1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập ở Việt Nam hiện nay Luận văn ThS. Luật

117 398 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật thuế ở nước ta hiện nay ghi nhận và cho phép Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế theo thoả thuận với chủ thể nộp thuế theo điều 20 Luật quản lý thuế bao gồm cả việc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Vũ Hồng Anh

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thế Tài

Trang 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP VÀ

NHỮNG BIỆN PHÁP PHÁP LÝ BẢO ĐẢM VIỆC THU, NỘP THUẾ THU NHẬP

8

1.2 Cơ sở lý luận về những biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp

thuế thu nhập

18

1.2.1 Khái niệm biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập 18 1.2.2 Đặc điểm của biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập 20

1.2.3 Phân loại biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập 23

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NHỮNG BIỆN PHÁP PHÁP LÝ BẢO

ĐẢM VIỆC THU, NỘP THUẾ THU NHẬP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

27

2.1 Thực trạng quy định về những biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu,

nộp thuế thu nhập ở Việt Nam hiện nay

27

2.1.2 Biện pháp quản lý chủ thể tham gia quan hệ thu, nộp thuế thu nhập 34 2.1.3 Biện pháp thanh tra, kiểm tra việc thu, nộp thuế thu nhập 43

2.2 Thực tiễn áp dụng quy định về những biện pháp pháp lý bảo đảm

việc thu, nộp thuế thu nhập ở Việt Nam hiện nay

53

2.2.1 Một số bất cập trong quy định của pháp luật 55 2.2.2 Một số vụ việc đã xảy ra trên thực tế 65

Trang 5

3

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG

CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG NHỮNG BIỆN PHÁP PHÁP LÝ BẢO ĐẢM VIỆC THU, NỘP THUẾ THU NHẬP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1.2 Đảm bảo phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tiễn của nền kinh tế thị

trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

71

3.1.3 Đảm bảo phù hợp với chiến lược cải cách hành chính và cải cách hệ

thống thuế của nước ta hiện nay

73

3.1.4 Đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng

giai đoạn phát triển nhất định, đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước

và lợi ích của chủ thể nộp thuế

74

3.1.5 Đảm bảo thống nhất với hệ thống pháp luật nói chung và các quy định

pháp luật Quốc tế mà Việt Nam tham gia, ký kết

76

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng những

biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập ở Việt Nam

thuế nói chung và thuế thu nhập nói riêng

3.2.7 Từng bước thực hiện xã hội hóa công tác quản lý thuế nói chung và quản

lý thuế thu nhập nói riêng

87

Trang 6

4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng thuế ra đời và tồn tại là khách quan, là điều kiện vật chất quan trọng để Nhà nước tồn tại và phát triển, là nguồn thu chủ yếu của ngân sách mỗi Quốc gia, đóng vai trò quyết định trong việc duy trì hoạt động của bộ máy Nhà nước đồng thời là công cụ kinh tế - pháp lý để Nhà nước thực hiện chức năng của mình Ở những nước phát triển, thuế thu nhập chiếm tỷ trọng đóng góp rất cao trong tổng số thu từ thuế cho ngân sách Nhà nước và nó được xem là trụ cột trong hệ thống thuế

Ở Việt Nam, phù hợp với thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội, hệ thống pháp luật thuế hình thành và ngày càng phát triển Vai trò quan trọng của thuế được thể hiện thông qua tỷ trọng đóng góp của nguồn thu này đối với ngân sách Nhà nước Trong dự toán ngân sách của nước ta những năm gần đây (năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014) thu từ thuế chiếm khoảng 80% thu ngân sách Nhà nước Trên thực tế, theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính trung bình

ba năm 2010, 2011, 2012, thực thu từ thuế chiếm trên 82,58% ngân sách của nước ta; Tính trong 6 tháng đầu năm 2013, tỷ lệ này là 87,75% Cũng theo thông tin từ Bộ Tài chính, trong các khoản thuế hiện hành của Việt Nam, thuế thu nhập (gồm thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp) có tỷ trọng đóng góp cao nhất

Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội, sự đóng góp của thuế thu nhập vào ngân sách Nhà nước ngày một tăng; Thuế thu nhập ngày càng thể hiện vai trò quan trọng đối với thu ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, thực tế hoạt động thực thi quy định pháp luật thuế nói chung và hoạt động thu, nộp thuế thu nhập nói riêng hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập, ảnh

Trang 7

5

hưởng tiêu cực tới quỹ ngân sách Trong mười sắc thuế hiện hành, có năm sắc thuế bị vi phạm nhiều nhất là thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập

cá nhân, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất, nhập khẩu và thuế nhà đất Nổi bật

là việc các chủ thể tìm mọi cách làm giảm thu nhập để trốn thuế [82] Những vấn đề nêu trên đặt ra yêu cầu nghiên cứu, xác định phương hướng và giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thu, nộp thuế thu nhập

Vì vậy, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Những biện pháp pháp lý bảo

đảm việc thu, nộp thuế thu nhập ở Việt Nam hiện nay”

2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận

và thực tiễn biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập ở nước ta, qua đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện các biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập ở Việt Nam hiện nay

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, chủ thể nộp thuế thu nhập có thể là người cư trú, người không cư trú (theo điều 2 Luật thuế thu nhập cá nhân); Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam, Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài

có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã, Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam, Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập (theo điều 2 luật thuế thu nhập doanh nghiệp) Trong giới hạn Luận văn này, đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu hoạt động thu, nộp thuế thu nhập đối với cá nhân là người cư trú và doanh nghiệp thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp

Trang 8

6

3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên nền tảng quan điểm của triết học Mác-Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật Để đạt được mục đích nghiên cứu, Luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng Ngoài ra để hoàn thành đề tài, Luận văn còn sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu truyền thống như: Phương pháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp đối chiếu, so sánh; Phương pháp logic; Phương pháp thống kê… nhằm làm sáng tỏ các vấn đề cần nghiên cứu

4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Luận văn nghiên cứu pháp luật thuế thu nhập từ một góc nhìn hoàn toàn mới: đồng thời từ phía chủ thể thu thuế và chủ thể nộp thuế, tương ứng với hoạt động thu thuế thu nhập và hoạt động nộp thuế thu nhập Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần bổ sung và phát triển những vấn đề lý luận về hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập ở Việt Nam nói riêng và các quy định pháp luật khác có liên quan để đảm bảo hiệu quả công tác thu, nộp thuế thu nhập trên thực tiễn Luận văn đưa ra những kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động thu, nộp thuế thu nhập Các ý kiến được trình bày trong Luận văn có thể giúp ích cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong xây dựng chính sách, xây dựng pháp luật Qua đây, tác giả mong muốn đóng góp một phần công sức nhằm hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập, pháp luật quản lý thuế, các quy định liên quan đến hoạt động thu, nộp thuế thu nhập cũng như hệ thống pháp luật nói chung

5 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn được trình bày với kết cấu 3 chương như sau:

Trang 9

7

- Chương 1: Cở sở lý luận về thuế thu nhập và những biện pháp pháp lý

bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập;

- Chương 2: Thực trạng những biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp

thuế thu nhập ở Việt Nam hiện nay;

- Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp

dụng những biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập ở Việt

Nam hiện nay./

Trang 10

8

Chương 1

Cơ sở lý luận về thuế thu nhập và những biện pháp pháp lý

bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập

1.1 Cơ sở lý luận về thuế thu nhập

1.1.1 Khái niệm thuế thu nhập

Pháp luật nước ta hiện nay không định nghĩa thế nào là “thuế thu nhập”; Thực tế, nó được hiểu đơn giản là một loại thuế đánh vào thu nhập Trong đó, thuế là một khoản tiền mà các tổ chức, cá nhân phải đóng cho Nhà nước theo quy định của pháp luật, không mang tính chất đối giá, không hoàn trả trực tiếp; Tuy nhiên, còn nhiều quan điểm khác nhau về thu nhập [36]; Ví dụ:

- Theo ngôn ngữ học, thu nhập được giải thích là các khoản thu được trong một khoảng thời gian nhất định theo tháng, năm

- Theo lý thuyết về nguồn tài sản, thu nhập được xác định là tổng sản phẩm kinh tế mà hàng năm được bổ sung cho từng người từ những nguồn ổn định

- Theo lý thuyết về tăng tài sản thuần túy, thu nhập là tổng đại số của giá trị trên thị trường của các quyền lợi được hưởng dưới dạng tiêu dùng và thay đổi về giá trị trong tổng các nguồn sở hữu trong một khoảng thời gian nhất định

Qua tổng hợp, có thể thấy thu nhập là các khoản thu dưới dạng tiền tệ, hiện vật hoặc những giá trị vật chất, kinh tế mà tổ chức, cá nhân có được từ các hoạt động trong xã hội [36] Về nguyên tắc, chỉ những thu nhập được pháp luật dự liệu, ghi nhận và đã phát sinh trên thực tế mới bị đánh thuế (trừ các trường hợp được miễn, giảm thuế theo quy định) Trong đó, thu nhập ở đây phải là những thu nhập hợp pháp; Những “thu nhập” không hợp pháp hoặc có nguồn gốc không hợp pháp như tiền/tài sản có được do trộm cắp, buôn bán ma túy, tài sản được tặng cho là do người khác phạm tội mà có hay

Trang 11

9

từ các hoạt động bất hợp pháp khác sẽ không được pháp luật thừa nhận; Những “thu nhập” này sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật (như bị tịch thu, sung quỹ, trả lại người bị mất, bị hại…) Do đó, không đặt ra vấn đề tính

và thu thuế đối với những “thu nhập” không hợp pháp hoặc có nguồn gốc không hợp pháp này

Như vậy, một cách khái quát, thuế thu nhập là loại thuế đánh vào thu nhập

đã phát sinh của tổ chức, cá nhân (theo từng lần hoặc trong một khoảng thời gian xác định từ những nguồn nhất định) khi đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định Các điều kiện do pháp luật quy định ở đây là các yếu tố liên quan tới

đặc điểm của thu nhập (như: tính hợp pháp của thu nhập, giá trị của thu nhập, nguồn gốc của thu nhập…), đặc điểm của chủ thể có thu nhập (như: là người cư trú hay không cư trú; người có một nhà ở duy nhất hay còn nhà ở khác nữa…), nơi phát sinh thu nhập (từ hoạt động trong nước hay ở nước ngoài…)

1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập

Bên cạnh những đặc điểm chung của thuế (như: gắn liền với quyền lực Nhà nước, là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách Nhà nước, không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp …), thuế thu nhập có một số đặc điểm sau:

- Thứ nhất, thuế thu nhập là thuế trực thu thuần túy Theo đó, chủ thể

có nghĩa vụ nộp thuế luôn chính là người chịu thuế_người có thu nhập chịu thuế phát sinh; chủ thể nộp thuế không thể chuyển nghĩa vụ thuế sang cho chủ thể khác

Tính trực thu là một trong những đặc điểm phân biệt thuế thu nhập với các loại thuế gián thu (như thế giá trị gia tăng) qua đó, nó có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định chính sách, đề ra các biện pháp quản lý thuế phù hợp để việc thu, nộp thuế thu nhập được hiệu quả Ngoài mục tiêu tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, nó còn có mục tiêu điều tiết kinh tế, điều hoà thu nhập xã

Trang 12

10

hội nên thường gắn liền với chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước Yếu tố

“thuần túy” ở đây được phân biệt với một số loại thuế khác có thể là trực thu hoặc gián thu tùy vào từng trường hợp cụ thể Ví dụ thuế nhập khẩu, nếu chủ thể nhập khẩu hàng hóa để bán lại hàng hóa đó thì trường hợp này thuế nhập khẩu

có tính gián thu; còn nếu chủ thể nhập khẩu hàng hóa để trực tiếp sử dụng, tiêu dùng hàng hóa đó thì trường hợp này thuế nhập khẩu lại có tính trực thu Do tính chất trực thu, thuế thu nhập thường vấp phải sự phản kháng của đối tượng nộp thuế nhiều hơn so với các loại thuế gián thu Điều này có thể xuất phát từ tâm lý của chủ thể nộp thuế: thuế trực thu sẽ tác động trực tiếp tới “túi tiền” của chủ thể nộp thuế nên dễ vấp phải sự phản kháng của họ Còn thuế gián thu, do có sự dịch chuyển nghĩa vụ thuế từ chủ thể chịu thuế sang chủ thể nộp thuế Theo đó, số tiền thuế phải nộp sẽ được tính vào giá hàng hoá, dịch vụ và người bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ sẽ thực hiện nộp thuế thay cho người chịu thuế do vậy hạn chế

sự phản kháng của người chịu thuế

Pháp luật thuế ở nước ta hiện nay ghi nhận và cho phép Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế theo thoả thuận với chủ thể nộp thuế (theo điều 20 Luật quản lý thuế) bao gồm cả việc khai, nộp thuế thu nhập, quyết toán thuế thu nhập, lập hồ sơ đề nghị số tiền thuế thu nhập được miễn, được giảm, được hoàn Tuy nhiên, đây không phải là sự dịch chuyển nghĩa vụ nộp thuế mà

là quan hệ ủy quyền giữa người chịu thuế (tổ chức, cá nhân có thu nhập chịu thuế) với bên thứ ba là Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế thay mình làm thủ tục và nộp số tiền thuế phải nộp cho cơ quan thuế trên cơ sở hợp đồng được ký kết giữa các bên Về bản chất, người chịu thuế và chủ thể nộp thuế trong trường hợp này vẫn là cùng một chủ thể_bên ủy quyền

- Thứ hai, thuế thu nhập có đối tượng đánh thuế là thu nhập

Trang 13

11

Trong hệ thống thuế ở các nước, có nhiều loại thuế khác nhau, có đối tượng tính thuế, đối tượng nộp thuế khác nhau nhưng suy cho cùng thì bất kỳ loại thuế nào cũng đều lấy từ thu nhập của người dân trong xã hội để tập trung vào quỹ ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, không phải loại thuế nào cũng là thuế thu nhập Thuế thu nhập khác với thuế tiêu dùng, thuế tài sản ở chỗ: thuế thu nhập đánh trực tiếp vào thu nhập của tổ chức, cá nhân khi có thu nhập chịu thuế phát sinh Đối với thuế tiêu dùng là loại thuế gián thu đánh vào việc sử dụng thu nhập của người dân thông qua việc người dân sử dụng thu nhập để mua hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng, phần thu nhập mà Nhà nước thu của họ được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ Đối với thuế tài sản là loại thuế đánh vào thu nhập tích luỹ đã được vật chất hoá dưới dạng tài sản của tổ chức, cá nhân trong xã hội Về bản chất, thuế tài sản cũng là thuế trực thu nhưng có đối tượng đánh thuế là tài sản Mặc dù, tài sản và thu nhập đều là của cải mà chủ thể có được nhờ những nguồn thu nhất định (từ hoạt động kinh tế, được tặng cho…), tuy nhiên giữa chúng có sự khác biệt nhất định, cụ thể: tài sản là khối lượng của cải của một chủ thể ở một thời điểm nào đó, còn thu nhập là số của cải thu được của một chủ thể trong khoảng thời gian nhất định (một tháng hoặc một năm) Như vậy, thu nhập của một thời kỳ không bao gồm thu nhập của thời kỳ trước, còn tài sản lúc cuối kỳ thì bao gồm cả các thu nhập của các kỳ trước đó cộng lại Vì vậy, khái niệm tài sản phải gắn với yếu tố thời điểm còn khái niệm thu nhập gắn với yếu tố khoảng thời gian nhất định [79]

Do thuế thu nhập có đối tượng đánh thuế là thu nhập phát sinh, vì thế, một nội dung quan trọng của chính sách thuế thu nhập là phải xác định được thu nhập chịu thuế Trong điều kiện kinh tế phát triển như hiện nay, các khoản thu nhập của tổ chức, cá nhân rất đa dạng nhưng không phải khoản thu nhập nào cũng là thu nhập chịu thuế; chỉ những khoản thu nhập đáp ứng những điều kiện nhất định mới là thu nhập chịu thuế Pháp luật thuế thu nhập của các

Trang 14

12

nước đều quy định các khoản thu nhập chịu thuế làm cơ sở cho việc đánh thuế thu nhập Thông thường, các khoản thu nhập chịu thuế phải là thu nhập hợp pháp, đã thực tế phát sinh, có tính phổ biến và Nhà nước có thể thể kiểm soát được Có như vậy, pháp luật thuế thu nhập mới có thể bảo đảm được tính khả thi, bảo đảm tính công bằng cho các đối tượng nộp thuế [79]

- Thứ ba, thuế thu nhập là một loại thuế phức tạp, tính ổn định không

cao, việc quản lý thuế, thu thuế tương đối khó khăn, chi phí quản lý thuế thường cao hơn so với các loại thuế khác Do có đối tượng đánh thuế là thu nhập nên nguồn thu từ thuế thu nhập phụ thuộc nhiều vào giá trị các khoản thu nhập chịu thuế của chủ thể trong kỳ tính thuế [79] Thông thường, chỉ một

số ít các khoản thu nhập có tính ổn định cao như tiền công, tiền lương của người lao động; Còn lại, hầu hết các khoản thu nhập chịu thuế thường có tính biến động cao như thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đầu tư vốn,

từ trúng thưởng, được tặng cho, thừa kế… Thực tế các khoản thu nhập này phát sinh và bị chi phối, ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khách quan, chủ quan khác nhau bao gồm cả các sự kiện về miễn, giảm thuế thu nhập (ví dụ: thu nhập từ sản xuất kinh doanh phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như biến động về giá cả, quan hệ cung cầu trên thị trường, các yếu tố về cạnh tranh…; thu nhập

từ tặng cho, thừa kế tài sản, trúng thưởng phụ thuộc vào sự phát sinh của sự kiện pháp lý tương ứng…) Đối với thuế thu nhập, ngoài việc xác định các khoản thu nhập chịu thuế còn phải xác định nguồn thu nhập, địa điểm phát sinh thu nhập, thời hạn cư trú của chủ sở hữu thu nhập, tính ổn định của thuế thu nhập… Trong phần xác định thu nhập chịu thuế, phải xác định được các khoản khấu trừ hợp lý để tiến hành giảm trừ khi tính thuế nhằm bảo đảm mục tiêu công bằng và khuyến khích đối với đối tượng nộp thuế cũng như hạn chế việc trốn thuế gây thất thoát cho ngân sách Nhà nước

Trang 15

13

- Thứ tư, nguồn luật điều chỉnh quan hệ thuế thu nhập gồm cả các văn

bản quy phạm pháp luật thuế thu nhập Quốc gia và văn bản quy phạm pháp luật thuế Quốc tế Ngày nay, xu thế Quốc tế hóa đời sống kinh tế - xã hội ngày càng mở rộng, hiện tượng một chủ thể nộp thuế có nhiều quốc tịch, nhiều nơi cư trú, nhiều nguồn thu nhập phát sinh cả trong và ngoài nước là tương đối phổ biến dẫn tới khả năng bị đánh thuế trùng đối với các loại thuế trực thu nói chung và thuế thu nhập nói riêng [79]

Đánh thuế trùng được hiểu là việc hai hay nhiều Quốc gia đánh một loại thuế trên cùng một khoản thu nhập hay tài sản chịu thuế của cùng một đối tượng nộp thuế trong cùng một kỳ tính thuế Đây là vấn đề mà tất cả các Quốc gia trên thế giới đều gặp phải khi xây dựng hệ thống chính sách thuế của nước mình Việc đánh thuế trùng ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển kinh tế xã hội chung của các Quốc gia, nó là rào cản đối với dòng luân chuyển hàng hóa, vốn, công nghệ và lao động; cản trở quá trình toàn cầu hóa kinh tế Xuất phát

từ lợi ích của Quốc gia mình, các nước trên thế giới đã tìm cách loại bỏ hiện tượng đánh thuế trùng bằng việc ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần để giải quyết các vấn đề song phương và đa phương về thuế Văn kiện này có phạm vi áp dụng vượt ra ngoài biên giới của một Quốc gia và có giá trị ràng buộc trách nhiệm của nhiều Quốc gia Xét trên phương diện pháp luật, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần chính là những quy định giới hạn quyền đánh thuế của từng Quốc gia trong khuôn khổ của Hiệp định Xét trên phương diện kinh tế thì Hiệp định tránh đánh thuế hai lần là sự thỏa thuận nhằm phân chia nguồn thu cho ngân sách giữa nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao vốn, công nghệ và phân công lao động Quốc tế [79]

Thông thường Hiệp định tránh đánh thuế hai lần ghi nhận các nội dung

cơ bản: (i) Phạm vi và đối tượng áp dụng; (ii) Các nguyên tắc áp dụng Hiệp

Trang 16

Nước ta thực hiện chủ trương xây dựng nền kinh tế mở, đa phương hóa,

đa dạng hóa kinh tế đối ngoại, khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam; đầu tư ra nước ngoài nên Nhà nước rất quan tâm tới vấn đề tránh đánh thuế hai lần Song song với việc xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật thuế trong nước, Việt Nam đã tích cực đàm phán và ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với nhiều Quốc gia, Vùng lãnh thổ trên thế giới Từ năm

1991, Việt Nam đã tiến hành đàm phán và ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với nhiều nước trên thế giới [79] Tính tới ngày 10/11/2013 Việt Nam đã tham gia ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với thu nhập với hơn 60 Quốc gia, Vùng lãnh thổ trên thế giới; Đến nay, gần 60 Hiệp định đã có hiệu lực thi hành Hiệp định tránh đánh thuế hai lần được Việt Nam ký kết đầu tiên với Ôxtrâylia vào ngày 13/10/1992 tại Hà Nội, Hiệp định được chính thức có hiệu lực từ ngày 30/12/1992; Gần đây nhất (tính tới thời điểm đề tài được nghiên cứu), Việt Nam ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Pa-le-xtin vào ngày 06/11/2013 tại Hà Nội (danh sách các Quốc gia/Vùng lãnh thổ đã ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Việt

Nam trong Phụ lục 1 kèm theo_tr.100)

Trang 17

15

1.1.3 Phân loại thuế thu nhập

Thông thường, thuế thu nhập được phân loại theo cách phân loại của thu nhập Tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu, mục đích của người nghiên cứu, thu nhập có thể được phân loại thành: Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh, thu nhập không từ hoạt động sản xuất kinh doanh; Thu nhập mang tính chất thường xuyên/định kỳ/lặp đi lặp lại, thu nhập phát sinh từng lần (không có tính thường xuyên/định kỳ/lặp đi lặp lại); Thu nhập của doanh nghiệp, thu nhập của

cá nhân, thu nhập của hộ gia đình; Thu nhập ở trong nước, thu nhập ở nước ngoài… Theo đó, có thể phân chia thuế thu nhập thành các loại tương ứng Pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận thuế thu nhập trong hai đạo luật riêng biệt: Luật thuế thu nhập cá nhân và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Như vậy, pháp luật nước ta phân loại thuế thu nhập theo tiêu chí chủ thể có thu nhập chịu thuế Hiện nay, các quy định về thuế thu nhập ở Việt Nam được ghi nhận tại các văn bản quy quy phạm pháp luật cơ bản:

- Với thuế thu nhập cá nhân:

+ Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12

+ Luật số 26/2012/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12

+ Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/06/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân

+ Các văn hướng dẫn của Bộ Tài chính

- Với thuế thu nhập doanh nghiệp:

+ Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12

Trang 18

+ Nghị định 122/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 124/2008/NĐ-CP hướng dẫn Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

+ Các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính

1.1.4 Vai trò của thuế thu nhập

- Thuế thu nhập có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong việc điều hòa thu nhập trong xã hội; tái phân phối thu nhập, bảo đảm công bằng xã hội

Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, việc phân phối thu nhập chủ yếu thông qua cơ chế thị trường với sự tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ của các yếu tố: sức mạnh về tư liệu sản xuất, tài sản, tiền vốn, khả năng lao động, chất lượng lao động… Ai có được nhiều những yếu tố này sẽ có ưu thế chiếm giữ phần thu nhập xã hội nhiều hơn, dẫn tới sự phân cực giàu nghèo sâu sắc Mặt khác, trong xã hội hiện đại, thu nhập của mỗi tổ chức, cá nhân là không đồng đều trong khi đó, những nhu cầu sống tối thiểu thì lại gần như nhau Những người không có khả năng lao động, không có thu nhập bảo đảm mức sống, sinh hoạt tối thiểu cần có một lượng thu nhập nhất định để mưu sinh Nhà nước với chức năng xã hội của mình cần thiết phải bù đắp một phần thu nhập cho những đối tượng này để giúp họ thoát khỏi khó khăn, bảo đảm cho

họ có được mức sinh hoạt tối thiểu trong cuộc sống Thuế thu nhập chính là một trong những công cụ để Nhà nước thực hiện yêu cầu này Thu nhập phát sinh từ xã hội thông qua các hoạt động, các giao dịch của chủ thể trong xã

Trang 19

- Cũng giống như các loại thuế khác, thuế thu nhập là một nguồn thu quan trọng cho ngân sách Nhà nước, góp phần duy trì hoạt động của bộ máy Nhà nước cũng như để Nhà nước thực hiện được chức năng của mình Nhà nước nào cũng cần có nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu chi tiêu công và tích lũy, phát triển tiềm lực kinh tế của Quốc gia Cùng với xu thế phát triển kinh tế xã hội, khả năng mang lại thu nhập cho các chủ thể ngày càng cao, Nhà nước huy động nguồn tiềm lực tài chính to lớn từ thuế thu nhập

- Tỷ trọng đóng góp của thuế thu nhập trong tổng thu từ thuế cho ngân sách Nhà nước: Số liệu thống kê của Bộ Tài chính về công tác thực thu thuế ở nước ta những năm qua cho thấy, trong mười loại thuế hiện hành của Việt Nam, thuế thu nhập (gồm hai loại thuế: thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp) có tỷ trọng đóng góp cao nhất Tính trung bình ba năm

2010, 2011, 2012 thu từ thuế thu nhập đóng góp khoảng 39,15% trong tổng thu thuế cho ngân sách Nhà nước Mặt khác, tỷ trọng đóng góp của thuế thu

Trang 20

18

nhập có xu hướng ngày càng tăng (tham khảo Phụ lục 2, Phụ lục 3, Phụ lục 4,

Phụ lục 5_tr.103); Cụ thể:

- Năm 2010, thuế thu nhập chiếm 37,19% trong tổng thu từ thuế;

- Năm 2011, thuế thu nhập chiếm 38,88% trong tổng thu từ thuế;

- Năm 2012, thuế thu nhập chiếm 41,37% trong tổng thu từ thuế;

- 6 tháng đầu năm 2013, thuế thu nhập chiếm 41,63% tổng thu từ thuế

1.2 Cơ sở lý luận về những biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập

1.2.1 Khái niệm biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập

Biện pháp pháp lý được hiểu là cách làm, cách giải quyết được luật hoá, được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật và được đảm bảo thực hiện bởi cơ quan Nhà nước Theo đó, biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập chính là cách thức đảm bảo việc thu, nộp thuế thu nhập vào ngân sách Nhà nước; Cách thức này được luật hoá, được ghi nhận trong văn bản quy phạm pháp luật và được áp dụng, tác động tới cả chủ thể hành thu thuế thu nhập và chủ thể nộp thuế thu nhập Các biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập được hiểu như là công cụ mà pháp luật ghi nhận để thực thi quyền thu thuế thu nhập, đảm bảo nguồn thu cho quỹ ngân sách từ thuế thu nhập Trong quá trình hành thu thuế thu nhập, cơ quan, cán bộ Nhà nước có thẩm quyền một mặt được sử dụng công cụ này để thực hiện chức trách nhiệm vụ Nhà nước giao phó, mặt khác cũng chịu sự ràng buộc của chính các biện pháp này Các biện pháp này được sử dụng nhằm đảm bảo việc thu, nộp thuế thu nhập được thống nhất, đồng bộ đồng thời nâng cao hiệu quả của thu ngân sách Theo quan điểm của tác giả, để đảm bảo hiệu quả việc thu, nộp thuế thu nhập cần áp dụng các biện pháp cơ bản:

Trang 21

sử dụng để đảm bảo việc thu, nộp thuế thu nhập Pháp luật nước ta hiện nay không đưa ra định nghĩa quản lý thuế; Về bản chất, quản lý thuế thu nhập là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (mà cụ thể là hệ thống cơ quan thuế) trong việc tổ chức, chấp hành, điều hành triển khai thực hiện các quy định của pháp luật chủ yếu là pháp luật quản lý thuế, pháp luật về thuế thu nhập Điều 3 Luật quản lý thuế quy định về nội dung quản lý thuế gồm:

Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; Quản lý thông tin về người nộp thuế; Kiểm tra thuế, thanh tra thuế; Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; Xử lý vi phạm pháp luật về thuế; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế (điều 3, Luật quản lý thuế) Theo đó, quản lý thuế thu nhập tập trung và

lấy việc quản lý chủ thể nộp thuế làm trọng tâm Cũng cần lưu ý rằng việc phân biệt giữa biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập và quản

lý thuế thu nhập chỉ có tính tương đối Bản chất của hai vấn đề này đều là những quy định của pháp luật yêu cầu các chủ thể phải tuân thủ trong hoạt động thu, nộp thuế thu nhập nhằm hướng tới mục đích cuối cùng là thu đúng, thu đủ số thuế thu nhập cho ngân sách theo đúng quy định của pháp luật Ngoài ra, trong quan hệ dân sự, pháp luật hiện hành cũng quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (được ghi nhận tại mục 5 chương XVII phần thứ ba của Bộ luật dân sự 2005) Theo đó, bảo đảm là

Trang 22

20

việc một bên (bên bảo đảm) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình, quyền sử dụng đất, uy tín của mình hoặc cam kết thực hiện công việc đối với bên có quyền (bên nhận bảo đảm) để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của chính mình hoặc của người khác (bên được bảo đảm) Ở đó, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự mang bản chất bình đẳng, tự nguyện, thiện chí, thoả thuận của quan hệ pháp luật dân sự Còn biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập được áp dụng trong quan hệ thu, nộp thuế nhằm mục đích đảm bảo việc thu đúng, đủ số thuế thu nhập theo đúng quy định của pháp luật, mang tính chất mệnh lệnh chấp hành của quan hệ pháp luật hành chính

1.2.2 Đặc điểm của biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập

- Thứ nhất, đây là các biện pháp được luật hoá, được ghi nhận trong các

văn bản quy phạm pháp luật nên mang tính chất bắt buộc Theo đó, khi phát sinh thu nhập chịu thuế, chủ thể có thu nhập có nghĩa vụ và trách nhiệm nộp thuế thu nhập cho Nhà nước; Chủ thể thu thuế có trách nhiệm thực hiện hoạt động thu thuế theo đúng quy định của pháp luật

Cũng cần nói thêm rằng tính bắt buộc ở đây không đơn thuần là sự cứng nhắc bó buộc mà pháp luật thuế thu nhập cũng có những quy định mang tính tuỳ nghi cho phép chủ thể lựa chọn một trong các phương thức pháp luật ghi nhận để thực hiện hoặc thực hiện quy định của pháp luật trong khoảng thời gian/thời hạn nhất định nhằm đảm bảo việc thu, nộp thuế thu nhập được thuận tiện/hiệu quả và phù hợp với thực tiễn, với từng trường hợp cụ thể Theo đó, nhiều trường hợp pháp luật cho phép chủ thể lựa chọn áp dụng phương án A hoặc phương án B để thực hiện thu, nộp thuế thu nhập hay lựa chọn thời điểm thích hợp (trong giới hạn pháp luật cho phép) để thực hiện quyền, nghĩa vụ thuế thu nhập của mình Ví dụ: điều 16 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định trường hợp sản xuất kinh doanh bị lỗ, doanh nghiệp được chuyển lỗ để

Trang 23

21

trừ vào thu nhập tính thuế của năm sau Trên cơ sở tình hình hoạt động kinh doanh, nhu cầu sử dùng nguồn vốn để tái đầu tư, sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp kinh doanh bị lỗ có quyền lựa chọn thời điểm chuyển lỗ để trừ vào thu nhập tính thuế; Tuy nhiên, quyền lựa chọn này của chủ thể nộp thuế bị giới hạn trong thời hạn: không quá 5 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ

- Thứ hai, được áp dụng đối với cả chủ thể thu và chủ thể nộp thuế thu nhập

Chủ thể thu thuế thu nhập là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, cán bộ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu thuế thu nhập: cơ quan thuế các cấp, cán bộ thuế; Chủ thể nộp thuế thu nhập chính là cá nhân, doanh nghiệp

có thu nhập chịu thuế

Việc đóng góp của thuế thu nhập vào ngân sách Nhà nước được thực hiện thông qua hoạt động nộp thuế và hoạt động thu thuế Theo đó, để đảm bảo hiệu quả của việc thu thuế thu nhập, pháp luật điều chỉnh cả hoạt động thu thuế và hoạt động nộp thuế Do vậy, các biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập được áp dụng với cả chủ thể thu thuế thu nhập và chủ thể nộp thuế thu nhập; Trong đó, có biện pháp áp dụng cho chủ thể nộp thuế, có biện pháp áp dụng với chủ thể thu thuế, có biện pháp áp dụng được cho cả hai chủ thể này

Ví dụ, với biện pháp kiểm soát thu nhập thì thường chỉ áp dụng cho chủ thể nộp thuế (cá nhân, doanh nghiệp phát sinh thu nhập chịu thuế); biện pháp thanh tra, kiểm tra việc thu, nộp thuế thu nhập sẽ áp dụng cho cả chủ thuế thu thuế thu nhập và chủ thể nộp thuế thu nhập Tùy từng đối tượng (chủ thể thu thuế hay chủ thể nộp thuế) thì nội dung, phạm vi áp dụng các biện pháp này cũng khác nhau đảm bảo phù hợp với đặc điểm của từng chủ thể

- Thứ ba, được đảm bảo thực hiện bởi các Nhà nước

Bằng quyền lực chính trị, Nhà nước quy định các biện pháp đảm bảo việc thu, nộp thuế thu nhập và đảm bảo để các biện pháp này được tôn trọng,

Trang 24

22

nghiêm chỉnh thực hiện Theo thông lệ các nước trên thế giới, pháp luật thuế nước ta cũng ghi nhận các chế tài áp dụng đối với các trường hợp vi phạm pháp luật thuế nói chung và các quy định pháp luật về việc thu, nộp thuế thu nhập nói riêng Theo đó, trong hoạt động thu, nộp thuế thu nhập, các chủ thể

có trách nhiệm, nghĩa vụ tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật, áp dụng các biện pháp phù hợp và trong phạm vi, khuôn khổ pháp luật cho phép để thực hiện thu, nộp thuế thu nhập vào ngân sách Nhà nước Pháp luật về quản

lý thuế, về cán bộ công chức, về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật hình sự của nước ta hiện nay đều quy định các trường hợp và biện pháp, hình thức xử

lý, áp dụng tương ứng với mức độ, tính chất của hành vi vi phạm pháp luật thuế nói chung cũng như pháp luật về thuế thu nhập nói riêng của các chủ thể Theo đó, tùy từng mức độ, tính chất của hành vi vi phạm mà chủ thể có thể bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ công chức, bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật

- Thứ tư, quy định về các biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế

thu nhập được ghi nhận tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật

Thực tế, mỗi quan hệ pháp luật phát sinh thường được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Bản thân các đạo luật cũng thừa nhận và

áp dụng nguyên tắc dẫn chiếu tới các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan Ví dụ khoản 2 điều 4 Luật quản lý thuế cũng quy định: Việc quản lý thuế được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật

có liên quan Ở đây, các biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật cơ bản như: Luật thuế thu nhập cá nhân, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp; pháp luật về quản lý thuế; pháp luật về cán bộ công chức (cũng như các quy định về cán bộ công chức thuế); pháp luật về thanh tra, kiểm tra; pháp luật về hóa đơn chứng từ

Trang 25

23

1.2.3 Phân loại biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập

Việc phân loại các biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập chỉ mang tính chất tương đối Tùy thuộc vào tiêu chí phân loại, mục đích nghiên cứu, góc độ nghiên cứu khác nhau mà có thể phân chia biện pháp pháp

lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập thành các loại khác nhau để đáp ứng những nhu cầu, mục đích khác nhau của chủ thể nghiên cứu Ví dụ:

- Theo đối tượng áp dụng, có thể phân loại thành: Các biện pháp áp

dụng với chủ thể thu thuế thu nhập; Các biện pháp áp dụng với chủ thể nộp thuế thu nhập

- Theo loại thuế thu nhập, có thể phân loại thành: Các biện pháp pháp lý

bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập cá nhân; Các biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

- Theo giai đoạn của hoạt động thu, nộp thuế, có thể phân loại thành:

các biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu thuế thu nhập; các biện pháp pháp lý bảo đảm việc nộp thuế thu nhập

Ngoài ra, còn có thể phân loại các biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập thành: Các biện pháp mang tính chất bắt buộc, các biện pháp có tính tuỳ nghi; Các biện pháp có tính áp dụng chung, các biện pháp được áp dụng cho một nhóm đối tượng hay một loại tình huống nhất định; Các biện pháp áp dụng với thu nhập thường xuyên, các biện pháp áp dụng với thu nhập bất thường… Theo quan điểm của tác giả, cách phân loại có ý nghĩa nhất hiện nay là phân loại theo nội dung Theo đó, có ba biện pháp cơ bản và quan trọng nhất là:

- Kiểm soát thu nhập;

- Quản lý chủ thể tham gia quan hệ thu, nộp thuế thu nhập;

- Thanh tra, kiểm tra việc thu, nộp thuế thu nhập

Trang 26

24

1.2.3.1 Kiểm soát thu nhập

Do có đối tượng đánh thuế là thu nhập phát sinh nên kiểm soát thu nhập là biện pháp pháp lý quan trọng và có tính tiên quyết để đảm bảo hiệu quả thu, nộp thuế thu nhập Nội dung kiểm soát thu nhập gồm: xác định đối tượng chịu thuế thu nhập; các vấn đề kê khai, nộp thuế thu nhập; quản lý hóa đơn, chứng từ; miễn, giảm thuế thu nhập Vai trò của kiểm soát thu nhập thể hiện ở chỗ:

- Kiểm soát được thu nhập thì mới có thể quản lý được việc kê khai nộp thuế, đảm bảo đúng, đủ số thuế phải nộp vào ngân sách Nhà nước; Cơ quan thuế mới có cơ sở đưa ra những quyết định hành thu thuế thu nhập đúng đắn

- Công tác kiểm soát thu nhập được thực hiện tốt sẽ đảm bảo được tính khách quan, minh bạch, công khai về số thuế thu nhập của mỗi chủ thể phải nộp do đó có căn cứ chính xác để xác định nghĩa vụ thuế, làm giảm tình trạng trốn lậu thuế, khai man tiền thuế, làm thất thoát thuế

- Kiểm soát thu nhập còn là một biện pháp để Nhà nước phát hiện ra những vi phạm pháp luật hoặc hững nguồn thu bất hợp pháp của các chủ thể,

từ đó áp dụng các biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng việc kiểm soát nguồn thu không tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các vi phạm pháp luật thuế thu nhập phát triển Đó không chỉ là vi phạm của chủ thể nộp thuế mà còn là vi phạm của chính chủ thể thu Điều này

ắt sẽ dẫn tới nhiều hệ lụy tiêu cực trong đời sống kinh tế - xã hội bên cạnh nguy cơ thất thoát cho ngân sách

- Việc kiểm soát thu nhập góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật

và trách nhiệm của chủ thể nộp thuế với Nhà nước và xã hội Khi các khoản thu nhập được kiểm soát, giám sát chặt chẽ, các chủ thể sẽ có thái độ tích cực hơn trong hoạt động thu, nộp thuế thu nhập Điều này góp phần làm cho xã hội trở nên văn minh hơn và tốt đẹp hơn [40]

Trang 27

25

1.2.3.2 Quản lý chủ thể tham gia quan hệ thu, nộp thuế thu nhập

Giống như các quan hệ pháp luật hành chính khác, quan hệ thu, nộp thuế thu nhập luôn có hai chủ thể cơ bản tham gia: chủ thể thu thuế (với tư cách là chủ thể quản lý Nhà nước) và chủ thể nộp thuế (với tư cách là đối tượng bị quản lý) Chúng ta đều biết thu, nộp thuế thu nhập là những hoạt động thực tiễn được tiến hành bởi những cá nhân, những con người cụ thể Do vậy, bên cạnh những yếu tố khách quan, việc thu, nộp thuế thu nhập luôn bị ảnh hưởng, chi phối bởi nhiều yếu tố mang tính chủ quan của con người (cả người thu thuế và người nộp thuế) Vì vậy, việc quản lý các chủ thể này cũng có ý nghĩa quan trọng đảm bảo hiệu quả của việc thu, nộp thuế thu nhập vào ngân sách Nhà nước Quản lý chủ thể tham gia quan hệ thu, nộp thuế thu nhập đòi hỏi quản lý chặt chẽ cả chủ thể nộp thuế và chủ thể thu thuế Có như vậy, mới đảm bảo được hiệu quả của hoạt động thu, nộp thuế thu nhập trên thực tiễn

Về lý luận, chủ thể thu thuế thu nhập gồm là cơ quan thuế, cán bộ thuế Tuy nhiên, thực tế thì hoạt động thu thuế thu nhập được thực hiện bởi cán bộ thuế (những con người cụ thể) theo chức trách, nhiệm vụ được giao Do vậy, việc quản lý chủ thể thu thuế trước nhất và xét cho cùng là tập trung vào quản

lý cán bộ thuế_người đại diện, nhân danh cơ quan Nhà nước trực tiếp tiến hành thu thuế thu nhập theo quy định của pháp luật

Với ý nghĩa này, quản lý chủ thể thu thuế thu nhập ở đây chính là quản

lý cán bộ thuế nói chung và cán bộ được giao nhiệm vụ thu thuế thu nhập nói riêng trong toàn bộ quá trình sử dụng cán bộ, quyền hạn, nghĩa vụ cũng như trách nhiệm của cán bộ thuế (trong trường hợp vi phạm pháp luật) khi thực hiện nhiệm vụ thu thuế thu nhập Với chủ thể nộp thuế, quản lý chủ thể nộp thuế thu nhập gồm các nội dung: quản lý mã số thuế; xây dựng và quản lý hệ thống thông tin về chủ thể nộp thuế thu nhập

Trang 28

26

1.2.3.3 Thanh tra, kiểm tra việc thu, nộp thuế thu nhập

Thanh tra, kiểm tra là yêu cầu tất yếu trong quản lý Nhà nước; Đây là những biện pháp pháp lý hữu hiệu góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong hoạt động quản lý Nhà nước nói chung cũng như đảm bảo hiệu quả của công tác thu, nộp thuế thu nhập nói riêng Hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thu, nộp thuế thu nhập được triển khai hiệu quả sẽ góp phần phát hiện, kịp thời ngăn chặn, khắc phục những vi phạm pháp luật, qua đó nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ thể trong hoạt động thu, nộp thuế thu nhập; đảm bảo nguồn thu cho ngân sách từ thuế thu nhập Ở đây, nội dung thanh tra, kiểm tra không chỉ đơn thuần hướng tới hoạt động nộp thuế của các chủ thể có thu nhập chịu thuế phát sinh mà còn hướng tới hoạt động thu thuế của các cán bộ thuế được giao nhiệm vụ thu thuế thu nhập (thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, quy trình nghiệp vụ trong hoạt động thu, nộp thuế thu nhập của nội bộ của cơ quan thuế)

Mặt khác, công tác thanh tra, kiểm tra còn góp phần phản ánh tính phù hợp của pháp luật thuế thu nhập so với thực tiễn đời sống kinh tế xã hội, thấy được những vướng mắc trên thực tế khi triển khai áp dụng quy định của pháp luật, các quy định, hướng dẫn về quy trình nghiệp vụ trong hoạt động thu, nộp thuế thu nhập Trên cơ sở đó, cơ quan thuế sẽ có những giải đáp, hướng dẫn các chủ thể thực hiện việc thu, nộp thuế theo đúng quy định và có biện pháp hoàn thiện pháp luật, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ, xây dựng các biện pháp để ngăn ngừa vi phạm, nâng cao ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật của các chủ thể trong hoạt động thu, nộp thuế thu nhập hoặc kiến nghị để hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cũng như các quy định pháp luật khác có liên quan Với ý nghĩa này, thanh tra, kiểm tra việc thu, nộp thuế thu nhập luôn đi liền với nội dung xử lý vi phạm pháp luật, khiếu nại tố cáo liên quan tới hoạt động thu, nộp thuế thu nhập./

Trang 29

27

Chương 2

Thực trạng những biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp

thuế thu nhập ở Việt Nam hiện nay

2.1 Thực trạng quy định về những biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập ở Việt Nam hiện nay

2.1.1 Biện pháp kiểm soát thu nhập

2.1.1.1 Đối tượng chịu thuế thu nhập

Hiện nay, thu nhập chịu thuế được ghi nhận tại điều 3 Luật thuế thu nhập

cá nhân, điều 3 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành Theo đó, thuế thu nhập được áp dụng và đánh trên các thu nhập:

- Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ;

- Thu nhập từ chuyển nhượng vốn;

- Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản;

Ngoài ra, với đặc điểm riêng của từng đối tượng có thu nhập (cá nhân hay doanh nghiệp), pháp luật còn đánh thuế trên các thu nhập:

- Với thu nhập của cá nhân, thuế thu nhập còn đánh với: Thu nhập từ tiền lương, tiền công mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động; Thu nhập từ đầu tư vốn; Thu nhập từ trúng thưởng bằng tiền hoặc hiện vật; Thu nhập từ bản quyền; Thu nhập từ thừa kế chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng; Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng; Thu nhập từ nhượng quyền thương mại theo quy định của Luật Thương mại

Trang 30

28

- Với thu nhập của doanh nghiệp, thuế thu nhập còn đánh với: Thu nhập

từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; Thu nhập từ chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản; Thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ; Thu nhập

từ hoàn nhập các khoản dự phòng; Thu nhập từ khoản nợ khó đòi đã xoá nay đòi được; Thu khoản nợ phải trả không xác định được chủ; Khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót; Các khoản thu nhập khác (kể cả thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh ở ngoài Việt Nam)

2.1.1.2 Kê khai, nộp thuế thu nhập

Về nguyên tắc, thu nhập chịu thuế được xác định căn cứ vào tờ khai

thuế Điều 30 Luật quản lý thuế hiện hành quy định: (1) Chủ thể nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế theo mẫu do Bộ Tài chính quy định và nộp đủ các loại chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế; (2) Chủ thể nộp thuế tự tính

số thuế phải nộp, trừ trường hợp việc tính thuế do cơ quan quản lý thuế thực hiện theo quy định của Chính phủ Trong đó, tờ khai thuế phải có các nội dung chính: (i) Tên loại, mã hiệu tờ khai thuế; (ii) Kỳ tính thuế hoặc thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế; (iii) Thông tin về chủ thể nộp thuế: tên, mã số thuế, địa chỉ giao dịch; (iv) Các thông tin về căn cứ để tính số thuế phải nộp; (v) Chữ ký của chủ thể nộp thuế hoặc người đại diện hợp pháp của chủ thể

nộp thuế (theo khoản 2 điều 9 Nghị định 83/2013/NĐ-CP)

Hồ sơ khai thuế bao gồm tờ khai thuế và các tài liệu liên quan làm căn

cứ để chủ thể nộp thuế khai thuế, tính thuế với cơ quan thuế Theo khoản 2 điều 9 Thông tư 28/2011/TT-BTC, chủ thể nộp thuế phải sử dụng đúng mẫu

tờ khai thuế và các mẫu phụ lục kèm theo tờ khai thuế do Bộ Tài chính quy định, không được thay đổi khuôn dạng, thêm, bớt hoặc thay đổi vị trí của bất

kỳ chỉ tiêu nào trong tờ khai thuế Đối với một số loại giấy tờ trong hồ sơ thuế

Trang 31

Trường hợp, sau khi hết hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định chủ thể nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế có sai sót, nhầm lẫn gây ảnh hưởng đến số thuế phải nộp thì được khai bổ sung hồ sơ khai thuế

Hồ sơ khai thuế bổ sung được nộp cho cơ quan thuế vào bất cứ ngày làm việc nào, không phụ thuộc vào thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của lần tiếp theo, nhưng phải trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở chủ thể nộp thuế

Theo quy định hiện hành, các “chi phí hợp lý” để chủ thể có được thu nhập kể trên sẽ được loại trừ khỏi giá trị để tính số tiền thuế thu nhập phải nộp Với một số loại thu nhập của cá nhân (thu nhập từ trúng thưởng; từ bản quyền; từ nhượng quyền thương mại; từ thừa kế, tặng cho), thuế chỉ đánh đối với phần thu nhập vượt trên một mức giá trị nhất định Theo điều 15, 16, 17,

18 Luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành thì mức giá trị này là 10 triệu đồng

2.1.1.3 Quản lý hóa đơn, chứng từ

Để có thể kiểm soát tốt hơn thu nhập chịu thuế, điều 31 Luật quản lý thuế yêu cầu chủ thể nộp thuế khi kê khai thuế thu nhập, cùng với tờ khai thuế phải

Trang 32

30

gửi kèm bảng kê hóa đơn, chứng từ (đối với những thu nhập phát sinh có tính định kỳ, thường xuyên và chủ thể thực hiện khai, nộp thuế theo tháng, quý, năm) hoặc hóa đơn, chứng từ, hợp đồng liên quan tới thu nhập phát sinh (với những thu nhập phát sinh từng lần, chủ thể khai, nộp thuế theo từng lần phát sinh) Về lý luận, hóa đơn, chứng từ, hợp đồng liên quan tới thu nhập phát sinh

là những tài liệu không chỉ có giá trị xác nhận thu nhập đã phát sinh, phản ánh giá trị của thu nhập mà còn là căn cứ quan trọng để giải quyết các vấn đề liên quan tới giảm, miễn thuế thu nhập cũng như kiểm tra, thanh tra thuế thu nhập Đối với doanh nghiệp, trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp phải tổ chức công tác kế toán theo quy định của pháp luật kế toán; phải thu thập, phản ánh khách quan, đầy đủ, đúng thực tế và đúng kỳ kế toán mà nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh Khi bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, doanh nghiệp phải lập hoá đơn theo quy định trong đó phải có nội dung đơn giá hàng hoá, dịch vụ; thành tiền (ghi bằng số và bằng chữ) Trường hợp bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ có tổng giá thanh toán dưới 200.000 đồng mỗi lần được theo dõi trên bảng kê (căn cứ điều 9 Luật doanh nghiệp; điều 7, điều 21 Luật kế toán; điều 4, điều 15, điều 16 Nghị định 51/2010/NĐ-CP) Để được trừ khỏi thu nhập tính thuế, các khoản chi phải đáp ứng đồng thời hai điều

kiện: (i) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; (ii) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy

định của pháp luật (theo điều 9 Nghị định 124/2008/NĐ-CP đã được sửa đổi,

bổ sung theo Nghị định 122/2011/NĐ-CP)

Với thu nhập cá nhân, theo chính sách quản lý thuế thu nhập cá nhân được quy định tại Nghị định 65/2013/NĐ-CP thì việc nộp thuế thu nhập cá nhân được thực hiện theo một trong hai phương thức: khấu trừ thuế tại nguồn chi trả hoặc cá nhân trực tiếp khai thuế, nộp thuế với cơ quan thuế (theo điều

28, điều 29 Nghị định 65/2013/NĐ-CP) Trường hợp khấu trừ thuế, tổ chức, cá

Trang 33

31

nhân chi trả thu nhập phải gửi cho cơ quan thuế bảng kê hóa đơn, chứng từ, tài liệu về việc chi trả thu nhập (theo khoản 7 điều 30 Nghị định 65/2013/NĐ-CP

và điều 31 Luật quản lý thuế) Theo điều 29 Nghị định 65/2013/NĐ-CP, cá

nhân có thu nhập chịu thuế phải trực tiếp khai, nộp thuế đối với: (i) Thu nhập

từ kinh doanh; (ii) Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; (iii) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn góp; (iv) Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng của cá nhân

Về nguyên tắc, việc xác định thu nhập chịu thuế với các thu nhập nêu trên được thực hiện trên cơ sở hóa đơn, chứng từ, hợp đồng liên quan tới từng khoản thu nhập cụ thể và số tiền thuế phải nộp được tính toán trên cơ sở giá bán, giá mua, chi phí hợp lý được ghi nhận trong các tài liệu này (theo mục 1, mục 2, mục 3 chương 2 Nghị định 65/2013/NĐ-CP) Với thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng của cá nhân, việc xác định thu nhập tính thuế được xác định (tùy thuộc vào các thu nhập tương ứng) căn cứ giá thị trường tại thời điểm phát sinh thu nhập và căn cứ theo Giá tham chiếu tại Sở Giao dịch chứng khoán; Giá trị ghi trên sổ sách kế toán của công ty có chứng khoán tại ngày nhận thừa kế, nhận quà tặng hoặc ngày gần nhất trước đó; Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh quy định tại thời điểm nhận thừa kế, nhận quà tặng; Giá tính lệ phí trước bạ của tài sản đó hoặc tài sản cùng loại nếu có (theo điều

23 Nghị định 65/2013/NĐ-CP)

Theo điều 108 Luật quản lý thuế, việc chủ thể không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp; Không xuất hoá đơn khi bán hàng hoá, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hoá đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hoá, dịch vụ đã bán; Sử dụng hoá đơn, chứng từ bất hợp pháp để hạch toán hàng hoá, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ; Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định

Trang 34

đích: (i) Thống nhất nghiệp vụ kiểm tra hóa đơn; (ii) Tăng cường kiểm tra việc

tạo, in, phát hành, quản lý và sử dụng hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ của các tổ chức, cá nhân nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành

vi vi phạm về tạo, in, phát hành, quản lý và sử dụng hóa đơn; (iii) Góp phần đề

cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật về thuế và chế độ kế toán của các tổ

chức, cá nhân khi mua, bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ; (iv) Nâng cao chất

lượng việc quản lý các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc tạo, in, phát hành, quản lý và sử dụng hóa đơn và cơ quan quản lý thuế các cấp trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao

Về cơ bản, Quy trình hướng dẫn các bước kiểm tra hóa đơn tại trụ sở cơ quan thuế; Kiểm tra hóa đơn tại trụ sở của tổ chức, cá nhân về hoạt động tạo,

in, phát hành, quản lý và sử dụng hóa đơn; Kiểm tra đối với các tổ chức, cá nhân bỏ trốn, tự ý nghỉ kinh doanh không thông báo với cơ quan thuế Theo Quy trình, cán bộ thực hiện kiểm tra hóa đơn chịu trách nhiệm về kết quả kiểm tra đối với các hồ sơ, báo cáo về hóa đơn của các tổ chức, cá nhân gửi đến Cơ quan Thuế về tình hình tạo, in, phát hành, quản lý và sử dụng hóa đơn được giao; Giữ bí mật thông tin được phản ánh trong các hồ sơ, báo cáo về hóa đơn của các tổ chức, cá nhân trừ các trường hợp công khai thông tin vi

Trang 35

nhau, điểm 5 phần 1 Quy trình hướng dẫn: Qua kiểm tra phát hiện việc tạo,

in, phát hành và sử dụng hóa đơn đối với các tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm liên quan đến các tổ chức, cá nhân thuộc các địa phương khác, Cơ quan Thuế các địa phương chủ động trong việc trao đổi thông tin, phối hợp kiểm tra việc tạo, in, phát hành và sử dụng hóa đơn để phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm về hóa đơn của các tổ chức, cá nhân thuộc địa phương mình quản lý theo quy định của pháp luật

Như vậy, pháp luật hiện hành đã tạo ra cơ chế pháp lý để quản lý thu nhập của chủ thể nộp thuế thông qua hệ thống hóa đơn, chứng từ, hợp đồng liên quan tới thu nhập phát sinh Trường hợp không phản ánh hoặc phản ánh không đầy đủ, trung thực, chính xác số liệu trên sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ để xác định nghĩa vụ thuế; Không xuất trình sổ kế toán, hoá đơn, chứng từ và các tài liệu cần thiết liên quan đến việc xác định số thuế phải nộp trong thời hạn quy định; Mua, bán, trao đổi và hạch toán giá trị hàng hoá, dịch vụ không theo giá trị giao dịch thông thường trên thị trường , chủ thể nộp thuế thu nhập sẽ bị ấn định thuế theo quy định của pháp luật thuế thu nhập và pháp luật quản lý thuế

Cơ quan thuế căn cứ: (i) Cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế; (ii) So sánh số thuế phải nộp của cơ sở kinh doanh cùng mặt hàng, ngành nghề, quy mô; (iii) Tài

liệu và kết quả kiểm tra, thanh tra còn hiệu lực để ấn định thuế thu nhập đối với

các trường hợp này (theo khoản 2 điều 37 Luật quản lý thuế; điều 35 Nghị định

83/2013/NĐ-CP) Khi tạo, lập, phát hành, sử dụng hoá đơn, chứng từ, hợp đồng liên quan tới thu nhập, các chủ thể phải tuân thủ quy định tại Nghị định

Trang 36

34

51/2010/NĐ-CP (và các Thông tư hướng dẫn Nghị định này), pháp luật về kế toán, pháp luật về dân sự và các quy định khác có liên quan

2.1.1.4 Miễn, giảm thuế thu nhập

Để đảm bảo hài hòa lợi ích của người nộp thuế, pháp luật nước ta đã ghi nhận các trường hợp miễn, giảm thuế thu nhập Căn cứ vào quy định pháp luật, chủ thể nộp thuế lập hồ sơ đề nghị miễn, giảm thuế thu nhập trong đó xác định số tiền thuế đề nghị được miễn, xét miễn, giảm gửi cho cơ quan quản lý thuế (trừ trường hợp cơ quan quản lý thuế xác định và ra quyết định miễn, giảm thuế thu nhập theo khoản 2 điều 42 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP) Hồ sơ đề nghị miễn,

giảm thuế thu nhập gồm có: (i) Tờ khai thuế/Văn bản đề nghị miễn, giảm thuế thu nhập trong đó nêu lý do miễn thuế, giảm thuế; số tiền thuế được miễn, giảm; (ii)

Tài liệu liên quan đến việc xác định số thuế thu nhập được miễn, được giảm Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan thuế có trách nhiệm xem xét hồ sơ đề nghị miễn, giảm thuế thu nhập, đối chiếu với quy định của pháp luật để ra quyết định miễn, giảm thuế thu nhập (nếu thuộc diện được miễn, giảm thuế thu nhập theo quy định của pháp luật) hoặc gửi cho chủ thể nộp thuế thông báo về việc không thuộc diện được miễn, giảm thuế thu nhập Trường hợp cần kiểm tra thực tế để có đủ căn cứ giải quyết hồ sơ thì thời hạn ra quyết định miễn thuế, giảm thuế là sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ Về thẩm quyền quyết định việc miễn, giảm thuế thu nhập, thông báo cho chủ thể nộp thuế

lý do không được miễn thuế, giảm thuế thu nhập được thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 8 điều 39 Thông tư số 28/2011/TT-BTC)

2.1.2 Biện pháp quản lý chủ thể tham gia quan hệ thu, nộp thuế thu nhập

2.1.2.1 Quản lý chủ thể thu thuế thu nhập

Về cơ bản, việc quản lý chủ thể thu thuế thu nhập được áp dụng và tuân thủ theo quy định chung của pháp luật về cán bộ, công chức Căn cứ quy định

Trang 37

35

của pháp luật, trên cơ sở đặc thù của ngành thuế và trong phạm vi thẩm quyền pháp luật cho phép, Bộ tài chính và Tổng Cục thuế đã ban hành một số quy định để quản lý cán bộ thuế nói chung và chủ thể thu thuế thu nhập nói riêng

Theo quy định, khi thực hiện nhiệm vụ được giao, chủ thể thu thế thu nhập phải tuân thủ các quy định về nghĩa vụ của cán bộ, công chức được quy định tại chương II Luật cán bộ công chức số 22/2008/QH12 Theo đó, chủ thể thu thuế thu nhập phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản như: Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước; Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; Có ý thức tổ chức

kỷ luật; Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị (theo điều 8, điều 9 Luật cán bộ công chức số 22/2008/QH12) Ngoài ra, trong quá trình thực thu thuế thu nhập, cán bộ thuế có nghĩa vụ tuân thủ 10 điều kỷ luật đối với công chức, viên chức ngành thuế và các tiêu chuẩn văn hóa công sở và đạo đức cán bộ thuế do Tổng Cục trưởng Tổng Cục thuế ban hành kèm theo Quyết định số 1036/QĐ-TCT ngày 11/6/2013 (chi tiết trong

Phụ lục 6 kèm theo_tr.107)

Để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực thiễn hoạt động thu, nộp thuế thu nhập cũng như các loại thuế khác, ngành thuế có quy định về công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thuế nhằm trang bị kiến thức về thuế, hệ thống pháp luật

về thuế, thuế thu nhập; các kỹ năng quản lý thuế và các kiến thức, kỹ năng khác nhằm hỗ trợ công tác nghiệp vụ cho các chủ thể thu thuế thu nhập nói riêng cũng như chủ thể thu thuế nói chung; góp phần xây dựng đội ngũ công chức, viên chức thuế có phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp tốt, thành thạo, chuyên sâu, chuyên nghiệp về chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu cải cách hệ thống thuế theo hướng hiện đại hóa và chủ động hội nhập Quốc tế về thuế Đồng thời với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thuế, ngày 21/11/2005 Tổng Cục trưởng Tổng Cục thuế đã ký quyết định số 1299/QĐ-TCT ban hành

Trang 38

36

Quy chế kiểm tra kiến thức đối với cán bộ, công chức ngành thuế nhằm khuyến khích, động viên và bắt buộc cán bộ, công chức, viên chức phải thường xuyên học tập, nghiên cứu, trau dồi kiến thức quản lý thuế hiện đại, có phẩm chất chính trị tốt, có đạo đức nghề nghiệp tốt Kết quả kiểm tra kiến thức là cơ sở quan trọng để đánh giá trình độ của cán bộ, công chức để quản lý chặt chẽ và

sử dụng hiệu quả nhân lực của ngành thuế; thực hiện các chính sách, kế hoạch

bộ, công chức thuế (ban hành kèm theo Quyết định số 1849/QĐ-BTC ngày

22/5/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) cũng quy định rõ: Mọi hành vi vi phạm trong quản lý thuế khi được phát hiện phải xử lý kịp thời Người có hành vi vi phạm ở bất kỳ cương vị, chức vụ nào đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật Theo đó, nếu chủ thể thu thuế thu nhập có hành vi vi phạm

pháp luật trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao sẽ bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật, tùy vào tính chất, mức độ vi phạm, chủ thể vi phạm có thể

bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ công chức hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự Theo điều 5 Quy chế này, các hành vi vi phạm của chủ thể thu thế thu nhập bị xử lý kỷ luật được phân thành năm nhóm:

- Nhóm hành vi thứ nhất: Gây phiền hà, khó khăn cho chủ thể nộp thuế thu

nhập, làm ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của chủ thể nộp thuế thu nhập;

- Nhóm hành vi thứ hai: Thiếu tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm

vụ thu thuế thu nhập;

- Nhóm hành vi thứ ba: Xử lý sai quy định của pháp luật về thuế thu nhập;

Trang 39

37

- Nhóm hành vi thứ tư: Thông đồng, bao che cho chủ thể nộp thuế, tổ

chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế;

- Nhóm hành vi thứ năm: Sử dụng trái phép, chiếm dụng, chiếm đoạt tiền

thuế thu nhập, tiền phạt vi phạm pháp luật thuế thu nhập

Để đảm bảo hiệu quả công tác quản lý cán bộ công chức thuế, Quy định 1849/QĐ-BTC còn ghi nhận cụ thể trách nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo, phụ trách trực tiếp đơn vị có hành vi vi phạm trong hoạt động thu thuế thu nhập ở các cấp (Tổng cục, Cục và Chi cục) Theo đó, trường hợp trong đơn vị có cán

bộ vi phạm trong hoạt động thu thuế thu nhập thì Lãnh đạo trực tiếp quản lý cán bộ vi phạm đó cũng bị quy trách nhiệm và xử lý theo quy định tại điều 12 Quy định về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức thuế Văn bản này cũng quy định cụ thể về nguyên tắc xác định mức độ của vụ, việc vi phạm; Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ; Những trường hợp loại trừ trách nhiệm, miễn, giảm nhẹ hoặc tăng nặng hình thức kỷ luật đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu; Các biện pháp xử lý đối với hành vi vi phạm… Trình tự, thủ tục xem xét xử lý kỷ luật cán bộ công chức, viên chức thuế vi phạm pháp luật trong hoạt động thu thuế thu nhập được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ công chức, viên chức; Nghị định 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức; Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06/4/2012 về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức và các quy định có liên quan của pháp luật lao động

2.1.2.2 Quản lý chủ thể nộp thuế thu nhập

(i) Quản lý mã số thuế

Mã số thuế là một dãy các chữ số được mã hoá theo một nguyên tắc thống nhất do cơ quan thuế cấp cho chủ thể nộp thuế, dùng để quản lý thuế

Trang 40

38

bao gồm cả thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (theo khoản 1 điều 3 Thông tư 80/2012/TT-BTC) Theo đó, mỗi chủ thể nộp thuế được mã hóa, định danh và quản lý theo một mã số cụ thể không phân biệt loại thuế phải nộp là thuế thu nhập, thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu hay thuế giá trị gia tăng Thông qua các thao tác nghiệp vụ - kỹ thuật, mỗi mã số thuế sẽ cho chúng ta biết được các thông tin cơ bản của chủ thể nộp thuế như tên, số Chứng minh nhân dân,

số Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, địa chỉ và có thể nắm bắt được

cả lịch sử nộp thuế của chủ thể đó Việc mã hóa này góp phần đảm bảo việc quản lý được thuận tiện, nhanh gọn và khoa học Chủ thể nộp thuế được cấp một mã số thuế duy nhất để sử dụng trong suốt quá trình hoạt động từ khi đăng ký thuế (lần đầu) cho đến khi chấm dứt hoạt động hoặc bị chấm dứt mã

số thuế theo quy định, ngoại lệ (trường hợp người nộp thuế là Nhà thầu, Nhà đầu tư tham gia hợp đồng dầu khí; Nhà thầu nước ngoài đăng ký nộp thuế trực tiếp với cơ quan thuế; Bên Việt Nam nộp thuế thay cho nhà thầu nước ngoài), mã số thuế có thể được cấp riêng cho từng hợp đồng hoặc để sử dụng cho việc khai, nộp thuế cho các nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài theo quy định tại điểm d, đ, e khoản 3 điều 3 Thông tư 80/2012/TT-BTC

Việc cấp mã số thuế hiện nay được thực hiện thông qua thủ tục đăng ký thuế Theo đó, chủ thể nộp thuế có nghĩa vụ nộp hồ sơ đăng ký thuế theo quy định của pháp luật để được cấp giấy chứng nhận trong đó ghi nhận mã số thuế của chủ thể Trong quá trình hoạt động, khi phát sinh những thay đổi có liên quan, chủ thể nộp thuế có nghĩa vụ thay đổi thông tin đăng ký thuế theo hướng dẫn tại mục 2, mục 4 chương II Thông tư 80/2012/TT-BTC

Để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chủ thể nộp thuế thu nhập, pháp luật hiện hành quy định thời hạn thực hiện nghĩa vụ đăng ký thuế cũng như nguyên tắc quản lý và sử dụng mã số thuế Với thuế thu nhập cá nhân, chủ thể nộp thuế phải thực hiện đăng ký thuế trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ

Ngày đăng: 09/07/2015, 19:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm