá trị tăng thêm như tiện ích về giá
cả, tiện ích được tư vấn các biện pháp quản lý rủi ro, tiện ích bởi các dịch vụ chăm sóc khách hàng…
Trang 25Để có thể thực hiện trao đổi, những người mua phải có một khoản tiền trả các khoản phí bảo hiểm
* Chủ thể tham gia trao đổi và các tổ chức khác hoạt động trên thị trường bảo hiểm
Chủ thể tham gia trao đổi
Chủ thể tham gia trao đổi trên thị trường bảo hiểm nhân thọ bao gồm các loại tổ chức và cá nhân, trước hết là những chủ thể bán bảo hiểm; chủ thể mua bảo hiểm và các trung gian bảo hiểm
- Chủ thể mua và chủ thể bán:
Chủ thể mua bảo hiểm là cá nhân hay tổ chức kinh tế - xã hội có nhu cầu được đảm bảo về mặt tài chính trước rủi ro Họ mua sản phẩm bảo hiểm bằng quan hệ trực tiếp với người bán bảo hiểm hoặc thông qua trung gian bảo hiểm Bản thân các doanh nghiệp bảo hiểm cũng có thể coi là một loại chủ thể mua bảo hiểm trong các giao dịch tái bảo hiểm Chủ thể bán bảo hiểm là các
tổ chức, doanh nghiệp bảo hiểm được phép hoạt động trên cơ sở luật pháp của Nhà nước sở tại
- Các trung gian bảo hiểm
Trung gian bảo hiểm bao gồm môi giới bảo hiểm và đại lý bảo hiểm, không tạo ra sản phẩm bảo hiểm nhưng có thể làm gia tăng giá trị sản phẩm, hoạt động như một loại cầu nối giữa bên mua và bên bán bảo hiểm
+ Môi giới bảo hiểm
Môi giới bảo hiểm là các cá nhân hay tổ chức đại diện và bảo vệ quyền lợi cho khách hàng Các dịch vụ môi giới có thể cung cấp cho khách hàng rất
đa dạng như: thu xếp hợp đồng bảo hiểm; tư vấn thường xuyên cho khách hàng; quản lý khiếu nại bồi thường, trả tiền bảo hiểm; tư vấn quản lý rủi ro; tư vấn kiểm soát tổn thất; tư vấn hỗ trợ kỹ thuật; tư vấn thiết kế chương trình bảo hiểm cho khách hàng
Trang 26+ Đại lý bảo hiểm
Đại lý bảo hiểm là đại diện cho doanh nghiệp bảo hiểm, làm việc cho doanh nghiệp bảo hiểm trong phạm vi ủy quyền trong hợp đồng đại lý Nội dung hoạt động của đại lý bao gồm giới thiệu, chào bán bảo hiểm, thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm, thu phí bảo hiểm, thu xếp giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm và thực hiện các hoạt động khác có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm
- Các tổ chức khác
Bên cạnh những loại tổ chức cơ bản nói trên, tham gia trên thị trường bảo hiểm còn có những tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ, bổ sung cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm như các tổ chức giám định tổn thất hoặc tham gia vào quá trình giao dịch các sản phẩm tài chính/bảo hiểm phức tạp như: trái phiếu thiên tai, vốn cam kết, hoán chuyển rủi ro tín dụng trên các thị trường bảo hiểm phát triển còn có cả các tổ chức tài chính khác như ngân hàng, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và các ngân hàng với các dạng liên kết hoạt động ngân hàng và bảo hiểm
* Điều kiện của quá trình trao đổi
Bao gồm các điều kiện vật chất và quy tắc, tập quán, thông lệ ứng xử khi các chủ thể tham gia trao đổi
Về điều kiện vật chất: Đó là cơ sở phương tiện vật chất, kỹ thuật công nghệ cho việc thực hiện các giao dịch bảo hiểm Về các quy tắc, tập quán, thông lệ ứng xử: Khi tham gia trao đổi, yếu tố này chịu sự chi phối của luật pháp, quản lý nhà nước và đôi khi cả những tập quán, thông lệ đã hình thành dần trong giao dịch bảo hiểm
1.2.1.2 Khái niệm quản lý Nhà nước
Trong “tập bài giảng Khoa học quản lý” - Khoa Quản lý kinh tế - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã viết về chức năng quản lý Nhà nước như sau:
Trang 27“Hoạt động quản lý Nhà nước là hoạt động quản lý vĩ mô thuộc hệ thống
tổ chức quốc gia, là sự quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế chính trị - xã hội theo hướng điều tiết và định hướng với nhiệm vụ cơ bản sau:
Vạch chiến lược kinh tế xã hội dài hạn, ngắn hạn và những chương trình mục tiêu;
- Đặt ra luật pháp, thể lệ, chế độ, chính sách có hiệu lực thống nhất trong toàn quốc;
- Tạo môi trường cho các hoạt động kinh tế - xã hội;
- Đào tạo, bố trí cán bộ;
- Kiểm tra, tổng kết đánh giá;
- Hỗ trợ, dẫn dắt những hoạt động, những đơn vị theo định hướng phát triển;
- Quản lý tài sản công chặt chẽ và có hiệu quả;”
Như vậy, quản lý nhà nước là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước đối với các đối tượng quản lý nhằm làm cho đối tượng quản lý hoạt động có hiệu quả Định nghĩa này nhấn mạnh các ý sau:
- Quản lý nhà nước là một quá trình, chứ không phải là một hoạt động hay một công việc có tính chất ngắn hạn;
- Quá trình quản lý đó bao gồm 4 bước chính: (1) Lập kế hoạch quản lý; (2) Tổ chức bộ máy quản lý; (3) Điều hành hoạt động của đối tượng quản lý; (4) Kiểm tra giám sát hoạt động của đối tượng quản lý;
- Mục đích của hoạt động quản lý nhà nước: là nhằm làm cho hoạt động của đối tượng quản lý đạt được hiệu quả;
1.2.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ
Theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực của nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội
Trang 28Như vâ ̣y, quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm là quá trình Nhà nước sử dụng, trong phạm vi quyền lực của mình, những tác động có tổ chức
và điều chỉnh vào các quan hệ nảy sinh trong hoạt động của thị trường bảo hiểm nhằm đảm bảo cho hoạt động của thị trường bảo hiểm diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, và thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của thị trường bảo hiểm, nhằm phát triển thị trường bền vững
Quản lý Nhà nước đối với thi ̣ trường bảo hiể m là một quá trình từ việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm ; tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách pháp luật về kinh doanh bảo hiểm ;
tổ chức thực hiện chiến lược, chế độ, chính sách về kinh doanh bảo hiểm đến việc tổ chức bộ máy thực hiện cũng như thanh tra , kiểm tra việc chấp hành pháp luật về kinh doanh bảo hiểm
1.2.2 Tầm quan trọng của quản lý Nhà nước đối với hoạt động của thị trường bảo hiểm nhân thọ
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm có những đặc thù riêng cũng như chức năng đảm bảo an toàn cho sự phát triển của nền kinh tế Vì vậy, hoạt động kinh doanh bảo hiểm cần sự quản lý nghiêm ngặt của các cơ quan quản lý Nhà nước
Sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm là do:
- Thư ́ nhất, xuất phát từ đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm “tính mở sẵn và
khá phức tạp” Doanh nghiệp bảo hiểm soạn thảo sẵn các điều khoản cơ bản (ngoại trừ một vài nội dung như phần điều kiện riêng), người mua bảo hiểm chỉ
có thể lựa chọn hay từ chối các điều khoản đó Trong khi đó, kỹ thuật bảo hiểm phức ta ̣p, thuâ ̣t ngữ chuyên môn khó hiểu và kiến thức về kỹ thuâ ̣t bảo hiểm không phải là loa ̣i kiến thức có thể phổ câ ̣p trong công chúng Do đó, trong quan
hệ bảo hiểm, người bán bảo hiểm sẽ có lợi thế hơn người mua bảo hiểm nên doanh nghiệp bảo hiểm có thể ta ̣o ra những điểm có lợi cho mình ngay từ khi soạn thảo hợp đồng bảo hiểm mẫu - quy tắc, điều khoản bảo hiểm và t rong
Trang 29trường hợp bảo hiểm bắt buô ̣c thì sự bất lợi của bên mua bảo hiểm sẽ càng gia tăng nếu như không có sự quản lý, giám sát chặt chẽ của Nhà nước
- Thư ́ hai, phí bảo hiểm được tính trước nhiều chi phí phát sinh trong đó
chủ yếu là chi phí bồi thường Chi phí của mỗi hợp đồng bảo hiểm chỉ có thể biết chính xác được sau khi tất cả các khoản bồi thường và các chi phí phát sinh khác đã được thanh toán, mà trong đó rất nhiều các khoản chi phí mà chi phí bồi thường là chủ yếu phải ước lượng dựa trên cơ sở quản lý rủi ro hoặc dựa trên kế hoạch định sẵn của doanh nghiệp bảo hiểm Cơ sở quản lý rủi ro này được xác định dựa vào số liệu thống kê rủi ro , tổn thất trong quá khứ , vì thế rất có thể phí bảo hiểm đi ̣nh ra kh ông thâ ̣t hợp lý - đi ̣nh phí theo tổn thất đã phát sinh trong quá khứ được sử du ̣ng nhằm bảo đảm trách nhiệm thanh toán cho những tổn thất xảy ra trong tương lai Ngay cả khi có tính đến mô ̣t
hê ̣ số an toàn cũng không bao giờ loa ̣ i bỏ được hoàn toàn ảnh hưởng từ sự thất thường của rủi ro
Nếu phí bảo hiểm cao sẽ không đảm bảo được quyền lợi cho người được bảo hiểm, nhất là khi đó la ̣i là bảo hiểm bắt buô ̣c và nếu như phí bảo hiểm không chi ̣u sự khống chế bởi quản lý, giám sát của Nhà nước
Nhưng nguy hiểm hơn là phí bảo hiểm la ̣i quá thấp ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm, thậm chí tiềm ẩn nguy cơ doanh nghiê ̣p bảo hiểm mất khả năng thanh toán Mặt khác, các doanh nghiệp bảo hiểm còn có thể cạnh tranh bằng phí bảo hiểm Để đảm bảo quyền lợi của khách hàng, của các doanh nghiệp bảo hiểm rất cần sự quản lý Nhà nước nhằm giảm thiểu hiện tượng xác định phí không chính xác và cạnh tranh không lành mạnh bằng hạ phí
- Thư ́ ba, với đă ̣c tính của hoạt động kinh doanh bảo hiểm có "đảo ngược
của chu trình kinh doanh ", doanh nghiê ̣p bán bảo hiểm thu phí bảo hiểm trước, viê ̣c bồi thường , trả tiền bảo hiểm chỉ có thể thực hiện sau mô ̣t thời
Trang 30gian và với những điều kiê ̣n ràng buô ̣c của hợp đồng bảo hiểm Do đó, phần lớn phí bảo hiểm tạm thời nhàn rỗi được người bảo hiểm sử du ̣ng để đầu tư Viê ̣c đầu tư của hoa ̣t đô ̣ng bảo hiểm nếu không được quản lý , giám sát chặt chẽ có thể dẫn đến không đảm bảo mục đích sẵn sàng cho viê ̣c bồi thường, trả tiền bảo hiểm, thâ ̣m chí sẽ có thể đă ̣t quyền lợi của các khách hàng mua bảo hiểm trên bờ vực thẳm nếu người bán bảo hiểm quá mạo hiểm tro ng đầu tư Nhằm đảm bảo tính an toàn, khả năng thanh toán và hiệu quả trong đầu tư rất cần có sự quản lý của Nhà nước
- Thư ́ tư, vấn đề cạnh tranh trong bảo hiểm rất phức tạp Việc bán sản phẩm
bảo hiểm là bán lời hứa cam kết bồi thường của doanh nghiê ̣p bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra Sản phẩm bảo hiểm lại là sản phẩm không được bảo hộ độc quyền nên dễ bắt chước, đặc tính kỹ thuật của sản phẩm dễ bị sao chép nên chất lượng di ̣ch vu ̣, năng lực bảo hiểm phải là những yếu tố hàng đầu thu hút khách hàng đến với doanh nghiệp bảo hiểm Tuy nhiên, hoạt động cạnh tranh không lành mạnh như là la ̣m du ̣ng các mối quan hê ̣ khác trong quản lý kinh tế, hành chính để áp đặt giao kết hợp đồng bảo hiểm, quảng cáo quá khuếch trương, nhâ ̣p nhằng trong bán bảo hiểm bắt buô ̣c, trả hoa hồng bảo hiểm không đúng vẫn có thể xảy ra Các vi pha ̣m về nguyên tắc kỹ thuâ ̣t bảo hiểm, đa ̣o đức nghề nghiê ̣p đều có ha ̣i cho sự phát triển lành ma ̣n h của thi ̣ trường bảo hiểm, vì thế không thể thiếu sự quản lý, giám sát có hiệu quả của Nhà nước
- Thứ năm, do đặc trưng của hoạt động kinh doanh bảo hiểm nên các luật
phổ thông không có một số các quy định đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm (dự phòng phí, dự phòng bồi thường….) hay không có sự thích ứng giữa luật phổ thông đối với các đặc trưng của hoạt động kinh doanh bảo hiểm Như vâ ̣y, vấn đề quản lý, giám sát của Nhà nước về bảo hiểm là một tất yếu khách quan vì mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm , người được bảo hiểm , người được hưởng quyền lợi bảo hiểm ;
Trang 31đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo hô ̣ lợi ích chính đáng của các doanh nghiê ̣p bảo h iểm; điều chỉnh, thúc đẩy hoạt động kinh doanh bảo hiểm phát triển theo yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước
1.2.3 Nội dung quản lý Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ 1.2.3.1 Lập kế hoạch quản lý thị trường bảo hiểm nhân thọ
Kế hoạch quản lý TTBHNT là các chương trình hành động hoặc bất
kỳ danh sách, sơ đồ, bảng biểu được sắp xếp theo lịch trình, có thời hạn, chia thành các giai đoạn, các bước thời gian thực hiện, có phân bổ nguồn lực, ấn định những mục tiêu quản lý cụ thể và xác định biện pháp, sự chuẩn bị, triển khai thực hiện nhằm đạt được mục tiêu, chỉ tiêu quản lý đã được đề ra Thông thường kế hoạch được hiểu như là một khoảng thời gian cho những dự định sẽ hành động và thông qua đó nhằm đạt được mục tiêu Việc lập kế hoạch căn cứ vào các yếu tố sau:
- Xác định mục tiêu, yêu cầu quản lý: Trên cơ sở phân tích thực trạng sự phát triển của TTBHNT Việt Nam, phân tích tình hình phát triển kinh tế - xã hội, các dự báo về tình hình phát triển kinh tế - xã hội và đánh giá các quy định pháp lý về BHNT, cơ quan quản lý Nhà nước thiết lập mục tiêu cho vấn
đề QLNN đối với TTBHNT
- Xác định nội dung công việc: Nhằm thực hiện được mục tiêu, yêu cầu của công việc QLNN đối với TTBHNT cần xây dựng các chiến lược, đề án nhằm thực hiện các mục tiêu xác định Quản lý theo chiến lược, dự án là một
sự đổi mới căn bản về cơ chế quản lý của Nhà nước Nội dung của các chiến lược, đề án đó là xác định các yếu tố:
+ Địa điểm, không gian thực hiện kế hoạch quản lý, nơi bố trí, tập kết
nguồn lực thực hiện kế hoạch
+ Thời gian thực hiện kế hoạch: Thời gian bắt đầu, thời gian kết thúc, thời
gian điều chỉnh thực hiện kế hoạch Cần xác định được mức độ khẩn cấp và
Trang 32mức độ quan trọng của từng công việc như công việc quan trọng và khẩn cấp, công việc không quan trọng nhưng khẩn cấp, công việc quan trọng nhưng không khẩn cấp, công việc không quan trọng và không khẩn cấp
+ Chủ thể, đối tượng thực hiện kế hoạch: Gồm chủ thể thực hiện kế
hoạch, chủ thể phối hợp, hỗ trợ thực hiện kế hoạch, chủ thể kiểm tra, giám sát, báo cáo thực hiện kế hoạch và chủ thể chịu trách nhiệm cho kế hoạch Cùng với việc lập kế hoạch, thì cần phải theo dõi kế hoạch đã đặt ra nhất là đối với kế hoạch có sự tham gia của nhiều người, nhiều bộ phận thì phải có người theo dõi và kết nối từng đơn vị với nhau
+ Xác định phương thức, cách thức tiến hành thực hiện kế hoạch: Xây dựng tài liệu, cẩm nang hướng dẫn, chỉ dẫn thực hiện cho từng công việc, từng bước, tiêu chuẩn của công việc, cách thức tổ chức thực hiện quản lý trong từng giai đoạn
+ Xác định việc tổ chức thực hiện, phân bổ nguồn lực gồm: xác định phương pháp kiểm soát và kiểm tra và đặc biệt là phải xác định cho được nguồn lực thực hiện gồm nguồn nhân lực, tài lực, công nghệ và phương thức, phương pháp làm việc
1.2.3.2 Tổ chức bộ máy quản lý thị trường bảo hiểm nhân thọ
Căn cứ vào đă ̣c điểm kinh tế , chính trị và xã hộ i, mỗi quốc gia lựa chọn cách thức tổ chức , phương pháp quản lý , giám sát của các quốc gia phù hợp từng giai đoa ̣n và thực tế Hiện nay trên thế giới tồn tại bốn mô hình quản lý
đó là: mô hình quản lý theo thể chế, mô hình quản lý theo chức năng, mô hình quản lý kết hợp và mô hình quản lý lưỡng đỉnh để quản lý thị trường tài chính
nói chung và thị trường bảo hiểm nói riêng
a Mô hình quản lý theo thể chế
Mô hình quản lý theo thể chế dựa trên cách tiếp cận truyền thống, theo đó tình trạng pháp lý của tổ chức tài chính sẽ quyết định cơ quan quản lý nào có
Trang 33nhiệm vụ quản lý hoạt động của nó Một khi được đăng ký, tổ chức đã trở thành chủ thể cho một cơ quan quản lý nhất định, ngay cả khi nó mở rộng hoạt động ra ngoài giới hạn được xác định ban đầu Một công ty kinh doanh bảo hiểm sẽ được đăng ký trở thành công ty bảo hiểm và chịu sự giám sát của cơ quan quản lý về bảo hiểm, ngay cả khi nó mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực khác
Trong mô hình quản lý theo thể chế, cấu trúc quản lý được phân chia theo từng mảng thị trường, bao gồm nhiều cơ quan quản lý khác nhau, mỗi cơ quan quản lý trên từng lĩnh vực gồm bảo hiểm, chứng khoán, ngân hàng Trong đó cơ quan quản lý bảo hiểm chịu trách nhiệm quản lý các công ty bảo hiểm
Hình 1.1: Mô hình tổ chức quản lý thị trường tài chính theo thể chế
(Nguồn: Tô Ngọc Hưng, 2011, Hệ thống giám sát tài chính Việt Nam,
Nhà xuất bản Hà Nội, trang 49)
Hệ thống luật giám sát
Theo mô hình thể chế, việc quản lý được phân chia theo từng lĩnh vực của thị trường gồm: bảo hiểm, ngân hàng, chứng khoán Chính vì thế các nước xây
Cơ quan giám
sát ngân hàng Cơ quan giám sát bảo hiểm Cơ quan giám sát chứng khoán
Hoạt động chứng khoán
Nhận tiền gửi Hoạt động bảo hiểm
Trang 34dựng bộ luật riêng điều chỉnh hoạt động của tổ chức kinh doanh bảo hiểm và luật quản lý bảo hiểm được xây dựng riêng cho các cơ quan giám sát bảo hiểm
Luật quản lý về lĩnh vực bảo hiểm bao gồm các nội dung chủ yếu sau: (i) xác định cụ thể cơ quan quản lý thị trường bảo hiểm; (ii) quy định quyền lực của
cơ quan quản lý bảo hiểm; (iii) hệ thống công cụ quản lý được sử dụng để đảm bảo tính ổn định và an toàn cho thị trường bảo hiểm; (iv) quy định thẩm quyền của cơ quan quản lý bảo hiểm như quyền cấp phép, quyền phán quyết, quyền tiếp quản, quyền tái cơ cấu… Bên cạnh đó cũng quy định rõ ràng quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý bảo hiểm, mối quan hệ ngang cấp giữa các cơ quan quản lý, tính tương hỗ và độc lập giữa các cơ quan Các bộ luật quản lý này cần phải dựa trên chuẩn mực quốc tế về quản lý bảo hiểm
b Mô hình quản lý theo chức năng
Hình 1.2 Mô hình quản lý theo chức năng
(Nguồn: Tô Ngọc Hưng, 2011, Hệ thống giám sát tài chính Việt Nam,
Nhà xuất bản Hà Nội, trang 57)
Mô hình quản lý theo chức năng là mô hình mà việc quản lý được xác định bởi hoạt động kinh doanh của các thực thể mà không quan tâm đến hình thức pháp lý của các thực thể đó Mỗi loại hoạt động kinh doanh có thể có một cơ quan quản lý riêng biệt Theo đó một cơ quan có thể chịu sự quản lý của nhiều cơ quan khác nhau Nếu cung cấp dịch vụ trên càng nhiều lĩnh vực,
tổ chức này sẽ càng chịu sự quản lý của nhiều cơ quan
Các cơ quan tư vấn
Cơ quan chuyên trách giám sát hoạt động hưu trí
Cơ quan chuyên trách giám sát hoạt động chứng khoán
Cơ quan chuyên trách giám sát hoạt động bảo hiểm
Cơ quan chuyên
trách giám sát
hoạt động ngân
hàng
Trang 35Theo mô hình này, mỗi loại hoạt động kinh doanh có một cơ quan quản
lý riêng Theo cách tiếp cận chức năng đơn thuần, nếu một thực thể đơn lẻ tham gia hoạt động kinh doanh bảo hiểm thì sẽ có một cơ quan giám sát độc lập về bảo hiểm chịu trách nhiệm giám sát Cơ quan quản lý bảo hiểm độc lập này sẽ chịu trách nhiệm đối với sự an toàn và phù hợp của mỗi công ty bảo hiểm Nhiệm vụ khó khăn của mô hình này là hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải đủ rõ ràng để phân loại nhằm xác định chính xác cơ quan chịu trách nhiệm quản lý
Các cơ quan tư vấn ở các nước được gọi với những tên khác nhau Ở Tây Ban Nha và Italy, cơ quan này là Ủy ban Ổn định tài chính; ở Pháp các cơ quan này là Ủy ban tư vấn về luật pháp và quy định tài chính và Ban phụ trách khu vực tài chính; còn ở Brazil cơ quan này có tên gọi là Ủy ban tiền tệ quốc gia
Hệ thống luật giám sát
Về cơ bản cấu trúc hệ thống luật giám sát trong mô hình quản lý theo thể chế và mô hình quản lý theo chức năng không khác nhau Điều khác nhau chủ yếu là cơ chế giám sát khi một định chế có thể chịu sự giám sát của các chủ thể giám sát khác nhau với các bộ luật khác nhau
Luật Bảo hiểm với chức năng quản lý các hoạt động liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm Bên cạnh đó, hoạt động quản lý còn được hỗ trợ bởi các luật khác nhằm hỗ trợ việc quản lý bảo hiểm như luật doanh nghiệp, luật cạnh tranh, luật thương mại… Cơ quan quản lý bảo hiểm có toàn quyền trong việc thực thi giám sát trong lĩnh vực bảo hiểm, từ việc cấp phép đến các hoạt động kỷ luật Cụ thể
là các cơ quan này có thể áp dụng các biện pháp hành chính dưới dạng thu hồi giấy phép, cảnh báo, huấn thị hay khiển trách đối với các công ty bảo hiểm Ngoài ra, cơ quan giám sát bảo hiểm còn được trao quyền để tiến hành kỷ luật,
có thể bao gồm các việc chuyển vốn, cảnh báo và yêu cầu thay đổi quản lý Các
cơ quan quản lý bảo hiểm có vai trò độc lập và có tầm quan trọng tương đương
Trang 36với cơ quan giám sát ngân hàng và cơ quan giám sát chứng khoán trong việc giám sát và đảm bảo an toàn cho cả hệ thống tài chính
c Mô hình quản lý lưỡng đỉnh
Mô hình quản lý lưỡng đỉnh dựa trên nguyên tắc quản lý theo mục tiêu và dẫn đến sự phân chia chức năng giám sát đối với hai cơ quan: một cơ quan với chức năng quản lý an toàn (prudent) và một cơ quan tập trung vào quản lý hoạt động kinh doanh (conduct-of-business) nhằm bảo vệ lợi ích cho khách hàng
Hình 1.3 Mô hình quản lý lưỡng đỉnh
(Nguồn: Tô Ngọc Hưng, 2011, Hệ thống giám sát tài chính Việt Nam,
Nhà xuất bản Hà Nội, trang 61)
Mô hình này tồn tại song song hai cơ quan độc lập tham gia quản lý cả bốn hoạt động bảo hiểm, ngân hàng, chứng khoán, hưu trí Hai cơ quan này là những cơ quan độc lập, có quyền chủ động trong việc giám sát và đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính quốc gia nói chung và thị trường bảo hiểm nói riêng Giữa hai cơ quan này có mối liên hệ hợp tác với nhau và chịu sự chỉ đạo chung của các cơ quan tư vấn cấp 1 Tuy nhiên, hai cơ quan này cũng có thể hình thành các cơ quan tư vấn độc lập (cấp 2) cho riêng mình
Các cơ quan tư vấn cấp 1
Cơ quan giám sát thận trọng (prudent)
Các cơ quan
tư vấn cấp 2
Cơ quan giám sát hoạt động kinh doanh (conduct - of- business)
Các cơ quan
tư vấn cấp 2
Ngân hàng Chứng khoán Bảo hiểm Hưu trí
Ngân hàng Chứng khoán Bảo hiểm Hưu trí
Trang 37Các cơ quan tư vấn cấp 1 ở các nước được gọi với những tên khác nhau như Hội đồng giám sát liên bang hay Bộ Tài chính… Các cơ quan tư vấn cấp
2 được chỉ định tùy thuộc vào đặc thù của mỗi nước Ở Úc, NHTW là cơ quan
tư vấn cấp 2 còn ở Hà Lan các cơ quan tư vấn cấp 2 thường là các Ban do cơ quan giám sát thành lập Để hoạt động có hiệu quả, các cơ quan tham gia (trực tiếp hoặc gián tiếp) vào việc giám sát tài chính cần có mối liên hệ và phối hợp như trong hình vẽ trên
Hệ thống luật giám sát
Theo mô hình giám sát lưỡng đỉnh, việc giám sát được phân chia thành hai loại: quản lý thận trọng và quản lý hoạt động kinh doanh Các nước áp dụng mô hình quản lý lưỡng đỉnh đều xây dựng cho mình một hệ thống luật quản lý bao gồm các luật khác nhau nhằm điều chỉnh phạm vi và quy định vai trò quản lý của các cơ quan Các nước đều cố gắng xây dựng cho mình một hệ thống luật giám sát hiệu quả, các bộ luật liên quan đến hoạt động quản lý có tính thống nhất cao nhằm mục tiêu giám sát hiệu quả và thúc đẩy khu vực tài chính nói chung và khu vực bảo hiểm nói riêng phát triển
d Mô hình quản lý hợp nhất
Khác với mô hình quản lý tài chính theo thể chế và theo chức năng, mô hình quản lý hợp nhất chỉ bao gồm một cơ quan quản lý duy nhất chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ các trung gian và thị trường thuộc lĩnh vực bảo hiểm, ngân hàng và tài chính
Mô hình quản lý hợp nhất bao gồm hai loại: hợp nhất hoàn toàn (full integration) và hợp nhất một phần (partial integration) Mô hình quản lý hợp nhất hoàn toàn chỉ bao gồm một cơ quan duy nhất thực hiện việc quản lý toàn
bộ ngành dịch vụ tài chính (bảo hiểm, ngân hàng) và thị trường vốn Còn mô hình quản lý hợp nhất từng phần, cơ quan quản lý tài chính thực hiện quản lý
2 trên 3 lĩnh vực: ví dụ quản lý bảo hiểm và ngân hàng; hoặc NHTW thực
Trang 38hiện quản lý ngân hàng còn một tổ chức độc lập khác thì thực hiện quản lý các tổ chức tài chính phi ngân hàng (bảo hiểm, quỹ hưu trí) và thị trường vốn
Giám sát an toàn
vĩ mô (Macro- prudential supervision)
Giám sát an toàn
vi mô (Micro- prudential supervision)
Giám sát hoạt động kinh doanh (Conduct of business)
(Nguồn: Tô Ngọc Hưng, 2011, Hệ thống giám sát tài chính Việt Nam, Nhà
xuất bản Hà Nội, trang 64)
Sự khác nhau trong cơ cấu tổ chức của các mô hình chủ yếu dựa vào sự phân tách trách nhiệm quản lý của Ngân hàng trung ương và cơ quan quản lý hợp nhất Trong mô hình giám sát hợp nhất, cơ quan quản lý hợp nhất chịu trách nhiệm chính về hai mục tiêu đó là quản lý an toàn vi mô và quản lý hoạt động kinh doanh Còn mục tiêu còn lại là giám sát an toàn vĩ mô sẽ do cơ quan giám sát hợp nhất và một cơ quan khác cùng chia sẻ trách nhiệm
Hệ thống luật giám sát
Ở hầu hết các quốc gia, việc thành lập cơ quan quản lý hợp nhất thường đồng thời với việc xem xét và sửa đổi các đạo luật và quy định hiện hành trong lĩnh vực bảo hiểm - ngân hàng - chứng khoán nhằm tạo điều kiện cho cơ quan này hoàn thành tốt và hiệu quả chức năng nhiệm vụ của mình Trên thực
tế, một số các quốc gia thay vì sửa đổi các luật hiện hành họ lại tiến hành thay thế bằng một đạo luật mới hoàn toàn Trong bộ luật mới hoặc bộ luật đã sửa
Ngân hàng Trung ương
Cơ quan giám sát tài chính hợp nhất
Trang 39đổi, nhiệm vụ, mục tiêu, quyền lực và phạm vi trách nhiệm của cơ quan quản
lý hợp nhất được xác định rõ ràng Ngoài ra, các đạo luật này cũng phải chỉ rõ nhân viên của cơ quan quản lý tài chính được pháp luật bảo vệ và có quyền đưa ra các quyết định nhằm đảm bảo sự công bằng giữa các doanh nghiệp cũng như đảm bảo tính minh bạch của cơ quan giám sát hợp nhất
Thông thường, mô hình quản lý hợp nhất sẽ phải có các đạo luật chính sau:
- Luật về cơ quan quản lý tài chính hợp nhất, bao gồm một số nội dung
cơ bản sau:
+ Mục tiêu, chức năng và phạm vi quản lý;
+ Quyền hạn trong hoạch định, ban hành các luật định, chính sách; + Quyền hạn trong việc yêu cầu các tổ chức tài chính cung cấp thông tin để thực hiện việc thanh tra giám sát;
+ Các biện pháp xử lý đối với các hoạt động của các tổ chức trung gian tài chính không được sự cho phép của cơ quan giám sát tài chính hợp nhất, các hành vi lừa đảo, bóp méo thị trường;
+ Các yêu cầu đối với những người có trách nhiệm thanh tra, giám sát các tổ chức tài chính;
+ Thành lập tòa án riêng để xử lý các hành vi có liên quan đến thị trường và các dịch vụ tài chính;
+ Thành lập kế hoạch để bồi thường/bù đắp rủi ro trong các dịch vụ tài chính; + Các cá nhân được phép kiện các tổ chức tài chính nếu các tổ chức này vi phạm luật…
- Luật về bảo hiểm:
Thay vì một bộ luật chung về cơ quan quản lý tài chính, một số quốc gia lại ban hành các bộ luật riêng rẽ về từng ngành trong lĩnh vực tài chính như bảo hiểm, ngân hàng, chứng khoán… Tuy nhiên, tất cả các bộ luật này được thiết kế đồng bộ nhằm đảm bảo tính nhất quán với mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan giám sát
Trang 40Luật Kinh doanh bảo hiểm (Insurance Business Act) quy định rõ: công
ty cổ phần và công ty tương hỗ thực hiện kinh doanh bảo hiểm; các hoạt động kinh doanh bảo hiểm; hạch toán kế toán; giám sát; chuyển giao các hợp đồng bảo hiểm, chuyển giao hoặc mua lại doanh nghiệp, ủy thác kinh doanh và tài sản; giải thể, sát nhập, chia tách và thanh lý công ty; các công ty bảo hiểm nước ngoài; một số chính sách đặc biệt nhằm bảo vệ người tham gia bảo hiểm; các cổ đông của công ty bảo hiểm; một số quy định đặc biệt đối với hình thức bảo hiểm ngắn hạn và số tiền bảo hiểm nhỏ; quy định về đóng bảo hiểm; quy định về xử phạt hình sự
- Một số luật khác nhằm bổ sung hoặc hỗ trợ cho Luật về cơ quan giám sát tài chính như Luật Doanh nghiệp, Luật Hình sự…
- Các cẩm nang hoặc thông tư hướng dẫn việc áp dụng các luật và quy định trong lĩnh vực tài chính
- Các cuốn sổ tay hướng dẫn hoạt động thanh tra, giám sát đối với từng lĩnh vực cụ thể trong đó có bảo hiểm như: hướng dẫn giám sát hoạt động của các công ty bảo hiểm, hướng dẫn giám sát các khoản bảo hiểm ngắn hạn nhỏ…
1.2.3.3 Điều hành, kiểm tra và giám sát hoạt động của thị trường bảo hiểm nhân thọ
Nô ̣i dung quản lý của Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm sẽ tuỳ thuộc vào hệ thống luật pháp của từng quốc gia và trong từng thời kỳ Tuy nhiên, những nô ̣i dung quan tro ̣ng trong quản lý của Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm là vấn đề quản lý hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm Hoạt động điều hành, kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện
mô ̣t cách có hê ̣ thống - trước khi bắt đầu hoa ̣t đô ̣ng; trong quá trình hoa ̣t đô ̣ng cũng như đối với việc chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp
- Kiểm tra ca ́ c tiêu chuẩn, điều kiê ̣n hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Mục đích của viê ̣c kiểm tra các tiêu chuẩn, điều kiê ̣n hoa ̣t đô ̣ng kinh doanh bảo hiểm là lựa chọn những doanh nghiệp có đủ khả năng mọi mặt cho hoạt