1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

QUÁ TRÌNH đổi mới tư DUY lý LUẬN của ĐẢNG

80 569 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 335 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÍNH TẤT YẾU PHẢI ĐỔI MỚI TƯ DUY VỀ XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, BẢO VỆ TỔ QUỐC 1.1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ 1.1.1. Tình hình đất nước Sau 25 năm đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN (19862011), đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và quan trọng, thể hiện trên các mặt: Đảng và Nhà nước đã có những đổi mới về tư duy về quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc; thường xuyên nghiên cứu, đánh giá tình hình quốc tế, khu vực và trong nước; xác định rõ đối tượng tác chiến chiến lược, âm mưu, thủ đoạn và hành động phá hoại của các thế lực thù địch đối với nước ta; Về cơ bản đã phân tích, dự báo đúng các tình huống, có chủ trương, biện pháp xử lý kịp thời, có hiệu quả. Nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được củng cố. Tiềm lực quốc phòng, an ninh nhân dân trong khu vực tỉnh, thành phố được tăng cường. Đã chú ý phát triển tiềm lực khoa học công nghệ, coi trọng đầu tư công nghệ tiên tiến, hiện đại, tạo năng lực mới cho phát triển công nghiệp quốc phòng. Tuy nguồn tài chính hạn chế, song đã nỗ lực lớn trong việc mua sắm trang bị vũ khí, khí tài cho các lực lượng vũ trang. Việc kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh, quốc phòng an ninh với kinh tế ngày càng chặt chẽ hơn. Triển khai tích cực hoạt động đối ngoại quân sự, mở rộng quan hệ với quân đội các nước trong khu vực và một số nước trên thế giới (đối thoại quốc phòng ADMM…), tích cực tham gia các hoạt động ngoại giao đa phương, góp phần tạo môi trường hòa bình và ổn định, phát triển trong khu vực và trên thế giới. Đã điều chỉnh về chiến lược, bố trí lại thế trận, giảm được một lực lượng lớn quân thường trực; xây dựng, bổ sung các quyết tâm, kế hoạch bảo vệ Tổ quốc; bố trí lực lượng và tăng cường tổ chức phòng thủ trên các khu vực trọng điểm theo yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài... Chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu của quân đội nhân dân và công an nhân dân không ngừng được nâng cao. Đã duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, quản lý chặt chẽ vùng trời, vùng biển, biên giới; triển khai đồng bộ chủ trương, biện pháp đấu tranh phòng chống chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch… Đã triển khai kịp thời, đồng bộ, có kết quả chủ trương xây dựng phòng tuyến biên giới; khu kinh tế quốc phòng; đường tuần tra biên giới. Công tác giáo dục quốc phòng được triển khai sâu rộng ở các cấp, các ngành. Việc bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho các đối tượng, nhất là cán bộ chủ chốt các Bộ, Ngành, địa phương được thực hiện tích cực, có chương trình, giáo trình phù hợp, thống nhất, đạt kết quả thiết thực. Tuy nhiên, công tác nghiên cứu dự báo chiến lược về quốc phòng, an ninh chưa theo kịp diễn biến của tình hình. Sự phối hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong giải quyết một số vấn đề cụ thể thiếu chặt chẽ. Nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân tuy được xây dựng, củng cố nhưng chưa toàn diện và vững chắc. Việc kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại chưa có một cơ chế thống nhất, đồng bộ nên kết quả, hiệu quả còn nhiều hạn chế. Việc xây dựng khu vực phòng thủ trên một số hướng chiến lược và địa bàn trọng điểm chưa thực sự cơ bản và đồng bộ. Hiệu quả ứng dụng vào thực tiễn một số công trình, đề tài khoa học, trình độ công nghệ, năng lực sửa chữa, sản xuất vũ khí trang bị kỹ thuật còn thấp, chưa có khả năng nghiên cứu, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong lực lượng vũ trang nhân dân có lúc chưa kịp thời, thiếu chiều sâu, thiếu sắc bén, thiếu tính chiến đấu nên kết quả còn thấp. Sức mạnh tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội có mặt chưa đáp ứng đầy đủ yêu

Trang 1

QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG

VỀ XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG THỜI KỲ MỚI

Chương 1 TÍNH TẤT YẾU PHẢI ĐỔI MỚI TƯ DUY VỀ XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, BẢO VỆ TỔ QUỐC

1.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ

1.1.1 Tình hình đất nước

Sau 25 năm đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN 2011), đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và quan trọng, thể hiệntrên các mặt:

(1986-Đảng và Nhà nước đã có những đổi mới về tư duy về quốc phòng, anninh bảo vệ Tổ quốc; thường xuyên nghiên cứu, đánh giá tình hình quốc tế,khu vực và trong nước; xác định rõ đối tượng tác chiến chiến lược, âm mưu,thủ đoạn và hành động phá hoại của các thế lực thù địch đối với nước ta; Về

cơ bản đã phân tích, dự báo đúng các tình huống, có chủ trương, biện pháp

xử lý kịp thời, có hiệu quả

Nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thếtrận an ninh nhân dân tiếp tục được củng cố Tiềm lực quốc phòng, an ninhnhân dân trong khu vực tỉnh, thành phố được tăng cường Đã chú ý pháttriển tiềm lực khoa học - công nghệ, coi trọng đầu tư công nghệ tiên tiến,hiện đại, tạo năng lực mới cho phát triển công nghiệp quốc phòng Tuynguồn tài chính hạn chế, song đã nỗ lực lớn trong việc mua sắm trang bị vũkhí, khí tài cho các lực lượng vũ trang

Việc kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninhvới kinh tế ngày càng chặt chẽ hơn Triển khai tích cực hoạt động đối ngoại

Trang 2

quân sự, mở rộng quan hệ với quân đội các nước trong khu vực và một sốnước trên thế giới (đối thoại quốc phòng ADMM…), tích cực tham gia cáchoạt động ngoại giao đa phương, góp phần tạo môi trường hòa bình và ổnđịnh, phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Đã điều chỉnh về chiến lược, bố trí lại thế trận, giảm được một lựclượng lớn quân thường trực; xây dựng, bổ sung các quyết tâm, kế hoạch bảo

vệ Tổ quốc; bố trí lực lượng và tăng cường tổ chức phòng thủ trên các khuvực trọng điểm theo yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài

Chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu của quân đội nhân dân và công

an nhân dân không ngừng được nâng cao Đã duy trì nghiêm chế độ sẵn sàngchiến đấu, quản lý chặt chẽ vùng trời, vùng biển, biên giới; triển khai đồng

bộ chủ trương, biện pháp đấu tranh phòng chống chiến lược diễn biến hòabình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch…

Đã triển khai kịp thời, đồng bộ, có kết quả chủ trương xây dựng phòngtuyến biên giới; khu kinh tế - quốc phòng; đường tuần tra biên giới

Công tác giáo dục quốc phòng được triển khai sâu rộng ở các cấp, cácngành Việc bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho các đối tượng, nhất là cán

bộ chủ chốt các Bộ, Ngành, địa phương được thực hiện tích cực, có chươngtrình, giáo trình phù hợp, thống nhất, đạt kết quả thiết thực

Tuy nhiên, công tác nghiên cứu dự báo chiến lược về quốc phòng, anninh chưa theo kịp diễn biến của tình hình Sự phối hợp giữa quốc phòng, anninh và đối ngoại trong giải quyết một số vấn đề cụ thể thiếu chặt chẽ

Nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thếtrận an ninh nhân dân tuy được xây dựng, củng cố nhưng chưa toàn diện vàvững chắc Việc kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại chưa có một

cơ chế thống nhất, đồng bộ nên kết quả, hiệu quả còn nhiều hạn chế

Trang 3

Việc xây dựng khu vực phòng thủ trên một số hướng chiến lược và địabàn trọng điểm chưa thực sự cơ bản và đồng bộ.

Hiệu quả ứng dụng vào thực tiễn một số công trình, đề tài khoa học,trình độ công nghệ, năng lực sửa chữa, sản xuất vũ khí trang bị kỹ thuật cònthấp, chưa có khả năng nghiên cứu, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật côngnghệ cao

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong lực lượng vũ trang nhân dân

có lúc chưa kịp thời, thiếu chiều sâu, thiếu sắc bén, thiếu tính chiến đấu nênkết quả còn thấp

Sức mạnh tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội có mặtchưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của nhiệm vụ mới Sức cơ động của bộ độichưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu tác chiến chống chiến tranh bằng vũ khícông nghệ cao

Việc tổ chức, huấn luyện lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ cómặt còn yếu, kết quả chưa cao, khả năng tự độc lập tác chiến của khu vựcphòng thủ còn hạn chế

1.1.2 Tình hình thế giới, khu vực có liên quan

Tình hình thế giới

Khái quát tình hình thế giới về chiến tranh, xung đột quân sự, chốngkhủng bố và chiến lược của các nước lớn như Mỹ, Nga, Trung Quốc,… vềchính trị, kinh tế, quân sự

Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ Xu thếtoàn cầu hóa ngày càng gia tăng Khoảng cách giàu nghèo giữa các nướcgiàu và nước nghèo ngày càng mở rộng Kinh tế thế giới chưa thoát khỏicuộc khủng hoảng, suy thoái kéo dài, tình trạng nợ công chưa được giảiquyết… xuất hiện nhiều mối đe dọa an ninh phi truyền thống

Tình hình khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và Đông Nam Á

Trang 4

Bên cạnh xu thể hợp tác chiếm vai trò chủ đạo, sự tranh chấp chủ quyềnbiển đảo giữa các nước đã gây nên tình hình căng thẳng, đe dọa sự toàn vẹnlãnh thổ và chủ quyền của nhiều nước; tiềm ẩn những nguy cơ, nhân tố gâymất ổn định.

1.2 KHÁI NIỆM VỀ QUỐC PHÒNG, CHIẾN LƯỢC QUỐCPHÒNG, QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VÀ CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔQUỐC

1.2.1 Khái niệm quốc phòng

Quốc phòng là công cuộc giữ nước của một quốc gia, gồm tổng thể

hoạt động đối nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, khoahọc… của nhà nước và nhân dân để phòng thủ đất nước, tạo nên sức mạnhtoàn diện, cân đối, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, nhằm giữ vữnghòa bình, đẩy lùi ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù và sẵn sàngđánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức, quy mô Quốc phòngtrở thành hoạt động của nhà nước, trong đó lực lượng vũ trang làm nòng cốt.Quốc phòng phải kết hợp chặt chẽ với an ninh để bảo vệ đất nước, bảo vệchế độ Quốc phòng, an ninh phải kết hợp chặt chẽ với kinh tế để bảo vệ vàxây dựng đất nước Tổ chức quốc phòng của mỗi nước phụ thuộc trực tiếpvào chế độ chính trị - xã hội, truyền thống dân tộc và hoàn cảnh cụ thể củamỗi nước Nhiều nước quan niệm quốc phòng là một bộ phận của an ninhquốc gia.1

1.2.2 Khái niệm chiến lược quốc phòng

Chiến lược quốc phòng là chiến lược phòng thủ quốc gia trong từng

thời kỳ bằng sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cáccấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị, trong đó sức mạnh quân sự là đặc

1 Bộ Quốc phòng, Trung tâm Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam: Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam,

Nxb quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.848.

Trang 5

trưng, các lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, nhằm ngăn chặn, đầylùi, đập tan mọi âm mưu, hành động chống đối, phá hoại của các thế lực thùđịch, kể cả khi chúng gây ra chiến tranh xâm lược dưới mọi quy mô, hìnhthức nào, đảm bảo cho đất nước có hòa bình, ổn định, trật tự, an toàn xã hội,môi trường thuận lợi để xây dựng và phát triển mọi mặt.

Chiến lược quốc phòng của nước ta là sự cụ thể hóa các đường lốichính trị, quân sự, quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, xây dựng lựclượng vũ trang nhân dân của Đảng ta trong việc xây dựng, tổ chức, độngviên, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước cho sự nghiệp bảo vệ Tổquốc XHCN Đó là chiến lược phòng thủ quốc gia theo tư tưởng cách mạngtiến công, chủ động và kiên quyết đối phó với mọi thế lực thù địch, trong cảthời bình và thời chiến

Đặc trưng của chiến lược quốc phòng ở nước ta là tính toàn dân, toàn diện, hiện đại, nhằm mục đích tự vệ chính đáng, gắn chặt giữa xây dựng đất nước với bảo vệ tổ quốc XHCN (5 đặc trưng).

Chiến lược quốc phòng có tính tổng hợp rất cao, được hoạch định dựatrên cơ sở lý luận và thực tiễn là đường lối của Đảng về xây dựng đất nước

và bảo vệ tổ quốc XHCN; căn cứ vào tình hình thế giới và khu vực có liênquan; căn cứ vào thực trạng quốc phòng - an ninh nước ta và căn cứvào dựbáo nguy cơ và tình huống chiến lược

1.2.3 Khái niệm quốc phòng toàn dân

Quốc phòng toàn dân là nền quốc phòng mang tính chất “vì dân, do

dân, của dân”, phát triển theo phương hướng toàn dân, toàn diện, độc lập, tựlực, tự chủ, tự cường và ngày càng hiện đại, kết hợp chặt chẽ kinh tế vớiquốc phòng và an ninh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hànhcủa nhà nước, do nhân dân làm chủ, nhằm giữ vững hòa bình, ổn định củađất nước, sẵn sàng đánh bại mọi hành động, xâm lược và bạo loạn lật đổ của

Trang 6

các thế lực đế quốc và phản động bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xãhội chủ nghĩa Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là quan điểm cơ bản chỉđạo việc xây dựng nền quốc phòng của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩaViệt Nam, thuộc trách nhiệm của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, trong

đó lực lượng vũ tranh nhân dân là nòng cốt.2

1.2.4 Khái niệm chiến lược bảo vệ Tổ quốc

Tổ quốc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin: Tổ quốc baogiờ

cũng gắn với giai cấp Vì vậy, phải đứng trên quan điểm giai cấp để bànvề

Tổ quốc và bảo vệ Tổ quốc

Tổ quốc là một phạm trù lịch sử - Đó là mảnh đất thân thuộc và tài

nguyên của nó, là môi trường xã hội, chính trị, văn hóa mà trong đó nhândânđang sống, lao động cùng với ngôn ngữ của họ

Tổ quốc là một hiện tượng lịch sử, tồn tại trên một lãnh thổ với dân cư

và các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định Các yếu tố này được hìnhthành trong quá trình lịch sử gắn với sự hình thành các dân tộc, quốc giatrong Tổ quốc đó Đây là mặt bản chất tự nhiên, bản chất nhân dân củaTổquốc

Tổ quốc bao giờ cũng gắn với một chế độ xã hội, với cơ sở hạ tầng vàkiến trúc thượng tầng Trong xã hội có giai cấp đối kháng, giai cấp nàothống trị về kinh tế thì cũng là giai cấp thống trị về chính trị, và chính giaicấp đó chi phối mọi mặt của Tổ quốc Đây là mặt bản chất giai cấp của Tổquốc

Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là giữ gìn những thành quả mà giai

cấp công nhân và nhân dân lao động đã đạt được trong cuộc đấu tranhvớigiai cấp tư sản; đồng thời chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn hành động phá

2 Bộ Quốc phòng, Trung tâm Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam: Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam,

Nxb quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.848.

Trang 7

hoại của các thế lực thù địch nhằm xây dựng xã hội mới dưới sự lãnh đạocủa Đảng Cộng sản.

Chiến lựơc bảo vệ Tổ quốc là mưu lược (kế sách) của Đảng và Nhà

nước xác định mục tiêu, quy tụ lực lượng và lựa chọn giải pháp có tính khảthi, nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi đường lối nhiệm vụquốc phòng- an ninh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc; giữ vững hòa bình ổnđịnh đất nước; ngăn chặn, đẩy lùi chiến tranh, làm thất bại mọi âm mưu diễnbiến hòa bình, bạo loạn lật đổ, ly khai, can thiệp, xâm lược của giặc ngoài,thù trong, phục vu cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.1.3 TƯ DUY VỀ NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ QUỐCPHẢI ĐỔI MỚI THEO TƯ DUY VỀ NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC XÂYDỰNG CHỦ NGĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Đại hội lần thứ V của Đảng Cộng sản Việt Nam (3-1982) đã đề ra hainhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam: “Một làxây dựng thành công CNXH Hai là sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổquốc Việt Nam XHCN”

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ V phân tích rõ mối quan hệ mật thiếtgiữa hai nhiệm vụ chiến lược: “Phải xây dựng chủ nghĩa xã hội đạt nhữngkết quả thiết thực làm cho đất nước ta mạnh lên về mọi mặt và trong mọihoàn cảnh thì mới có đủ sức bảo vệ vững chắc Tổ quốc Ngược lại có tăngcường phòng thủ đất nước… bảo đảm cho đất nước luôn luôn được bảo vệvững chắc thì mới có điều kiện để xây dựng thành công CNXH” Về mốiquan hệ đó, Nghị quyết Đại hội xác định: “Trong khi không một phút lơi

lỏng nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta và nhân dân

ta phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội Bởi vì

CNXH không những là mục đích của toàn bộ sự nghiệp của chúng ta mà còn

Trang 8

vì CNXH, sự vững mạnh của chế độ XHCN là bảo đảm cho độc lập và tự docủa Tổ quốc”3

Từ đây, “hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giaiđoạn mới” đã trở thành nhiệm vụ chính trị của cách mạng Việt Nam đượccác đại hội Đảng tiếp sau kế tục và phát triển, dù có bổ sung đường lối vàđổi mới tư duy cũng không thay đổi nhiệm vụ chính trị nói trên và quanđiểm xác định mối quan hệ mật thiết giữa hai nhiệm vụ chiến lược của cáchmạng Việt Nam

Tư duy về quốc phòng thực chất là tư duy về “nhiệm vụ chiến lược thứhai” của cách mạng Việt Nam, là tư duy về nhiệm vụ “bảo vệ vững chắc Tổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” mà Đại hội V của Đảng đã xác định lànhiệm vụ “không một phút lơi lỏng” Nhưng điều quan trọng mà tư duy

quốc phòng phải nắm vững để bảo vệ cho vững chắc là “Đảng ta và nhân

dân ta phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội”.Đặt

lên hàng đầu có nghĩa là nhiệm vụ “bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt NamXHCN” phải phụ thuộc vào nhiệm vụ xây dựng thành công CNXH”, khôngngừng phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ đó Khi tư duy về xây dựng chủ nghĩa

xã hội còn nằm trong cơ chế bao cấp, trong khuôn khổ hệ thống XHCNvững mạnh thì tư duy về nhiệm vụ “bảo vệ Tổ quốc” cũng phải chấp hànhmọi quan điểm, chính sách do cơ chế đó xác định Nhưng khi cơ chế trênđây đã chuyển sang một dạng thức mới trong một tình thế không còn nhưtrước thì tư duy về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc tất phải theo đó tự điều chỉnhcho phù hợp

Từ Đại hội Đảng lần thứ V đến nay, nhiệm vụ chiến lược thứ nhất củacách mạng Việt Nam đã trải qua rất nhiều thay đổi, đất nước đã thực sự

“mạnh lên về mọi mặt cả về thực lực và vị thế” Tư duy về xây dựng chủ

3 Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ II, tập I, Nxb Sự Thật H 1982 Tr 47

Trang 9

nghĩa xã hội đã có nhiều sự đổi mới quan trọng thì tư duy về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đương nhiên cũng phải có sự đổi mới tương ứng:

Khi cả thực lực và vị thế của Việt Nam đã phát triển khác trước, địa vịcủa cách mạng Việt Nam đã được nâng lên một tầm cao mới trước con mắtnhân dân toàn thế giới, tư duy chỉ đạo cách mạng Việt Nam đã có bước đổimới toàn diện thì tư duy về quốc phòng tất phải tự điều chỉnh cho phù hợp.Thường xuyên cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu xưa nay vốn là ý thứcthường trực của tư duy quốc phòng Như lời Chủ tịch nước Nguyễn MinhTriết căn dặn khi đến thăm và làm việc với Tổng cục Chính trị Quân độinhân dân Việt Nam ngày 27-8-2007: “Kẻ thù không bao giờ để cho chúng ta

có không khí yên bình… có những thế lực luôn muốn phá hoại công cuộc

xây dựng hoà bình của đất nước ta Vì vậy cần luôn luôn nêu cao cảnh giác,hiểu rõ ngay trong hoà bình, kẻ thù vẫn không ngừng phá hoại Không đểxảy ra những tình huống bất ngờ, luôn rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng caotrình độ sắn sàng chiến đấu, cùng các lực lượng khác đập tan mọi âm mưuthủ đoạn của các thế lực thù địch ” Nhưng ngày nay, hơn lúc nào hết, đấtnước cần một môi trường hoà bình ổn định để thu hút đầu tư, mở rộng sản

xuất… nhanh chóng thoát khỏi tình trạng kém phát triển vào năm 2010.

Điều đó đòi hỏi tư duy quốc phòng phải quán triệt cách xem xét mới về đốitác và đối tượng của Nghị quyết Trung ương tám, khoá IX về “Chiến lượcbảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, kết hợp ý thức cảnh giác sẵn sàngchiến đấu với bảo vệ sản xuất, bảo vệ mọi đối tác làm ăn lương thiện, đúngluật pháp trên đất nước ta, không vì “cảnh giác” mà gây trở ngại cho cáchoạt động đó

1.4 TƯ DUY VỀ QUỐC PHÒNG PHẢI PHÁT TRIỂN THEO SỰPHÁT TRIỂN PHƯƠNG THỨC TIẾN CÔNG CỦA ĐỐI TƯỢNG CHIẾNLƯỢC

Trang 10

Tư duy về quốc phòng (còn gọi là tư duy về bảo vệ Tổ quốc XHCN)phải đổi mới theo sự đổi mới của tư duy xây dựng CNXH trên đất nước ta.

Đó là mặt chủ quan của mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược của cách

mạng Việt Nam Mặt khách quan của mối quan hệ là những mối đe doạ

đối với hoà bình ổn định của đất nước, của chế độ thường phát sinh ngoài

ý muốn của ta, những mối đe doạ diễn ra mỗi thời lại khác, xét về cả đối tượng và âm mưu thủ đoạn, mà tư duy về quốc phòng phải thường xuyên bám sát và chủ động chuyển hướng cả về chiến lược và chiến thuật

Năm 1986, khi Đảng ra nghị quyết về đổi mới toàn diện, hệ thốngXHCN đang xúc tiến các hoạt động cải tổ, “Hội đồng tương trợ kinh tế” docác nước XHCN thành lập còn phát huy tác dụng Sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Việt Nam vẫn lấy hệ thống XHCN làm chỗ dựa Việt Namlúc đó còn phải đương đầu với những hoạt động chống phá quyết liệt từ cảbên trong và bên ngoài Mỹ tiếp tục cuộc bao vây, cấm vận, chưa bìnhthường hoá quan hệ với Việt Nam Thế trận quốc phòng nằm trong tìnhtrạng vừa phải chỉ huy và bảo đảm cho các mặt trận phía trước, vừa phải bảo

vệ hậu phương, chống lại “kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt” của các thếlực thù địch, sẵn sàng đánh bại chiến tranh xâm lược quy mô lớn

Trong tình hình đó, dù Đại hội Đảng đã có nghị quyết đổi mới toàndiện, tư duy về quốc phòng vẫn phải xuất phát từ thực tiễn áp lực đang đedoạ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ mà xác định nhiệm vụ Bướcvào những năm 90, những biến cố trong phe XHCN và ở Liên Xô đã đẩy tavào thế không còn chỗ dựa, trong khi đất nước chưa ra khỏi khủng hoảng

kinh tế - xã hội Tư duy về quốc phòng tất phải căn cứ vào bối cảnh đất nước

lúc đó mà tiếp tục ứng xử trước những nguy cơ đang đe doạ sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

Trang 11

Chương 2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, THỰC HIỆN NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

2.1 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG VỀXÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, THỰC HIỆN NHIỆM

VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC

2.1.1 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986)

Đại hội chủ trương về xây dựng nền quốc phòng toàn dân được xácđịnh một cách cụ thể trong mối quan hệ chặt chẽ với nhiệm vụ xây dựng đấtnước: chúng ta phải thấu suốt quan điểm “Toàn dân xây dựng đất nước vàbảo vệ Tổ quốc”, “Toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước” Pháthuy sức mạnh tổng hợp của đất nước, của hệ thống chuyên chính vô sảntrong việc đẩy mạnh xây dựng hậu phương toàn diện được coi là nhiệm vụ

có tính chiến lược trong thời kỳ mới

2.1.2 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991)

Trong khi quan tâm đến việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân trênbình diện rộng, trên toàn bộ lãnh thổ, để chủ động bảo vệ vững chắc nền độclập, chủ quyền quốc gia trong mọi tình huống, Đảng ta còn nhấn mạnh tớiviệc xây dựng các khu phòng thủ ở các địa phương; sự cần thiết phải xâydựng các công trình quốc phòng trọng điểm, không ngừng nâng cao chấtlượng tổng hợp và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang, xây dựng quân độinhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, với cơ cấu tổchức và quân số hợp lý

2.1.3 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996)

Trang 12

Đại hội đã đề ra những quan điểm chỉ đạo nhiệm vụ xây dựng nền quốcphòng toàn dân và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN:+ Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam làxây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.+ Kết hợp quốc phòng và an ninh với kinh tế.

+ Gắn nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh, hai nhiệm vụ đó cóliên quan chặt chẽ với nhau trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc; phối hợp chặtchẽ hoạt động quốc phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại

+ Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọngyếu thường xuyên của cả hệ thống chính trị

+ Hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ Tổ quốc; thể chế hoá các chủtrương, chính sách của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân và anninh nhân dân Tăng cường quản lý nhà nước về quốc phòng và an ninh.+ Thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng, tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng đối với quân đội và công an, đối với củng cố quốc phòng và an ninh

2.1.4 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4-2001)

Đại hội đề ra chủ trương lớn về thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, anninh trong thời kỳ mới: “Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ vữngchắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốcgia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân,

và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc”; nhấn mạnh tớinhiệm vụ kết hợp kinh tế với quốc phòng và an ninh, quốc phòng và an ninhvới kinh tế trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội Phối hợp hoạt động quốc phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại Hội nghị Trung ương lần thứ tám, khoá IX đề ra 6 quan điểm chỉ đạo:

Một là, giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối và trực tiếp về mọi mặt của

Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

Trang 13

Hai là, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, lấy

việc giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội làlợi ích cao nhất của Tổ quốc

Ba là, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ

quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Bốn là, xây dựng sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc, lấy lực lượng

vũ trang làm nòng cốt

Năm là, ra sức phát huy nội lực, đồng thời tranh thủ tối đa nhằm khai

thác mọi thuận lợi ở bên ngoài, quán triệt đường lối độc lập tự chủ, kiên trìchính sách đối ngoại mở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá

Sáu là, chủ động phòng ngừa, sớm phát hiện và triệt tiêu những nhân tố

bên trong có thể dẫn đến những đột biến bất lợi

2.1.5 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (4-2006)

- Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, làm rõ quan điểm nhận thức về xâydựng nền quốc phòng toàn dân; sức mạnh tổng hợp của quốc phòng toàn dân

và chiến tranh nhân dân trong điều kiện mới

- Xây dựng nền quốc phòng toàn dân phải lấy nhiệm vụ phát triển kinh

tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng củng cố quốc phòng

là trọng yếu, thường xuyên

- Thống nhất đánh giá đối tượng, đối tác trong xây dựng nền quốcphòng toàn dân

- Chủ động dự báo đúng các tình huống chiến lược, trên cơ sở nắmvững âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, những biến động của tìnhhình thế giới và trong nước tác động đến nhiệm vụ quốc phòng

Từ những yêu cầu mới đó, Nghị quyết Đại hội đã đề ra những giải phápchủ yếu để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bao gồm:

Trang 14

- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý, điều hànhcủa Nhà nước trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân

- Phát huy sức mạnh tổng hợp xây dựng tiềm lực quốc phòng

- Đẩy nhanh xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân

- Đẩy mạnh xây dựng lực lượng quốc phòng, tập trung xây dựng lựclượng vũ trang nhân dân theo yêu cầu mới

- Phối hợp các lực lượng, cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao, chủ độngngăn ngừa và đối phó hiệu quả mọi tình huống

2.1.6 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI

Đại hội xác định: Tăng cường quốc phòng an ninh là nhiệm vụ trọngyếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, trong đó quân độinhân dân, công an nhân dân là nòng cốt

2.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔQUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

2.2.1 Những căn cứ để hoạch định chiến lược bảo vệ Tổ quốc

2.2.1.1 Học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ

Tổ quốc

C Mác, Ăng ghen sống trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnhtranh, các nước tư bản lớn nhất lúc này phát triển tương đối đồng đều, mâuthuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản trong các nước đó có độ chinmuồi ở trình độ không chênh lệch nhau, khi mà giai cấp chưa trở thành giaicấp cầm quyền, chưa có quốc gia, chưa có quyền lực nhà nước Vì thế, CMác và Ph Ăng ghen cho rằng, cách mạng vô sản không những sẽ có tínhdân tộc mà còn sẽ đồng thời xảy ra ở tất cả các nước văn minh nhất, nhưAnh, Pháp, Mỹ, Đức… và cách mạng vô sản là một cuộc cách mạng có

tínhchất toàn thế giới Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, các nhà lý luận Mác xít viết: "Công nhân không có Tổ quốc Người ta không thể

Trang 15

cướp của họ cái mà họ không có Vì thế giai cấp vô sản mỗi nước trước hết

phải giành lấy chính quyền, phải tự xây dựng thành một giai cấp dân tộc”.Qua kinh nghiệm Công xã Pari năm 1871, C.Mác, Ph.Ăng ghen chorằng, sau khi giành được chính quyền giai cấp vô sản phải nhanh chóngcủng cố nền chuyên chính vô sản, củng cố khối liên minh công nông, giảigiáp quân đội cũ, vũ trang toàn dân, thành lập các đội dân cảnh, xây dựng xãhội mới, kiên quyết tiến công đập tan mọi hành động phản kháng của giaicấp tư sản Đó là những tư tưởng ban đầu về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủnghĩa của C.Mác, Ph.Ăng ghen

V.I Lê nin phát hiện quy luật phát triển không đều về kinh tế, chính trịcủa chủ nghĩa tư bản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và đi đến kết luận hếtsức quan trọng: Trong điều kiện lịch sử mới, giai cấp vô sản có thể giànhđược chính quyền ở mắt xích yếu nhất của chủ nghĩa tư bản, tức là cáchmạng vô sản có thể thành công ở một nước, thậm chí ở một nước có trình độphát triển chưa cao Thực tiễn ở nước Nga, cách mạng vô sản Nga thànhcông vào tháng 10năm 1917

Học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một cống hiến mới củaV.I Lê nin vào kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổquốc xã hội chủ nghĩa đang đặt ra trực tiếp ở nước Nga Xô viết ngay sau khicách mạng vô sản Nga thành công năm 1917

Xuất phát từ quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đôi với bảo vệ

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, V I Lê nin là người có công đóng góp to lớn trongviệc bảo vệ và phát triển học thuyết về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩatrong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, Người khẳng định: "Kể từ ngày 25 tháng

10 năm 1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ Tổ quốc Chúng tatán thành "bảo vệ Tổ quốc", nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta

Trang 16

đang đi tới là một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệchủ nghĩa xã hội với tư cách là Tổ quốc".

Ngay sau khi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi, nhà nước củagiai cấp công nhân và nhân dân lao động được thiết lập thì Tổ quốc xã hộichủ nghĩa cũng bắt đầu hình thành Giai cấp công nhân bắt tay vào công

cuộc cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa.

Cùng với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xãhội chủ nghĩa cũng được đặt ra một cách trực tiếp, nó trở thành nhiệm vụchiến lược của các nước xã hội chủ nghĩa Hai nhiệm vụ chiến lược này gắn

bó hữu cơ với nhau trong suốt quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa

Xuất phát từ bản chất, âm mưu của kẻ thù và thực tiễn cách mạng thếgiới, sự thắng lợi cửa cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp tư sản trongnước tuy đã bị đánh đổ về mặt chính trị, nhưng chúng vẫn chưa từ bỏ thamvọng muốn quay trở lại địa vị thống trị đã mất Do vậy, chúng tìm mọi cáchliên kết với các phần tử phản động và chủ nghĩa tư bản bên ngoài hòng lật

đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ của giai cấp công nhân Thực tiễnlịch sử đã chứng minh rằng, từ khi Tổ quốc xã hội chủ nghĩa xuất hiện, nhândân các nước xã hội chủ nghĩa phải đương đầu chống trả những âm mưu vàhành động lật đổ, xâm lược của kẻ thù bên trong và bên ngoài Sau thắng lợicủa Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, mười bốn nước đế quốc tậptrung bao vây hòng tiêu diệt nước Nga Xô viết Từ khi chủ nghĩa xã hội pháttriển thành hệ thống thế giới, sự chống phá của kẻ thù càng quyết liệt hơn

Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đong Âu là một tổn thất củaphong trào cách mạng thế giới, song nó cũng để lại cho các nước xã hội chủnghĩa những bài học đắt giá rằng: xây dựng chủ nghĩa xã hội phải luôn gắnliền với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Có như vậy, Tổ quốc xã hội chủnghĩa mới tồn tại và phát triển Thực tiễn trên đây một lần nữa đã chứng

Trang 17

minh cho luận điểm của V I Lên ỉn rằng: giành chính quyền đã khó, nhưnggiữ được chính quyền còn khó khăn hơn.

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là sựvận dụng sáng tạo Học thuyết Mác- Lê nin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủnghĩa vào tình hình thực tiễn của cách mạng Việt Nam

Trong điều kiện lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam, vận dụng sángtạo học thuyết Mác – Lê nin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, kế thừatinh hoa truyền thống dân tộc, nắm vững quy luật tồn tại và phát triển củadân tộc Việt Nam “dựng nước phải đi đôi với giữ nước", Chủ tịch Hồ ChíMinh, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đã đưa ra hệ thốngquan điểm, tư tưởng, làm cơ sở cho đường lối của Đảng trong lĩnh vực bảo

vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiêu biểu cho ý chí, quyết tâm giải phóng dântộc, quyết tâm bảo vệ đất nước, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩacủa nhân dân ta Điều đó được thể hiện đậm nét trong nhiều bài nói, bài viết,trong các hoạt động thực tiễn của Người Những điều Chủ tịch Hồ Chí Minhtừng nhấn mạnh đã trở thành chân lý, thôi thúc ý chí, quyết tâm của cả dântộc: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữlấy nước" Ý chí giữ nước của Người rất sâu sắc và kiên quyết Trong Lờikêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946, Người nói: “Chúng ta thà

hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm

nô lệ Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên "; Dù hy sinh đến đâu, dù

phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độclập; Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì chúng ta còn phải tiếp tụcchiến đấu quét sạch nó đi

Vận dụng sáng tạo học thuyết về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Chủtịch Hồ Chí Minh chủ trương kiên quyết bảo vệ chính quyền nhân dân và

Trang 18

chủ quyền dân tộc, thực hiện nguyên tắc “dĩ nhu xử cương, dĩ bất biến ứng

vạn biến", hết sức tranh thủ thời gian hòa hoãn xây dựng lực lượng mọi mặt

cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Người cùng với Trung ương Đảng đưa rahàng loạt các biện pháp xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, tổchức tổng tuyển cử bầu Quốc hội, thông qua hiến pháp; kiên quyết chống

giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc dốt, ra chỉ thị Kháng chiến kiến quốc đồng thời quyết định chủ trương Hòa để tiến;quyết định ký Hiệp định Sơ bộ 6-3-

1946; Tạm ước 14-9-1946 để có thời gian chuẩn bị kháng chiến, bảo vệchính quyền

Cùng với việc khẩn trương xây dựng các tiềm lực chính trị, kinh tế, vănhóa, xã hội, xây dựng tinh thần kháng chiến của toàn dân, Chủ tịch Hồ ChíMinh hết sức coi trọng xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng

bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, đồng thời tích cực thựchiện các biện pháp ngoại giao, lợi dụng mâu thuẫn nội bộ kẻ thù, phân hóachúng, cũng như hết thức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thếgiới đối với cách mạng nước ta lúc đó

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt trong tưtưởng Hồ Chí Minh Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là trách nhiệm, nghĩa

vụ của mỗi công dân Việt Nam Trong Bản Tuyên ngôn Độc lập, Ngườikhẳng định: "Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lựclượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy" Khi thựcdân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, Người kêu gọi: Hễ là người ViệtNam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp cứu Tổ quốc

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã chỉ ra một chân lý rằng : "Không có gì quý hơn độc lập tự do" “Hễ cònmột tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét

sạch nó đi" Trước khi đi xa, trong bản Di chúc, Người căn dặn: "Cuộc

Trang 19

kháng chiến chống Mĩ cứu nước có thể còn kéo dài, đồng bào ta có thể phải

hy sinh nhiều của nhiều người Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh thắnggiặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn" Người kêu gọi nhân dân cả nước quyếttâm chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn để giải phóng miền Nam, bảo vệ miềnBắc, tiến tới thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội

Ý chí quyết tâm giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc là tư tưởng xuyênsuốt trong cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tóm lại, Học thuyết Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổquốc xã hội chủ nghĩa là bộ phận hợp thành lý luận cách mạng xã hội chủnghĩa, bao gồm một hệ thống các quan điểm, tư tưởng hết sức cơ bản về tínhtất yếu, nhiệm vụ và nội dung bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cùng với cácbiện pháp có tính chiến lược trong xây dựng, củng cố quốc phòng, chuẩn bịđất nước về mọi mặt và đường lối đối ngoại đúng đắn để có thể đánh thắngthù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

2.2.1.2 Đường lối, quan điểm của Đảng; những thành tựu và những thách thức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay

Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ mục tiêu tổng quát của giai đoạn 2011

-2015 là: tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại;

bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; tạo nềntảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theohướng hiện đại

Đồng thời, Đại hội XI nêu lên nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm

(2011 - 2015), trong đó nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là: tăng cường tiềm

Trang 20

lực quốc phòng - an ninh; giữ vững ổn định chinh trị - xã hội, độc lập chủ

quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, trật tự, an toàn xã hội; ngăn chặn, làmthất bại mọi âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; mở rộng,nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tích cực, chủ động hội nhập quốctế

Những thành tựu và những thách thức thực hiện nhiệm về bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.

Những thành tựu, kinh nghiệm của 25 năm đổi mới (1986 - 2011) đã

tạo ra cho đất nước lực và thế, sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so vớitrước Năm năm tới là giai đoạn kinh tế nước ta tiếp tục phục hồi, lấy lại đàtăng trưởng sau thời kỳ suy giảm; sẽ thực hiện nhiều hơn các hiệp địnhthương mại tự do song phương và đa phương; khắc phục những hạn chế, yếukém trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, xây dựng Đảng và hệ thốngchính trị Tuy nhiên, nước ta đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau,tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, không thể coi thường thách thứcnào Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực vàtrên thế giới vẫn tồn tại Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức,lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu,tham nhũng, lãng phí vẫn nghiêm trọng, làm giảm sút niềm tin của nhân dânvào Đảng và Nhà nước Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu "diễnbiến hoà bình", gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài "dân chủ', "nhânquyền" hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta Trong nội bộ, nhữngbiểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, "tự diễn biến", "tự chuyểnhoá" có những diễn biến phức tạp Công tác bảo vệ an ninh trong một số lĩnhvực còn có những thiếu sót; xử lý tình hình phức tạp nảy sinh ở cơ sở có lúc,

có nơi còn bị động, tội phạm hình sự, tệ nạn xã hội, an ninh chính trị, trật tự,

an toàn xã hội ở một số địa bàn còn diễn biến phức tạp Việc gắn kết giữa

Trang 21

phát triển kinh tế với củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh,

đặc biệt là tại các vùng chiến lược, biển, đảo còn chưa chặt chẽ

Công tác nghiên cứu dự báo chiến lược về đối ngoại có mặt còn hạnchế Sự phối hợp giữa đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoạigiao nhân dân, giữa các lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hoá đối ngoại chưathật đồng bộ

Như vậy, có thể khẳng định: trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, nhữngthành tựu đã đạt được là rất cơ bản và to lớn, nhưng những yếu kém, khuyếtđiểm đã và sẽ còn tác động, ảnh hưởng đến sức mạnh tổng hợp của quốc gia,thế ổn định của đất nước và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Đó thực sự là nhữngthách thức, khó khăn trong thực thi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hìnhmới

2.2.1.3 Kinh nghiệm, truyền thống giữ nước của dân tộc.

Việt Nam là một nước nhỏ, có vị trí chiến lược ở khu vực Đông Namchâu Á, luôn là đối tượng bị các thế lực bành trướng ngoại bang xâm chiếm.Cũng chính vì thực tiễn đó mà ông cha ta đã đúc kết được nhiều bàihọc kinhnghiệm trong kế sách giữ nước, bảo vệ Tổ quốc Muốn giữ nước, bảo vệ Tổquốc phải luôn đề phòng việc không ngờ , phải to giữ nước từ lúc nước chưanguy, lo trị nước từ khi chưa loạn Trong kế sách giữ nước, phải quan tâmbảo vệ một cách toàn diện, nhất là việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, khơidậy lòng yêu nước, ý chí độc lập tự chủ, tự lực tự cường của dân tộc Giữnước phải dựa vào dân, nước lấy dân làm gốc Phải khoan thư sức dân làm

kế sâu rễ bền gốc, chăm lo đời sống nhân dân, xây dựng dân giàu nướcmạnh Thực hiên “trong ấm ngoài êm" Trong nước đoàn kết, ổn định bênngoài hữu nghị hòa hiếu, mềm dẻo, khéo léo, giữ gìn hòa bình để xây dựngđất nước giàu manh là thượng sách để giữ nước

Trang 22

2.2.2 Tình hình thế giới, khu vực, trong nước có liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và dự báo tình hình những năm tới

2.2.2.1 Tình hình thế giới, khu vực, trong nước

Trên thế giới: Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng

sẽ có những diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường.Những căng thẳng, xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ,tranh chấp lãnh thổ, bạo loạn chính trị, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn sẽdiễn ra gay gắt; các yếu tố đe doạ an ninh phi truyền thống, tội phạm công

nghệ cao trong các lĩnh vực tài chính - tiền tệ, điện tử - viễn thông, sinh học,

môi trường… còn tiếp tục gia tăng

Toàn cầu hoá và cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ,

thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức Kinh tế thếgiới mặc dù có dấu hiệu phục hồi sau khủng hoảng nhưng vẫn còn nhiều khókhăn, bất ổn; chủ nghĩa bảo hộ phát triển dưới nhiều hình thức; cơ cấu lại thểchế, các ngành, lĩnh vực kinh tế diễn ra mạnh mẽ ở các nước; tương quansức mạnh kinh tế giữa các nước, nhất là giữa các nước lớn có nhiều thay đổi

Cạnh tranh về kinh tế - thương mại, tranh giành các nguồn tài nguyên năng

lượng, thị trường, công nghệ, nguồn vốn nguồn nhân lực chất lượng cao giữa các nước ngày càng gay gắt Những vấn đề toàn cầu như an ninh tàichính, an ninh năng lượng an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, nước biểndâng cao, thiên tai dịch bệnh sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp Cuộc đấu tranhcủa nhân dân các nước trên thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân sinh,dân chủ và tiến bộ xã hội tiếp tục phát triển Cuộc đấu tranh dân tộc và giaicấp vẫn diễn biến phức tạp

Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông – Nam

Á vẫn sẽ là khu vực phát triển năng đông nhưng còn tồn tại nhiều nhân tốgây mất ổn định tranh chấp lãnh thổ biển đảo ngày càng gay gắt Xuất hiện

Trang 23

các bình thức tập hợp lực lượng và đan xen lợi ích mới ASEAN tiếp tục đẩymạnh liên kết khu vực, xây dựng cộng đồng, có vai trò ngày càng quan trongtrong khu vực song còn nhiều khó khăn, thách thức.

- Về các tình huống phức tạp có thể xảy ra trong tương lai

Với xu thế của tình hình quốc tế và khu vực' với những thuận lợi cơ bảnnêu trên chúng ta có cơ sở để nhận định rằng trong những năm tới khả nănggìn giữ hòa bình, ổn định phát triển, là nhân tố cơ bản để chúng ta xây dựng

vả bảo vệ vững chắc Tổ quốc Ta cần tranh thủ điều kiện thuận lợi và thời

cơ nắm bắt cơ hội, đẩy lùi nguy cơ, vượt qua thách thức đê xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Tuy nhiên, cần nghiên cứu và dự báo chính xác về các tình huống phứctạp cụ thể để có các phương án chủ động phòng ngừa, tránh để rơi vào tìnhthế đối đầu, hoặc bị cô lập; kiên quyết không để xảy ra những diễn biếnphức tạp Trong bất cứ tình huống nào cũng không thể để lâm vào tình trạng

bị động và bảo đảm đủ sức đối phó thắng lợi trong mọi tình huống

Sự tác động của cuộc cách mạng khoa hoc - công nghệ đến lĩnh vực quân sự

Ngày nay cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra sâu sắc, tác độngđến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực quốc phòng

- an ninh Trong khoa học quân sự vũ khí công nghệ cao đã trở thành phổ

biến trong trang bị quân sự của các nước lớn, từ đó đã xuất hiện các loại

hình chiến tranh xử dụng vũ khí công nghệ cao như cuộc chiến tranh của Mỹ

và liên quân diễn ra ở Nam Tư năm 1999, Ở Irắc năm 2003… Từ đó cácnước lớn đều xây dựng chiến lược an ninh quốc gia, chiến lược quân sự với

tư tưởng “đánh đòn phủ đầu”; “chủ động tiến công trước” đã làm kéo theođối với các nước có nền kinh tế khoa học công nghệ, đặc biệt vũ khi trang bị

ít hiện đại hơn phải điều chỉnh chiến lược cho phù hợp với tình hình mới

Trang 24

2.2.3 Nội dung chủ yếu của Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay

2.2.3.1 Mục tiêu

Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiệnnay là: bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ;giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước,nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, antoàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chốngphá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninhphi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọitình huống Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc

Bảo vệ mọi thành quả cách mạng Việt Nam đã giành được; giữ vững ổnđịnh chính trị đất nước, đảm bảo cho sự thành công của công cuộc côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Bảo vệ và phát huy khối đại đoàn kết dân tộc, làm thất bại mọi âmmưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng chia rẽ, phá hoại khối đại đoànkết toàn dân tộc, đoàn kết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; vô hiệu hóamọi âm mưu, thủ đoạn tập hợp lực lượng, hình thức tổ chức chính trị đối

Về kinh tế - xã hội

Trang 25

Bảo đảm cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chú nghĩa pháttriển nhanh, bền vững, hiệu quả; không ngừng nâng cao đời sống nhân dân,

thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xà hôi gắn với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh.

Đẩy lùi nguy cơ tụt hậu và tái khủng hoảng; hạn chế tác động tiêu cựccủa kinh tế thị trường; đấu tranh hiệu quả với các tội phạm kinh tế, tệ quanliêu, tham nhũng, gian lận thương mại; thực hiện triệt để tiết kiệm, chốnglãng phí

Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môitrường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu Nước ta có điều kiện pháttriển nhanh và yêu cầu phát triển nhanh cũng đang đặt ra hết sức cấp thiết

Về tư tưởng -văn hóa

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của xã hội ta là chủ nghĩa Mác- Lê nin và tưtưởng Hồ Chí Minh

Tăng cường tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc,trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia và kiến thức

quốc phòng - an ninh, làm cho mọi người hiểu rõ những thách thức lớn tác

động trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới

Bảo vệ và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam;kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc chủ nghĩa xãhội, phủ nhận lịch sử, tuyên truyền những giá trị tự do dân chủ, nhân quyền

tư sản đa nguyên chính trị đa đảng đối lập của các thế lực chống phá chủnghĩa xã hội

Về đối ngoại

Bảo đảm giữ vững độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia, dân tộc trong quátrình mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế

Trang 26

Chủ động tạo thế đứng ngày càng vững chắc và nâng cao vị thế củanước ta trong khối ASEAN, trong khu vực và trên thế giới; tranh thủ điềukiện quốc tế thuận lợi phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đai hóađất nước.

Về quốc phòng - an ninh

Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ;bảo vệ an ninh quốc gia trên mọi lĩnh vực: an ninh chính trị, kinh tế, vănhóa, chủ quyền, lãnh thổ, dân cư, môi trường… của quốc gia

Tăng cường xây dụng quốc phòng - an ninh và tạo thế chủ động ngănngừa đẩy lùi đập tan các mưu đồ hành động chống phá hoặc gây chiến tranhxâm lược của địch; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định lâu dài để pháttriển đất nước

2.2.3.2 quan điểm, phương châm vào định hướng chiến lược

*Quan điểm

Một là: giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của

Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

Hai là: kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chu nghĩa xã hội; lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã

hội là lợi ích cao nhất của Tổ quốc

Ba là: kết hợp chặt chẽ giữa hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng thành

công chủ nghĩa xã hội với bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa Sức mạnh bên trong là nhân tố quyết định, nắm chắc nhiệm vụ pháttriển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt Kết hợp chặt chế cácnhiệm vụ kinh tế, quốc phòng- an ninh, đối ngoại

Bốn là: xây dùng sức mạnh tổng hợp về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn

hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại; phát huy sức mạnh của cả khốiđại đoàn kết toàn dân của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng,

Trang 27

sự quản lý điều hành của Nhà nước, lực lượng vũ trang làm nòng cốt; tăngcường tiềm lực quốc phòng - an ninh, không ngừng xây dựng thế trận quốcphòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân phù hợp vớihoàn cảnh mới.

Năm là, ra sức phát huy nội lực, đồng thời tranh thủ tối đa và khai thác

mọi thuận lợi bên ngoài Quán triệt đường lối độc lập tự chủ, kiên trì chínhsách đối ngoại rộng mở đa dạng hóa, đa phương hóa theo phương châmthêm bạn, bị thù, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cố gắng tham gia hợp tác, tránhsung đột, tránh đối đầu tránh cô lập, lệ thuộc

Sáu là, chủ động phòng ngừa sớm phát hiện và triệt tiêu những nhân tố

bên trong có thể dẫn đến đột biến bất lợi

* Phương châm chỉ đạo

Kiên định các nguyên tắc chiến lược đi đôi với vận dụng linh hoạt cácsách lược, tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước, dư luậnquốc tế; phân hóa, cô lập các phần tử chống đối, ngoan cố nhất, các thế lựcchống phá Việt Nam hung hãn nhất

Đối với nội bộ, lấy việc phát huy dân chủ, giáo dục, thuyết phục, phòngngừa là chính, đi đôi với giữ gìn kỷ cương, kỷ luật, xử lý nghiêm minh cácsai phạm Đối với các thế lực chống đối ở trong nước, cần phân hóa, cô lậpbọn đầu sỏ, ngoan cố; xử lý nghiêm minh, kiên quyết với những ngườichống đối, đi ngược lại lợi ích dân tộc Giáo dục, lôi kéo những người lầmđường, không để hình thành tổ chức đối lập dưới bất cứ hình thức nào

Thường xuyên đi sát cơ sở, nắm chắc tình hình, xử lý kịp thời mọi mầmmống gây mất an ninh, không để bị động, bất ngờ

* Định hướng chiến lược về quốc phòng - an ninh, đối ngoại vùng biển và ven biển.

Trang 28

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã cóNghị Quyết số 09-NQ/TW về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, xácđịnh mục tiêu tổng quát đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốcgia mạnh về biển, làm giàu từ biển Để đạt được mục tiêu tổng quát đó, Nghịquyết dã nêu định hướng chiến lược về quốc phòng, an ninh, đối ngoại vùngbiển và ven biển là:

Phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủquyền, quyền tài phán, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, vùng trời của Tổ quốc.Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị ngoại giao,pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý vùng trời bảo vệ biển đảo của Tôquốc

Phát triển kinh tế biển gắn liền với quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo

và xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân xâydựng lực lượng vũ trang, nòng cốt là hải quan, không quân, cảnh sát biển,biên phòng, dân quân tự vệ biển mạnh, làm chỗ dựa vững chắc cho ngư dân

và các thành phần kinh tế sản xuất và khai thác tài nguyên Sớm xây dựngchính sách đặc biệt để thu hút và khuyến khích mạnh mẽ nhân dân ra biểnđịnh cư lâu dài và làm ăn dài ngày trên biên, vừa phát triển kinh tế, vừa làmnhiệm vụ bảo vệ vùng biển của Tổ quốc

* Về đối tượng, đối tác của cách mạng Việt Nam

Với đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động

và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn đối tác tin cậy và thành viên có tráchnhiệm trong cộng đồng quốc tế và đặc biệt là Việt Nam là thành viên thứ

150 của tổ chức thương mại thế giới Để phát huy thuận lợi, hạn chế tháchthức, cần có cách nhìn nhận mới về đối tượng và đối tác của cách mạng ViệtNam theo nguyên tắc:

Trang 29

Những ai chủ trương tôn trọng độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộngquan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đốitác của chúng ta.

Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu củanước ta trong sự nghiệp xây dụng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấutranh

Theo quan điểm nguyên tắc đó trong tình hình diễn biến mau lẹ vàphức tạp hiện nay việc xác định đối tượng, đối tác có cách nhìn nhận mớibiện chứng: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác;ngược lại trong số các đối tác có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn lợi ích với

ta Do vậy, trong từng lĩnh vực, thời điểm cụ thể có thể có những đối tượng,đối tác khác nhau Cần khắc phục cả hai khuynh hướng mơ hồ mất cảnh giáchoặc cứng nhắc trong nhận thức, chủ trương và xử lý các tình huống cụ thể

Trang 30

quốc Mặt khác, giúp cho chúng ta vượt qua thách thức đẩy lùi các nguy cơđưa đất nước phát triển đến lên

Để giữ vững một trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước vấn

đề đầu tiên là chúng ta phải tiếp tục đưa các quan hệ quốc tế đi vào chiều sâuđồng thời tiếp tục mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước, các tổ chức

quốc tế, trong đó cần chú ý quan hệ với các nước, các trung tâm chính trị

-kinh tế tìm trên thế giới Củng cố và tăng cường quan hệ với các đảng cộngsản, công nhân, đảng cánh tả các phong trào độc lập dân tộc, cách mạng vàtiến bộ trên thế giới Tiếp tục mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền;Phát triển công tác đối ngoại nhân dân; tích cực tham gia các diễn đàn vàhoạt động của nhân dân thế giới, góp phần vào cuộc đấu tranh chung vì hòabình phát triển công bằng, bền vững dân chủ và tiến bộ xã hội; Chăm lo đàotạo bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại vững vàng

về chính trị có năng lực và trình độ nghiệp vụ cao, có đạo đức và phẩm chấttốt; Tăng cường công tác nghiên cứu dự báo tham mưu về đối ngoại với sựtham gia và phát huy trí tuệ của các nhà nghiên cứu và các nhà khoa học;Bảo đảm sự lành đao thống nhất của Đảng sự quản lý tập trung của Nhànước đối với công tác đối ngoại Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại củaĐảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; chính trị đối ngoại và

kinh kế đối ngoại; đối ngoại quốc phòng và an ninh.

Phát triển kinh tế - xã hội, gắn với tăng cường quốc phòng an ninh đáp ứng mọi yêu cầu bảo vệ Tổ quốc.

Phát triển kính tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng – an

ninh luôn giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốcgia dân tộc

Trang 31

Để nâng cao hiệu quả sự kết hợp phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh, một mặt phải giải quyết hài hòa

mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội

Trong đó, phải thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triểnkinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; không ngừng nâng cao đờisống nhân dân bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng nền kinh tế độc lập tựchủ, đồng thời chủ động hội nhập quốc tế Mặt khác, phải tăng cường quốcphòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xem đó là nhiệm

vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng Nhà nước và toàn dân kết hợp chặtchẽ với thế trận an ninh nhân dân vững chắc

Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội là

nền tảng vững chắc của quốc phòng - an ninh; quốc phòng an ninh vững

mạnh sẽ là điều kiện rất thuận lợi để giữ vững hòa bình, tạo môi trường antoàn cho xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủquyền quốc gia và chế độ xã hội chủ nghĩa

Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt kết hợp chặt chẽ với bảo vệ Đảng, bảo vệ vững chắc anninh chính trị nội bộ.

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, Đảng là một bộ phậntrong hệ thống chính trị, Đảng có trách nhiệm lãnh đạo hệ thống chính trị ấy.Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội để đưa đất nước đi lên theo conđường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn

Để đảm đương được vai trò lãnh đạo Đảng phải vững mạnh về chính trị

tư tưởng vệ tổ chức, thường xuyên tự đổi mới, chỉnh đốn, ra sức nâng caotrình độ, trí tuệ, năng lực lãnh đạo Giữ vững truyền thống đoàn kết thốngnhất trong Đảng, đảm bảo đầy đủ dân chủ và kỷ cương trong sinh hoạt đảng.Thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa các nhân,chủ nghĩa cơ hội và mọi hành động chia rẽ, bè phái

Trang 32

Yếu tố quyết định nhất của năng lực cầm quyền của Đảng là năng lựchoạch định cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương đúng đắn Để cóđường lối, chủ trương đúng đắn Đảng phải đứng trên lập trường của giaicấp công nhân, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;nắm chắc tình hình quốc tế và khu vực; nghiên cứu, tổng kết thực tiễn sinhđộng của đất nước, khái quát lý luận và rút ra các bài học kinh nghiệm trongquá trình xây dựng đất nước và sự nghiệp bào vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.Đảng phải phát huy và tập trung trí tuệ của toàn dân tộc, nhất là trí tuệcủa đội ngũ nhà khoa học, cán bộ lão thành cách mạng, cũng như của cáctầng lớp nhân dân Đảng phải khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước, yêu

Tổ quốc và quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực của đời sống xãhội, hướng phát huy dân chủ vào việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ViệtNam xã hội chủ nghĩa

Đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải thực sự gương mẫu đi đầutrong việc tuyên truyền, thuyết phục, tổ chức, tập hợp nhân dân; xây dựngkhối đại đoàn kết toàn dân, tạo sự đồng thuận trong Đảng, Nhà nước và nhândân nhằm tổ chức thực hiện thắng lợi cương lĩnh chính trị đường lối chủtrương cửa Đảng

Đảng phải ra sức xây dựng hệ thống tổ chức, nhất là tổ chức cơ sở đảng

và đội ngũ cán bộ, đảng viên Xây dựng tổ chức, bộ máy lãnh đạo phù hợp,nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của các tổ chức đảng và tiếp tụcđổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị

Cần tiếp tục xây dưng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trịvững vàng có đạo đức cách mạng có lối sống giản dị, trong sáng, có tinhthần tự phê bình và phê bình; có trách nhiệm cao trước Tổ quốc trước nhândân, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân Đồng thời phải

Trang 33

xử lý nghiêm các biểu hiện thiếu trách nhiệm, vi phạm tư cách đạo đức lốisống của mọi cán bộ, đảng viên.

Khắc phục tệ quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu, tham ô, tham nhũngcủa một bộ phận cán bộ, đảng viên công chức trong hệ thống chính trị để lấy

lại lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Đổi mới tác phong và

lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị theo phươngchâm vì nhân dân phục vụ, cán bộ là "công bộc" của nhân dân; có cơ chế đểnhân dân giám sát hoạt động của cán bộ trong bộ máy của hệ thống chính trị,tạo sự đồng thuận giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân

Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mở rộng dân chủ xã hộị chủ nghĩa đi đôi với việc tăng cường trật tự, kỷ cương chú trọng giải quyết các vấn đề dân tộc, tôn giáo, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc

và các đoàn thể nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng ViệtNam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyếtđịnh bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vì vậy

để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay cầnphải nâng cao nhận thức trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân về phát huysức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh mới Lấy mục tiêu xâydựng một nước Việt Nam hoà bình độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ,dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh làm điểm tương đồng;xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp chấp nhậnnhững điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinhthần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, để tập hợp đoàn kết mọingười vào mặt trận chung tăng cường đồng thuận xã hội Đại đoàn kết toàndân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hoà quan hệ lợi ích gia các thànhviên trong xã hội Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để

Trang 34

xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Các cấp ủy đảng và chính quyềnphải thường xuyên đối thoại lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyếtcác khó khăn, vướng mắc của nhân dân; tin dân, tôn trọng những người có ýkiến khác; làm tốt công tác dân vận, có cơ chế, pháp luật để nhân dân bày tỏchính kiến, nguyện vọng và thực hiện quyền làm chủ của mình.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu,vừa là động lực của sự phát triển đất nước Cho nên phải tiếp tục xây dựng

và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhànước thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,

pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân - Xây dựng và từng

bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thựchiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp trên tất cả các lĩnh vực Dân chủ gắnliền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hoá bằng pháp luật đượcpháp luật bảo đảm Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người,quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi ngườiQuyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định Quyền củacông dân không tách rời nghĩa vụ công dân

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan

trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc:

Đó là người đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhândân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên; Thực hiện dân chủ và xâydựng xã hội lành mạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước giáo dục lýtưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường mốiliên hệ giữa nhân dân với Đảng Nhà nước

Thực hiện chính sách bình đẳng đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhaugiữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bómật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam Giữ gìn

Trang 35

và phát huy bản sắc văn hoá ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc.Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc Các chính sách kinh tế - xã hộiphải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộcthiểu số.

Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do ổn ngưỡng, tôn giáo và không tínngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật Đấu tranh và xử

lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợidụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân

Tiếp tục triển khai thực hiện đường lối dối ngoại tộc tập, tự chủ, mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa.

Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợptác và phát triển; đa phương hoá đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cựchội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc,

vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đôi tác tin cậy vàthành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệphoà bình độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới

Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan

hệ quốc tế vào chiều sâu trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tối đanội lực, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc; chủ động ngăn ngừa và giảmthiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế

Tích cực tham gia các cơ chế hợp tác chính trị an ninh song phương và

đa phương vì lợi ích quốc gia trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản củaluật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc

Tích cực hợp tác cùng các nước các tổ chức khu vực và quốc tế trongviệc đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống, và nhất là tìnhtrạng biến đổi khí hậu; sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế

và khu vực có liên quan về vấn đề dân chủ, nhân quyền; chú động, kiên

Trang 36

quyết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu hành động can thiệp vào côngviệc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, anninh quốc gia và ổn định chính trị của Việt Nam.

Thúc đẩy giải quyết các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ ranhgiới biển và thềm lục địa với các nước liên quan trên cơ sở những nguyêntắc cơ bản của luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử của khu vực; làm tốtcông tác quản lý biên giới, xây dựng đường biên giới hoà bình, hữu nghị,hợp tác cùng phát triển Củng cố, phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị truyềnthống với các nước láng giềng có chung biên giới

Chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước xây dựng Cộngđồng ASEAN vững mạnh, tăng cường quan hệ với các đối tác, tiếp tục giữ

vai trò quan trọng trong các khuôn khổ hợp tác ở khu vực châu Á – Thái

Bình Dương Phát triển quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, đảngcánh tả các đảng cầm quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo đảm lợi íchquốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hoà bình, hữu nghị, hợp tác và pháttriển; mở rộng tham gia các cơ chế, diễn đàn đa phương ở khu vực và thếgiới

Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung củaNhà nước đối với các hoạt động đối ngoại Phối hợp chặt chẽ hoạt động đốingoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân; giữa ngoạigiao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hoá; giữa đối ngoại

với quốc phòng - an ninh.

2.2.4 Một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện thắng lợi Chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay

2.2.4.1 Về xây dựng và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước

Trang 37

Đây là giải pháp then chốt quyết định nhất để thực hiện có hiệu quảchiến lược bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Để tăng cường và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng hiệu lực quản lýcủa Nhà nước ta đối với quá trình tổ chức thực hiện Chiến lược, cần phải:thực hiện tốt nguyên tắc: Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam vàCông an nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt;… Nhà nước

thống nhất quản lý đối với Quân đội, Công an và sự nghiệp quốc phòng – an

ninh theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Sự lãnh đạo của Đảng thôngqua sự định hướng về mục tiêu phương hướng biện pháp tổ chức thực hiện;xây dựng đội ngũ cán bộ quan lý trực tiếp kiểm tra giám sát việc thực hiệnđường lối, chủ trương, chính sách; vận động nhân dân, các tổ chức chính tri

xã hội, đoàn thể… chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ, quyền lợi của mình vàtham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Để nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước về quốc phòng - an ninh

cần nắm vững mục đích chính trị, bản chất giai cấp và tính ưu việt của nềnquốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân ở nước ta; phải nhất quán, tuân thủ

sự định hướng của đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước đối với toàn bộ các hoạt động quản lý nhà nước Tất cả đềuhướng đến phục vụ, bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân laođộng, sự tồn tại và phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa; hướng tới xâydựng lực lượng và thế trận của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dânngày càng vững mạnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong mọitình huống

Mặt khác, phải kết hợp chặt chẽ quản lý nhà nước trong sự nghiệp bảo

vệ Tổ quốc với quản lý trên các lĩnh vực khác của đời sống xã hội nhằm tạonên sức mạnh tổng hợp góp phần thực hiện tốt chức năng quản lý củ Nhà

Trang 38

nước tạo điều thuận lợi cho tất cả các lĩnh vực đều thực hiện tốt nhiệm vụcủa mình.

Nhà nước cần thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng

về chiến lược bảo vệ Tố quốc; từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật vềbảo vệ Tô quốc; tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ

quốc phòng - an ninh ở các cấp, các địa phương, các lực lượng vũ trang;

tăng cường công tác bảo vệ bí mật quốc gia, bảo đảm an ninh thông tin.Năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với chiếnlược bảo vệ Tổ quốc đã được Đảng ta thể chế hóa thành cơ chế lãnh đạo vàquán lý điều hành đất nước là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý nhân dânlàm chủ và cơ chế thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh quân sự: Đảnglãnh đạo chính quyền quản lý, điều hành cơ quan quân sự, công an và các cơquan ban ngành làm tham mưu; người chỉ huy quân sự chỉ huy thống nhấtcác lực lượng vũ trang thuộc quyền Chúng ta cần thực hiện nghiêm túc cơchế đó và ngày càng làm cho cơ chế đó hoàn thiện hơn

2.2.4.2 Về tư tưởng văn hóa

Đây là lĩnh vực rất quan trọng nhằm xây dựng nhân tố chính trị - tinhthần, tạo thế trận lòng dân để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩathời kỳ mới

Trong tình hình hiện nay, công tác tư tưởng, văn hóa cần tập trung giảiquyết tốt các vấn đề sau:

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu lý luận, tổng kếtthực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về đảng cầm quyền về chủ nghĩa xãhội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta;

Công tác chính trị - tư tưởng hướng vào việc làm cho toàn Đảng, toàn

dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị nhận thức rõ về bối cảnh chiến lượcquốc tế và tình hình đất nước; về ta về địch… Từ đó nâng cao tinh thần cảnh

Trang 39

giác cách mạng, nhận rõ bản chất kẻ thù, đối tượng, đối tác của cách mạngViệt Nam; kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu hoạt động “diễn biếnhòa bình” của các thế lực thù địch; phê phán, đẩy lùi những biểu hiện “tựdiễn biến”, “tự chuyển hóa” Giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; loại trừ nhữngsản phẩm phản văn hóa; chủ động đấu tranh với các thủ đoạn chống phánước ta dưới chiêu bài dân chủ nhân quyền, dân tộc tôn giáo.

Tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản, văn hóa,văn nghệ; kịp thời ngăn chặn các biểu hiện lệch lạc thương mại hóa tronghoạt động văn hóa văn nghệ…

Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tôc, trong đó đặc biệt chú trọngcông tác dân tộc tôn giáo: không để các thế lực thù địch lợi dụng để chốngphá Nâng cao vai trò của một trận và các đoàn thể trong việc động viên cáctầng lớp nhân dân thực hiện đòng lối chủ trương của Đảng, chính sách phápluật của Nhà nước; chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hànhđộng của địch phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc

2.2.4.3 Về kinh tế - xã hội

Phải tập trung sức thực hiện thắng lợi các mục tiêu tổng quát của chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020: “Phấn đấu đến năm 2020

nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị

-xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinhthần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất vàtoàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tếtiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giaiđoạn sau”

Trang 40

Để đạt được mục tiêu đó phải thực hiện tốt các nhiệm vụ chủ yếu sau:phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp,hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế thịtrường phải được vận dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ và cóhiệu quả mọi nguồn lực nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế,nâng cao đời sống nhân dân, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoáđói giảm nghèo, tăng cường đồng thuận xã hội để thực hiện mục tiêu dângiàu, nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh.

Phát triển kinh tế thị trường, chủ động tích cực hội nhập quốc tế, đồngthời giữ vưng, tăng cường tính độc lập tự chủ cua nền kinh tế Phát triểnkinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng

xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách

Phát triển mạnh khoa học và công nghệ giáo dục và đào tạo; nâng caochất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóađất nước và phát triển kinh tế tri thức Tạo sự chuyển biến mạnh trong việcxây dựng văn hóa đạo đức và lối sống; kiềm chế tốc độ phát triển dân số,nâng cao thể chất và sức khỏe nhân dân; bảo vệ và cải thiện môi trường.Thực hiện tiến bộ và cong bằng xã hội, giải quyết việc làm, khuyếnkhích làm giàu hơn pháp xóa đói giảm nghèo, phát triển hệ thống an sinh xãhội; đẩy lùi các tệ nạn xã hội

Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ Nâng caohiệu lực của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tạo bước chuyển rõ rệt

về cải cách hành chính ngăn chán và đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, lãngphí

Ngày đăng: 06/05/2016, 14:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w