* Khái niệm: - Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sángtạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con ngườivới m
Trang 1ĐỀ CƯƠNG CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM.
Câu 1: Khái niệm văn hóa, văn vật, văn hiến, văn minh Phân biệt văn hóa với các khái niệm này và cho ví dụ.
* Khái niệm:
- Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sángtạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con ngườivới môi trường tự nhiên và xã hội
- Văn hiến là truyền thống văn hóa lâu đời
- Văn vật là truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và di tích lịch sử
- Văn minh là chỉ cho ta biết trình độ phát triển của văn hóa nhưng thiên về giá trịvật chất kĩ thuật
* Phân biệt văn hóa với các khái niệm và cho ví dụ:
- Phân biệt văn hóa với văn minh: Đây là những khái niệm gần gũi có liên quan tớinhau nhưng không đồng nhất
+ Văn hóa có chứa giá trị vật chất và tinh thần, văn hóa mang tính lịch sử, tính dântộc
+ Văn minh chỉ cho ta biết trình độ phát triển của văn học nhưng thiên về giá trị vậtchất kĩ thuật
+ Sự khác biệt giữa văn hóa với văn minh Khác biệt về phạm vi: văn hóa mang tínhdân tộc, văn minh mang tính quốc tế Khác biệt về nguồn gốc : văn hóa gắn bónhiều hơn với phương Đông, nông nghiệp, văn minh gắn liền với phương Tây đôthị
+ VD:
- Phân biệt văn hóa với văn hến, văn vật: văn hiến, văn vật chỉ là những khái niệm
bộ phận của “ văn hóa”, chúng khác văn hóa ở độ bao quát các giá trị: văn hiến làvăn hóa thiên nhiên về “truyền thống lâu đời”, mà truyền thống lâu đời còn lưu giữđược chính là các giá trị tinh thần; còn văn vật là văn hóa thiên nhiên về các giá trịvật chất( nhân tài, di tích, hiện vật)
+ VD:
Câu 2: Các đặc trưng và chức năng tiêu biểu của văn hóa( lấy ví dụ dẫn chứng minh họa.)
Trang 2- Văn hóa trước hết có tính hệ thống là đặc trưng hàng đầu của văn hóa Chính nhờtính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một đối tượng bao trùm mọi hoạt động của
xã hội, thực hiện một trong ba chức năng cơ bản của mình là chức năng tổ chức xãhội Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xãhội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội củamình
- Đặc trưng thứ 2 của văn hóa là tính giá trị Văn hóa có nghĩa là “ trở thành đẹp, trởthành có giá trị” văn hóa chỉ chứa cái đẹp, chứa các giá trị Nó là thước đo mức độnhân bản của xã hội và con người Đặc trưng tính giá trị cho phép phân biệt văn hóavới hậu quả của văn hóa hoặc những hiện tượng phi văn hóa Các giá trị văn hóatheo chất liệu có thể chia thành giá trị vật chất và giá trị tinh thần, theo ý nghĩa cóthể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mĩ, theo thời gian cóthể chia thành giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời Sự phân biệt các giá trị theo thờigian cho phép ta có được cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giátính giá trị của sự vật, hiện tượng Tránh được những xu hướng cực đoan- phủ nhậnsạch trơn hoặc tán dương hết lời
Chức năng điều chỉnh xã hội, giúp xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động,không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúpđịnh hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội
- Đặc trưng thứ 3 của văn hóa là tính nhân sinh Tính nhân sinh cho phép phân biệtvăn hóa như một hiện tượng xã hội với các giá trị tự nhiên Văn hóa là cái tự nhiênđược biến đổi bởi con người Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mangtính vật chất( luyện quặng, đẽo gỗ ) hoặc tinh thần( đặt tên, truyền thuyết cho cácquang cảnh thiên nhiên)
Do mang tính nhân sinh, văn hóa trở thành sợi dây nối liền con người với conngười, nó thực hiện cức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết họ lại với nhau Nếungôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó
- Đặc trưng thứ 4 của văn hóa là tính lịch sử Nó cho phép phân biệt văn hóa nhưsản phẩm của một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ với văn minh như sảnphẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn Tính lịch sử tạo nênvăn hóa một bề dày, một chiều sâu, nó buộc văn hóa thường xuyên phải điều chỉnh,tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị Tính lịch sử được duy trì bằng truyềnthống văn hóa
Chức năng giáo dục là chức năng quan trọng thứ tư của văn hóa Nhưng văn hóathực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định, mà còn bằng
Trang 3cả những giá trị đang hình thành Hai loại giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩnmực mà con người hướng tới Nhờ nó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trongviệc hình thành nhân cách Từ chức năng giáo dục, văn hóa có chức năng phái sinh
là đảm bảo tính kế tục của lịch sử
Câu 3: Sự du nhập của kitogiao vào Việt Nam và những ảnh hưởng của nó đến văn hóa Việt Nam, trên hai phương diện van hóa vật chất và tinh thần.
- Kitô giáo du nhập vào Việt Nam từ khoảng giữa thế kỷ XVI Trải qua nhiều biến
cố thăng trầm vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, đến nay, số lượng tín đồ Kitôgiáo có khoảng bảy triệu người Trong đó, khoảng sáu triệu người Công giáo vàkhoảng 1 triệu người Tin Lành phân bố gần như khắp các vùng trên lĩnh thổ ViệtNam
- Kitô giáo đã có một số đóng góp đáng trân trọng, như đóng vai trò là cầu nối vănhóa của Việt Nam với phương Tây, sáng tạo ra chữ quốc ngữ, du nhập ngành in vàbáo chí vào Việt Nam, làm phong phú về kiến trúc, nghệ thuật, không gian thiêng,thời gian thiêng trong văn hóa Việt nam Tuy nhiên, cũng có những hạn chế nhấtđịnh như, quá tự tôn, tự mãn, quá áp đặt văn hóa
- Sự giao lưu đó đã làm văn hóa Việt Nam biến đổi mọi phương diện , lối tư duyphân tích phương Tây đã bổ sung khá nhuần nhuyễn cho lối tư duy tổng hợp truyềnthống, ý thức về vai trò cá nhân được nâng cao dần bổ sung cho ý thức cộng đồngtruyền thống, đô thị ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, quá trình
đô thị hóa diễn ra ngày càng một nhanh hơn Tất cả khiến cho lịch sử văn hóa ViệtNam lật sang một tranh mới
- Tư tưởng nhân văn và đạo đức Kitô giáo đã ảnh hưởng vào trong đời sống văn hóacủa một bộ phận người Việt Nam Cụ thể là những tư tưởng ấy đã ảnh hưởng đếnvăn hóa nhận thức, văn hóa ứng xử và văn hóa tổ chức của những người tín đồ Kitôgiáo ở Việt Nam; sự ảnh hưởng đó đã tạo nên một sắc thái trong đời sống văn hóaViệt Nam, góp phần cụ thể hóa hững chuẩn mực đạo đức của văn hóa Việt Nam,làm phong phú thêm các quan niệm về nhân sinh quan, về những giá trị nhân văn vàđạo đức trong đời sống văn hóa Việt Nam
Câu 4: Phong tục tang ma của người Việt( nghi lễ tiến hành, quan niệm triết lí
âm dương ngũ hành).
- Nghi lễ tiến hành:
Người Việt Nam có truyền thống văn hóa lâu đời chính vì vậy trong những việctrọng đại như cưới xin, lễ tết, tang ma… người Việt có những nghi thức, phong tụcđược lưu giữ qua bao đời nay
Trang 4Do cho rằng trong con người có phần xác và phần hồn, sau khi chết linh hồn sẽ vềnơi "thế giới bên kia" và với thói quen sống bằng tương lai Mặt khác là quan niệmtrần tục coi chết là hết nên việc tang ma là thương xót.
Người Việt Nam chuẩn bị khá chu đáo, kĩ càng cho cái chết của chính mình hoặccủa người thân Các cụ già tự mình lo sắm cỗ hậu Quan tài của ta làm hình vuôngtượng trưng cho cõi âm theo triết lí âm dương
Khi trong nhà có người nhà hấp hối, việc quan trọng là đặt lên hèm (tên thụy) chongười sắp chết Đó là một tên mới (do người sắp chết tự đặt hoặc con cháu đặt cho)
mà chỉ có người chết, con cháu và thần Thổ công nhà đó biết mà thôi
Khi cúng giỗ, con trưởng sẽ khấn bằng tên hèm Thổ thần có trách nhiệm chỉ chophép linh hồn có "mật đanh" đúng như thế vào thôi (vì vậy, tên này còn gọi là têncúng cơm) Làm như vậy là đề phòng ngừa những cô hồn lang thang vào ăn tranh
Chôn cất xong, trên nấm mộ đặt bát cơm, quả trứng, đôi đũa (cắm trên bát cơm),nhiều nơi còn đặt thêm mớ bùi nhùi Tục này mang ý nghĩa chúc tụng : mớ bùi nhùitượng trưng cho thế giới hỗn mang, trong hỗn mang hình thành nên thái cực (tượngtrưng bằng bát cơm), thái cực sinh ra lưỡng nghi (tượng trưng bằng đôi đũa), cólưỡng nghi (âm dương) là có sự sống (tượng trưng bằng quả trứng)
Toàn bộ toát lên ý cầu chúc cho người chết sớm đầu thai trở lại Nhiều nơi có tụclàm nhà mồ cho người chết với đủ những tiện nghi vật dụng tối thiếu
- Quan niệm triết lí âm dương ngũ hành:
Về màu sắc: Tang lễ Việt Nam truyền thống dùng màu trắng là màu của hành Kim (hướng Tây) Mọi thứ liên quan đến hướng tây là xấu, nơi để mồ mả của người Việt
và người dân tộc thường là hướng tây của làng Sau màu trắng là màu đen Chỉ khichắt, chút để tang cụ, kị thì mới dùng các màu tốt như màu đỏ và vàng
Về số loại: Theo triết li âm dương, âm ứng với số chẵn, dương ứng với số lẻ, vì vậymọi thứ liên quan đến chết đều phải là số chẵn, lạy trước linh cữu thì phải lạy 2hoặc 4 lạy
Trang 5Cũng theo luật âm dương là việc phân biệt tang cha với tang mẹ Khi con trai chốnggậy để tang cha thì cha gậy tre, mẹ gậy vông Đưa tang và để tang còn có tục chađưa mẹ đón( tang cha đi sau quan tài, tang mẹ đi giật lùi phía đầu quan tài.) và tục
áo tang cha mặc trở đằng sống lưng ra, tang mẹ mặc trở đằng sống lưng vô hai tụcsau cũng đều thể hiện triết lí âm dương qua cặp nghĩa hướng ngoại, hướng nội ThọMai gia lễ của ta quy định cha mẹ phải để tang con, ông bà và cụ kị cũng để tanghàng cháu hàng chắt
Câu 5: Phong tục tập quán ăn uống của người Việt, cơ cấu bữa ăn nguồn nguyên liệu và quy tắc văn hóa trong hoạt động của người Việt.
- Phong tục tập quán ăn uống của người Việt: Người Việt Nam nông nghiệp với tính
thiết thực thì trái lại, công khai nói to lên rằng ăn quan trọng lắm: Có thực mới vưcđược đạo, nó quan trọng tới mức trời cũng không dám xâm phạm: Trời đánh tránhmiếng ăn, mọi hành động của người Việt Nam đều lấy ăn làm đầu: ăn uống, ăn ở, ănmặc…Ngay cả khi tính thời gín cũng lấy ăn uống và cấy trồng làm đơn vị Ăn uống
là văn hóa chính xác hơn nó là văn hóa tận dụng môi trường tự nhiên Trong ănuống của người Việt thường có tính cộng đồng cao: ăn tổng hợp, ăn chung, tronglúc ăn uống người Việt Nam rất thích trò chuyện, còn đòi hỏi trong khi ăn người ănđừng ăn quá nhanh, quá chậm, quá nhiều, quá it, đừng ăn hết, đừng ăn còn…Trongviệc ăn uống không chỉ thể hiện ở việc ăn phải hợp thời tiết, phải đúng mùa…
- Cơ cấu bữa ăn nguồn nguyên liệu: Đó là một cơ cấu ăn thiên về thực vật và trongthực vật thì lúa gạo đứng đầu bảng vì nước ta là truyền thống văn hóa về lúa nước.trong bữa ăn người Việt Nam sau lúa gạo thì đến rau quả nằm ở một trong nhữngtrung tâm trồng trọt, Việt Nam có một danh mục rau quả mùa nào thức ấy, phongphú vô cùng Đứng thứ 3 trong cơ cấu bũa ăn và đứng đầu hành thức ăn động vậtcủa người Việt Nam là các loại thủy sản, sản phẩm của vùng sông nước Ở vị trícuối cùng trong cơ cấu bữa ăn người Việt mới là thịt, phổ biến như thịt gà, heo,trâu, bò…
- Quy tắc văn hóa trong hoạt động của người Việt Nam:
+ Tính tổng hợp: trong nghệ thuật ăn uống của người Việt trước hết thể hiện trongcách chế biến đồ ăn Hầu hết các món ăn đều là sản phẩm của sự pha chế tổng hợprau này với rau khác, rau với các loại gia vị, rau quả với cá tôm…tính tổng hợp cònthể hiện ngay cả trong cách ăn Mâm cơm của người Việt cũng đồng thời nhiềumón: rau, cá, thịt, luộc, kho, nấu…suốt bữa ăn là cả một quá trình tổng hợp các mónăn
Trang 6+ Tính cộng đồng và tính mực thước: Ăn tổng hợp, ăn chung cho nên các thànhviên của bữa ăn liên quan và phụ thuộc chặt chẽ vào nhau Tính cộng đồng đòi hỏi ởcon người một thứ văn hóa cao trong ăn uống Vì mọi người đều phụ thuộc lẫn nhaunên phải ý tứ khi ngồi và mực thước khi ăn Tính mực thước là biểu hiện củakhuynh hướng quân bình âm – dương.
+ Tính biện chứng: Trong việc ăn uống không chỉ thể hiện ở việc ăn phải hợp thờitiết, phải đúng mùa và người Việt sành ăn còn phải biết chọn đúng bộ phận có giátrị, đúng trạng thái có giá trị và đúng thời điểm có giá trị
+ Tính linh hoạt: thể hiện rõ trong cách ăn, ăn theo lối Việt Nam là một quá trìnhtổng hợp các món ăn, nhưng có bao nhiêu người ăn thì có bấy nhiêu cách tổng hợpkhác nhau đó là cả một kuoon khổ rộng rãi đến kì lạ cho sự linh hoạt của con người,tính linh hoạt còn thể hiện trong dụng cụ ăn, truyền thống Việt Nam ăn chỉ dùngđũa
Câu 6: Phong tục hôn nhân của người Việt, các nghi thức tiến hành trong hôn nhân So sánh hôn nhân tuyền thống với hôn nhân hiện nay.
- Hôn nhân người Việt Nam truyền thống không phải là việc hai người lấy nhau mà
là việc hai họ dựng vợ gả chồng cho con cái tục lệ này xuất phát từ quyền lợi củatập thể
+ Trước hết là quyền lợi của gia tộc: xác lập quan hệ giữa hai gia tộc Vì vậy điềucần làm đầu tiên chưa phải là lựa chọn một cá nhân cụ thể, mà lựa chọn một dòng
họ, một gia đình xem cửa nhà hai bên có tương xứng không, có môn đăng hộ đốikhông
+ Quyền lợi của làng xã: Sự ổn định của làng xã đã hình thành quan niệm chọn vợchồng cùng làng
+ Nhu cầu riêng tư: Sự phù hợp của đôi trai gái, tuổi tác xem đôi trai gái có hợp haykhông, nếu xung khắc thì thôi, để cho quan hệ vợ chồng được bền vững
+ Quan hệ mẹ chồng- nàng dâu: cũng rất được chú ý
- Các nghi thức tiến hành:
+ Kén chọn: Lệ xưa việc lấy vợ, gả chồng là việc của cha mẹ, vậy con cái đến tuổitrưởng thành thì cha mẹ tiến hành kén rể, kén dâu Kén rể, kén dâu là một công việctiền hôn lễ nhưng rất quan trọng Trước hết là việc xem xét gia đình dự định trởthành thông gia xem thuộc loại gia đình như thế nào, có môn đǎng hộ đối không? + Giạm ngõ hay chạm mặt: Đó là lần đầu tiên đại diện nhà trai đến nhà gái, sau khi
đã chọn được dâu đúng với “tiêu chuẩn” Lần “đặt vấn đề” này hoàn toàn có tính
Trang 7“đánh tiếng”, “làm quen” Nếu sau lần giạm ngõ này không có vấn đề gì thì lễ ǎnhỏi chính thức được tiến hành Điều đáng chú ý là trong lần chạm mặt này, cô dâu,chú rể tương lai sẽ được thấy mặt nhau, vì thế còn được gọi là lễ xem mặt.
+ Ǎn hỏi: Có nơi gọi là lễ bỏ trầu cau, khi hai bên trai gái đã thống nhất được vớinhau về mặt gia đình, đối tượng cụ thể, vào “ngày lành tháng tốt” sẽ tổ chức ǎn hỏi.Nhà trai mang lễ vật gồm trầu cau, chè thuốc, có khi là xôi gà đến nhà gái để chínhthức bàn chuyện cưới xin Trong xã hội cũ thì lễ này là lễ “ngã giá” người con gái.Nhà gái sẽ được đưa ra yêu cầu, tức là nơi thách cưới
+ Lễ cưới: Sau khi các điều (yêu sách) đã được nhà trai thực hiện, người ta chọnngày lành tháng tốt để tổ chức lễ cưới
+ Lễ lại mặt: Sau đêm tân hôn, vợ chồng mới dắt nhau về nhà gái
+ Lễ nộp cheo: là một nghi lễ phụ trong đám cưới, nhưng nhất thiết phải có Không
có bữa khao này thì đôi vợ chồng mới không được coi là thành viên của làng xóm
- So sánh hôn nhân truyền thống với hôn nhân hiện nay:
+ Quan niệm về lễ cưới
Truyền thống
Để tiến đến được hôn nhân, cô dâu chú rể phải được sự đồng ý của gia đình hai bên,đôi khi phải căn cứ theo hoàn cảnh hai nhà, cả hai gia đình đều phải phù hợp , "mônđăng hộ đối" thì đôi uyên ương mới được chúc phúc
Hiện đại
Quan niệm về tầm quan trọng của lễ cưới trong xã hội hiện đại vẫn được bảo tồn vàgìn giữ Nhưng hiện nay, đôi uyên ương đã có nhiều quyền quyết định hạnh phúccủa mình hơn, họ có quyền tìm hiểu và quyết định đến với nhau bằng đám cưới Lễcưới không còn phụ thuộc nhiều vào việc gia đình hai bên có "môn đăng hộ đối"hay không nữa
Ngoài việc tổ chức lễ cưới, đôi uyên ương cũng cần đăng ký kết hôn và đây là điềukhông thể thiếu, đảm bảo cho cuộc sống vợ chồng Tuy nhiên quan niệm của cácđôi uyên ương vẫn là phải được gia đình hai nhà đồng ý và được bạn bè, người thânchúc phúc
+ Nghi thức cưới hỏi
Truyền thống
Nghi lễ cưới hỏi trong xã hội truyền thống có phần rườm rà, nhiều thủ tục hơn Cácthủ tục xưa thường bao gồm:
Trang 8- Mai mối để đôi bạn trẻ tìm hiểu nhau
- Lễ cheo: lễ này có thể tiến hành trước nhiều ngày, hoặc sau lễ cưới một ngày Lễcheo là nhà trai phải có lễ vật hoặc tiền bạc đem đến cho làng hoặc xóm của cô dâu
để cộng đồng làng xóm tiếp nhận thành viên mới
- Chạm ngõ
- Ăn hỏi
- Báo hỷ, chia trầu cau
- Nạp tài: nhà trai đem sinh lễ gồm trầu cau, gạo nếp, thịt lợn, quần áo, đồ trang sứcsang nhà gái Lễ này có ý nghĩa nhà trai góp chi phí cỗ bàn và cho nhà gái biết họ
đã chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ cho cô dâu mới về nhà chồng
tổ chức tại nhà hàng, cô dâu chú rể sẽ có các nghi lễ như rót rượu mời bố mẹ, cắtbánh cưới, trao nhẫn và mời khách dùng tiệc
+ Trang phục
Truyền thống
Trước kia cô dâu dâu thường mặc áo mớ ba, bên trong là áo có màu rực rỡ nhưhồng, xanh, vàng bên ngoài phủ áo the thâm Đến thời gian sau này, cô dâuthường mặc áo dài trắng hoặc váy trắng dài đơn giản Chú rể sẽ mặc trang phụcquần âu, áo sơ mi
Hiện đại
Trong lễ ăn hỏi, cô dâu thường mặc áo dài truyền thống, áo thường có màu tươi tắn,cũng có thể thêu hoa văn, họa tiết rồng phượng Trong đám cưới ngày nay, cô dâuchú rể mặc trang phục theo kiểu phương Tây Cô dâu diện váy cưới trắng, chú rểmặc vest Các loại trang phục cưới này cũng đa dạng hơn theo thời gian
Câu 7: Quá trình du nhập, đặc điểm, ảnh hưởng của phật giáo đối với Việt Nam.
* Quá trình du nhập:
- Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, khoảng thế kỷ thứ 3 trước Côngnguyên Đầu Công nguyên với truyện cổ tích Chử Đồng Tử (ở Hưng Yên ngày nay)học đạo của một nhà sư Ấn Độ Luy Lâu (thuộc tỉnh Bắc Ninh) là trị sở củaquận Giao Chỉ sớm trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng Các truyền thuyết
Trang 9về Thạch Quang Phật và Man Nương Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng đạo củaKhâu Đà La Thế kỉ 2, Phật giáo hình thành nên hệ thống tín ngưỡng thờ Tứ Pháp
- Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm Đến đời nhà Lý, nhà Trần, Phậtgiáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cả mọi vấn đềtrong cuộc sống Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốc giáo và Phậtgiáo đi vào giai đoạn suy thoái Đến cuối thế kỷ XVIII, vua Quang Trung cố gắngchấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì mất sớm nên việc này không cónhiều kết quả Đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh hưởng mạnh của quá trình Âu hóa, Phậtgiáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô thị miền Nam với cácđóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hòa và Thiện Chiếu [5]
Tóm lại, lịch sử Phật giáo Việt Nam trải qua bốn giai đoạn:
từ đầu công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc là giai đoạn hình thành và pháttriển rộng khắp;
thời Nhà Lý - Nhà Trần là giai đoạn cực thịnh;
từ đời Hậu Lê đến cuối thế kỷ 19 là giai đoạn suy thoái;
từ đầu thế kỷ 20 đến nay là giai đoạn phục hưng
Đại thừa có ba tông phái được truyền vào Việt Nam là Thiền tông, Tịnh Độtông và Mật tông
* Đặc điểm của phật giáo:
- Tính tổng hợp
Tổng hợp là một trong những đặc tính của lối tư duy nông nghiệp, chính vì thế tổnghợp là đặc tính nổi bật nhất của Phật giáo Việt Nam
+ Tổng hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng truyền thống
Phật giáo thờ Phật trong chùa, tín ngưỡng truyền thống Việt Nam làthờ thần trong miếu và thờ Mẫu trong phủ, bốn vị thần được thờ nhiều nhất là Tứpháp: Mây-Mưa-Sấm-Chớp Tuy nhiên bốn vị thần này đã được "Phật hóa" Cácpho tượng này thường được gọi tượng Phật Pháp Vân, Phật Pháp Vũ, Phật Pháp Lôi
và Phật Pháp Điện, trên thực tế các tượng này hoàn toàn điêu khắc theo tiêu chuẩncủa một pho tượng Phật Nghĩa là đầy đủ 32 tướng tốt cùng 80 vẽ đẹp, mà mộttrong những nét tiêu biểu chính là tướng nhục kế, những khế ấn, và khuôn mặt đầylòng từ mẫn v.v Các hệ thống thờ phụ này tổng hợp với nhau tạo nên các ngôi chùa
"tiền Phật, hậu thần" hay "tiền Phật, hậu Mẫu" Người Việt Nam đưa các vị Thần,Thánh, Mẫu, thành hoàng thổ địa, anh hùng dân tộc vào thờ trong chùa Đa số cácchùa còn để cả bia hậu, bát nhang cho các linh hồn đã khuất
+ Tổng hợp giữa các tông phái Phật giáo
Các tông phái Phật giáo Đại thừa sau khi du nhập vào Việt Nam trộn lẫn với nhau.Dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi pha trộn với Mật giáo Nhiều vị thiền sư đời Lý
Trang 10như Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, đều giỏi pháp thuật và có tàithần thông biến hóa Thiền tông còn kết hợp với Tịnh Độ tông như là trong việctụng niệm Phật A Di Đà và Bồ Tát.
Các điện thờ ở chùa miền Bắc có vô cùng phong phú các loại tượng Phật, bồ tát, lahán của các tông phái khác nhau Các chùa miền Nam còn có xu hướng kếthợp Tiểu thừavới Đại thừa Nhiều chùa mang hình thức Tiểu thừa (thờ Phật Thích
Ca Mâu Ni, sư mặc áo vàng) nhưng lại theo giáo lý Đại thừa; bên cạnh Phật Thích
Ca Mâu Ni còn có các tượng Phật nhỏ khác, bên cạnh áo vàng còn có áo nâu, áolam
+ Tổng hợp giữa Phật giáo với các tôn giáo khác
Tín ngưỡng truyền thống đã tiếp nhận Phật giáo ngay từ đầu Công nguyên Sau đóPhật giáo cùng tín ngưỡng truyền thống tiếp nhận Đạo giáo Rồi tất cả cùng tiếpnhận Nho giáo để làm nên "Tam giáo đồng nguyên" (cả ba tôn giáo có cùng mộtgốc) và "Tam giáo đồng quy" (cả ba tôn giáo có cùng một mục đích) Ba tôn giáotrợ giúp lẫn nhau: Nho giáo lo tổ chức xã hội, Đạo giáo lo thể xác con người, Phậtgiáo lo tâm linh, kiếp sau của con người Trong nhiều thế kỷ, hình ảnh "Tam giáo tổsư" với Thích Ca Mâu Ni ở giữa,Lão Tử ở bên trái, Khổng Tử ở bên phải đã in sâuvào tâm thức mọi người Việt[14]
Ngoài ra Phật giáo Việt Nam còn được hòa trộn với tất cả các tôn giáo khác để hìnhthành Đạo Cao Đài vào thập niên 1920 với quan điểm là "Thiên nhân hợp nhất" và
"Vạn giáo nhất lý"
- Tính hài hòa âm dương
Sau tính tổng hợp, hài hòa âm dương là một trong những đặc tính khác của lối tưduy nông nghiệp, nó ảnh hưởng rất lớn đến Phật giáo Việt Nam làm cho Phật giáoViệt Nam có phần thiên về nữ tính
Các vị Phật Ấn Độ xuất thân là nam giới, khi vào Việt Nam bị biến thành "Phật ôngPhật bà" Phật Bà Quan Âm (biến thể của Quán Thế Âm Bồ Tát) là vị thần hộ mệnhcủa vùng Nam Á nên còn được gọi là Quan Âm Nam Hải Ngoài ra người Việt còn
có những vị Phật riêng của mình như Man Nương Phật Mẫu (tên khác: PhậtMẫu), Quan Âm Thị Kính(tên khác: Quan Âm Tống Tử), Quan Âm Diệu Thiện (tênkhác: Phật Bà Chùa Hương, Bà chúa Ba)
- Tính linh hoạt
Phật giáo Việt Nam còn có một đặc điểm là rất linh hoạt, mà nhà Phật thường gọi là
"tùy duyên bất biến; bất biến mà vẫn thường tùy duyên" nghĩa là tùy thuộc vào tìnhhuống cụ thể mà người ta có thể tu, giải thích Phật giáo theo các cách khác nhau.Nhưng vẫn không xa rời giáo lý cơ bản của nhà Phật Ví dụ: Các vị bồ tát, các vịhòa thượng đều được gọi chung là Phật, Phật Bà Quan Âm (vốn là bồ tát), Phật DiLặc (vốn là hòa thượng), Ngoài ra Phật ở Việt Nam mang dáng dấp hiền hòa và