Việt Nam là một quốc gia có địa hình ¾ là đồi núi. Vì vậy, dạng địa hình này đã góp phần quan trọng trong đời sống cư dân Việt từ xa xưa. Đồi núi vừa là nơi có cảnh đẹp, là nơi trồng rừng vừa là nơi phát triển kinh tế và bảo vệ các loài động vật quý hiếm. Núi ở Việt Nam nhiều vô kể, trong đó gồm các dãy núi lớn, các ngọn núi vừa và nhỏ khác nhau. Mỗi núi đều có một sự tích dẫn đến những tên gọi đặc trưng. Các tên gọi này không chỉ để gọi mà còn phản ánh lịch sử, văn hóa vùng nơi ngọn núi tồn tại. Địa danh núi non ở Việt Nam vẫn còn là vấn đề rộng mở, đòi hỏi phải có sự khảo cứu thực tế. Nếu ở miền Bắc có ngọn Fansipan nổi tiếng, ở miền Nam có núi Bà Đen huyền thoại, thì ở Trung Bộ cụ thể là Đà Nẵng cũng có những ngọn núi lớn được nhiều người biết đến và nói lên lịch sử của vùng đất này.
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2A.MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia có địa hình ¾ là đồi núi Vì vậy, dạng địa hình này
đã góp phần quan trọng trong đời sống cư dân Việt từ xa xưa Đồi núi vừa là nơi có cảnh đẹp, là nơi trồng rừng vừa là nơi phát triển kinh tế và bảo vệ các loài động vật quý hiếm Núi ở Việt Nam nhiều vô kể, trong đó gồm các dãy núi lớn, các ngọn núi vừa và nhỏ khác nhau Mỗi núi đều có một sự tích dẫn đến những tên gọi đặc trưng Các tên gọi này không chỉ để gọi mà còn phản ánh lịch sử, văn hóa vùng nơi ngọn núi tồn tại Địa danh núi non ở Việt Nam vẫn còn là vấn đề rộng mở, đòi hỏi phải có sự khảo cứu thực tế Nếu ở miền Bắc có ngọn Fansipan nổi tiếng, ở miền Nam có núi Bà Đen huyền thoại, thì ở Trung Bộ cụ thể là Đà Nẵng cũng có những ngọn núi lớn được nhiều người biết đến và nói lên lịch sử của vùng đất này
B.NỘI DUNG
1 Đặc điểm địa danh núi non
1.1 Đặc điểm cấu tạo từ
Địa danh núi non có thể là tên của một ngọn núi, có thể là tên gọi của một quần sơn, một dãy, một rặng lớn đặc biệt là hệ thống địa danh núi non này lại xuất phát từ nhiều ngôn ngữ nên rất đa dạng
Để chỉ núi non, trong tiếng Việt có các danh từ chung: núi, non, đá, động, ngàn, hòn, cao,… Ví dụ:
- Núi Yên Tử (Đông Triều, Quảng Ninh)
- Non Tản (Ba Vì, Hà Nội)
- Đá Bạc (Phú Lộc, Thừa Thiên Huế)
- Động Chùa (Hương Khê, Hà Tĩnh)
- Ngàn Hống (dãy Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh)
- Hòn Nghê (Sơn Trà, Đà Nẵng)
Nhưng các danh từ chung này chỉ đứng trước địa danh để định hướng thông tin
về đối tượng mà không tham gia cấu tạo địa danh
Trái lại, trong những địa danh là từ Hán Việt, các yếu tố chỉ núi như “sơn”,
“lĩnh”, “cương” đều trở thành hình vị cấu tạo từ ví dụ:
- Ngũ Hành Sơn, Trường Sơn, Ngân Sơn,…
- Hồng Lĩnh, Nghĩa Lĩnh,…
- Hy Cương, Hoàng Long Cương,…
Trang 3Các địa danh của các dân tộc ít người thường có mặt các yếu tố “bù”, “chư”,
“khau”, “ngọc”, “phia”, “pu”… và đều có nghĩa là núi Về mặt từ loại, chúng là
danh từ chung nhưng khi đi vào hệ thống địa danh tiếng Việt thì các yếu tố này đều tồn tại như hình vị cấu tạo từ Ví dụ:
- Khau Nhi (Bắc Quan, Hà Giang)
- Phia Biooc (Ba Bể, Bắc Cạn)
- Phia Đén (Nguyên Bình, Cao Bằng)
- Pu Sam Sao (Sơn La)
- Pu Luông (Văn Chấn, Yên Bái)
- Pu Pha Phong (Bá Thước, Thanh Hóa)
- Pù Rinh (Long Chấn, Thanh Hóa)
- Chư Mom Ray (Sa Thầy, Kon Tum)
1.2 Đặc điểm văn hóa
Các địa danh núi non trên toàn đất nước tạo nên một bức tranh sơn mỹ phản ánh văn hóa về ngôn ngữ và tính dân tộc trên mỗi địa bàn có sự nhiên diện của địa danh đó Khi chúng ta giải mã các địa danh đó cũng là lúc chúng ta tiếp cận với thế giới tâm hồn của dân tộc đã sản sinh và sử dụng nó
Mỗi địa danh do nhiên tạo hay nhân tạo không chỉ mang cái đẹp ngoại hình mà
nó luôn luôn gắn liền với sự hung vĩ, quyền uy, thiêng liêng và sự thần hóa của cá nhân địa danh đó Ví dụ: Núi Bà Nà ( Đà Nẵng) không chỉ đẹp đẽ về cái hình thức quang cảnh tham quan mà nó còn thể hiện nét tâm linh trong toàn thể ngọn núi chúa này qua ngôi chùa mang tên Linh Ứng, hay Núi Sơn Trà cũng có nhiều nơi thờ tự linh thiêng cho người dân đến đây cầu nguyện như chùa Tam Thai và các hạng động sâu trong núi thờ các vị thần thiên nhiên, thần dân gian,…
Ngoài xu hướng “Thần hóa” và ngược lại đó là xu hướng “nhân hóa” – Các ngọn núi được người dân tưởng tượng ra giống với các nhân vật huyền thoại hay truyền thuyết mà từ đó họ tôn thờ, cầu nguyện và cũng là nơi chú ý để du lịch và tham quan Từ Bắc vào Nam có 4 hòn vọng phu như: Tam Thanh (Lạng Sơn), Đông Sơn (Thanh Hóa), Phù Cát (Bình Định), M’ Đrăk (Đắk Lắk)
Nói đến địa danh núi non chúng ta không thể không nhắc đến những ngọn núi mang dấu ấn của các di tích lịch sử và những ngọn núi gắn liền với câu truyện dan gian có thật của dân tộc Việt hay những ngọn núi do các người kỹ sư tạo dựng nên Các ngọn núi này được biết đến và trở thành địa danh nổi tiếng nhằm cho nhân dân tưởng nhớ đến quá trình lịch sử, các anh hùng lịch sử, đời sống sinh hoạt của dân tộc
ta thời xưa và những người có công tạo dựng nên địa danh đó
Trang 42 Các địa danh núi non tiêu biểu
2.1 Bà Nà – Núi Chúa
Nguồn gốc tên gọi Bà Nà, có người cho rằng khi người Pháp đặt chân đến vùng này thấy rất nhiều cây chuối nên gọi là núi Banane, lâu dần người Việt đọc chệch thành Bà Nà Còn nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng chữ Bà Nà là tiếng Người Katu nghĩa là "núi của tui" Một truyền thuyết khác cho rằng tên núi là tên viết tắt của Bà Ponagar hay bà Thiên Y A Na Thánh Mẫu Pô: ngài; Inư: mẹ; Nưgar: xứ sở, tức Bà
Mẹ xứ sở
Theo PGS.TS Lê Trung Hoa “Bà Nà có lẽ đã bắt nguồn từ tên của dân tộc Ba Na,
vì các lý do sau:
1 GS Đặng Nghiêm Vạn viết: “(…) ngành Ba Na bao gồm các cư dân hiện đang cư trú ở trên cao nguyên Tây Nguyên và miền núi các tỉnh Quảng Nam (tức Quảng Nam
và Đà Nẵng hiện nay – LTH), Quảng Ngãi (…) Ở Việt Nam, ngành Ba Na được chia làm hai ngành: Ba Na Bắc gồm các dân tộc Gié – Triêng, Xơ Đăng, Ba Na, (…) Phân ngành Ba Na Nam bao gồm các dân tộc Mnông, Xtiêng (…)” Rõ ràng các dân tộc Ba
Na có cư trú ở vùng núi tỉnh Quảng Nam cũ
2 GS Nguyễn Tài Cẩn thay vì gọi Ba Na, viết tiểu chi Bànà Như vậy Ba Na cũng gọi Bà Nà
3 Cụ Đinh Xuân Vịnh và Nguyễn Như Ý – Nguyễn Thanh Chương – Bùi Thiết, thay vì ghi Bà Nà đã ghi Ba Na (hay Bà Na)
4 Hai thanh ngang và huyền thường chuyển đổi với nhau: (bao) nhiêu – nhiều, (nhà) ngươi – người, (ngày) nao – nào,…
5 Tên nhiều dân tộc ở Việt Nam cũng như trên thế giới chuyển thành địa danh Xin nêu cụ thể vài trường hợp: tên dân tộc Gia Rai (bắt nguồn từ tên Jrai, nghĩa là “thác nước”) sau trở thành tên tỉnh Gia Lai; tên dân tộc Lào trở thành tên nước Lào; tên thủ
đô Paris của Pháp bắt nguồn từ tên dân tộc Paris cư trú tại đây ngày xưa,…”
Núi Bà Nà toạ lạc 1 khu vực thuộc về dãy núi Trường Sơn nằm ở xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang, cách Đà Nẵng 25 km về phía Tây Nam Trung tâm du lịch của Bà
Nà nằm trên đỉnh Núi Chúa có độ cao 1489 m so với mực nước biển Năm 1986, Bà Nà đã được Chính phủ công nhận là khu dự trữ thiên nhiên, đối tượng bảo vệ và là rừng nhiệt đới gồm nhiều loại động thực vật quý hiếm cần được bảo vệ như trầm hương, gụ lậu, sến mặt, thông chàng, trĩ sao, gấu đen Châu Á, vượn
má hung Bà Nà có nhiều khu rừng nguyên sinh được phân bổ theo các sườn dốc khá hiểm trở
Trang 5Trên núi Bà Nà, các khu vực nghỉ mát của binh lính Pháp đã xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 mà hiện giờ tồn tại qua các phế tích giữa rừng, ngày nay, các ngôi biệt thự, nhà nghỉ đã được xây dựng lại và xuất hiện trong các khu resort: Bà Nà by night, Lê Nim, Biệt thự Hoàng Lan, Và trong những năm gần đây, thành phố Đà Nẵng vẫn đang tiếp tục khôi phục và xây dựng một số biệt thự cổ, khu văn hóa Phật giáo, hầm rượu và hàng loạt khách sạn, biệt thự, quán bar, sân tennis, sân cầu lông
Từ đỉnh núi Bà Nà, về phía Tây là dãy Trường Sơn, Phía Đông là đồng lúa Hòa Vang Từ đây du khách dễ dàng nhìn thấy bán đảo Sơn Trà, sông Thu Bồn, Hội An, nội thành Đà Nẵng
Đỉnh Bà Nà
Sau nhiều đợt thăm dò, đến tháng 4-1901, đoàn thám hiểm của Debay đã tìm ra núi Chúa, tức Bà Nà, trên đỉnh địa hình khá bằng phẳng, khí hậu tương tự như Đà Lạt
và chỉ cách thành phố Đà Nẵng về phía tây chừng 46 km
Nhưng mãi đến năm 1912, khi toàn quyền Đông Dương ra nghị định biến Bà Nà thành một khu bảo tồn lâm nghiệp thì việc nghiên cứu rặng núi này mới được đẩy mạnh Và rồi tháng 5 năm 1919, luật sư Beisson trở thành người đầu tiên xây dựng nhà nghỉ ở Bà Nà
Rặng núi này có chế độ khí hậu nhiệt đới với nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 15-20 °C, cao nhất chỉ đến 22 - 25 °C, còn về đêm, nhiệt độ trung bình về đêm khoảng 15 - 17 °C Khác biệt hẳn với thời tiết nóng nực, khô rát của vùng miền Trung, Bà Nà là một không gian ôn đới riêng biệt Một ngày luôn có 4 mùa diễn ra và một năm có hai mùa rõ rệt Những khoảnh khắc trong ngày được so sánh như mùa xuân của nước Pháp: sáng là mùa xuân, chiều là mùa thu, tối là mùa đông se lạnh
Bà Nà có những giá trị sinh thái và du lịch to lớn, Càng lên cao, nhiệt độ càng giảm và độ ẩm càng tăng
Trang 6• Hệ thực vật đa dạng và độc đáo với khoảng 136 họ, 379 chi và hơn 543 loài (có
251 loài cây thuốc)
• Hệ động vật: 256 loài động vật có xương sống (61 loài thú, 178 loài chim và 17 loài bò sát)
Năm 1986, Bà Nà đã được Chính phủ công nhận là khu dự trữ thiên nhiên, đối tượng bảo vệ và là rừng nhiệt đới gồm nhiều loại động thực vật quý hiếm cần được bảo vệ như trầm hương, gụ lậu, sến mặt, thông chàng, trĩ sao, gấu đen Châu Á, vượn
má hung Bà Nà có nhiều khu rừng nguyên sinh được phân bổ theo các sườn dốc khá hiểm trở
2.2 Ngũ Hành Sơn – Núi Non Nước
Ngũ Hành Sơn - Núi Non Nước xét về số lượng âm tiết có 3 âm tiết là địa danh Hán Việt Ngũ: là 5; Sơn: là núi
Ngũ Hành Sơn có thể hiểu đơn giản là 5 ngọn núi, hay cũng có thể hiểu rộng hơn dựa vào học thuyết Trung Hoa - Học thuyết Âm dương Ngũ hành với 5 ngọn núi:
"Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ"
Giáp Ngọ bình Nam đồ do Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng lập năm 1594 sau khi được vua Lê Thánh Tông cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa, vẽ đường đi từ Chiêm Thành đến biên giới Chân Lạp, có ghi địa danh là "Non Nước Sơn"
- Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá Công Đạo (tự Đạo Phủ, quê Nghệ An) soạn vào năm Bính Dần (1686), vẽ đường đi từ Thăng Long đến Chiêm Thành, có ghi địa danh là "Non Nước Sơn tam đỉnh" bằng chữ Nôm
Tên Ngũ Hành Sơn xuất hiện muộn hơn, và đã được Lê Quang Định nói đến trong Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (1806): "Phía đông bến đò xã Hoàn Ký Đông
có núi Ngũ Hành Sơn, năm tòa núi chia làm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ gọi là núi Non Nước
Tháng tư (âm lịch) 1825, vua Minh Mạng đến chơi Ngũ Hành Sơn lần đầu.Tuy nhiên, mãi đến năm Minh Mạng thứ 18 (1837), tên của các ngọn núi ấy mới được nhà vua tái xác nhận bằng một văn bản hành chính Sách Đại Nam dư địa chí ước biên có
từ thời Nguyễn chép:
"Ngũ Hành Sơn ở huyện Diên Phước Tục gọi là hòn Non Nước Năm Minh Mạng thứ 18 (1837) có sắc chỉ, ban cho ngọn núi phía đông bắc (núi Tam Thai) là Thủy Sơn Ba ngọn núi phía tây nam là núi Mộc Sơn, núi Dương Hỏa, núi Âm Hỏa Hai ngọn phía tây là Thổ Sơn, Kim Sơn, (cho) khắc tên núi lên đá"
Trang 7Ngũ Hành Sơn
Ngoài ra, Ngũ Hành Sơn còn có các tên khác như: Ngũ Uẩn Sơn, Ngũ Chỉ Sơn
• Về văn hóa
Tại danh thắng Non Nước Ngũ Hành Sơn có nhiều hoạt động văn hóa như lễ hội Quán Thế Âm vào tháng 2 âm lịch, nghề chạm khắc đá mỹ nghệ v.v… nhưng điểm cần nhấn mạnh là danh xưng Ngũ Hành Sơn, điều trước nay ít được đề cập đầy đủ Danh xưng các ngọn núi ở nước ta thường dựa theo hình dáng, số lượng, truyền thuyết, nhân vật, v.v… như Tam Đảo, Thất Sơn, Thiên Ấn, Thiên Bút, đồi Trạng Nguyên, núi Thần Đồng, vv…
Chắc chắn không có ngọn núi nào lại mang danh xưng của học thuyết triết học duy vật phương Đông “Âm Dương Ngũ Hành” với đầy đủ các yếu tố: Thủy, Thổ, Kim, Mộc, Hỏa (có cả Âm và Dương), như ở Ngũ Hành Sơn
Tất nhiên, việc đặt tên là do con người thực hiện nhưng cũng phải căn cứ trên sự tương đồng tương đối giữa thế đất thế núi với những yếu tố cơ bản của tên đặt
Ở Ngũ Hành Sơn có một sự tương đồng ngẫu nhiên rất cao giữa thế đất thế núi với các điểm cơ bản về bản chất và cấu trúc không gian của học thuyết triết học Âm Dương Ngũ Hành
Thứ nhất, về hình dáng, núi ở đây không phải là những “dãy” hoặc những “ngọn” mà là những “hòn”đá vôi đứng kề nhau nhưng độc lập với nhau, không dính liền nhau, với độ cao vừa phải, trên một diện tích không quá rộng, giống như những quả trứng khổng lồ nổi lên giữa đất liền nên có thể xem như các “hành”trong triết học Âm Dương Ngũ Hành
Trang 8Thứ hai, về số lượng, Ngũ Hành Sơn không chỉ có 3 ngọn như Tam Đảo ở phía Bắc hoặc 7 ngọn như Thất Sơn ở phía Nam mà có đúng 5 hòn, trùng hợp với con số 5, con số sinh thành và vận động trong vũ trụ của học thuyết Trên thực địa có 6 hòn nhưng hai hòn phía nam được nối liền với nhau nên được xem là hòn kép có cả âm và dương (Âm Hỏa Sơn và Dương Hỏa Sơn)
Thứ ba, về bố cục, 5 hòn núi đó được sắp xếp thành 2 hàng theo cấu trúc 2+3 (cả dọc và ngang), trùng hợp với cấu trúc “tham thiên lưỡng địa” (2+3=5) về sự chuyển động không ngừng của vạn vật của học thuyết
Thứ tư, do sự tương đồng về vị trí của các hòn núi với phương vị hướng và số của
Hà Đồ nên hòn núi phía bắc có tên Thủy, phía nam là Hỏa, phía tây là Kim, phía đông
là Mộc và ở trung tâm là Thổ
Như vây, danh xưng Ngũ Hành Sơn không hoàn toàn do con người đặt ra một cách tùy tiện mà mang đậm yếu tố văn hóa, khó có nơi nào có thể có được
• Về tâm linh
Ngũ Hành Sơn cũng là một thế giới tâm linh Chỉ trên bốn hòn Thủy Sơn, Hỏa Sơn, Kim Sơn, Thổ Sơn đã có 10 ngôi chùa lớn nhỏ hiện đang tồn tại: Tam Thai, Tam Tôn, Từ Tâm, Linh Ứng (Thủy Sơn); Phổ Đà sơn, Linh Sơn, Ứng Nhiên (Hỏa Sơn); Quán Thế Âm, Thái Sơn (Kim Sơn); Long Hoa (Thổ Sơn) Đấy là không kể các ngôi chùa chung quanh chân núi hoặc hiện nay không còn nữa như các chùa Thái Bình, Vân Long, Bình An, Bửu Quang, Di Lặc
Một đặc điểm nổi bật ở đây là chùa thường đi với động như hình với bóng Bên cạnh chùa Tam Thai là động Huyền Không, bên cạnh chùa Linh Ứng là động Tàng Chân, bên cạnh chùa Quán Thế Âm là động Quán Thế Âm, vv…
Chùa ở đây được xây dựng từ rất sớm, ngay từ những năm đầu thế kỷ XVII Dưới triều Nguyễn chùa Tam Thai đã được xem là Quốc tự và có Quốc sư
Trong động Quán Thế Âm có thạch nhũ có hình tượng Phật bà Quán Thế Âm Trên vách đá hòn Thổ sơn, cạnh chùa Long Hoa, có một vách đá cao hơn 30 mét, nếu được gia công thì Đà Nẵng sẽ có một bức phù điêu khổng lồ hình tượng Phật Di Lắc trên vách núi, có một không hai trong cả nước, vv…
Hằng năm tại đây có lễ hội Quán Thế Âm vào đầu năm âm lịch
Rõ ràng đây là một thế giới chùa chiền hang động, không nên trần tục hóa
• Về lịch sử
Trang 9Non Nước Ngũ Hành Sơn là một thắng cảnh đã được các vương triều trước đây ca ngợi, viếng thăm Vua Minh Mạng đã ban hành nhiều chiếu, chỉ dụ tu bổ, tôn tạo Thích Đại Sán có thể được xem như vị khách du lịch đã viếng thăm Ngũ Hành Sơn vào năm 1695 và đã có bài trường ca ca ngợi danh thắng
Tại Non Nước Ngũ Hành Sơn cũng có nhiều bia đá cổ trên vách núi và điều rất quý là có những tấm bia còn hoàn toàn nguyên vẹn như bia “Phổ Đà Linh Trung Phật” trong Hoa Nghiêm, trên hòn Thủy Sơn có dựng từ năm 1640, bia “Ngũ Uẩn Sơn” trong động Vân Thông được dựng năm 1641 Đây là những tấm bia cổ nhất trên địa bàn thành phố chứ không phải tấm bia tại chùa Long Thủ (được dựng vào năm 1657), như xưa nay vẫn nói Nội dung cho thấy rõ tình hình xã hội lúc bấy giờ, ghi rõ
họ tên và số tiền quyên góp để xây dựng chùa trong đó hơn 50% là của thương gia Nhật Bản ở Hội An và cả ở Nhật
Các hang động Ngũ Hành Sơn cũng ghi lại dấu tích đấu tranh chống Mỹ kiên cường và oanh liệt của nhân dân Quảng Nam Đà Nẵng
Như vậy, Ngũ Hành Sơn không chỉ là một thắng cảnh thiên nhiên mà còn là một nhân chứng lịch sử của đời sống nhân dân địa phương
2.3 Núi Sơn Trà – Núi Khỉ:
Cách trung tâm thành phố Ðà Nẵng chừng 10 km về hướng Ðông Bắc, ở độ cao
693 m so với mực nước biển, Sơn Trà vừa là tên gọi của bán đảo, vừa là tên của dãy núi dài 13,5km, có vị thế vô cùng đắc địa Từ trên đỉnh Sơn Trà có thể nhìn toàn cảnh thành phố Đà Nẵng, Ngũ Hành Sơn, Bà Nà - Núi Chúa, Cù Lao Chàm, Bán đảo Sơn Trà và dãy Hải Vân hợp thành hình cánh cung tạo nên một vịnh biển mang tên vũng Sơn Trà, còn được biết đến với nhiều tên khác khá quen thuộc như vũng Tiên Sa, vũng Thùng, vũng Hàn, vịnh Ðà Nẵng Vũng Sơn Trà tuy rộng nhưng sâu và kín đáo, mặt nước phẳng lặng và trong xanh Sơn Trà không chỉ giúp Đà Nẵng trở thành một khu an toàn về hàng hải mà còn là đài khí tượng thuỷ văn cho cư dân trong vùng qua các câu ca dao:“Chiều chiều mây phủ Sơn Trà, Sấm rền Non Nước trời đà chuyển mưa” hay “Đời ông cho chí đời cha, mây phủ Sơn Trà không gió thì mưa”
Trang 10Toàn cảnh núi Sơn Trà
Thời xa xưa, ở vị trí mà ngày nay là bán đảo Sơn Trà có ba ngọn núi nhô cao Ngọn phía đông nam trông như hình con nghê chồm ra biển, nên gọi là hòn Nghê Ngọn phía tây hình dạng như cái mỏ con diều hâu, nên nên gọi là ngọn Mỏ Diều Và ngọn phía bắc vươn về phía ngọn Ngự Hải bên kia cửa biển dài như cổ ngựa, nên gọi
là ngọn Cổ Ngựa Qua thời gian dài, dòng nước biển chảy ven bờ đã tải phù sa đến bồi đắp dần lên tạo thành doi đất chạy từ đất liền ra đảo, nước triều đều đặn lên xuống hàng triệu năm bào mòn và lau sạch bóng những tảng đá chồng chất ven bờ hình thành nên bán đảo Sơn Trà ngày nay
Trong dân gian còn lưu truyền rất nhiều câu chuyện kỳ thú về vùng đất này Có truyền thuyết kể rằng ngày xửa, ngày xưa nơi đây là vùng đất có cây cối bốn mùa tươi tốt, hoa thú chim muông tề tựu quanh năm trong thanh âm trong trẻo của tiếng suối reo và tiếng sóng biển rì rào Quang cảnh tuyệt trần đó đã thu hút những nàng tiên trên trời giáng trần để thưởng ngoạn, vui chơi Câu chuyện này đã được Lê Quý Đôn nhắc đến trong tác phẩm Phủ Biên Tạp Lục: “Phía Đông liền biển, có một quả núi tên Sơn Trà tục gọi là Hòn Nghê, tương truyền trên núi có ngọc, đêm đêm ngọc chiếu sáng xuống biển Người dân ở đây kể rằng, tiên thường hay giáng xuống để tắm, chơi đùa nên cũng gọi là núi Tiên Sa” Ngoài ra, nơi này còn có giai thoại về ván cờ của Đế Thích với câu chuyện kể: Có hai vị tiên ông ngồi đánh cờ trên đỉnh núi Sơn Trà nhưng