1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP HÀN QUỐC VÀ NHẬT BẢN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

73 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, trong những năm trở lại đây, sự phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp ở thành phố Đà Nẵng, đã biến nơi đây thành một trong những thành phố đáng sống nhất, đồng thời cũng thu hút một lượng doanh nghiệp nước ngoài hoạt động mạnh mẽ. Cũng như các doanh nghiệp nước ngoài khác, thì sự xuất hiện của doanh nghiệp Hàn Quốc và Nhật Bản ở thành phố Đà Nẵng đã tạo nên sức hút, sự cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước nói chung và Đà Nẵng nói riêng. Những dấu ấn, những ảnh hưởng từ văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp Hàn Quốc và Nhật Bản đã tác động một cách sâu sắc tới văn hóa kinh doanh tại Đà Nẵng. Điều đó vừa tạo những thuận lợi nhất định, vừa là thời cơ vừa là thách thức cho Đà Nẵng. Có thể khẳng định văn hóa kinh doanh Hàn – Nhật là một trong những yếu tố góp phần phát triển mạnh mẽ văn hóa kinh doanh tại Đà Nẵng. Đó chính là lý do chúng tôi chọn đề tài “Đặc điểm văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp Hàn Quốc và Nhật Bản tại thành phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình.

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

-ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA KINH DOANH

CỦA DOANH NGHIỆP HÀN QUỐC VÀ NHẬT BẢN

TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HÓA HỌC

Đà Nẵng, Tháng 4/2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.Các thông tin và số liệu được sử dụng phân tích trong khóa luận là trung thực đượcthu thập từ những nguồn tin cậy, đã công bố theo quy định Các luận điểm, dữ liệuđược tôi tổng hợp từ nhiều tài liệu khác nhau, hoặc có trích dẫn và ghi rõ nguồn tàiliệu tham khảo Các kết quả nghiên cứu trong luận án là do tôi tự tìm hiểu, phân tíchmột cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn Các kết quả trong đề tàinghiên cứu này chưa từng được công bố trong bất cứ nghiên cứu nào

Thành phố Đà Nẵng, ngày tháng năm2017

Tác giả khóa luận

Mai Thị Phương Mai

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Được hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn Phạm Thị Tú Trinh và sự đồng ý củakhoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư pham Đà Nẵng tôi đã thực hiện đề tài “Đặc điểmvăn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Hàn Quốc và Nhật Bản tại thành phố ĐàNẵng”

Để hoàn thành khóa luận này Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tậntình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Sư phạm

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN: 8

1.1 Khái niệm 8

1.1.1 Văn hóa, văn hóa kinh doanh 8

1.1.2 Doanh nghiệp 12

1.2 Văn hóa kinh doanh Đà Nẵng 16

1.2.1 Những yếu tố tác động đến văn hóa kinh doanh Đà Nẵng 16

1.2.2 Thực trạng văn hóa kinh doanh ở Đà Nẵng 22

1.3 Các doanh nghiệp nước ngoài ở Đà Nẵng 25

1.3.1 Quy mô, số lượng, ngành nghề và phân bố tại Đà Nẵng 25

1.3.2 Doanh nghiệp Hàn Quốc và Nhật Bản ở Đà Nẵng 26

CHƯƠNG II: VĂN HÓA KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP HÀN QUỐC VÀ NHẬT BẢN Ở ĐÀ NẴNG 30

2.1 Doanh nghiệp Hàn Quốc 30

2.1.1 Triết lý kinh doanh 30

2.1.2 Đạo đức kinh doanh 31

2.1.3 Văn hóa doanh nhân 33

2.1.4 Quan hệ và ứng xử trong doanh nghiệp 35

2.2 Doanh nghiệp Nhật Bản: 37

2.2.1 Triết lý kinh doanh 37

2.2.2 Đạo đức kinh doanh 40

2.2.3 Văn hóa doanh nhân 41

2.2.4 Quan hệ và ứng xử trong doanh nghiệp 42

2.3 Điểm tương đồng và khác biệt giữa văn hóa kinh doanh Hàn Quốc, Nhật Bản và văn hóa kinh doanh Đà Nẵng 47

Trang 5

2.3.1 Tương đồng 47

2.3.2 Khác biệt 47

CHƯƠNG III: ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA KINH DOANH HÀN QUỐC VÀ NHẬT BẢN ĐẾN VĂN HÓA KINH DOANH TẠI ĐÀ NẴNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 48

3.1 Ảnh hưởng đến văn hóa kinh doanh tại Đà Nẵng 48

3.1.1 Ảnh hưởng tích cực 48

3.1.2 Ảnh hưởng tiêu cực 49

3.2 Bài học kinh nghiệm đối với doanh nghiệp Đà Nẵng 50

3.2.1 Đối với nội bộ doanh nghiệp tại Đà Nẵng 50

3.2.2 Đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tại Đà Nẵng 53

KẾT LUẬN 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Trong xu thế hiện này, toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, các quốc gia trên thếgiới hội nhập ở khắp các mặt, đặc biệt là kinh tế Hòa với yêu cầu của toàn cầu hóa,đòi hỏi doanh nghiệp phải có những thế mạnh riêng, đồng thời biết khai thác nhữngvăn hóa kinh doanh điển hình Chính nền kinh tế toàn cầu đã làm môi trường kinhdoanh biến đổi hơn, tác động làm những chuẩn mực của văn hóa kinh doanh càngphải được nâng cao, những điều đó bắt buộc doanh nghiệp ở các nước phải xâydựng một nền văn hóa kinh doanh phát triển nhất, đồng thời có tính thích nghi vàhòa nhập cao nhất

Hàng năm có rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam như: Mỹ,Anh, Pháp, Trung Quốc, Đài Loan, Nga,… và đa số điều đạt được những thành tựurực rỡ Điều đó cho thấy văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp nước ngoài lànhững chiến lược kinh doanh đặc biệt và yếu tố tạo nên thành công của các doanhnghiệp này

Đặc biệt trong các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam, không thểkhông kể đến các doanh nghiệp Hàn Quốc (CJ, CGV, Lotte,…) và Nhật Bản(Acecook, Honda, Thiên Quế,…) Các doanh nghiệp Hàn Quốc và Nhật Bản dễ cóchỗ đứng và tạo nên những dấu ấn riêng biệt Các doanh nghiệp này bằng những thếmạnh về kinh tế, kết hợp với việc có một nền văn hóa kinh doanh thích hợp đã tạonên những dấu ấn mạnh mẽ đến văn hóa kinh doanh của nước ta

Ở Việt Nam, trong những năm trở lại đây, sự phát triển kinh doanh của các doanhnghiệp ở thành phố Đà Nẵng, đã biến nơi đây thành một trong những thành phốđáng sống nhất, đồng thời cũng thu hút một lượng doanh nghiệp nước ngoài hoạtđộng mạnh mẽ Cũng như các doanh nghiệp nước ngoài khác, thì sự xuất hiện củadoanh nghiệp Hàn Quốc và Nhật Bản ở thành phố Đà Nẵng đã tạo nên sức hút, sựcạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước nói chung và Đà Nẵng nói riêng.Những dấu ấn, những ảnh hưởng từ văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp HànQuốc và Nhật Bản đã tác động một cách sâu sắc tới văn hóa kinh doanh tại ĐàNẵng Điều đó vừa tạo những thuận lợi nhất định, vừa là thời cơ vừa là thách thứccho Đà Nẵng Có thể khẳng định văn hóa kinh doanh Hàn – Nhật là một trongnhững yếu tố góp phần phát triển mạnh mẽ văn hóa kinh doanh tại Đà Nẵng Đó

Trang 7

chính là lý do chúng tôi chọn đề tài “Đặc điểm văn hóa kinh doanh của doanhnghiệp Hàn Quốc và Nhật Bản tại thành phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu chokhóa luận tốt nghiệp của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Về cơ sở lý luận của văn hóa kinh doanh, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu

đề cập đến như như:

- “Bài Giảng Văn Hoá Kinh Doanh” của PGS.TS Dương Thị Liễu

- Giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty” của PGS.TS NguyễnMạnh Quân

- “Văn hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo” của Edar.H.Schein, được dịch bởiNguyễn Phúc Hoàng

Ngoài ra còn có các tác giả: Phạm Xuân Nam, Đỗ Minh Cương, Nguyễn HoàngAnh nghiên cứu và đưa ra những quan điểm về cơ sở lý luận của văn hóa kinhdoanh Họ đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, kinh doanh; tổngquan khá đầy đủ các quan niệm về triết lý kinh doanh, đạo đức kinh doanh, về vănhóa doanh nhân , các yếu tố cấu thành và các nhân tố ảnh hưởng tới văn hóa kinhdoanh Tuy nhiên, các tác giả này vẫn chưa có sự thống nhất về một số quan điểmchẳng hạn như về khái niệm văn hóa kinh doanh và các nhân tố cấu thành văn hóakinh doanh

Về nghiên cứu văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp nước ngoài nói chung vàvăn hóa kinh doanh của Hàn Quốc và Nhật Bản nói riêng ở nước ta, hoặc một vùngnhất đinh ở nước ta, cũng có một số nghiên cứu của một số tập đoàn doanh nghiệp,hay của một số nhà nghiên cứu về văn hóa kinh doanh như:

- “Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư Hàn Quốc tại ViệtNam” của Nguyễn Viết Lộc

- “Văn hóa kinh doanh Nhật Bản và khả năng thâm nhập vào thị trường nàycủa các doanh nghiệp Việt Nam” của Nguyễn Thị Vân

Tuy nhiên cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào cụ thể về văn hóa kinh doanh củacác doanh nghiệp có vốn nước ngoài tại thành phố Đà Nẵng

Các nghiên cứu này đã giới thiệu và đề xuất được một số giải pháp cải thiện kinhdoanh và môi trường kinh doanh, và phát huy những vai trò của văn hóa kinhdoanh Song lại chưa đi sâu vào phân tích sự ảnh hưởng ở một khu vực nhất định,

Trang 8

và chưa nhấn mạnh được dấu ấn của văn hóa kinh doanh nước ngoài tại Việt Nam,đồng thời chưa đưa ra được những bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp cũng nhưngười tham gia vào hoạt động doanh nghiệp.

3 Mục đích nghiên cứu

Công trình nghiên cứu dựa trên cơ sở những lý luận và thực tiễn về văn hóa kinhdoanh, để làm rõ văn hóa kinh doanh (Triết lý kinh doanh, đạo đức kinh doanh, vănhóa doanh nhân, văn hóa ứng xử trong doanh nghiệp) của doanh nghiệp Hàn Quốc

và Nhật Bản ở Đà Nẵng Từ đó thấy được những ảnh hưởng tích cực và tiêu cựccủa văn hóa kinh doanh hai nước này đến văn hóa kinh doanh tại Đa Nẵng Đồngthời rút ra những bài học cho các doanh nghiệp khác tại Đà Nẵng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu

Văn hóa kinh doanh của Hàn Quốc và Nhật Bản

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

6 Đóng góp của khóa luận

Khóa luận sẽ cung cấp một cách tổng hợp những cơ sở lý luận về văn hóa kinhdoanh, đồng thời làm rõ văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Hàn Quốc vàNhật Bản ở Đà Nẵng, đặc biệt hơn là những ảnh hưởng của hóa kinh doanh củadoanh nghiệp Hàn Quốc và Nhật Bản đến văn hóa kinh doanh Đà Nẵng Nhữngquan niệm về triết lý kinh doanh, đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh nhân, văn hóaứng xử trong doanh nghiệp của các doanh nghiệp Hàn Quốc và Nhật Bản

Từ những nghiên cứu từ doanh nghiệp Hàn Quốc và Nhật Bản đang hoạt động ở

Đà Nẵng đưa ra những bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp cũng như các thànhphần tham gia hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng

7 Bố cục của khóa luận

Trang 9

Khóa luận gồm có : Lời cam đoan, Lời cảm ơn, lời mở đầu, mục lục, nội dung,kết luận, tài liệu tham khảo.

Trong đó phần Nội dung chính gồm 3 chương:

1.1.1 Văn hóa, văn hóa kinh doanh

- Khái niệm văn hóa:

Văn hóa ra đời gắn liền với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người.Văn hóa là một thuật ngữ đa nghĩa, đa dạng Có nhiều cách tiếp cận khác nhau nên

có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm văn hóa

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa ở phương Tây, khái niệm văn hóa có nguồngốc từ tiếng Latinh là Colere – Cultura, nghĩa là trồng trọt, dùng để chỉ việc chămsóc đất đai, canh tác Để chỉ văn hóa, người Pháp và người Anh dùng từ culture,người Đức dùng từ Kultur, người Nga có từ Kultura.Về sau, khái niệm văn hóangày càng được sử dụng phổ biến Do nhu cầu phản ánh các hoạt động xã hội, kháiniệm văn hóa đã được mở rộng trên nhiều lĩnh vực của đời sống

Ở phương Đông, từ “văn hóa” đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm TrongChu Dịch có nói đến “Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ” (Quan sát dang vẻcon người để giáo hóa thiên hạ) Ở đây, văn hóa được giải thích như một phươngthức dùng để cải hóa con người

Khổng Tử cũng đã nói đến “văn” sau này môn đệ của ông là Tuân Tử giải thích: văn

là cái ngụy, tức là cái do con người làm nên chứ không tự nhiên mà có

Trong quan niệm macxit, văn hóa là những vấn đề biến đổi của bản thân con người,

là yếu tố làm hình thành nên lịch sử của con người Văn hóa gắn với sản xuất xã

Trang 10

hội Văn hóa được biểu thị như phương thức hoạt động của con người, bao chứa toàn bộ các sản phẩm vật chất và tinh thần của con người cũng như năng lực phát triển của chính bản thân con người.

Bản thân từ văn hóa được dùng ở một số nước phương Đông hiện nay như Nhật

Bản, Trung Quốc, Việt Nam,… là một từ của người Nhật dịch từ culture trong ngônngữ phương Tây và truyền sang Trung Quốc, rồi qua Việt Nam khi các nhà Nho duytân đọc và dịch tân văn, tân thư Trung Quốc hồi đầu thế kỉ XX

Đào Duy Anh có lẽ là người đầu tiên ở Việt Nam đưa ra khái niệm về văn hóa trongcuốn Việt Nam văn hóa sử cương, xuất bản 1938 Ông viết “Người ta thường chorằng văn hóa chỉ là những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem vănhóa vốn có tính chất cao thượng đặc biệt Thực ra không phải như vậy Học thuật tưtưởng cố nhiên là ở trong phạm vi của văn hóa nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế,

về chính trị, về xã hội cùng hết thẩy các phong tục tập quán tầm thường lại khôngphải ở trong phạm vi văn hóa hay sao Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tấtcác các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hóatức là sinh hoạt.”

Bàn về khái niệm văn hóa, chủ tịch Hồ Chí Minh có viết “Vì lẽ sinh tồn cũng nhưmục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữviết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ chosinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sángtạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thứcsinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứngnhững như cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn”

Trong bài phát biểu của mình tại lễ phát động Thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa(1988-1997) của UNESCO ở Pari năm 1988, ông Federico Mayor Zaragoza_Tổnggiám đốc UNESCO lúc bấy giờ đã khẳng định: “Văn hóa đã phản ánh và thể hiệnmột cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống đã diễn ra trong quá khứ,cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ nó đã cấu thành nên một

hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc

tự khẳng định bản sắc riêng của mình”

Ở Việt Nam,còn có rất nhiều cách hiểu về văn hóa của các nhà nghiên cứu TrầnNgọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinhthần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự

Trang 11

tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của mình”.Phan Ngọc thì xem “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một

cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này haytộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểuhiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ nhận thấynhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác cáckiểu lựa chọn của các cá nhân hay tộc người khác.” Đoàn Văn Chúc thì hiểu “Vănhóa chỉ định toàn thể những sản phẩn mang tính biểu tượng do một xã hội sảnxuất”

Có thể thấy, có rất nhiều định nghĩa về văn hóa; mỗi định nghĩa thâu tóm mộtphương diện nào đó của văn hóa Bởi vậy khi xem xét khái niệm văn hóa, cần phảicoi các định nghĩa theo nhiều khía cạnh, bổ sung lẫn nhau để có thể tái hiện văn hóanhư một chỉnh thể

Năm 1952, hai nhà văn hóa học nổi tiếng Hoa Kỳ là A.Kroeber và C.Kluckholn đãthống kê được 150 định nghĩa khác nhau về văn hóa Ngày nay, số lượng định nghĩa

đó đã tăng lên hơn 300 định nghĩa Theo cách sắp xếp của 2 ông, có thể phân địnhnghĩa về văn hóa thành các loại: Định nghĩa miêu tả, định nghĩa lịch sử, định nghĩachuẩn mực, định nghĩa tâm lý học, định nghĩa cấu trúc, định nghĩa nguồn gốc.Tất cả các định nghĩa nhìn chung điều chia văn hóa thành văn hóa vật chất và vănhóa tinh thần Sau khi đưa ra thảo luận, và đi đến kết luận về hai thuật ngữ trênUNESCO đã được ra những khái niệm riêng

Văn hóa vật thể là những hình thái biểu trưng, tồn tại ổn định trong không gian vàthường trực theo thời gian; còn văn hóa phi vật thể thì tiềm ẩn trong trí nhớ của conngười, chỉ khi nó được khách thể hóa thì người ta mới nhận biết được các hình tháibiểu trưng của nó

- Khái niệm văn hóa kinh doanh:

Trên thế giới tồn tại rất nhiều định nghĩa về văn hóa kinh doanh, nhưng về cơ bản

có thể phân thành hai cách hiểu sau:

Cách hiểu thứ nhất là cách hiểu theo nghĩa hẹp, coi doanh nghiệp là chủ thể chínhcủa hoạt động kinh doanh, mọi hoạt động kinh doanh của xã hội đều tập trung ởdoanh nghiệp; nên người ta đồng nhất văn hóa kinh doanh (business culture) vớivăn hóa doanh nghiệp (corporate culture) Những người có quan niệm này coidoanh nghiệp là một cộng đồng riêng biệt trong đó kinh doanh là hoạt động đặc thù

Trang 12

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO – International Labour Organization) cho rằng

“Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặt biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen

và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đốivới một tổ chức đã biết”.Trên thực tế, kinh doanh không chỉ là hoạt động của nội bộdoanh nghiệp mà còn liên quan đến nhiều đối tượng hữu quan khác nhau như các cơquan quản lý nhà nước, khách hàng, đối tác,… Và văn hóa kinh doanh cũng bị tácđộng bởi nhiều yếu tố thông qua các hoạt động kinh doanh Vì vậy, khái niệm vănhóa kinh doanh không thể đồng nhất hoàn toàn với khái niệm doanh nghiệp

Cách hiểu thứ hai coi kinh doanh là hoạt động có liên quan đến mọi thành viêntrong xã hội nên văn hóa doanh nghiệp chỉ là một bộ phận trong văn hóa kinh doanhcủa một dân tộc Các nhà nghiên cứu trong viện kinh doanh Nhật Bản – Hoa Kỳ đãđưa ra định nghĩa “Văn hóa kinh doanh có thể được định nghĩa như ảnh hưởngcủanhững mô hình văn hóa của một xã hội đến những thiết chế và thông lệ kinh doanhcủa xã hội đó”

Ở Việt Nam, cũng có nhiều định nghĩa được đưa ra; như GS.TS Đỗ Huy có đưa rakhái niệm: “Văn hóa kinh doanh là một bộ phận cấu thành nền văn hóa chung, phảnánh trình độ của con người trong lĩnh vực kinh doanh” Theo đó, văn hóa kinhdoanh là một bộ phận của văn hóa xã hội, là sự phản ánh thực tiễn hoạt động kinhdoanh của con người Ở khái niệm này, văn hóa kinh doanh được hiểu theo nghĩarộng Sau đó PGS.TS Đỗ Minh Cương cũng cho rằng “Văn hóa kinh doanh là việc

sử dụng các nhân tố văn hóa vào trong hoạt động kinh doanh của chủ thể, là cái vănhóa mà các chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh hình thành nênnhững kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù của họ” Trong khi đó PGS.TS DươngThị Liễu cho rằng “Văn hóa kinh doanh là toàn bộ các nhân tố văn hóa được chủ thểkinh doanh chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh, tạonên bản sắc kinh doanh của chủ thể đó”

Theo từ điển Tiếng Việt, kinh doanh được hiểu là “việc tổ chức sản xuất buôn bánsao cho sinh lời” Với nghĩa đơn giản nhất này, từ kinh doanh không những cónghĩa là buôn bán là còn là cả việc “tổ chức sản xuất” Kinh doanh là hoạt động của

cá nhân hoặc tổ chức nhằm đạt mục đích sinh lợi nhuận thông qua một loạt các hoạtđộng kinh doanh như quản trị, tiếp thị, tài chính,…

Để nghiên cứu vấn đề này, nhóm nghiên cứu của T.S Nguyễn Thị Ngọc Anh đã nhìnnhận dưới góc độ triết học, trên cơ sở kế thừa những giá trị của những nghiên cứu

Trang 13

trước, cho rằng văn hóa kinh doanh được định nghĩa theo nghĩa rộng và nghĩa hẹpnhư sau:

 Theo nghĩa rộng, văn hóa kinh doanh là một bộ phận cấu thành nền văn hóachung của một dân tộc, phản ánh hoạt động kinh doanh và mức độ gắn kếtgiữa cái lợi và những giá trị chân, thiện, mỹ của con người trong từng giaiđoạn lịch sử

 Theo nghĩa hẹp, văn hóa kinh doanh thể hiện sự gắn kết cái lợi với những giátrị chân, thiện, mỹ để tạo ra bản sắc kinh doanh nhằm đạt đến sự phát triểnbền vững của chủ thể kinh doanh

Hiện nay, nhiều người vẫn đồng nhất hai khái niệm văn hóa kinh doanh và văn hóadoanh nghiệp Trên thực tế đây là hai khái niệm có phạm vi phản ánh khác nhau.Kinh doanh là một trong những hoạt động phong phú nhất của loại người Kinhdoanh là một hoạt động cơ bản của con người, xuất hiện cùng với hàng hóa và thịtrường Nếu là danh từ, kinh doanh là một nghề - được dùng để chỉ những conngười thực hiện các hoạt động nhằm mục đích kiếm lợi, còn nếu xét ở trường hợp làmột động từ thì kinh doanh là một hoạt động, là thực hiện quá trình sản xuất, tiêuthụ và cung ứng

Tóm lại, trong xã hội, biểu hiện của văn hóa kinh doanh sẽ chủ yếu tập trung ở hailoại chủ thể kinh doanh chính, đó là các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh Cácđối tượng hữu quan khác nhau trong xã hội như nhà nước, các cơ quan quản lý xãhội, khách hàng, đối tác kinh doanh, … cũng là những nhân tố tác động đến sự pháttriển của văn hóa kinh doanh của các chủ thể kinh doanh

1.1.2 Doanh nghiệp

Có khá nhiều định nghĩa thế nào là một doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mangtrong nó có một nội dung nhất định với một giá trị nhất định Điều ấy cũng là đươngnhiên, vì rằng mỗi nhà nghiên cứu đứng trên nhiều quan điểm khác nhau khi tiếpcận

Chẳng hạn:

- Xét theo quan điểm luật pháp:

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, cóquyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu

Trang 14

trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệpquản lý và chịu sự quản lý của nhà nước bằng các loại luật và chính sách thực thi

- Xét theo quan điểm chức năng:

Doanh nghiệp được định nghĩa như sau: "Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chứcsản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả củacác yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thịtrường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệchgiữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy (M.Francois Peroux)

- Xét theo quan điểm phát triển:

Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải Nó sinh ra,phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳnguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phảinhững khó khăn không vượt qua được " (trích từ sách " kinh tế doanh nghiệp củaD.Larua.A Caillat - Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 1992 )

- Xét theo quan điểm hệ thống

Doanh nghiệp được các tác giả nói trên xem rằng " doanh nghiệp bao gồm mộttập hợp các bộ phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mụctiêu Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất,thương mại, tổ chức, nhân sự

Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xét doanhnghiệp dưới những góc nhìn khác nhau Song giữa các định nghĩa về doanh nghiệpđều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìn bao quáttrên phương diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức, pháttriển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức năng và nội dung hoạt động củadoanh nghiệp cho thấy đã là một doanh nghiệp nhất thiết phải được cấu thành bởinhững yếu tố sau đây:

 Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực hiệncác chức năng quản lý như các bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộphận hành chính

 Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin

 Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thương mại - mua các yếu tố đầu vào, bán sảnphẩm sao cho có lợi ở đầu ra

Trang 15

 Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhànước, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệp bằngkhoản lợi nhuận thu được.

Từ cách nhìn nhận như trên có thể phát biểu về định nghĩa doanh nghiệp như sau:Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tàichính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêuthụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thôngqua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mụctiêu xã hội

- Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân:

Tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp là điều kiện cơ bản quyết định sự tồntại của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do Nhà nước khẳng định và xácđịnh Việc khẳng định tư cách pháp nhân của doanh nghiệp với tư cách là một thựcthể kinh tế, một mặt nó được nhà nước bảo hộ với các hoạt động sản xuất kinhdoanh, mặt khác nó phải có trách nhiệm đối với người tiêu dùng, nghĩa vụ đóng gópvới nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội Đòi hỏi doanh nghiệp phải chịu tráchnhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi phá sảnhay giải thể

- Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế quốc dân)gắn liền với địa phương nơi nó tồn tại

- Doanh nghiệp là một tổ chức sống vì lẽ nó có quá trình hình thành từ một ýchí và bản lĩnh của người sáng lập (tư nhân, tập thể hay Nhà nước); quá trìnhphát triển thậm chí có khi tiêu vong, phá sản hoặc bị một doanh nghiệp khácthôn tính Vì vậy cuộc sống của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chấtlượng quản lý của những người tạo ra nó

- Doanh nghiệp ra đời và tồn tại luôn luôn gắn liền với một vị trí của một địaphương nhất định, sự phát triển cũng như suy giảm của nó ảnh hưởng đến địaphương đó

Ở một cách hiểu khác doanh nghiệp trước hết là một tổ chức kinh tế có chứcnăng tổ chức, sử dụng các đầu vào để sản xuất ra các sản phẩm đầu ra thích hợp.Việc tổ chức quá trình sản xuất thông qua hình thức doanh nghiệp chỉ có lợi vềmặt kinh tế khi nhờ nó, người ta có thể tiết kiệm được các khoản chi phí giao dịch

Trang 16

do việc "nội bộ hóa" nhiều khâu giao dịch thị trường Khi người ta có thể tổ chứcviệc sản xuất một loại sản phẩm đầu ra nhờ việc thuê tạm thời các yếu tố đầu vào(ví dụ, một nhà sản xuất phim có thể thuê diễn viên, thuê máy móc, thiết bị quayphim, thuê phim trường và các địa điểm hay bối cảnh quay để sản xuất ra một bộphim), thì theo một nghĩa nào đó, doanh nghiệp, với tư cách là một thực thể kinh tếriêng biệt, độc lập với các cá nhân và các hộ gia đình, không tồn tại Tuy nhiên, việc

tổ chức sản xuất theo kiểu nói trên thường làm phát sinh những chi phí giao dịchlớn Các quan hệ làm việc giữa những nhóm lao động (những người quản lý, cácnhà chuyên môn, những người công nhân trực tiếp sản xuất) trở nên thiếu ổn định.Nhiều hợp đồng thuê mướn phải thường xuyên thương lượng, ký kết và giám sát đểcho chúng có hiệu lực Những bất lợi như vậy có thể được khắc phục nếu như một

tổ chức kiểu doanh nghiệp, tồn tại như một thực thể có tư cách pháp lý độc lập vớicác cá nhân, xuất hiện

Trong nội bộ một doanh nghiệp, quan hệ giữa các bộ phận, các khâu, các phânxưởng thường được thực hiện không thông qua các giao dịch thị trường Ví dụ,trong một nhà máy dệt vải, sản phẩm của phân xưởng dệt được chuyển giao chophân xưởng nhuộm theo một quy trình nội bộ mà không cần đến những giao dịchmua, bán như trên thị trường Chỉ khi, nhờ vào việc "nội bộ hóa" có khả năng giảmthiểu các chi phí giao dịch này, mà việc sản xuất vải thành phẩm của doanh nghiệptrở nên hiệu quả hơn, thì việc liên kết các phân xưởng dệt, nhuộm¼ thành mộtdoanh nghiệp mới được coi là hợp lý về mặt kinh tế

Vì thế, mặc dù có thể nói, chức năng của doanh nghiệp là 1) thuê, mua các yếu tốđầu vào; 2) tổ chức sử dụng các yếu tố đầu vào theo một cách thức nào đó để tạo racác sản phẩm đầu ra; 3) bán các sản phẩm đầu ra, song, về phương diện kinh tế,chức năng đích thực của doanh nghiệp là tiết kiệm các chi phí nhờ biến các quan hệgiao dịch trên thị trường thành những quan hệ có tính chất phân công, hợp tác trongnội bộ một tổ chức

Doanh nghiệp hay còn gọi là doanh thương là một tổ chức kinh tế, có tên riêng,

có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định củapháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

Luật doanh nghiệp 2005 giải thích: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một,một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sảnphẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Như vậy

Trang 17

doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp

có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận”

Luật Doanh nghiệp 2014 được thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014 và chínhthức có hiệu lực từ 01 tháng 7 năm 2015 giải thích:

- Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đượcđăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh

- Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốnđiều lệ

- Doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng ký thànhlập theo pháp luật Việt Nam và có trụ sở chính tại Việt Nam

- Thế nào là doanh nghiệp nước ngoài hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài?

Khoản 6 Điều 3 của Luật Đầu tư định nghĩa doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt độngđầu tư tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua

cổ phần, sáp nhập, mua lại

Pháp luật hiện hành quy định tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nướcngoài hoặc tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tưnước ngoài thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo các loại hìnhcông ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định củaLuật Doanh nghiệp

Bên cạnh các quy định của pháp luật áp dụng chung, phù hợp với các cam kếtquốc tế mà Việt Nam là thành viên và để thuận lợi cho công tác quản lý đầu tư,pháp luật về doanh nghiệp và về đầu tư áp dụng riêng đối với đầu tư nước ngoài vềlĩnh vực đầu tư có điều kiện, về quy định trong việc thành lập công ty cổ phần,doanh nghiệp tư nhân, về thủ tục đầu tư, về đầu mục hồ sơ dự án đầu tư và về địađiểm thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp

1.2 Văn hóa kinh doanh Đà Nẵng

1.2.1 Những yếu tố tác động đến văn hóa kinh doanh Đà Nẵng

 Văn hóa, xã hội:

Văn hóa kinh doanh là một bộ phận của văn hóa dân tộc, văn hóa xã hội Vì vậy,

sự phản chiếu của văn hóa dân tộc , văn hóa xã hội lên nền văn hóa kinh doanh là

Trang 18

một điều tất yếu Mỗi cá nhân trong 1 nền văn hóa kinh doanh đều phụ thuộc vàomột nền văn hóa dân tộc cụ thể, với một phần tuân theo các giá trị văn hóa dân tộc

cụ thể, với một phần nhân cách tuân theo các giá trị văn hóa dân tộc Mức độ coitrọng tính cá nhân hay tính tập thể, khoảng cách phân cấp xã hội, tính linh hoạtchuyển đổi giữa các tầng lớp xã hội, tính đối lập giữa nam quyền và nữ quyền, tínhthận trọng,… là những nhân tố của văn hóa xã hội tác động mạnh mẽ đến văn hóakinh doanh Hoạt động kinh doanh luôn tồn tại trong một môi trường xã hội nhấtđịnh nên nhất thiết nó phải chịu ảnh hưởng của văn hóa xã hội Các yếu tố của nềnvăn hóa xã hội như hệ giá trị, tập tục, thói quen, nghi lễ, lối sống, tư tưởng tôn giáo,

cơ cấu dân số, thu nhập của dân chúng, vai trò của các tổ chức kinh tế, chính trị, xãhội,… đều tác động mạnh mẽ đến hoạt động của daonh nghiệp

Đà Nẵng nằm ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ và mang những đặc trưng tiêu biểu của vùng, đặt biệt là văn hóa vùng duyên hải

Đà Nẵng, theo gốc tiếng Chăm nghĩa là cửa sông lớn, sông lớn - là một vùng đấtkhông có địa giới rõ ràng Từ khi trở thành nhượng địa (1888) đến Cách mạngTháng Tám, Đà Nẵng được 57 năm tồn tại Đây là khoảng thời gian quá ngắn cho

sự tích tụ, bồi lắng để hình thành nên VH Đà Nẵng Điều cần thấy rõ, sự hình thành

VH Đà Nẵng trong điều kiện thành phố nhượng địa phụ thuộc rất lớn vào chínhsách cai trị của thực dân Chính sách bòn rút của Pháp đã không thể tạo nên diệnmạo kinh tế khả quan cho thành phố Đà Nẵng Cùng với đó, thực dân đã thực hiện ởđây một chính sách ngu dân, kìm hãm VH: đến năm 1945 chưa có trường trung học;không có bất cứ tờ báo nào (Huỳnh Thúc Kháng lúc đầu định lập báo Tiếng Dân ở

Đà Nẵng sau phải đặt trụ sở ở Huế); không có nhà hát lớn, chỉ có rạp Hòa Bình nhỏ

bé, quê mùa do tư nhân xây dựng Có lẽ, dấu ấn quan trọng nhất về văn hóa màngười Pháp để lại cho Đà Nẵng là Bảo tàng Điêu khắc Chăm (xây dựng năm 1915,hoàn thành năm 1930); ngòai ra, cũng có thể kế thêm Trung tâm Văn hóa Pháp, tứcThư viện Tổng hợp ngày nay

“Không thể tách rời VH Đà Nẵng khỏi VH Quảng Nam, VH xứ Quảng Cáchđây 5 thế kỷ rưỡi, Quảng Nam đã là một trung tâm kinh tế, chính trị lớn của nướcĐại Việt Những người sống trên mảnh đất này đã giao hòa, cùng chung sống, cùngchống lại thiên tai, địch họa, hình thành nên một quần cư lớn Nền VH xứ Quảng làtinh hoa của quần cư đó Sau khi chia tách, nhiều người nghĩ rằng kho tàng VHnằm hết ở Quảng Nam, còn Đà Nẵng chẳng sở hữu gì cả Thực ra, khi xét dưới góc

Trang 19

nhìn VH, điều này không đúng Cái ranh giới hành chính được tạo ra giữa 2 địaphương, đôi khi không phải là ranh giới về VH Công dân của thành phố Đà Nẵngvẫn không thấy mình xa cách về ngữ điệu, về tính cách, về tư duy với người anh emQuảng Nam Kho tàng VH mà người Đà Nẵng sở hữu không thể chỉ giới hạn trongkhông gian hành chính của thành phố này Tuy nhiên, ngày nay Đà Nẵng cũngkhông thể tự hài lòng với những gì mình đang có Thành phố cần có những thiết chế

VH (bảo tàng, nhà hát, khuôn viên ) mới đáp ứng được đòi hỏi của xã hội.” TheoPGS-TS Trương Quốc Bình, Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Ủy viên Hộiđồng Di sản quốc gia

Các nhà văn hóa đã đúc kết một cách rất cụ thể về người Đà Nẵng là: Đà Nẵngnằm trong vùng đất được tôn vinh là "Ngũ phụng Tề phi", gắn liền với truyền thốnghiếu học và say mê sáng tạo Người Đà Nẵng có bản tính chất phác, ngay thẳng,sống đơn giản, thân thiện, yêu sự chân thật và kiên quyết trong hành động chống lạinhững điều ác, điều xấu Trải qua diễn trình lịch sử, Đà Nẵng là nơi quần cư của cưdân nhiều địa phương khác đến; là nơi giao lưu và hội tụ những nét văn hóa củanhiều vùng miền trong cả nước Dẫu chưa hình thành nét đặc trưng rõ rệt như một

số nơi nhưng người Đà Nẵng vẫn có tính cách riêng và ngày càng được hun đúccùng tiến trình phát triển đô thị

Vì yêu, vì tâm huyết, trách nhiệm với quê hương mà người Đà Nẵng từ lãnh đạođến người dân bình thường luôn đằm mình suy nghĩ những bước đi, cách làm thíchhợp nhất để xây dựng thành phố quê hương lớn lên từng ngày Vất vả, gian nan cònnhiều, nhưng lạc quan và niềm tin thì không bao giờ cạn Đó cũng là bản chất củangười Đà Nẵng Chúng ta có quyền tự hào vì mình là “Người Đà Nẵng”, về nhữngthay đổi của thành phố mà mình đang gắn bó

Cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, Phật giáo ở Đà Nẵng rất pháttriển Minh chứng cho điều đó chính là nhiều ngôi chùa lớn và nổi tiếng đã đượcxây dựng Bên cạnh sự quy mô thì sự linh thiêng cùng nhiều câu chuyện huyền bíxoay quanh đã khiến nhiều ngôi chùa ở Đà Nẵng trở thành những địa điểm hànhhương lý tưởng đối với không ít tín đồ Phật giáo trên cả nước

Ngoài Phật giáo với những ngôi chùa nổi tiếng, thì Đà Nẵng còn là một địa điểmhành hương lý tưởng đối với các tín đồ Tin Lành Có thể nói như vậy bởi lẽ Tòathành Tin Lành Đà Nẵng chính là Tòa thành Tin lành lâu đời nhất Việt Nam với trên

Trang 20

100 năm tuổi, ngoài ra thì đây cũng chính là Tòa thành Tin lành đầu tiên được tổchức và xây dựng tại Việt Nam.

Sau khi tách khỏi Quảng Nam và trở thành thành phố trực thuộc trung ương, ĐàNẵng dần không chỉ là một thành phố lớn của miền Trung – Tây Nguyên, Đà Nẵngcòn là một trong những trung tâm kinh tế lớn của cả nước nhưng cách Đà Nẵng

“sống” và “chảy” lại khiến không ít du khách khi đặt chân đến đây phải ngạc nhiênmột cách đầy kinh ngạc: Tại sao vùng đất này lại yên bình đến như thế! Không quá

xô bồ, ồn ào và náo nhiệt như những Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng lựa chọn “sống”theo cách của riêng mình – một cuộc sống tự do tự tại, nhẹ nhàng và bình yên.Những khoảnh khắc kẹt xe mệt mỏi, những cuộc sống vội vã đến như muốn lãngquên – đó là những điều có vô cùng quen thuộc đối với những thành phố lớn, nhưngvới người dân Đà Nẵng thì đó dường như là những thứ gì đó vô cùng lạ lẫm

- Con người Đà Nẵng:

Người Đà Nẵng mang nhiều đặc điểm chung của con người miền Trung, bộctrực thẳng thắng, người Đà Nẵng nói chung cởi mở, gần gũi và thân thiện Khôngquá kín đáo và trầm lặng Điều này vừa tạo chính là lợi thế trong văn hóa kinhdoanh ở Đà Nẵng, song bộc trực thẳng thắng cũng đem lại những tiêu cực nhất địnhtrong hoạt động kinh doanh Người Đà Nẵng cương trực, thẳng thắn Mọi hànhđộng, biểu hiện dù là nhỏ nhất của những thói xấu trong mọi mặt đời sống, thóiquen và nhân cách của con người đều bị người Đà Nẵng kịch liệt lên án một cáchthẳng thắn và từng bước loại trừ nó Người Đà Nẵng không chấp nhận những conngười có cách sống “khôn ngoan” – quỷ quyệt, chỉ biết đến cái lợi của cá nhân mình

mà quên đi, thậm chí chà đạp lên quyền lợi của người khác Ngược lại, cũng khôngquá khờ khạo, vụng về để cho người khác có cơ hội lợi dụng hay làm điều xấu Người Đà Nẵng vẫn còn có thói quen đi ngủ sớm Cũng giống như Huế, ĐàNẵng không sống nhiều về đêm như Sài Gòn và Hà Nội, khoảng 10 giờ kém là tất

cả đã về nhà, không sinh hoạt gia đình thì làm việc hoặc đi ngủ sớm Đường phố ĐàNẵng về đêm chủ yếu là khách du lịch và sinh viên ngoại tỉnh, những người có việcphải đi lại Ở nhiều khu trọ cho sinh viên, chủ nhà luôn thông báo cho sinh viên đến

ở trọ giờ giới nghiêm là 22h

 Thể chế xã hội:

Thể chế là yếu tố hàng đầu, có vai trò tác động chi phối tới văn hóa kinh doanhcủa mỗi nước Hoạt động sản xuất - kinh doanh của từng cá nhân, từng tổ chức,

Trang 21

từng doanh nghiệp trong xã hội đều phải chịu sự quy định, sự tác động của môitrường thể chế, phải tuân thủ các nguyên tắc, thủ tục hành chính, sự quản lý củaNhà nước về kinh tế Do vậy, có thể nói, thể chế chính trị, thể chế kinh tế, thể chếhành chính, thể chế văn hóa, các chính sách của Chính phủ, hệ thống pháp chế,… lànhững yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường kinh doanh và qua đó ảnh hưởngsâu sắc tới việc hình thành và phát triển văn hóa kinh doanh Sự ổn định chính trịđược coi là một tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh của daonh nghiệp Sựbình ổn của hệ thống chính trị biểu hiện qua các yếu tố pháp luật, ngoại giao, hệthống chính sách, v.v… sẽ tạo điều kiệ tốt cho hoạt động kinh doanh, tạo sự ổn địnhcủa doanh nghiệp và tạo điều kiện cho sự phát triển văn hóa kinh doanh.

Đà Nẵng nằm trong hệ thống thể chế xã hội chính trị của nhà nước Việt Nam, cụthể là hệ thống thể chế xã hội chủ nghĩa mang những đặc trưng riêng biệt Nhìnchung, thể chế xã hội này tổng hợp các phương pháp và cách thức thực hiện quyềnlực nhà nước do tình hình chính trị trong nước chi phối Được quy định trước hếtbởi bản chất giai cấp, hình thức nhà nước, tính chất của pháp luật và quyền lực củacác cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tương quan lực lượng của các giai cấp, mức

độ và hình thức đấu tranh giai cấp cũng như truyền thống lịch sử của đất nước vàhoàn cảnh quốc tế là những yếu tố ảnh hưởng đến thể chế chính trị Điểm cốt yếunhất quyết định đến thế chế chính trị xã hội là bản chất, hình thức, tính chất củaquyền lực nhà nước, chính trị hiện hành (vd chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tưsản và xã hội chủ nghĩa) Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, thể chếc chính trị xã hội

là dân chủ, được thể hiện qua những đặc trưng: quyền lực thuộc về nhân dân laođộng; bảo vệ quyền lợi và tự do cơ bản của công dân Thể chế chính trị ở nhà nước

xã hội chủ nghĩa dựa trên nền tảng pháp chế xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ,tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội và sự tham gia tích cực của công dân vàocác công việc của nhà nước và xã hội

Đà Nẵng có một bộ máy chính quyền trong sạch, vững mạnh Điều này đượcchứng minh trong nhiều năm qua Đà Nẵng là một trong rất ít địa phương liên tụcgiữ vị trí thứ hạng cao nhất về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của thành phố(PCI), chỉ số xếp hạng chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh trongviệc tạo lập môi trường chính sách thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp dândoanh PCI là con số nói lên năng lực cạnh tranh giữa các địa phương trong vấn đềtạo điều kiện cho lực lượng doanh nghiệp phát triển

Trang 22

Nói đến Đà Nẵng không thể không nói đến các chương trình lớn mang đậm tínhnhân văn như chương trình “Thành phố 5 không”, “Thành phố 3 có” đã làm nênthương hiệu và bản sắc riêng của Đà Nẵng trong suốt những năm qua 5 không - đó

là không có hộ đói, không có người mù chữ, không có người lang thang xin ăn,không có người nghiện ma túy trong cộng đồng, không có giết người cướp của Sau

"5 không", Đà Nẵng “dấn” thêm bước nữa đó là triển khai chương trình "3 có" - Cónhà ở, có việc làm, có nếp sống văn hóa, văn minh đô thị

Văn hóa kinh doanh của một quốc gia, một vùng lãnh thổ chịu ảnh hưởng sâusắc bởi thể chế xã hội, và chịu chi phối cũng như hoạt động trực tiếp dưới sự giámsát và kiểm tra của hệ thống thể chế chính trị xã hội

 Sự khác biệt và giao lưu văn hóa:

Giữa các quốc gia, các chủ thể kinh doanh và các cá nhân trong đơn vị kinhdoanh không bao giờ có cùng một kiểu văn hóa thuần nhất Trong môi trường kinhdoanh quốc tế ngày nay, các chủ thể kinh daonh không thể duy trì văn hóa của mìnhnhư một lãnh địa đóng kín mà phải mở cửa và phát triển giao lưu về văn hóa Sựgiao lưu về văn hóa tạo điều kiện cho các chủ thể kinh doanh học tập, lựa chọnnhững khía cạnh tốt về văn hóa của các chủ thể khác nhằm phát triển mạnh nền vănhóa của doanh nghiệp mình Mặt khác, quá trình tìm hiểu và giao lưu văn hóa ngàycàng làm cho các chủ thể kinh doanh hiểu thêm về nền văn hóa của mình từ đó tácđộng trở lại hoạt động kinh doanh

Là của ngõ và trung tâm của việc giao lưu văn hóa ở Việt Nam, văn hóa ĐàNẵng tiêu biểu cho việc giao lưu văn hóa với các quốc gia khác trên thế giới cũngnhư việc hòa nhập văn hóa các vùng miền khác

Bằng những tiếp xúc riêng biệt văn hóa Đà Nẵng hình thành nên những đặctrưng riêng thông qua những khác biệt và giao lưu văn hóa Văn hóa Đà Nẵng giaolưu về nhiêu mặt, nhiều quốc gia, trong đó khi nói đến văn hóa kinh doanh, có thểnói văn hóa kinh doanh Đà Nẵng có sự giao lưu mạnh mẽ nhất với văn hóa HànQuốc, Nhật Bản, sau đó là các nước như Trung Quốc, Mỹ, Anh, Ấn Độ,…

Chính việc giao lưu với các nền văn hóa khác nhau đã tạo cho văn hóa Đà Nẵngmột nền tảng vững chắc trong quá trình phát triển Hình thành nên những bước tiếnquan trọng trong việc phát triển thành phố

 Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế:

Trang 23

Toàn cầu hóa tạo nên 1 xu thế phát triển ngày càng rõ nét, các nền kinh tế ngàycàng trở nên phụ thuộc lẫn nhau, tiến dần đến một hệ thống kinh tế toàn cầu Màtrong quá trình toàn cầu hóa diễn ra sự giao lưu giữa các nền văn hóa kinh doanh,

đã bổ sung thêm giá trị mới cho kinh doanh mỗi nước, làm phong phú thêm khotàng kiến thức về kinh doanh, biết cách chấp nhận những luật chơi chung, những giátrị chung để cùng hợp tác phát triển Đồng thời trong quá trình này, các giá trị vănhóa truyền thống của các quốc gia được khơi dậy, làm tôn vinh tên tuổi của quốc gia

đó trên thị trường thế giới Sự phát triển của các công ty tập đoàn toàn cầu, đa quốcgia không những góp phần đóng góp vào sự thịnh vượng của kinh tế thế giới, màcòn góp phần hình thành nên các chuẩn mực quản lý kinh doanh và làm giàu, sâusắc thêm bản sắc kinh doanh của các doanh nghiệp

Đà Nẵng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ lớn củakhu vực miền Trung – Tây Nguyên có tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế Nằmtrên trục giao thông Bắc – Nam, là cửa ngõ ra biển của vùng Tây Nguyên và cácnước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar thông qua hành lanh kinh tế Đông Tây(EWEC), Đà Nẵng có năng lực phát triển dịch vụ và có khả năng trở thành đầu mốigiao lưu kinh tế văn hóa quốc tế quan trọng đối với các nước trong khu vực và thếgiới

Có thể thấy Đà Nẵng trong thời gian qua đã nắm bắt nhiều cơ hội của quá trìnhhội nhập thông qua việc thu hút các dự án đầu tư, từ đó đạt được nhiều kết quả banđầu khá ấn tượng Sự xuất hiện của các thương hiệu toàn cầu trong vài năm trở lạiđây đã đem lại cho Đà Nẵng một mức tăng trưởng nhất định

Tuy nhiên, cơ hội luôn đồng hành với những thách thức, quá trình hội nhậpWTO mang lại rất nhiều thuận lợi cho sự phát triển của Đà Nẵng, song cũng đặt rakhông ít khó khăn, trăn trở

1.2.2 Thực trạng văn hóa kinh doanh ở Đà Nẵng

Đà Nẵng là thành phố trẻ, phát triển sau nên số người trẻ tiếp nhận việc kinhdoanh, học tập và phát triển kinh doanh ngày càng nhiều So với các thành phốtrong cả nước chỉ số gia tăng có vượt bậc Không chỉ những người có học hành mớibắt tay vào kinh doanh, mà ngay cả những người đang là doanh nhân cũng mongmuốn được học hỏi, nâng cao trình độ của mình Điều này chứng tỏ doanh nhânhiện nay đã ý thức được tầm quan trọng của kiến thức khi tiến hành kinh doanh,

Trang 24

nhất là trong thời buổi mở cửa và hội nhập Đặc biệt là với một thành phố đang trênđường phát triển mạnh mẽ như Đà Nẵng.

Đội ngũ doanh nhân Việt Nam ngày càng được trẻ hoá, phần lớn đang ở độ tuổisung sức

Động cơ kinh doanh và nhận thức của doanh nhân đã được cải thiện đáng kể Theo thống kê chung không chỉ ở Đà Nẵng mà cả nước kết quả nghiên cứu vềtinh thần kinh doanh do Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương phối hợp với

tổ chức JICA (Nhật Bản) tiến hành trong khuôn khổ dự án Ishikawa năm 2000 đãthể hiện rõ điều này Khi được hỏi về động cơ kinh doanh, 41,4% số doanh nhân trảlời là "muốn làm gì có ích cho xã hội"; 27,3% trả lời là do "muốn tự quyết địnhcông việc của mình"; 13,5% là do "muốn phát huy tối đa khả năng của mình";16,4% do "muốn tiếp tục công việc của gia đình hiện nay"; 9,7% do "muốn kiếmnhiều tiền hơn"; 5,1% do "công việc trước đây không thích hợp" và 1,3% do "không

có việc làm" Những con số này cho thấy doanh nhân Việt Nam có trách nhiệm và ýthức xã hội khá cao Điều này khẳng định rằng, doanh nghiệp kinh doanh không chỉ

vì mục đích cá nhân, mặc dù động cơ này hoàn toàn là chính đáng

Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần làm hoạt động kinh doanh ở Đànẵng phát triển mạnh mẽ Nhiều loại hình kinh doanh mới ra đời như các xí nghiệpliên doanh với nước ngoài, các hình thức kinh doanh quốc tế Lợi nhuận thu được từkinh doanh cũng tăng lên, góp phần khẳng định và nâng cao vai trò của kinh doanhnói chung và doanh nhân nói riêng trong xã hội Đà Nẵng

Tiến trình hội nhập đã mở cửa cho nền kinh tế thành phố Đà Nẵng hội nhậpcùng nền kinh tế thế giới, môi trường kinh doanh được mở rộng, sôi động, đã tạođiều kiện cho các doanh nhân Đà Nẵng có cơ hội phát huy hết khả năng của mình,nâng cao trình độ kinh doanh phù hợp với yêu cầu của thị trường Các doanh nhânđược tiếp xúc với các kỹ năng hoàn toàn mới như marketing, xây dựng thương hiệu,đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ… làm phong phú thêm cho kho tàng kiến thức

về kinh doanh của người Đà Nẵng

- Những hạn chế trong văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp Đà Nẵng:

 Chúng ta vốn là một nước có nền văn hoá nông nghiệp, trọng tĩnh, với hệthống các giá trị thiên về tinh thần hơn là vật chất, như thích hoà hiếu, trọngtình, ham danh hơn ham lợi, trọng thể diện… Những yếu tố này, một mặt cản

Trang 25

trở sự phát triển kinh tế của đất nước, mặt khác lại giúp cho tôn ti, trật tựtrong xã hội được bảo đảm, các giá trị đạo đức ít bị xáo trộn.

 Khi bước vào cơ chế thị trường, hoạt động kinh doanh được Nhà nướckhuyến khích, một số thương nhân giàu lên nhanh chóng Ngày càng cónhiều người trẻ tuổi thành công trên thương trường Thực tế này đã làm đảolộn những quan niệm truyền thống, tôn ti, trật tự cũng không còn được coitrọng như trước vì kinh nghiệm của lớp người đi trước bị cho là không cònphù hợp với hoàn cảnh mới Sự khủng hoảng này là tất yếu khi chúng ta từ

mô hình kinh tế nông nghiệp, tự cung, tự cấp chuyển sang nền kinh tế thịtrường Tuy nhiên, điều đáng nói là, trong khi những giá trị tinh thần cũ bịchê bỏ, thì chưa có những giá trị tinh thần mới để lấp vào chỗ trống đó Vìthế, trong xã hội, điều tốt và điều xấu nhiều khi lẫn lộn, con người bị chaođảo, thiếu chuẩn mực để hướng tới Điều này cũng ảnh hưởng nhiều đến vănhóa kinh doanh Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng Xuất phát từ thực

tế là nhiều doanh nghiệp thành công không phải bằng con đường làm ăn chânchính, đã làm một số doanh nhân mất lòng tin, mặt khác, môi trường kinhdoanh của Đà Nẵng chưa ổn định, chưa ủng hộ những doanh nhân làm ănnghiêm chỉnh Điều này nảy sinh tư tưởng làm ăn gian dối, đánh quả, chụpgiật… trong các doanh nhân, thậm chí còn có quan niệm rằng, ở Đà Nẵng chỉ

có làm ăn lắt léo mới có thể trụ được trên thương trường Cách nghĩ như vậy,

về lâu dài sẽ ảnh hưởng nguy hiểm đến nền tảng đạo đức xã hội và hình ảnhcủa Đà Nẵng trên trường quốc tế

 Nhiều nhà nguyên cứu chó rằng, văn hóa Việt Nam khá ôn hòa Chúng takhông khắt khe tôn giáo, không có kỷ luật khép mình vào tập thể như ngườiNhật Bản, không quá tự hào chủng tộc như người Trung Hoa Đặc biệt làngười Đà Nẵng, họ là thành phố ôn hòa, sẵn sàng tiếp nhận cái mới, khoandung, mềm dẻo, dễ hòa đổng, song những tính chất này cũng dễ làm chúng tachao đảo, không có điểm tựa vững chắc về tinh thần Nền tảng tinh thầnkhông ổn định đã làm nhiều doanh nhân có tham vọng không giới hạn trongviệc làm giàu và tích lũy tư bản Điều chúng ta có thể thấy ở các doanhnghiệp Việt Nam nói chung đó là gần đây dấy lên những việc mưu cầu lợinhuận đến mức bấp chất đạo lý, luật phát, những vụ tham nhũng hàng ngàn tỉđồng đã cảnh báo về tình trạng kinh doanh của chúng ta

Trang 26

 Xuất thân từ nền kinh tế tiểu nông, con người Việt Nam hay Đà nẵng có tầmnhìn ngắn hạn, hay thay đổi và muốn đi đường tắt, thay vì kiên nhẫn chờ đợi.Theo nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài, bối cảnh và môi trường kinh tế ViệtNam thuộc loại “xã hội thiếu chữ tín” (low trust society).Điều này là hạn chếlớn nhất của doanh nghiệp chúng ta trên trường thế giới.

Về văn hóa kinh doanh của Đà Nẵng hay cả Việt Nam, ngay từ những nămđầu thế kỉ XX người thầy lỗi lạc trong giới doanh nhân Việt Nam – LươngVăn Can(2) đã đưa ra nguyên nhân khiến thương mại không phát triển, đó

chính là những hạn chế của người Việt Nam: “Người mình không có thương phẩm – Không có kiên tâm – Không có tín thực – Không có nghị lực – Không biết trọng nghề - Không có thương học – Kém đường giao thiệp – Không biết tiết kiệm …” Nhận định này không phải không có cơ sở của nó.

1.3 Các doanh nghiệp nước ngoài ở Đà Nẵng

1.3.1 Quy mô, số lượng, ngành nghề và phân bố tại Đà Nẵng

Hiện tại có hơn 38 quốc gia có doanh nghiệp hoạt động tại Đà Nẵng Trong đó,British Virgins Island dẫn đầu với vốn đầu tư đăng ký là 1.181.629.936 USD, chiếm36,2% tổng vốn đầu tư đăng ký vào thành phố; Hàn Quốc đứng vị trí thứ hai vớivốn đầu tư đăng ký là 696.409.600 USD, chiếm 21,34% tổng vốn đầu tư đăng ký;Hoa Kỳ đứng vị trí thứ ba với 24 dự án, vốn đầu tư 375.355.351 USD, chiếm11,5% (Theo thống kê cuối năm 2012 của Trung tâm xúc tiến đầu tư Đà Nẵng)

(Sơ đồ FDI(1) theo đối tác đầu tư tại thành phố Đà Nẵng)Đến nay, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có hơn 300 dự án đầu tư nước ngoài đãđược cấp giấy phép còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư gần 3 tỷ USD, đồng thời có

Trang 27

hơn 200 doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài Ngoài ra, còn có hàng trăm chinhánh, văn phòng đại diện, kho trung chuyển của các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài đang hoạt động trên địa bàn thành phố.

Hoạt động đầu tư nước ngoài đã có mặt trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh

tế quốc dân Nguồn vốn đầu tư nước ngoài ở Đà Nẵng tập trung chủ yếu trong cácngành sản xuất công nghiệp, du lịch và dịch vụ và nuôi trồng, chế biến nông lâmthủy sản

Theo thống kê của trung tâm xúc tiến đầu tư thành phố Đà Nẵng tính đến năm

2012, các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động nhiều nhất ở lĩnh vực bất động sản –

du lịch, sau đó là công nghiệp chế biến, chế tạo, giáo dục, dệt may, da giày,…

(Biểu đồ FDI theo lĩnh vực đầu tư tại thành phố Đà Nẵng)Các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở lĩnh vực bất động sản, du lịch, giáodục, nhà hàng, khách sạn,… phân bố chủ yếu ở khu vực trung tâm thành phố; tậptrung ở nơi có mật độ dân số và tình hình phát triển cao Còn các doanh nghiệpthuộc ngành công nghiệp như công nghiệp chế biến, chế tạo, cơ khí, dệt may, dagiày, công nghệ thông tin,… tập trung hoạt động ở các khu công nghiệp ở ngoạithành như: Hòa Khánh, Hòa Cầm, Hòa Khương,…

1.3.2 Doanh nghiệp Hàn Quốc và Nhật Bản ở Đà Nẵng

Trong các quốc gia và vùng lãnh thổ đang đầu tư tại Đà Nẵng, doanh nghiệp củaHàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất, tính đến đầu năm 2016 đã có ít nhất 53 dự án,tổng vốn đầu tư trên 734 triệu USD, chiếm 21% trên tổng FDI tại thành phố ĐàNẵng

Dự án có vốn đầu tư lớn nhất là khu đô thị quốc tế Đa Phước, tại phường ThuậnPhước và phường Thanh Bình, quận Hải Châu, có vốn đầu tư là 250 triệu USD

Trang 28

Tiếp đó là dự án của công ty TNHH Kreves Land Vina có vốn đầu tư hơn 200 triệuUSD, kinh doanh bất động sản, trung tâm thương mại, khu văn phòng, khu căn hộ,các dịch vụ vui chơi giải trí… tại khu vực Đông Nam Đài tưởng niệm thành phố,phương Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu Một trong những dự án đang hoạt độngkhá hiệu quả là Lotte Mart Đà Nẵng, tại quận Hải Châu; với vốn trên 43 triệu USB,kinh doanh và bán lẻ; sản xuất bánh ngọt, thực phẩm, thức ăn chế biến sẵn, chế biếnbảo quản thịt và cá sản phẩm từ thịt; hải sản và các sản phẩm từ hải sản… Ngoài ra,còn rất nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc đi vào hoạt động và có kết quả kinh doanh rấttốt như: Công ty TNHH MTV may mặc Tân Phát Lộc, Công ty TNHH Công nghiệpDaeryang Viêt Nam, Công ty KAD Việt Nam TP, Chi nhánh công ty TNHH LotteriaViệt Nam tại Đà Nẵng, Công ty TNHH xây dựng và cơ điện DAEWON, Công tyTNHH Tri Dragon,…

Các doanh nghiệp Hàn Quốc ở Đà Nẵng hoạt động ở nhiều lĩnh vực, từ kinh doanhbất động sản, thương mại, nhà ở, dịch vụ, may mặc, thực phẩm, linh kiện điện tử,sản phẩm phần mềm đến vui chơi giải trí

Số lượng, vốn và các doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư vào Đà Nẵng ngày càng tăng.Hiệp định Thương mại tự do (FTA) Việt Nam – Hàn Quốc đã được ký kết, theo đóthuế quan đối với nhiều dòng sản phẩm giảm mạnh nên dự kiến sẽ có càng nhiềudoanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam nói chung và Đà Nẵngnói riêng

Không chỉ đầu tư vào Đà Nẵng, các doanh nghiệp Hàn Quốc còn hướng đến việcđào tạo các kỹ sư người Việt, như đoàn doanh nghiệp Hàn Quốc của Trường ĐạiHọc Dankook Hàn Quốc đã thực hiện đào tạo tiếng Hàn cho kỹ sư người Việt vàtiếng Việt cho kỹ sư người Hàn tại Đà Nẵng, nhằm tháo gỡ những vướn mắc vềngôn ngữ cho các doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam Bên cạnh đó các tập đoàncủa Hàn Quốc còn không ngừng mở rộng kinh doanh và tăng cường sự hiện diệnsâu rộng ở thị trường Đà Nẵng

Theo báo cáo của Văn phòng Cơ quan xúc tiến thương mại Hàn Quốc (KOTRA) tại

Hà Nội cho biết Hàn Quốc tiếp tục là nhà đầ tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhấtvào Việt Nam, với tổng vốn đầu tư đến hết năm 2015 đạt đến 44,9 tỉ USD Năm

2015 cũng là năm thứ 2 liên tiếp Hàn Quốc là nhà đầu tư số 1 vào Việt Nam vớitổng số vốn đạt 6,7 tỷ USD

Trang 29

Việt Nam cũng là thị trường đầu tư lớn thứ 4 của Hàn Quốc (sau Mỹ, Trung Quốc

và Hong Kong) và là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của Hàn Quốc (sau Trung Quốc

và Mỹ) Điều này cho thấy Hàn Quốc đang ngày càng trỏ thành doanh nghiệp quantrọng trong kinh doanh và văn hóa kinh doanh không chỉ của thành phố Đà Nẵng

mà của cả Việt Nam

Ông Kim Yong Soo_Thường vụ Hiệp hội doanh nghiệp Việt – Hàn, trong một buổilàm việc cùng lãnh đạo thành phố Đà Nẵng có nói: “Việt Nam nói chung, Đà Nẵngnói riêng có những ưu điểm thuận lợi để các nhà đầu tư Hàn Quốc đầu tư, đó là: Ổnđịnh chính trị, dân số trẻ, nguồn nhân lực dồi dào, chi phí đầu tư cũng rẻ hơn nhiềuquốc gia trong khu vực do giá thuê đất, giá nhân công tương đối thấp, có tăngtrưởng kinh tể tốt, thủ tục chính sách gọn nhẹ, văn hóa tương đồng, đồng thời cáchiệp định tự do thương mại đang kết nối với 55 quốc gia tại châu Á, châu Âu, châu

Mỹ và châu Á Thái Bình Dương”

So với các doanh nghiệp Hàn Quốc thì doanh nghiệp Nhật Bản là doanh nghiệp đếnViệt Nam sau, song trong thời gian gần đây các doanh nghiệp Nhật Bản lại khá pháttriển, đặc biệt các khá nhiều doanh nghiệp Nhật Bản chọn đầu tư vào Đà Nẵng trongthời gian qua Tuy đến sau so với doanh nghiệp của nhiều quốc gia, nhưng điều màdoanh nghiệp Nhật Bản mang đến cho kinh doanh thành phố Đà Nẵng chính lànhững yếu tố mà không phải doanh nghiệp nào cũng mang đến được

Theo Trung tâm Xúc tiến đầu tư Đà Nẵng, ông Lâm Quang Minh chia sẻ: “Sức hút

Đà Nẵng đối với các doanh nghiệp nước ngoài là ngoài những chính sách chung củaViệt Nam về thu hút đầu tư nước ngoài, Đà Nẵng còn có những ưu đãi cụ thể chocác doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp Nhật Bản nói riêng đến hoạt độngtại Đà Nẵng”

Đế thu hút được các doanh nghiệp Nhật Bản, những năm qua, chính quyền thànhphố luôn tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác với Nhật Bản trên nhiều lĩnh vực.Tính đến thời điểm này, Đà Nẵng có khoảng 100 doanh nghiệp Nhật Bản đến ĐàNẵng, trong đó có khoảng 70 doanh nghiệp trực tiếp đầu tư sản xuất với tổng số vốnhơn 330 triệu USD, tạo việc làm ổn định cho hơn 25.000 lao động địa phương, tậptrung trên các lĩnh vực linh kiện điện tử, gia công phần mềm, chế biến bột giấy xuấtkhẩu, chế biến hải sản,…

Trang 30

Đà Nẵng được xác định là 1 trong 3 trung tâm công nghiệp công nghệ thông tin, vớinhững ưu thế của mình Đà Nẵng đã thu hút được đầu tư của các doanh nghiệp côngnghệ thông tin, đặc biệt trong đó phải kể tới Nhật Bản

Từ những tháng đầu năm 2013, đã có 5 doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào Đà Nẵngtrong lĩnh vực công nghệ thông tin với tổng số vốn là 31,4 triệu USD

Ông Micho Saruhashi, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Tokyo Keiki PrecisionTechnology thuộc Tập đoàn Tokyo Keiki (Nhật Bản) cho rằng: “Đà Nẵng không thể

có lợi thế như TP Hồ Chí Minh hay một số địa phương khác, nhưng lý do để công

ty quyết định đầu tư dự án Nhà máy sản xuất van thủy lực tại KCN Hòa Khánh thìrất nhiều, song cái chính là thông qua sự giới thiệu của nhiều phía, trong đó có các

DN Nhật Bản đã đầu tư vào Đà Nẵng Quyết định chọn Đà Nẵng để đầu tư nhà máy

là hướng đi rất đúng vì chính quyền thành phố Đà Nẵng luôn trú trọng, quan tâmđến các DN nước ngoài kể cả trước và sau khi DN đã đầu tư vào đây” Cũng theoông Micho Saruhashi, hiện hoạt động của nhà máy rất ổn định và dự kiến trong năm

2017, công ty sẽ mở rộng quy mô sản xuất khi chuyển sang Khu công nghệ cao củathành phố khi cơ sở hạ tầng được đầu tư hoàn chỉnh

Cùng quan điểm trên, đại diện Công ty TNHH Mabuchi Motor Đà Nẵng cho rằng,sau khi khảo sát các vùng miền để đầu tư ở Việt Nam, nhận thấy Đà Nẵng đang cócác lợi thế cạnh tranh về nhân lực, quan hệ Việt - Nhật cũng rất tốt, chính quyền ĐàNẵng và KCN có những chính sách kêu gọi đầu tư tích cực nên Mabuchi Motor đãquyết định đầu tư vào Đà Nẵng Sau những năm đầu tư vào Đà Nẵng, doanh thu củacông ty luôn đạt mức tăng trưởng bền vững và tạo công ăn việc làm ổn định chohàng ngàn lao động địa phương

Theo tìm hiểu của chúng tôi, không riêng gì Công ty Tokyo Keiki PrecisionTechnology, Công ty Mabuchi…mà đa số các công ty đến từ Nhật Bản đầu tư vào

Đà Nẵng như Công ty Toko, Công ty Yonezawa Việt Nam, Công ty Điện tử Fostercũng có số nhân viên và doanh thu đạt mức tăng trưởng bền vững Cũng theo các

DN Nhật Bản đã đầu tư vào Đà Nẵng, việc chọn Đà Nẵng để đầu tư không chỉ cóchính quyền địa phương quan tâm đến các DN Nhật với các chính sách thôngthoáng, ưu đãi…mà sau khi đầu tư vào thành phố này, DN đã gặp rất nhiều thuận lợitrong hoạt động sản xuất vì công nhân địa phương làm việc rất chăm chỉ, luôn luôntuân thủ những quy tắc công ty đặt ra một cách nghiêm ngặt…Và đây cũng là một

Trang 31

trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên thành công cho các dự án của DNNhật Bản đầu tư tại Đà Nẵng.

Ông Takashi Igarashi - Phó Chủ tịch Hiệp hội CNTT Nhật Bản (JISA) cho biết: ỞViệt Nam, Đà Nẵng là thành phố thứ ba được JISA chọn là điểm đến trong năm

2013, sau Hà Nội và TP Hồ Chí Minh “Với những chính sách mà TP Đà Nẵng đãđưa ra, chúng tôi hy vọng trong năm 2014 và những năm tiếp theo, các nhà đầu tưNhật Bản sẻ sớm tìm kiếm được nhiều cơ hội cũng như đối tác để đầu tư trong lĩnhvực CNTT”, ông Takashi Igarashi nói

Ngoài ra, các doanh nghiệp Nhật Bản không chỉ đầu tư vào thành phố Đà Nẵng bênlĩnh vực công nghệ thông tin, mà còn ở thực phẩm, chuỗi nhà hàng khách sạn, dulịch,…

Các doanh nghiệp Hàn Quốc, Nhật Bản ở Đà Nẵng không chỉ đem lại một nguồnFDI lớn cho thành phố, mà còn tạo điều kiện mạnh mẽ trong việc cạnh tranh và pháttriển kinh tế thành phố Không những thế việc song hành cũng các doanh nghiệpHàn Quốc và Nhật Bản cũng tạo động lực lớn cho các doanh nghiệp ở thành phố ĐàNẵng học hỏi đồng thời phát triển văn hóa kinh doanh của mình

Tiểu kết

Ngày nay, số lượng doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào thành phố Đà Nẵng ngàymột tăng, số lương này không chỉ đa dạng về số lượng, phân bố mà còn ở ngànhnghề Các doanh nghiệp nước ngoài đóng vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tếthành phố, đồng thời ảnh hưởng đặc biệt đến văn hóa kinh doanh của thành phố ĐàNẵng Đặc biệt trong đó phải kể đến sự hiện diện của các doanh nghiệp Hàn Quốc

và Nhật Bản, cùng nằm trong khu vực Châu Á, song 2 nền văn hóa kinh doanh nàyhoàn toàn khác nhau, chính điều này đã giúp cho quá trình hội nhập với văn hóakinh doanh thành phố Đà Nẵng mang lại nhiều dấu hiệu tích cực hơn Góp phần tolớn giúp thành phố Đà Nẵng trong quá trình hội nhập quốc tế

Trang 32

CHƯƠNG II: VĂN HÓA KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP HÀN

QUỐC VÀ NHẬT BẢN Ở ĐÀ NẴNG

2.1 Doanh nghiệp Hàn Quốc

2.1.1 Triết lý kinh doanh

Điểm nổi bật về triết lý kinh doanh ở các doanh nghiệp Hàn Quốc ở Đà Nẵng nóiriêng hay Việt Nam nói chung là vẫn luôn giữ được bản sắc văn hóa kinh doanh củangười Hàn “Coi trọng tính kỷ luật, coi trọng lòng trung thành, coi trọng tính chuyênnghiệp, coi trọng việc thoải mãn nhu cầu khách hàng và việc xây dựng thương hiệuđích thực”

Khi hoạt động kinh doanh tại thành phố Đà Nẵng, phần lớn các doanh nghiệp HànQuốc, đặc biệt là các tập đoàn, công ty lớn đã mang theo nét đặc trưng cở bản củavăn hóa Hàn Quốc Đặc biệt nhất trong triết lý kinh doanh của con người Hàn Quốcphải kể đến tính kỷ luật của người lao động Các doanh nghiệp Hàn Quốc rất coitrọng tính kỉ luật Tính kỉ luật cao được xem là nguyên nhân dẫn đến thành công củadoanh nghiệp Hầu hết nhân viên trong doanh nghiệp điều tuân thủ mệnh lệnh cấptrên mà không được bàn luận Điều này có thể do văn hóa Hàn Quốc chịu ảnhhưởng sâu sắc của Khổng Giáo nên trong văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệpHàn Quốc đặc biệt coi trọng tính kỷ luật, thứ bậc trên dưới cao độ

Các doanh nghiệp Hàn Quốc rất chú ý xây dựng uy tín thực sự và thương hiệu thự

sự mà không cần quá đánh bóng thương hiệu hay xây dựng bản sắc, phong cách,hình ảnh riêng cho doanh nghiệp Mỗi một công ty điều có Logo, có biểu trưngriêng, có tên gọi mang một ý nghĩa nhất định Ví dụ như tập đoàn DEAWOO cónghĩa là “Vũ trụ bao la”, còn SAMSUNG có nghĩa là “ba ngôi sao”,…

Trang 33

Tính đến nay, hầu hết các tập đoàn lớn của Hàn Quốc đều đã có mặt ở Đà Nẵng vàchiếm hơn một nửa tổng số vốn đầu tư (7 tập đoàn lớn đã có mặt: Samsung,Deawoo, Công ty xây dựng và công nghiệp nặng Hàn Quốc, Tập đoàn kinh tếKumbo, Kolon, Huyndai, LG) Đối với các tập đoàn lớn của Hàn Quốc triết lý kinh

doanh lớn nhất của họ chính là “chiến lược xuất phát từ bên trong – những tham vọng vươn dần ra toàn cầu” Các doanh nghiệp sử dụng triết lý kinh doanh của

mình với tư tưởng vươn ra xa hơn trong hoạt động kinh doanh Với triết lý cũng nhưchiến lược kinh doanh đó, các tập đoàn, công ty lớn của Hàn Quốc không chỉ sảnxuất, kinh doanh một mặt hàng, một sản phẩm mà họ kinh doanh nhiều sản phẩm,nhiều ngành nghề khác nhau Nhưng khi đem ra thị trường toàn cầu thì đều nằmdưới tên của một công ty Với cách thức xây dựng thương hiệu như vậy, đã giúp chocác công ty, tập đoàn lớn của Hàn Quốc ở Việt Nam nhanh chóng khẳng định vị thế

và chiếm lĩnh thị trường

2.1.2 Đạo đức kinh doanh

Đạo đức kinh doanh chịu ảnh hưởng rất lớn của trình độ phát triển kinh tế, văn hóa,

xã hội nơi mà doanh nhân, chủ doanh nghiệp sinh sống vào tạo dựng cơ nghiệp Do

đó khi nhận định về đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp Hàn Quốc ở ĐàNẵng, trước hết chúng ta phải xem xét các yếu tố văn hóa, xã hội có tác động mạnh

mẽ đến việc hình thành văn hóa và nhân cách doanh nhân Hàn Quốc

Hàn Quốc, là nước công nghiệp tư bản, song để trở thành một nước phát triển nhưngày nay cũng trải qua không ít khó khăn vì vậy bản thân Hàn Quốc đã trãi qua mộtquá trình tích lũy tư bản phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa của mình Có nhiềuchuyên ra cho rằng Hàn Quốc là một quốc gia không đảm bảo nhân quyền, thậm chí

họ khai thác nhân quyền để phục vụ cho lợi ích của họ.Một điều ở các doanhnghiệp như Đài Loan và Hàn Quốc thường diễn ra các hiện tượng đánh đập côngnhân, đình công vì lương thiếu và không đảm bảo, trong khi ít diễn ra ở Âu – Mỹ

Trang 34

Có thể nói rằng, văn hóa kinh doanh gắn với từng loại hình doanh nghiệp, từngchủng loại hàng hóa, dịch vụ Nếu sản phẩm kinh doanh là dịch vụ thì sẽ đặt ra yêucầu về văn hóa kinh doanh khác với hàng hóa vật chất Sản phẩm kinh doanh dịch

vụ cao cấp, là công nghệ cao, công nghệ sạch,… thì tự nó đặt ra những quy định,tiêu chuẩn nghiêm ngặt về văn hóa kinh doanh, nhất là triết lý kinh doanh và đạođức kinh doanh

Có một số nhận định về đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp Hàn Quốc ở ĐàNẵng, như sau:

- Phần lớn các doanh nghiệp Hàn Quốc ở Đà Nẵng có tính trung thực tronghoạt động sản xuất kinh doanh Họ không dùng các thủ đoạn gian dối, xảotrá để kiếm lời, giữ chữ tín trong kinh doanh Đặc biệt các doanh nghiệpHàn Quốc rất chú trọng đến chất lượng sản phẩm để tạo dựng uy tín vớikhách hàng Thực tế vẫn có xảy các các vụ việc các doanh nghiệp HànQuốc ở Đà Nẵng nói riêng và cả Việt Nam trốn thuế, vi phạm pháp luật,không giữ uy tín với khách hàng,… Tuy nhiên, tính về tỷ lệ thì tỉ lệ vi phạmkhông cao

- Tôn trọng con người, đối xử với nhân viên và cộng sự rất tốt Trong cáccông ty Hàn Quốc, kể cả hoạt động trong hay ngoài nước thường không cổsúy chế độ làm việc suốt đời cho nhân viên như các công ty ở Nhật Bản haycác nước khác Tuy vậy tính trung thực lại là một trong những tiêu chuẩnhàng đầu cho việc tuyển dụng nhân viên Bên cạnh đó thì coi trọng việcgiáo dục nhân viên về tính kỷ luật và trung thực thường thấy trong cácdoanh nghiệp Hàn Quốc, các doanh nghiệp Hàn Quốc thường sử dụng tối

đa các thiết bị điện tử để giám sát hoạt động của cấp dưới Sử dụng thểkiểm soát nhân viên, các camera được đặt ở những vị trí quan trọng Điềunày khiến các doanh nghiệp Hàn Quốc được ví như các “doanh trại quânđội” Qua những minh chứng như vậy, có thể thấy dù hoạt động ở thành phố

Đà Nẵng thì các doanh nghiệp Hàn Quốc cũng nổi bật tính kỷ luật, quản lýquân phiệt của mình

- Doanh nghiệp Hàn Quốc là những doanh nghiệp đặt biệt nêu cao tráchnhiệm xã hội, và gắn liền lợi ích doanh nghiệp với khách hàng

Các doanh nghiệp Hàn Quốc khi thâm nhập vào thị trường chẳng hạn nhưthị trường Đà Nẵng thì việc đầu tư cho hoạt động quảng cáo, mở rộng,

Trang 35

giành dật thị trường được các ông chủ tính toán rất kỹ lưỡng Có một đặcđiểm riêng của các tập đoàn lớn của Hàn Quốc khi thâm nhật thị trường,kinh doanh loại hình hay sản phẩm mới, thương hiệu của tập đoàn mẹ sẽđược giữ nguyên mà các công ty công khi mọc lên thì thêm từ chỉ chuyênngành hay khu vực hoạt động Ví dụ như LG Việt Nam, LG Electric, Honda

Đà Nẵng, Samsung Đà Nẵng,… Khi các công ty lớn mạnh, sản phẩm đượcngười tiêu dùng chấp nhận và uy tín càng cao thì giá cả nâng lên theo tỉ lệthuận Điều này cho thấy hiệu quả kinh tế gắn liền với uy tín và thương hiệuđược xây dựng với khách hàng

Nhìn chung, điểm nổi bật trong đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp HànQuốc chính là coi trọng tính trung thực và uy tín với khách hàng, quan điểmlợi ích là gắn với lợi ích khách hàng Ngoài ra, đạo đức cũng thể hiện rõ ởtính thứ bậc, trật tự trong doanh nghiệp

2.1.3 Văn hóa doanh nhân

Người Hàn Quốc đánh giá văn hóa doanh nhân bằng các yếu tố như: Sức khỏe, đạođức, trình độ và năng lực, phong cách và việc thực hiện trách nhiệm với xã hội…

Về đạo đức doanh nhân thường được đánh giá bằng các khía cạnh như: Tính trungthực, tôn trọng con người, đương đầu với thử thách, sư tín nhiệm và trách nhiệm với

xã hội Còn phong cách doanh nhân thì được đánh giá ở các khía cạnh tinh thần làmviệc, tinh thần trách nhiệm, khả năng dẫn dắt, thể hiện vai trò, vị trí của mình, vàcác đối mặt giải quyết vấn đề

Qua những tiêu chí đó, có thể thấy được một số đặc điểm về đạo đức và phong cácdoanh nhân Hàn Quốc ở Việt Nam như:

- Tính trung thực của doanh nhân Hàn Quốc được thể hiện qua sự tôn tọng lẽphải và chân lý trong cư xử với con người, là cơ sở đảm bảo cho các mốiquan hệ tốt đẹp Giá trị cốt lõi của doanh nghiệp Hàn chính là giữ uy tín,trung thực với khách hàng, chúng tỏ các doanh nhân Hàn Quốc khá coi trọngchữ “tín” đối với khách hàng

- Theo nhiều nghiện cứu, các doanh nghiệp Hàn Quốc thường quản lý với môhình kiểu “doanh trại quân đội”, họ coi trọng tính kỷ luật, tính chuyên nghiệp

và trật tự thứ bậc, trên dưới rất khắc khe, các ông chủ Hàn Quốc luôn thể

Trang 36

hiện phong cách “bề trên” thậm chí trịch thượng trong ứng xử, đặc biệt làcấp dươi.

Có nhiều ý kiến trên các diễn đàn cho rằng các ông chủ Hàn Quốc ở Đà nẵngchưa thực sự tôn trọng Tuy nhiên, ở khía cạnh này có thể đánh giá quan hệứng xử giữa chủ Hàn Quốc với lao động Việt Nam là do sự khác biệt văn hóa

và ngôn ngữ Do đó, kết quả này vẫn chưa thể đưa ra khẳng định chắc chắn

- Phần lớn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Đà Nẵng nói chung

và doanh nghiệp Hàn Quốc nói riêng, họ thường tuyển dụng lao động thôngqua tổ chức môi giới việc làm hoặc tư vấn tuyển chọn nhân sự Điều nàygiúp các doanh nghiệp giảm thiểu tối đa chi phí, tuy nhiên đây cũng lànguyên nhân khiến lao động và chủ sử dụng lao động không có sự hiểu biếtnhau để xây dựng mối quan hệ trong công việc

Có thể thấy, các doanh nghiệp Hàn Quốc ở Đà Nẵng như Lotte, Daewoo, CJđiêu có phong cách quản lý hiện đại, chuyên nghiệp, mực lương cao và sựcông bằng minh bạch Tuy nhiên, thái độ đối xử ở các doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài nói chung và doanh nghiệp Hàn Quốc nói riêng chưa đápứng được yêu cầu của người làm việc Đặc biệt vấn đề này đang là một trongnhững bức xúc nhất ở các khu công nghiệp ở Đà Nẵng như Khu công nghiệpHòa Khánh, Khu công nghiệp Cẩm Lệ,… - nơi có số lượng công nhân làmviệc ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khá lớn

Ở các doanh nghiệp Hàn Quốc tình hình sa thải công nhân diễn ra khá phổbiến

Qua những nghiên cứu ở trên có thể thấy các chủ doanh nghiệp Hàn Quốcthường có cách quản lý gia trưởng, đòi hỏi cấp dưới tuân thủ mệnh lệnh, coitrọng thành tích Phong cách này cũng là một phần tạo nên hiệu quả riêngcủa doanh nghiệp Hàn Quốc, tuy nhiên nó lại tạo nên bầu không khí khánặng nề và thụ động trong các doanh nghiệp Hàn Quốc ở Đà Nẵng

Về trách nhiệm đối với xã hội, điều này thường được thể hiện qua ý thức trong việcthực hiện chính sách trách nhiệm đối với người lao động, với khách hàng và với xãhội Có nhiều thông tin cho thấy các ông chủ Hàn Quốc chưa thật sự chú trọng việcxây dựng các chính sách về trách nhiệm xã hội, đặc biệt là đang hoạt động ở khuvực khác như thành phố Đà Nẵng, chính những điều này dẫn đến tình trạng điềukiện, môi trường làm việc của người lao động Đà Nẵng ở các doanh nghiệp Hàn

Ngày đăng: 07/09/2020, 22:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Thị Liễu (2012), Giáo trình văn hóa kinh doanh, NXB Đại Học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn hóa kinh doanh
Tác giả: Dương Thị Liễu
Nhà XB: NXB Đại Học kinhtế quốc dân
Năm: 2012
2. Nguyễn Mạnh Quân (2005), Đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp, Nxb Lao Động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Mạnh Quân
Nhà XB: Nxb Lao Động – Xã hội
Năm: 2005
3. Phạm Thị Tú Trinh (2016), Bài giảng Học phần: Văn hóa kinh doanh, trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Học phần: Văn hóa kinh doanh
Tác giả: Phạm Thị Tú Trinh
Năm: 2016
5. Đỗ Huy (1996), “VHKD ở nước ta - Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Triết học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: VHKD ở nước ta - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Đỗ Huy
Năm: 1996
6. Trinh Quốc Trung (2012), Kỹ năng giao tiếp trong kinh doanh, Nxb Lao Động – Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trinh Quốc Trung (2012), "Kỹ năng giao tiếp trong kinh doanh
Tác giả: Trinh Quốc Trung
Nhà XB: Nxb LaoĐộng – Xã Hội
Năm: 2012
7. Edar.H.Schein (Nguyễn Phúc Hoàng dịch-2012), Văn hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo, Nxb Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Edar.H.Schein (Nguyễn Phúc Hoàng dịch-2012)," Văn hóa doanh nghiệp vàsự lãnh đạo
Nhà XB: Nxb Thời đại
8. Phạm Xuân Nam (1996), Văn hoá và Kinh doanh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Xuân Nam (1996)," Văn hoá và Kinh doanh, Nxb Khoa học xã hội
Tác giả: Phạm Xuân Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
9. Trần Ngọc Thêm (2013), Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng, Nxb Văn hóa – Văn nghệ, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Ngọc Thêm (2013), "Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Văn nghệ
Năm: 2013
11. T.S Nguyễn Thị Ngọc Anh (2013), Văn hóa kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: T.S Nguyễn Thị Ngọc Anh (2013), "Văn hóa kinh doanh ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: T.S Nguyễn Thị Ngọc Anh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2013
12. “Nét độc đáo trong văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản”, blog Chia sẻ kiến thức 13. Nguyễn Hoàng Ánh, “Văn hóa kinh doanh Việt Nam trên đường phát triểnvà hội nhập”, tạp chí Hoạt động khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nét độc đáo trong văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản”, blog Chia sẻ kiến thức"13."Nguyễn Hoàng Ánh, “Văn hóa kinh doanh Việt Nam trên đường phát triểnvà hội nhập
14. Kurokawa Kengo, “Sự khác biệt về giá trị công việc giữa người Việt Nam và Nhật Bản”, Brands Vietnam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự khác biệt về giá trị công việc giữa người Việt Nam vàNhật Bản
15. Đỗ Minh Cương (2001), Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh
Tác giả: Đỗ Minh Cương
Nhà XB: NXBChính trị Quốc Gia
Năm: 2001
16. Phan Ngọc (1994), Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: NXB Văn hóathông tin
Năm: 1994
17. Dương Thị Liễu, Hội nhập và văn hóa kinh doanh Việt Nam, VNH3.TB5.503 18. Lê Tùng Lâm, Lê Trung Kiên, “Văn hóa kinh doanh của Việt Nam và HànQuốc: Một cách đối sánh”, tạp chí nghiên cứu quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập và văn hóa kinh doanh Việt Nam, VNH3.TB5.503"18. Lê Tùng Lâm, Lê Trung Kiên, “Văn hóa kinh doanh của Việt Nam và HànQuốc: Một cách đối sánh
19. Nguyễn Trần Bạt, “Xât dựng nền văn hóa kinh doanh”, Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, số 261, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xât dựng nền văn hóa kinh doanh
20. Nguyễn Viết Lộc, “Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp có đầu tư Hàn Quốc tại Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Đại học kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Viết Lộc, “Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp có đầu tư HànQuốc tại Việt Nam
4. Nguyễn Văn Dân (2006), Văn hóa và Phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w