1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam

25 437 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 861,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

o Theo định nghĩa của UNESCO: "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần, do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác

Trang 1

VẤN ĐỀ 1: VĂN HÓA – VĂN MINH

Văn hóa là khái niệm mang tính nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên

quan đến mọi mặt đời sông vật chất và tinh thần của con người Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo ra từ thuở bình minh của xã hội loài người nhưng đến nay khái niệm về văn

hóa vẫn chưa được thống nhất

o Theo ngôn ngữ của phương Tây, từ tương ứng với văn hóa của tiếng Việt (culture trong tiếng Anhvà tiếng Pháp, kultur trong tiếng Đức, ) có nguồn gốc từ chữ Latinh "Cultus" với nghĩa gốc là gieotrồng, được hiểu theo hai nghĩa: "Cultus Agri" - trồng trọt/ canh tác nông nghiệp (trồng cây) và"Cultus Animi" - "trồng trọt"/ "canh tác" tinh thần (trồng người - sự giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn con người)

o Ở phương Đông, văn hóa là 1 phạm trù đối lập với vũ trụ, văn hóa = văn+hóa Trong đó, văn là cái đẹp được biểu hiện trong lễ nhạc, ngôn ngữ, cách cai trị, quy tắc ứng xử đẹp

đẽ Hóa là giáo dục giáo hóa con người hướng tới cái chân thiện mĩ

o Trong Tiếng Việt, khái niệm văn hóa có nhiều nghĩa:

+ Nghĩa hẹp: học thức, lối sống, nếp sống hoặc trình độ phát triển của một giai đoạn + Nghĩa rộng: văn hóa bao gồm tất cả những giá trị tinh thần và vật chất

o Theo định nghĩa của UNESCO: "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần, do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội"

o Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới phát minh và sáng tạo ra ngôn ngữ, chữ viết, pháp luật, đạo đức, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc , ở và các phương tiện sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa”

o Cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “nói tới văn hóa là nói tới 1 lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình hình thành và phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với ý nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của

nó, bao gồm cả hệ thống giá trị tư tưởng và tinhg cảm, đạo đức và phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của 1 cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình không ngừng

Trang 2

Khái niệm văn minh:

Lâu nay, một số người vẫn xem văn hóa đồng nghĩa với văn minh, sử dụng hai thuật ngữ này ngang hàng với nhau Thực ra, chúng không giống nhau

Thuật ngữ văn hóa (culture, cultura, Kultur) có nghĩa gốc gắn với trồng trọt, nuôi dưỡng, đào luyện, tức là “canh tác nông nghiệp” và “canh tác tinh thần” Văn hóa có được

là nhờ một quá trình nuôi dưỡng và đào luyện hiểu theo nghĩa rộng Nói cách khác, chủ thể văn hóa phải trải qua một tiến trình lịch sử để có được cái chất văn hóa cần thiết, do

đó văn hóa mang tính lịch sử Trong tiến trình ấy, con người - chủ thể văn hóa cũng tự mình phát triển qua các hoạt động xã hội Và thế là, có thể nói con ngườimang trong mình các loại di truyền như di truyền sinh học (con người tự nhiên), di truyền ngôn ngữ và di truyền xã hội (con người xã hội) có sự nhập thân của văn hóa hay còn gọi là di truyền văn hoá

Một số học giả sử dụng khái niệm văn minh (thuật ngữ civilisation, sivilizatsia, Zivilisation) để chỉ sự sáng tạo văn hóa nhờ một trật tự xã hội gây ra và kích thích: văn minh được dùng theo nghĩa tổ chức xã hội, tổ chức luân lý và hoạt động văn hóa Trong tiếng Đức, văn minh là từ dùng để chỉ các xã hội đã đạt được tới giai đoạn tổ chức đô thị

và có chữ viết F.Ăngghen thì cho rằng văn minh là chính trị khoanh văn hóa lại, và sợi dây liên kết văn minh là nhà nước (Trần Quốc Vượng, tldd, tr.12-13)

GS.Trần Ngọc Thêm cho rằng văn minh là trình độ phát triển nhất định của văn hóa

về phương diện vật chất và mang tính quốc tế (Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb ĐHTH Tp Hồ Chí Minh, 1996, tr 47- 48)

Như vậy, trong các cách hiểu về văn minh đã nổi bật những vấn đề cơ bản sau đây:

o Văn minh xuất hiện khi ngôn ngữ ra đời, và đồng thời với nó là một trình độ kỹ thuật phát triển trong một xã hội, một nhà nước có sự phân công lao động phát triển tương đối rõ rệt

o Văn minh xuất hiện khi con người có khát vọng vươn tới cái đẹp và biết làm đẹp cuộc sống của mình Do đó, văn minh là sự sáng tạo, là một trình độ phát triển nhất định của văn hóa, đặc trưng cho một không gian văn hóa tương đối rộng lớn

và một thời gian văn hóa tương đối dài

Mối quan hệ giữa văn hóa và văn minh: VH và VM có mối quan hệ tương tác qua lại,

chặt chẽ VH là nền tảng để cho sự phát triển của VM Trong tương quan giữa văn hóa và văn minh thì văn hóa thuộc “tĩnh”, văn minh thuộc “động” Song không có nghĩa tuyệt đối là trong văn hóa chỉ có tĩnh và trong văn minh chỉ có động hoàn toàn, hai mặt này – văn hóa và văn minh luôn có sự tương tác và gắn bó chặt chẽ với nhau Văn hóa trở thành cốt lõi và linh hồn của văn minh Có thể nhận định một cách quy ước, văn hóa có xu hướng thiên về sự bảo tồn, gìn giữ các giá trị - chuẩn mực và bản sắc dân tộc, thuộc phạm trù truyền thống còn văn minh

là sự tiếp nhận, hội nhập và học hỏi những yếu tố tiên tiến của thời đại, thuốc phạm trù hiện đại Xét về giá trị thì văn minh có xu hướng thiên về cái chung, nó được chấp nhận ở đa số cộng

Trang 3

đồng, còn văn hóa lại thiên về cái riêng – cái đặc thù – làm nên bản sắc riêng của mỗi cộng đồng – dân tộc Hai mặt này luôn tồn tại trên từng dòng chảy của lịch sử (tính thời gian)

Phân biệt sự khác nhau giữa khái niệm văn hóa và văn minh:

o Trong khi văn minh được định nghĩa là “trình độ phát triển” tức là chỉ

1 xã hội đạt tới mức độ tổ chức đô thị và có chữ viết, văn minh là chỉ trình độ

phát triển của văn hóa về đặc trưng cho 1 khu vực rộng lớn, 1 thơi đại hoặc

cả nhân loại Trong khi văn hóa luôn có bề dày lịch sử thì văn minh chỉ là 1 lát

cắt đồng đại cho biết trình độ phát triển của từng giai đoạn, từng khu vực Nói

đến văn minh, người ta liền nghĩ ngay đến những tiện nghi vật chất Ví dụ: xe

lửa, máy bay là 1 sản phẩm của văn minh chứ không phải của văn hóa => văn

minh luôn thay đổi, văn hóa thì ít thay đổi hơn

o Về giá trị: như vậy văn hóa và văn minh còn khác nhau ở tính giá trị:

văn hóa chứa đựng cả giá trị vật chất và tinh thần còn văn minh chỉ thiên về

giá trị vật chất Vì vậy văn minh có thể so sánh cao thấp còn văn hóa chỉ là sự

khác biệt

o Về phạm vi: sự khác biệt của văn minh và văn hóa về giá trị tinh thần

và lịch sử dẫn đến sựu khác biệt về phạm vi Văn hóa mang tính dân tộc, còn

văn minh mang tính quốc tế, nó đặc trưng cho cả 1 khu vực rộng lớn hoặc

nhân loại bởi vật chất dễ phổ biến và lây lan

o Về nguồn gốc: sư khác biệt tiếp theo là về nguồn gốc: văn hóa gắn nhiều hơn với phương Đông – nông nghiệp còn văn minh thì gắn bó nhiều hơn với

phương Tây – đô thị

• Văn hóa và văn minh khác nhau trước hết ở tính giá trị

o Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và giá trị tinh thần, vật thể và phi vật thể, tĩnh và động Văn minh thiên về giá trị vật chất, trình độ kỹ thuật

o Ở phương diện này, văn hóa là một khái niệm bao trùm, bao quát hơn văn minh Nhà văn hóa học người Nga Likhachốp cho rằng văn hóa giàu tính nhân bản, có giá trị muôn thuở, còn văn minh mang trong mình ý tưởng của sự hợp lý, tiện lợi về mặt vật chất - kỹ thuật trong đời sống của con người

• Văn hóa và văn minh khác nhau ở tính lịch sử

o Văn hóa là dòng chảy lịch sử dân tộc, văn minh là lát cắt đồng đại

o Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn Điều này có nghĩa là văn hóa luôn luôn có bề dày và chiều sâu lịch sử Trong khi đó, văn minh chỉ là một lát cắt đồng đại, nó cho biết trình độ phát triển nhất định của văn hóa

o Tính giá trị và tính lịch sử là hai đặc trưng cơ sở quan trọng nhất để phân biệt hai khái niệm văn hóa và văn minh Thật vậy, trên thực tế, một dân tộc có trình độ văn minh cao vẫn có thể có một nền văn hóa với bề dày và chiều sâu lịch sử không lớn (chỉ vài trăm năm chẳng hạn), thậm chí còn thiếu vắng một cơ sở văn hóa đặc

Trang 4

trưng cho dân tộc mình, tức là khó tìm ra được nét độc đáo trong hệ thống văn hóa

ấy, vì vậy cũng khó khẳng định được bản sắc văn hóa dân tộc Ngược lại, một dân tộc lạc hậu vẫn có thể có một nền văn hóa phong phú nhờ bề dày và chiều sâu lịch

sử trên một cơ sở văn hóa vững chắc

• Văn hóa và văn minh khác nhau ở phạm vi ảnh hưởng

o Văn hóa mang tính dân tộc, văn minh mang tính nhân loại Tính dân tộc được giải thích bởi tính giá trị tinh thần và tính lịch sử của văn hóa Còn tính nhân loại, tính toàn cầu của văn minh được lý giải bởi giá trị vật chất - kỹ thuật và trình độ phát triển cũng như khả năng lan truyền trên một phạm vi rộng lớn hoặc toàn cầu

VẤN ĐÊ 2: ĐẶC TRƯNG VÀ CHỨC NĂNG CỦA VĂN HÓA

Phân tích các đặc trưng và chức năng của Văn hóa:

o Tính hệ thống: Văn hóa trước hết phải có tính hệ thống.Đặc trưng này cần để phân biệt

hệ thống với tập hợp; nó giúp phát hiện những mối liênhệ mật thiết giữa các hiện tượng,

sự kiện thuộc một nền văn hóa; phát hiện các đặc trưng,những quy luật hình thành và phát triển của nó Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một thực thể bao

trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội Chính văn

hóa thường xuyên làmtăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó vớimôi trường tự nhiên và xã hội của mình Nó là nền tảng của xã hội - có lẽ chính vì vậymà người Việt Nam ta dùng từ chỉ loại “nền” để xác định khái

niệm văn hoá (nền văn hóa)

o Tính giá trị: văn hóa có nghĩa là “ trở thành cái đẹp, thành giá trị” Văn hóa chứa cái

đẹp, chứa các giá trị Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người Đặc trưng tính giá trị cho phép phân biệt văn hóa với hậu quả của văn hóa hoặc những hiện tượng phi văn hóa Các giá trị văn hóa theo chất liệu có thể chia thành giá trị vật chất và tinh thần; theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm

mỹ (chân-thiện-mĩ); theo thời gian có thể chia thành giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời Trong các giá trị nhất thời lại phân biệt các giá trị lỗi thời, giá trị hiện hành và giá trị đang hình thành Sự phân biệt các loại giá trị theo thời gian cho phép ta có được cái biện chững và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng; tránh được những xu hướng cực đoạn – phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời Nhờ vậy

mà về mặt đồng đại, cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theo góc nhìn,

theo bình diện được xem xét

Vì vậy mà, Về mặt đồng đại, cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theo góc nhìn, theo bình diện được xem xét Muốn kết luận một hiện tượng có thuộc phạm trù văn hóa hay không phải xem xét mối tương quan giữa các mức độ “giá trị” và “phi giá trị” của nó về mặt lịch đai, cùng một hiện tượng sẽ có thể có giá trị hay không tùy

Trang 5

thuộc vào chuẩn mực văn hóa cùa từng giai đoạn lịch sử Áp dụng vào Việt Nam, việc đánh giá chế độ phong kiến, vai trò của Nho giáo, các triều đại nhà Hồ, nhà Nguyễn… đều đòi hỏi một tư duy biện chứng như thê’

Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan trọng

thứ hai là chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân

bằng động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội

o Tính nhân sinh: Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hoá như một hiện tượng xã

tự nhiên được biến đổi bởi con người Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính vật chất (như việc luyện quặng, đẽo gỗ ) hoặc tinh thần (như việc đặt tên, truyền thuyết cho cáccảnh quan thiên nhiên ) Như vậy, văn hóa học không đồng nhất với đất nước học Nhiệm vụ của đất nước học làgiới thiệu thiên nhiên - đất nước - con người Đối tượng của nó bao gồm cả các giá trị tựnhiên, và không nhất thiết chỉ bao gồm các giá trị Về mặt này thì nó rộng hơn văn hoá học Mặt khác, đất nước học chủ yếu quan tâm đến các vấn đề đương đại, về mặt này thìnó hẹp hơn văn hóa học.Do mang tính nhân sinh, văn hóa trở thành sợi dây nối liền con người với con người, nó thực

hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết họ lại với nhau Nếu ngôn ngữ làhình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó

o Tính lịch sử: Nó cho phép phân biệt văn hóa như sản phẩm của một quá trình và được

tích luỹ qua nhiều thế hệ với văn minh như sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từnggiai đoạn Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu; nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đốiổn định (những kinh nghiệm tập thể) được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người quakhông gian và thời gian, được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán nghi lễ, luật pháp, dư

luận Truyền thống văn hóa tồn tại nhờ giáo dục Chức năng giáo dục là chức năng

quan trọng thứ tư của văn hóa Nhưng văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định (truyền thống), mà hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ nó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách (trồng người) Từ chức năng giáo dục, văn hóa có chức năng phái sinh là đảm bảo tính

kế tục của tịch sử: Nó là một thứ "gien" xã hội di truyền phẩm chất con người lại cho các thế hệ mai sau

Trang 6

VẤN ĐỀ 3: THÀNH TỰU VĂN HÓA VIỆT NAM

Thời kỳ tiền sử (cách nay mấy chục vạn năm cho đên khoảng TK VIII TCN) và thời kỳ

sơ sử (800-700 năm TCN đến TK I CN)

o Về mặt kỹ thuật: Văn hóa tiền sử và sơ sử hình thành và phát triển trên cơ sở cuộc cách mạng luyện kim với nghề đúc đồng dần đạt đến mức hoàn thiện (tiêu biểu là nền

văn hóa Đông Sơn)

o Về đời sống kinh tế: Hình thành nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước của người Việt cổ sống trong khu vực nhiệt đới gió mùa, một xứ sở có nhiều sông nước, núi rừng, đồng bằng và biển cả Người Việt cổ biết thuân dưỡng một số gia sức (bò, trâu, gà, vịt, heo), biết dùng trâu, bò để cày bừa, biết trồng dâu nuôi tằm, dệt vãi Ở ven các dòng sông

và ve biển dân bản địa thạo nghề đi biển và đánh bắt hải sản

o Dùng cau thuốc Nam chữa bệnh Uống chè

o Người Việt cổ làm nhà sàn hình chữ nhật bằng tranh tre, có mái cong mà mô hình còn thấy trong mộ táng thuộc văn hóa Đông Sơn 2000 năm TCN Khi định cư ở Trung Nguyên,

dân Hán đã theo mô thức nhà này của người Việt

o Về tổ chức xã hội và đời sống tinh thần:

• Nền văn hóa tiền sử và sơ sử tổ chức xóm làng dựa trên cơ cấu nông thôn kiểu

Á Châu của một xã hội phân bố chưa sâu sắc, gay gắt và nhà nước mới hình thành Nhà nước vừa có mặt bóc lọt công xã, lại vừa đại diện cho lợi ích chung của công

xã trong yêu cầu tổ chức đấu tranh chinh phục thiên nhiên, chống thiên tai, khai hoan, trị thủy làm thủy lợi, tự vệ và chống ngoại xâm Ở các vùng núi dân cư còn ở trình độ tổ chức bộ lạc; nhưng ở trung du và đồng bằng cư dân đã dần đân vươn đến trình độ tổ chức liên minh bộ lạc,

• Nền văn hóa tiền sử và sơ sử thể hiện đậm nét bản lĩnh, truyền thống, cốt cách, lỗi sống và lẽ sống của người Việt cổ: Chung lưng đấu cật, đoàn kết, gắn bó với nhau trong lao động và đấu tranh, giàu tình làng nghĩa nước, tôn trọng người già và phụ

nữ, biết ơn và tôn thờ tổ tiên, các anh hùng nghĩa sĩ, ; có cội rễ và cơ sở sâu xa trong cuộc sống lâu đời của các lớp cư dân trên lãnh thổ Văn Lang – Âu Lạc thuở

• Nền văn hóa sơ sử sớm có quan hệ giao lưu mật thiết với các nền văn minh láng giềng, đặc biệt là văn minh Trung Hoa và Ấn Độ

Trang 7

Thành tựu văn hóa thời thiên niên kỷ đầu công nguyên (thời bắc thuộc) (từ đầu thế

kỷ I đến thế kỷ X)

Do hoàn cảnh lịch sử, VH thời kì này thành tựu không lớn Tuy nhiên có thể nêu một

số thành tựu cơ bản sau:

a Bảo tồn và phát triển VH dân tộc:

o Trong suốt hơn một ngàn năm Bắc thuộc, nhân dân ta đã phải liên tục tiến hành các cuộc đấu tranh vũ trang để giành độc lập và đồng thời ra sức bảo tồn phát triển văn hóa dân tộc, chống lại âm mưu đồng hóa dân tộc của bọn phong kiến phương Bắc Trong các cuộc đấu tranh đó thì cơ cấu tổ chức các xóm làng Việt cổ là thành lũy vững chắc mà bọn đô hộ phương Bắc không thể nào với tay tới được

o Thành tựu quan trọng của cư dân Âu Lạc là đã bảo tồn được tiếng nói của dân tộc Tất nhiên, dưới ách thống trị lâu ngày bọn xâm lược, cùng với sự phát triên của cuộc sống, tiếng Việt cũng có những biến đổi Nhưng người Âu Lạc đã hấp thụ ảnh hưởng ngôn ngữ Hán một cách độc đáo, sáng tạo, đã Việt hóa những từ ngữ ấy theo các dùng, cách đọc của người Việt, tạo thành một lớp từ mới gọi là từ Hán – Việt Như vậy Tiếng Việt không bị mất đi mà lại còn giàu có và hoàn thiện về mặt âm tiết Chữ Viết của người Hán cũng được ông cha ta tiếp thu và xây dựng thành chữ Nôm

o Trong tín ngưỡng và phong tục, người Việt vẫn một lòng tôn kính và biết ơn với cha mẹ, tổ tiên, tôn trọng phụ nữ, sống chan hòa, công đồng trong làng chạ, thờ cúng các thiên thần, nhiên thần và nhân thần, các biểu tượng về khát vọng dân tộc Các tụng

lệ nư búi tóc, xăm mình, nhuộm răng, ăn trầu vẫn được giữ gìn

o Nền văn học dân gian tiếp tục phát triển

b Tiếp thu và “Việt hóa” ảnh hưởng của văn hóa Hán và văn hóa Ấn Độ:

o Tranh thu sự giao thương dưới thời Bắc thuộc, nhân dân Âu Lạc đã trao đổi và trang bị rộng rãi các công cụ bằng sắt cho ngành nông nghiệp Họ đã tiếp thu kĩ thuật bón phân Bác của người Trung Quốc, phát triển giống cây trồng nhằm đa canh hóa và

mở rộng lúa hai vụ

o Kết hợp giữa kinh nghiệm cổ truyền với kinh nghiệm học tập của Trung Quốc, cư dân Âu Lạc đã sản xuất được loại gốm tráng men nửa sành nửa sứ Trong nghề dệt, nhân dân Âu Lạc đã sản xuất được lụa, vải bông, vải cát bá, vải tơ chuối, vải bạch điệp

o Trong lĩnh vực âm nhạc, thời Bắc thuộc người Việt đã tiếp thu một số nhạc cụ người Trung Quốc như chuông, khánh, của Ấn Độ như trống cơm, của Trung Á là Hồ Cầm

o Trong kiến trúc và điêu khắc là kĩ thuật kiến trúc lối vòm cuốn sử dụng gạch múi bưởi của người Trung Quốc, tượng tròn bằng đồng có nguồn gốc Nam Á - Ấn Độ

o Trên lĩnh vực chính trị, mô hình tổ chức nhà nước của Trung Quốc đã bước đầu được Lý Nam Đế tiếp thu trong việc xây dựng chính quyền tự chử thời Vạn Xuân

Trang 8

c Về tín ngưỡng, trong xu hướng giao lưu tự nguyện lúc bấy giờ, cha ông ta đã tiếp nhận hai nguồn văn hóa Ấn Độ, Trung Quốc

o Truyền vào nước ta theo con đường hòa bình, đó văn hóa Phật giáo thâm nhập vào miền Bắc, Bà La Môn đi vào miền Trung bộ tạo dựng nên vương quốc Chamwpa

o Những đóng góp của Phật giáo trung hòa các ảnh hưởng đến từ Trung Hoa, khiến cho văn hóa Âu Lạc tuy bị Hoa hóa những vẫn khác với văn hóa Trung Hoa Trong hưởng của hệ tư tưởng Phật giáo ở nước ta lúc bấy giờ thì tư tưởng thiền tông với chủ trương

“Phật tại tâm” chiếm vai trò chủ đạo, tạo điều kiện cho xu hướng nhập thế của Phật giáo

ở Việt Nam

Thành tựu văn hóa thời Đại Việt (độc lập tự chủ) ( từ TK X - XIX)

o Nền văn hóa dân tộc được phục hồi nhanh chóng và phát triển mạnh mẽ, rực rỡ, với

sự đa dạng của văn hóa các dân tộc anh em suốt từ Bắc chi Nam Nước ta đã có một nền văn hóa phong kiến ngang tầm trong khu vực, đủ sức tự cường và giư vững độc lập dân tộc

o Tiếp nhận Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo Trung Hoa theo xu hướng “ Tam giao đồng quy”, trên cơ sở truyền thống dân tộc, trong đó Nho giáo là chủ yếu Lý Thánh Tông cho xây văn miếu thờ Khổng Tử năm 1070, Lý Nhân Tông lập Quốc Tử Giám năm 1076 Thời

Lê, Nho giáo đạt đến độ thịnh vượng nhất, trở thành Quốc giáo Nho sĩ chiếm địa vị cao trong xã hội, trở thành lực lượng rường cột trong bộ máy quan lại phong kiến Việt Nam, VHVN chuyển sang đỉnh cao kiểu khác: văn hóa Nho giáo

o Các công trình nổi tiếng: Chùa Diên Hựu, tháo Bảo Thiên, chuông Quy Điền, tượng Phật Quỳnh Lâm thời Lý, chùa tháp Phổ Minh, tháp Bình Sơn thời Trần

o Kiến trúc: Văn Miếu – Quốc Tử Giám, hoàng thành Thăng Long, thành nhà Hồ, cung điện, lăng tẩm Huế

o Chữ Hán trở thành văn tự chính thức của nước ta suốt thời kỳ này Nền văn học bằng chữ Hán phát triển rực rỡ Bên cạnh đó, nhân dân ta sáng tạo ra chữ Nôm (khoảng

TK VIII – X) để ghi âm tiếng Việt Thành tựu văn học Nôm có các tác giả, tác phẩm tiêu biểu như Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát Đặc biệt là truyện Kiều (3254 câu thơ lục bát) của Nguyễn Du, đỉnh cao thơ văn dân tộc

o Văn hóa dân gian:

• Văn học truyển miệng tiếp tục phát triển: ca dao, tục ngữ, hò, vè,

• Nghệ thuật biểu diễn ca múa nhạc thời Lý -Trần phát triển phong phú, trong đó đặc sắc nhất là nghệ thuật múa rối nước ta có thời Lý

• Trò chơi nhân gian: đánh phết, đánh đu, chọi trâu, lò cò, ô ăn quan đến nay vẫn còn bắt gặp, nhất là trong hội làng

Trang 9

• Thủ công mĩ nghệ: đã nung được nhiều loại men gốm bền đẹp: men ngọc, men hoa nâu, men hoa nâu, men nhiều màu

• Hội họa: tranh dân gia Đông Hồ, Hàng trống

o Tóm lại, những thành tựu nói trên cho ta thấy văn hóa Đại Việt là sự tiếp nối và kiện toàn bản sắc truyền thống văn hóa Việt Nam đã có từ tiền sử, thể hiện một nền văn hóa rực rỡ, phong phú, độc đáo, mang đậm tính dân tộc và giàu tính dân gian; đồng thời khẳng định được bản sắc của một dân tộc đã trưởng thành, một quốc gia văn hiến, là cơ

sở và sức mạnh để hội nhập với thế giới tiên tiến bên ngoài

Thời kì Pháp thuộc (từ năm 1858 đến năm 1945)

Kể từ khi đặt nền cai trị trên cõi Đông Dương và Việt Nam đầu TK XX, văn hóa Phương Tây tự do tràn vào Việt Nam

o KH-XH-NV nước ta vốn có bề dày nhưng cần tiếp thu những phương pháp mới

o KH-TN-KT hầu như hoàn toàn mới được tiếp thu nhanh

o CS-HT-KT đường quốc lộ, nhà máy điện, nhà bưu điện, bắt đầu được đầu tư xây dựng

o Các trường học và trường cao đẳng được thành lập

o Tiếng Pháp được đưa vào giảng dạy trong các trường học

o Hệ chữ Quốc ngữ được sáng tạo ra đã góp phần giúp cho phong trào học tập, truyền bá văn hóa mới được nhanh chóng hơn

o Hệ tư tưởng dân chủ tự do tư sản truyền vào nước ta

o Văn học nghê thuật phương Tây ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn nghệ nước

ta vào giai đoạn 1930 – 1945

o Tư tưởng Mác – Lênin được tiếp thu sáng tạo vào Việt Nam qua những nhà trí thức giàu lòng yêu nước

 Nhìn chung dân ta đã chấp nhận Âu hóa, vừa chống Âu hóa trong những chừng mực nhất định, đảm bảo vừa tiến kịp tiến trình phát triển của thề giới vừa giữ gìn bản sắc dân tộc

Trang 10

VẤN ĐỀ 4: CÁC LOẠI HÌNH VĂN HÓA VIỆT NAM

Sự khác nhau cơ bản giữa loại hình văn hóa gốc du mục và loại hình văn hóa gốc nông nghiệp

Tiêu chí Văn hóa gốc nông nghiệp Văn hóa gốc du mục

=> Văn hóa nông nghiệp trồng trọt

Khí hậu lạnh khô, địa hình chủ yếu

là thảo nguyên thích hợp cho chăn nuôi phát triển

=> Văn hóa chăn nuôi du mục

Đặc điểm -Sống định cư, không thích di chuyển

-Phương thức sản xuất phụ thuộc vào nhiều yếu tố tự nhiên nên hình thành kiểu tư duy tổng hợp biện chứng

-Do tư duy tổng hợp biện chứng nên hình thành thái độ ứng xử linh hoạt mềm dẻo

-Sống du cư nên có thói quen thích

di chuyển =>trọng động

- Tham vọng chinh phục, chế ngự tự nhiên

- Yếu tố cá nhân được coi trọng

=> Hình thành lối sống thích ganh đua, cạnh tranh,ứng xử độc đoán trong giao tiếp

- Chăng nuôi du mục hình thành kiểu tư duy phân tích chú trọng vào từng yếu tố

- Do kiểu tư duy này nên hình thành lối sống trọng lý, ứng xử theo nguyên tắc

=> Thói quen tôn trọng pháp luật vì vậy mà hình thành rất sớm ở phương tây

Những ưu điểm và hạn chế của hai loại hình văn hóa gốc du mục và loại hình văn hóa gốc nông nghiệp

Tiêu chí Văn hóa gốc nông nghiệp Văn hóa gốc du mục

Ưu điểm - Mối gắn kết cộng đồng và tinh

thần đoàn kết cao

- Lỗi sống hòa bình, dĩ hòa vi quý

- Thích tìm tòi và chinh phục

tự nhiên

- Đề cao tài năng của c

Nhược điểm - Ngại thay đổi

- Không coi trọng tài năng, coi trọng kinh nghiệm,

- Không dám đấu tranh vì cái đúng do sợ mẫu thuẫn mất tình cảm

- Tính gắn kết cộng động thấp

- Chủ nghĩa cá nhân phát triển mạnh

Trang 11

Các nền văn hóa trên thế giới rất phong phú và đa dạng Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng Tuy nhiên, khi so sánh, ta thấy giữa các nền văn hóa khác nhau ít nhiều có những nét tương đồng Có nhiều thuyết khác nhau giải thích cho sự tương đồng này như: Thuyết khuếch tán văn hóa, Thuyết vùng văn hóa, Thuyết loại hình kinh tế- văn hóa Có nhiều thuyết khác nhau nhưng tựa chung đều thừa nhận trên thế giới đã hình thành hai loại hình Văn hóa: Văn hóa gốc nông nghiệp và Văn hóa gốc du mục

Văn hóa gốc nông nghiệp tồn tại chủ yếu ở phương Đông, văn hóa gốc du mục tồn tại ở phương Tây Sự khác biệt của hai loại hình văn hóa gốc xuất phát từ sự khác biệt về môi trường sống Môi trường sống của cư dân phương Đông là xứ nóng, sinh ra mưa nhiều, tạo nên những con song lớn với những vùng đồng bằng trù phú Còn phương Tây là xứ lạnh, khí hậu khô, không thích hợp cho động vật sinh trưởng, có chăng chỉ là những vùng đồng cỏ mênh mông Hai địa hình này khiến cho dân cư ở hai khu vực phải sinh sống bằng những nghề khác nhau:

trồng trọt và chăn nuôi

Việc sinh sống bằng những nghề khác nhau đã để lại những dấu ấn quan trọng trong đời sống văn hóa, tạo nên sự khác biệt lớn trong tính cách, suy nghĩ, thói quen… của dân cư ở hai

khu vực này

Ở loại hình văn hóa gốc du mục, trong ứng xử với tự nhiên, nghề chăn nuôi gia súc đòi hỏi

cư dân phải sống theo lối du cư, nay đây mai đó, ít phụ thuộc vào thiên nhiên nên sinh ra coi thường tự nhiên, dẫn đến tham vọng chinh phục tự nhiên, chế ngự thiên nhiên Ngược lại, ở loại hình văn hóa gốc nông nghiệp, nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, đơm hoa, kết trái và thu hoạch Do sống phụ thuộc vào thiên nhiên nên cư dân

nông nghiệp có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên

Về mặt nhận thức, nghề chăn nuôi du mục đồi hỏi sự khẳng định vai trò cá nhân, thêm vào

đó, dối tượng mà hàng ngày con người tiếp xúc là đàn gia súc với từng cá thể độc lập, từ đó hình thành kiểu tư duy phân tích, chú trọng vào từng yếu tố Kiểu tư duy này là cơ sở của sự phát triển của khoa học dựa trên những cơ sở khách quan, lý tính Trong khi đó, nghề trồng trọt của cư dân nông nghiệp phụ thuộc cùng lúc vào nhiều yếu tố: trời, đất, nắng, mưa,… đã hình thành kiểu tư duy tổng hợp- biện chứng Lối tư duy này thiên về kinh nghiệm chủ quan

hơn là các cơ sở khách quan và chứng cứ thực nghiệm

Trong tổ chức cộng đồng, cư dân vùng văn hóa gốc du mục vì lối sống du cư nên tính gắn kết cộng đồng không cao, yếu tố cá nhân được coi trọng, đẫn đến tâm lý ganh đua, cạnh tranh, độc đoán trong tiếp nhận, cứng rắn trong đối phó Cũng vì cuộc sống du cư nên coi trọng sức mạnh, kéo theo trọng tài, trọng võ, trọng nam giới; coi trọng vai trò cá nhân dẫn đến lối sống cạnh tranh, ganh đua khốc liệt Trong khi đó, cư dân vùng văn hóa gốc nông nghiệp với lối sống

ổn định lâu dìa nên có sự gắn kết cộng đồng chặt chẽ, trọng tình Từ đó dẫn đến trọng đức,

Trang 12

VẤN ĐỀ 5: TÓM TẮT CÁC ĐẶC TRƯNG CÁC VÙNG VĂN HÓA VIỆT NAM

Vùng Tây Bắc:

o Tự nhiên: Tây Bắc là một miền núi cao hiểm trợ Các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, với những ngọn núi cao trên 1000m Khí hậu lạnh quanh nam

o Dân tộc cư trú: gồm có khoảng dân tộc sinh sống tiêu biểu là: Thái, Mường, H’Mông

o Loại hình kinh tế: Cư dân cổ truyền, những chủ nhân từ xa xưa của Tây Bắc, đều làm nông nghiệp với hai loại hình: ruộng nước ở thung lũng và nương rẫy ở sườn núi.0

o Cư trú: ở gần với nguồn nước, gần với ruộng đễ dễ dàng chăm sóc và theo dõi Nhà ở vùng này là nhà sàn vì đặc tình của nhà sàn là có thể xây trên mọi địa hình là ở địa hình dốc

o Ẩm thực: cá nuôi trong ruộng vừa ăn sâu bọ cỏ dại, vừa sục bùn cho tốt lúa Cho nên,

món dâng cúng trong cơm mới bao giờ cũng có xôi và cá nướng và các món là biểu hiện lòng hiếu khách Ruộng nương chỉ giải quyết được lương thực và một phần rau xanh Thịt, cá, rau

và cả lương thực khi mất mùa, đều còn phải trông vào hái lượm săn bắt

o Trang phục: do ở đây chủ yếu là vùng đồi núi cao nên khí hậu quanh năm thường rất

thấp nên trang phục của người dân ở đây thường là áo dài tay, váy dài và được trang trí

nhiều hoa văn nhiều màu sắc

o Nghệ thuật: múa xòe, nhảy sạp, thổi kèn

o Tôn giáo: các dân tộc trong vùng đều có tín ngưỡng “mọi vật có linh hồn”, một loại tín

ngưỡng mà mọi dân tôc trên hành tinh đều trải qua Có đủ loại “hồn” và các loại thần sông núi, suối khe, đá, cây, súc vật, các lực lượng thiên nhiên như sấm, chớp, mưa, gió Các bộ

phận trên cơ thể con người cũng có hồn

o Tổ chức xã hội: do sống không tập trung nên tổ chức xã hội ở đây có phần rời rạc: nhà, bản, mường

Vùng Đông Bắc

o Tự nhiên: gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái

Nguyên Ngoài địa bàn các tỉnh kể trên ranh giới vùng văn hóa Đông Bắc còn bao gồm cả phần đồi núi của các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang và tỉnh Quảng Ninh Địa hình chủ

yếu là đồi núi và trung du

o Cư dân: cư dân chủ yếu ở vùng Đông Bắc là người Tày và Nùng Ngoài ra còn có một

số dân tộc ít người khác như Dao, H’Mông, Lô Lô, Sán Chày

o Kinh tế: nền nông nghiệp chủ yếu là nông nghiệp nương rẫy: ruộng bậc thang, ruộng giữa thung lũng

o Cư trú: Người Tày – Nùng có hai loại nhà chính là nhà sàn và nhà đất

o Ẩm thực: về mặt ăn uống, túy theo từng tộc người mà cách thức chế biến thức ăn và

khẩu vị của cư dân Đông Bắc có hương vị riêng Việc chế biến món ăn của cư dân Tày – Nùng, một mặt có những sáng tạo, một mặt tiếp thu kĩ thuật chế biến của các tộc lân cận như Hoa,

Việt: thịt quay, xôi ngũ sắc, rượu ngô, rượu cần,

Ngày đăng: 20/12/2017, 22:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w