Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là yêu cầu khách quan, là nhiệm vụ thường xuyên, liên quan trực tiếp đến vận mệnh, sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Người khẳng định: “Đảng là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc. Để làm tròn nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc, Đảng phải mạnh, toàn Đảng tư tưởng phải nhất trí, hành động phải nhất trí. Cho nên chỉnh Đảng là việc chính, phải đặc biệt chú trọng” . Người còn nhấn mạnh: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” . Thấm nhuần và quán triệt tư tưởng của Người, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn được Đảng ta xác định là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, được thể hiện nhất quán, xuyên suốt từ Cương lĩnh, Điều lệ, các văn kiện đại hội Đảng toàn quốc cho đến các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư qua các thời kỳ cách mạng, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII (tháng 2-1999) về “Một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI (tháng 1-2012) về ”Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Trong thời kỳ từ 1954-1986, trong hoàn cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, cùng một lúc Đảng phải tiến hành nhiều nhiệm vụ cách mạng, Đảng vẫn luôn coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, quyết định lãnh sự tồn tại, phát triển và sự đạo đúng đắn của Đảng - nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Đảng luôn nắm vững nguyên lý xây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng về xây dựng Đảng của Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh, không ngừng xây dựng, chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, để Đảng làm tròn vai trò của đội tiền phong lãnh đạo đối với giai cấp, nhân dân, đất nước và dân tộc.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
ThS Đỗ Văn Phương
TS Dương Thị Huệ
TS Nguyễn Bình PGS TS Trịnh Thị Hồng Hạnh
TS Nguyễn Thị Xuân
TS Trần Tuấn Sơn ThS Ứng Thị Bích Liên
HÀ NỘI - 2019
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặcbiệt chú trọng đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là yêu cầu kháchquan, là nhiệm vụ thường xuyên, liên quan trực tiếp đến vận mệnh, sức chiếnđấu, năng lực lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ Người khẳng định:
“Đảng là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc Để làm tròn nhiệm vụ khángchiến và kiến quốc, Đảng phải mạnh, toàn Đảng tư tưởng phải nhất trí, hànhđộng phải nhất trí Cho nên chỉnh Đảng là việc chính, phải đặc biệt chú trọng”1.Người còn nhấn mạnh: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là mộtĐảng hỏng Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ nhữngcái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó,rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó Như thế là một Đảng tiến
bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”2
Thấm nhuần và quán triệt tư tưởng của Người, công tác xây dựng, chỉnhđốn Đảng luôn được Đảng ta xác định là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, được thểhiện nhất quán, xuyên suốt từ Cương lĩnh, Điều lệ, các văn kiện đại hội Đảngtoàn quốc cho đến các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trungương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư qua các thời kỳ cách mạng, đặc biệt là trong thời
kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2)khóa VIII (tháng 2-1999) về “Một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tácxây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI (tháng 1-2012) về ”Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”
Trong thời kỳ từ 1954-1986, trong hoàn cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn,cùng một lúc Đảng phải tiến hành nhiều nhiệm vụ cách mạng, Đảng vẫn luôn coitrọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên,quyết định lãnh sự tồn tại, phát triển và sự đạo đúng đắn của Đảng - nhân tố hàng
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t 7, tr 396
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t 7, tr 301
Trang 5đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Đảng luôn nắm vững nguyên lý xâydựng Đảng của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng về xây dựng Đảng của Nguyễn
Ái Quốc- Hồ Chí Minh, không ngừng xây dựng, chỉnh đốn, nâng cao năng lựclãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, để Đảng làm tròn vai trò của đội tiền phonglãnh đạo đối với giai cấp, nhân dân, đất nước và dân tộc
Với ý nghĩa đó, chúng tôi chọn vấn đề “Các cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng từ 1954 đến năm 1986” làm đề tài nghiên cứu cấp (cơ sở) Viện
Lịch sử Đảng năm 2019
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đế đề tài
Đến nay, đã có nhiều công trình phản ánh về công tác xây dựng Đảng nóichung, trong đó có trình bày ở các cấp độ khác nhau về xây dựng chỉnh đốnĐảng hoặc về đề cập một số khía cạnh về các cuộc vận động động xây dựngchỉnh đốn Đảng do Đảng khới xướng và lãnh đạo
*Nhóm tài liệu, các công trình nghiên cứu về xây dựng và chỉnh đốn Đảng
GS, TS Nguyễn Phú Trọng có nhiều công trình nghiên cứu về công tácxây dựng và chỉnh đốn đảng: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt
để phát triển đất nước, Chính trị Quốc gia, 2017; Đảng Cộng sản Việt Nam: Những bài học về xây dựng, chỉnh đốn Đảng , Tạp chí Cộng sản, số 2-2016; Xây
dựng chỉnh đốn Đảng- một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia, xuất bản 2005 Nội dung các tác phẩm rất phong phú, đặc sắc, toàndiện và hoàn chỉnh Từ việc phân tích sự cần thiết phải có Đảng lãnh đạo, đếnviệc khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác
- Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; từ những
nguyên tắc chung về xây dựng Đảng đến yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể ở mỗi giaiđoạn cách mạng, những đòi hỏi cụ thể đối với người cán bộ, đảng viên, như rènluyện tư tưởng chính trị, đạo đức cách mạng, nâng cao giác ngộ và trình độ hiểubiết các mặt, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, đào tạo và sử dụng cán
bộ, xây dựng mối quan hệ mật thiết với nhân dân, Các công trình đề cập nhiềuvấn đề phong phú cả về lý luận và thực tiễn của công tác xây dựng Đảng, rút ra
Trang 6một số bài học và kết luận quan trọng giúp chúng ta tiếp tục làm tốt hơn nữacông tác xây dựng Đảng, thực hiện thắng lợi toàn diện công cuộc đổi mới đấtnước hiện nay.
Các công trình nghiên cứu của PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc như: Các đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam với yêu cầu, nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng,Tạp chí Lịch sử Đảng, số 1-2016; Đảng Cộng sản Việt Nam: Những bài học về xây dựng, chỉnh đốn Đảng , Tạp chí Cộng sản, số 2-2016; Bản chất của Đảng
Cộng sản Việt Nam và một số bài học về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Tạp chí
Lịch sử Đảng, số 1-2014 Nội dung các công trình nhấn mạnh công tác xâydựng, chỉnh đốn Đảng suốt 86 năm qua có thể thấy rõ những bài học rất cơ bản
Một là, Đảng đặc biệt chú trọng xây dựng Đảng về chính trị, không ngừng bổ
sung, phát triển và bảo đảm tính đúng đắn, hiện thực của Cương lĩnh, đường lối
Hai là, không ngừng đổi mới tư duy lý luận, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao trình độ lý luận và trí tuệ của
Đảng làm cơ sở khoa học cho hoạch định đường lối, chính sách Ba là, tăng
cường sức chiến đấu của tổ chức đảng, kỷ luật Đảng đồng thời coi trọng giáodục, rèn luyện đạo đức cách mạng đối với cán bộ, đảng viên Bốn là, gắn bó mậtthiết với nhân dân, củng cố lòng tin của nhân dân, thật sự vì dân là mục tiêuphấn đấu và cũng là nguồn sức mạnh của Đảng Năm là, trong xây dựng, chỉnhđốn Đảng phải phòng ngừa biểu hiện “tả” khuynh và hữu khuynh
Tiểu ban Tổng kết công tác xây dựng Đảng, Báo cáo tổng kết công tác
xây dựng Đảng - thời kỳ 1975 - 1995, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996
nhận định: vấn đề “thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn” được xác định “làquy luật tồn tại và phát của Đảng”
PGS, TS Nguyễn Minh Tuấn viết bài “Công tác xây dựng, chỉnh đốn
Đảng - Thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra” in trong cuốn 85 năm Đảng
Cộng sản Việt Nam phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào thực tiễn Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội 2015, nhận định: Xây dựng,
chỉnh đốn Đảng là yếu tố khách quan của một Đảng cầm quyền, đã đạt được
Trang 7những kết quả trong lĩnh vực tư tưởng, tổ chức cán bộ, công tác kiểm tra giámsát và phương thức lãnh đạo của Đảng; đồng thời nêu một số hạn chế yếu kémchậm khắc phục như tình trạng suy thoái đạo đức lối sống, tham nhũng lãngphí chưa được ngăn chặn đẩy lùi, nạn chạy bằng cấp ; tổng kết lý luận cònnhiều vấn đề chưa làm sáng tỏ
Ngoài ra, công tác xây dựng và chỉnh đốn đảng còn được nhiều nhà khoahọc quan tâm nghiên cứu như: GS Lê Đức Bình, Mấy vấn đề về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002; tác giả Nguyễn Minh Tuân,
Thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn Đảng là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 10-2015; PGS
TS Nguyễn Ngọc Hà, Đẩy mạnh xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản, tháng 1-2014; Tác giả Đặng HữuToàn, Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự gắn kết xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng,Tạp chí Triết học, số 5-2008, Bùi Đình Phong, Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Tp Hồ ChíMinh, 2017
*Nhóm tài liệu, công trình liên quan đến tổng kết công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng từ trong thời kỳ 1954-1986
Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về công tác xây dựng và chỉnhđốn đảng trong giai đoạn này như:
Trong công trình Các đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam với yêu cầu, nội
dung xây dựng chỉnh đốn Đảng, PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc nhận định: công
tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng để lại những bài học rất cơ bản Đó là Đảng đặcbiệt chú trọng xây dựng Đảng về chính trị, không ngừng bổ sung, phát triển vàbảo đảm tính đúng đắn, hiện thực của Cương lĩnh, đường lối Hai là, khôngngừng đổi mới tư duy lý luận, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao trình độ lý luận và trí tuệ của Đảng làm
cơ sở khoa học cho hoạch định đường lối, chính sách Ba là, tăng cường sứcchiến đấu của tổ chức đảng, kỷ luật Đảng đồng thời coi trọng giáo dục, rèn luyện
Trang 8đạo đức cách mạng đối với cán bộ, đảng viên Bốn là, gắn bó mật thiết với nhândân, củng cố lòng tin của nhân dân, thật sự vì dân là mục tiêu phấn đấu và cũng
là nguồn sức mạnh của Đảng Năm là, trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng phảiphòng ngừa biểu hiện “tả” khuynh và hữu khuynh” Đây cũng chính là nhữngvấn đề tiếp tục đặt ra trong xây dựng chỉnh đốn đảng
Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thế Tấn, Quá trình xây dựng Đảng về tổ chức ở miền Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1975, Nxb Chínhtrị Quốc gia, 2016 Công trình đã trình bày rõ bối cảnh lịch sử miền Bắc trong từnăm 1965 đến năm 1975 và nghiên cứu các cuộc vận động, chỉnh đốn đảngtrong giai đoạn này, đặc biệt công trình đi sâu nghiên cứu, phân tích công tácxây dựng Đảng về tổ chức
Nguyễn Bình, Công tác xây dựng Đảng tại miền Nam từ tháng 7 năm
1954 đến tháng 10 năm 1961, Luận án Tiến sĩ, 2009 Tác giả nghiên cứu và trìnhbày rõ bối cảnh, tình hình cách mạng miền nam trong những năm 1954-1961làm rõ công tác xây dựng Đảng của Xứ ủy Nam Bộ trong giai đoạn này, tậptrung trên ba lĩnh vực, xây dựng Đảng về tổ chức, về chính trị và tư tưởng
Kỷ yếu tổng kết công tác xây dựng Đảng (thời kỳ 1975-1995), Nxb Chínhtrị Quốc gia, 2001 Công trình tập hợp các bài viết, bài nghiên cứu về công tácxây dựng Đảng trong thời kỳ từ 1975 đến 1995, nội dung các bài viết, kỷ yếu tậptrung làm rõ công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn này và một số cuộc vậnđộng xây dựng chỉnh đốn Đảng nhằm củng cố và phát triển hệ thống tổ chứcĐảng
*Các công trình nghiên cứu của các quân khu, Bộ tư lệnh, các tỉnh trên cả nước về công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng và các cuộc vận động chỉnh đốn Đảng
Ở các tỉnh, thành, bộ ban ngành cũng có nhiều công trình nghiên cứu vềcông tác xây dựng và chỉnh đốn đảng của địa phương như: Ban Chấp hành Đảng
bộ tỉnh Thừa Thiên Huế, Lịch sử công tác xây dựng Đảng về tổ chức của Đảng
bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (1930 - 2010) , Nxb Thuận Hòa 2015; Ban Chấp hành
Trang 9Đảng bộ tỉnh Sơn La, Lịch sử công tác tổ chức xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh Sơn La (1946 - 2005), Nxb Chính trị Quốc gia, 2011 Giàng Seo Phử, Tổng
kết 55 năm công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh Lào Cai (1947-2002),
Chính trị Quốc gia, 2005 Lê Đức Thọ, Truyền thống 72 năm ngành tổ chức xây dựng Đảng (1930-2002) , Chính trị Quốc gia, 2002; Một số vấn đề về công tác tổ chức xây dựng Đảng - Từ thực tiễn miền Trung - Tây Nguyên, Đại học Huế,
2018; Lịch sử ngành Tổ chức xây dựng Đảng tỉnh Ninh Bình (1947 - 2017) ,
Chính trị Quốc gia, 2017; Kỷ yếu 80 năm ngày truyền thống ngành tổ chức xây dựng Đảng thành phố Hải Phòng (14/10/1930-14/10/2010) , Nxb Hải Phòng,
2010; Lịch sử công tác tổ chức xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh Thái Bình
1930 - 2010 , Nxb Chính trị Quốc gia, 2010; Trần Thanh Sơn, Xây dựng tổ chức
cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh của Đảng bộ Hà Nội, Nxb Hà Nội, 2002.
Các công trình nghiên cứu trên đề cập ở mức độ khác nhau về các cuộcvận động xây dựng chỉnh đốn đảng, nhưng, đến nay vẫn chưa có công trình nàonghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện, sâu sắc về các cuộc vận động xây
dựng chỉnh đốn Đảng thời kỳ (1954-1986) Do đó, chúng tôi chọn vấn đề: Các cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng từ 1954 đến năm 1986 làm đề tài
nghiên cứu khoa học cấp cơ sở năm 2019
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Từ việc nghiên cứu, phân tích về bối cảnh lịch sử, chủ trương, đường lốicủa Đảng cũng như nội dung các cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảngthời kỳ 1954-1986, góp phần làm cho việc nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảngtại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thêm toàn diện, sâu sắc; đúc kếtmột số kinh nghiệm phục vụ nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng; góp phần đấutranh chống các luận điệu xuyên tạc lịch sử của các thế lực thù địch
Trang 10- Làm nguồn tài liệu phục vụ nghiên cứu - giảng dạy lịch sử Đảng, xâydựng Đảng trong giai đoạn từ 1954 đến 1986 tại Học viện Chính trị quốc gia HồChí Minh.
+ Đúc kết các bài học, kinh nghiệm có thể vận dụng trong công tác xâydựng Đảng hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: từ năm 1954 đến 1986
- Phạm vi không gian: Tại miền Bắc thời kỳ 1954-1975 và cả nước thời
kỳ 1975-1986
5 Cơ sở lí luận, phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lí luận: Đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp
phương pháp sưu tầm thống kê là chủ yếu, ngoài ra đề tài sử dụng phương pháplogic, phân tích, so sánh, đối chiếu
Trang 116 Nội dung nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu:
+ Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và chỉnh đốn Đảng
+ Các cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng từ năm 1954-1986
- Nhận xét và kinh nghiệm
+ Nhận xét quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng từ năm 1954-1986
+ Một số kinh nghiệm rút ra trong quá trình nghiên cứu
7 Định hướng sử dụng kết quả nghiên cứu
- Kết quả đề tài góp phần phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch
sử Đảng
- Trên cơ sở kết quả của đề tài, kinh nghiệm trong nghiên lịch sử xây dựngĐảng; phục vụ nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng tại Học viện Chính trị quốcgia Hồ Chí Minh
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương, 6tiết
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG CHỈNH ĐỐN ĐẢNG THỜI KỲ 1954-1986
I TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm sâu sắc, toàn diện về nhữngvấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triểnsáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đồng thời kếthừa và phát triển các giá trị truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóanhân loại Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng quí báu, soi đườngcho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc
Trong tư tưởng của Người, quan điểm về xây dựng, chỉnh đốn Đảng vô sảntrong điều kiện thực tiễn Việt Nam là một nội dung quan trọng, có ý nghĩa soiđường cho quá trình rèn luyện và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
1 Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là yêu cầu khách quan, tất yếu của Đảng
Trên cơ sở phát triển và vận dụng sáng tạo những luận điểm của Lênin vềxây dựng Đảng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định:
“Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vữngthuyền mới chạy”3, “Đối với vận mệnh của nước nhà và dân tộc, Đảng có tráchnhiệm vô cùng to lớn Cho nên xây dựng Đảng là một nhiệm vụ cực kỳ quantrọng của nhân dân ta”4 Trong điều kiện Đảng cầm quyền, càng phải trong sạch,vững mạnh, cán bộ, đảng viên của Đảng phải thông thạo lý luận, đủ đức, đủ tài.Người yêu cầu: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền Phải giữ gìn Đảng ta thậttrong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thànhcủa nhân dân”5
3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia , Hà Nội, 2011, t 2, tr.289
4 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia , Hà Nội, 2011, t 8, tr.279
5 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, t 15, tr 622
Trang 13Về yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Người cho rằng đó phải là côngviệc thường xuyên, vừa trước mắt, vừa lâu dài đối với những người cộng sản.Người viết: ''Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại,
có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi ngườiyêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cánhân”6 Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công việc thường xuyên nhưng đặc biệtquan trọng trong bối cảnh mới, khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền, thực hiệnnhiệm vụ lãnh đạo toàn diện Đất nước Trong Di chúc, Người căn dặn: “việc cầnphải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoànviên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàntâm, toàn ý phục vụ nhân dân Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy,khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”7
Có thể thấy, để trở thành một Đảng trong sạch và vững mạnh thì công tácxây dựng, chỉnh đốn Đảng phải thực hiện thường xuyên, liên tục và lâu dài Đây
là vấn đề cơ bản và tiên quyết trong đảm bảo và tăng cường vai trò lãnh đạo củaĐảng cầm quyền Để thực hiện tốt yêu cầu đó, Đảng phải luôn đề phòng vàchống mọi căn bệnh “dễ” xảy ra trong điều kiện mới của Đảng cầm quyề, như:suy thoái về tư tưởng chính tị, đạo đức, lối sống, đặc quyền, đặc lợi, quan liêu,tham nhũng, lãng phí Đấu tranh chống những biểu hiện đó chính là bảo vệ uytín của Đảng, tăng cường sự vững mạnh của chế độ và con đường phát triển củađất nước
2 Xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải tiến hành thường xuyên trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức
2.1 Xây dựng Đảng về tư tưởng
6 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.5, tr 672
7 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.15, tr 616
Trang 14Đảng trước hết phải vững mạnh về tư tưởng, lý luận mới có thể lãnh đạođược cách mạng, đảm đương được sứ mệnh lịch sử giao phó Tổng kết quá trìnhhoạt động và lãnh đạo của Đảng, Hồ Chí Minh cho rằng: “Xây dựng Đảng, cómặt: tư tưởng chính trị và tổ chức ( ) giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng làcông việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tưtưởng”8 Xây dựng, chỉnh đốn Đảng về tư tưởng, theo Người: 1) “nhất định phảihọc tập lý luận Mác - Lênin”, 2) “phải tăng cường tư tưởng giai cấp công nhân
và rửa gột những tư tưởng trái với nó ( ) cần phải giáo dục và yêu cầu đảngviên ra sức học tập lý luận, mở rộng tự phê bình và phê bình, đấu tranh vớinhững tư tưởng “phi vô sản”, 3) “phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận
Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, tronglúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa,
xa rời cách mạng”9
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng về tư tưởng vừa là bảo vệ nền tảng tư tưởng củaĐảng, vừa phải phát triển lý luận, củng cố lập trường chính trị, nâng cao bảnlĩnh chính trị của Đảng
2.2 Xây dựng Đảng về chính trị
Ngay trong quá trình chuẩn bị thành lập Đảng, Hồ Chí Minh đã xác lậpđường lối chính trị của Đảng là phấn đấu thực hiện giải phóng dân tộc, giảiphóng xã hội, giải phóng con người; tự do và hạnh phúc của nhân dân là giá trịchân thực của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Xây dựng Đảng về chính trị là vấn đề then chốt, quyết định sự tồn tại vàphát triển của Đảng Nếu sai lầm về đường lối chính trị, tất yếu dẫn đến hậu quảnghiêm trọng đối với sinh mệnh chính trị của Đảng và vận mệnh dân tộc HồChí Minh nhấn mạnh: “Về đường lối chính trị, Đảng chống khuynh hướng “tả”
và khuynh hướng “hữu”10 Để xác lập và bảo vệ đường lối chính trị đúng đắn,
8 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb,.Chính trị quốc gia Hà Nội, 2011, t 8, tr 279
9 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t 8, t 279 - 280
10 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia , Hà Nội, 2011, t 8, tr 280
Trang 15Đảng phải dựa vào lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lenin.Việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin phải dựa trên sự phù hợp với bối cảnh,tình hình và đặc điểm văn hóa, xã hội Việt Nam Tại Đại hội Đảng lần thứ II,Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “phải áp dụng chủ nghĩa Mác cho đúng Cốtlõi là ở đấy”11 Trong quá trình vận dụng phải không ngừng tổng kết kinhnghiệm từ thực tiễn, thực hiện bổ dung, phát triển lý luận để qua đó xây dựng,hoàn thiện đường lối chính trị cho đúng đắn, phù hợp với từ giai đoạn lịch sử.Trong quá trình triển khai, thực hiện nghị quyết của Đảng sẽ nảy sinh nhiều vấn
đề từ thực tiễn Việc tổng kết, rút kinh nghiệm , sẽ góp phần bổ sung và làm chođường lối chính trị của Đảng ngày càng hoàn thiện, tránh được những vấp váp,sai lầm
Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, xây dựng đường lối chính trị cũng cần phải chú ýhọc tập, kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm tốt của các đảng cộngsản trên thế giới cũng như những tư tưởng tiến bộ của nhân loại
2.3 Xây dựng Đảng về tổ chức - cán bộ
Cùng vớ xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị phải đồng thời xây dựngĐảng về tổ chức Sức mạnh của Đảng trước hết bắt nguồn từ tổ chức, một Đảngmạnh hay yếu là do hệ thống tổ chức chặt chẽ hay không Hồ Chí Minh chorằng: Phải biết rằng nếu tổ chức Đảng mạnh thì mọi công việc đều chạy”12 vì tổchức Đảng “là hạt nhân lãnh đạo và đoàn kết quần chúng”13 Trong xây dựngĐảng về tổ chức, trước hết cần coi trọng xây dựng, tu dưỡng và rèn luyện chi bộ
Vì chi bộ vừa là hạt nhân lãnh đạo ở cơ sở, vừa là nơi gắn kết trực tiếp giữaĐảng với quần chúng nhân dân Người viết: “Tổ chức gốc rễ của Đảng là chibộ”14
11.Biên bản Đại hội II Tài liệu lưu tại Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.
12 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia , Hà Nội, 2011, t 7, tr.477
13 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia , Hà Nội, 2011, t 12, tr.478
14 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia , Hà Nội, 2011, t 8, tr 286
Trang 16Trong xây dựng Đảng về tổ chức, phải chú trọng công tác cán bộ Hồ ChíMinh cho rằng: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chínhphủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình củadân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách chođúng Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc”15, “công việc thành công haythất bại đều do cán bộ tốt hay kém”16 Từ khi trở thành Đảng cầm quyền, cán bộ,đảng viên dễ có nguy cơ thoái hóa biến chất bởi khi đó người cán bộ, đảng viên
dễ xa rời nhân dân, dễ lạm dụng quyền lực để mưu cầu lợi ích bản thân Nhìnthấy những nguy cơ ấy, ngay khi mới giành được chính quyền, trong “Thư gửicác đồng chí tỉnh nhà” (17-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo cán bộ,đảng viên về nguy cơ “hủ hoá”, “lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành,độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư”17
Trong công tác cán bộ, Đảng phải luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý, vì đây là đội ngũ trực tiếp hoạch định đường lối, chính sách Theo Hồ Chí Minh, khi lựa chọn, đề bạt cán bộ quản lý phải xem xét quá trìnhrèn luyện, phấn đấu của họ, đồng thời phải quan tâm, giúp đỡ người được cấtnhắc để họ có diều kiện phát triển Người chỉ rõ: “Khi cất nhắc cán bộ, phải xemkết quả học tập cũng như kết quả công tác khác mà định ( ) Khi cất nhắc mộtcán bộ, cần phải xét rõ người đó có gần gụi quần chúng, có được quần chúng tincậy và mến phục không Lại phải xem người ấy xứng với việc gì Nếu người cótài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc Nếu cất nhắc khôngcẩn thận, không khỏi đem người bô lô ba la, chỉ nói mà không biết làm, vàonhững địa vị lãnh đạo Như thế rất có hại”18 Khi cất nhắc cán bộ phải tránh nóngvội, phải tinh tế, tạo điều kiện cho họ khắc phục những thiếu sót, hạn chế
15 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t 5, tr.309
16 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t 5, tr.313
17 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t 4, tr.20
18 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t 5, tr 313- 314
Trang 17Cũng theo Hồ Chí Minh, việc cất nhắc, bổ nhiệm cán bộ phải tránh tưtưởng cục bộ, địa phương, bè phái Người viết: “Cất nhắc cán bộ, phải vì côngtác, tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái Như thế, công việcnhất định chạy Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không
ai phục, mà gây nên mối lôi thôi trong Đảng Như thế là có tội với Đảng, có tộivới đồng bào”19
3 Xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải quan tâm xây dựng đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân
Hồ Chí Minh cho rằng đạo đức cách mạng là nền tảng và là sức mạnh củangười cách mạng Người chỉ rõ: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạnglàm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”20 TheoNgười, cán bộ tốt phải là người vừa có đức, vừa có tài, trong đó đạo đức làmgốc Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thìsông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải cóđạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhândân”21
Cán bộ, đảng viên cũng là con người, có những mặt tốt - xấu, thiện - ác;xây dựng đạo đức là rèn luyện để mỗi cán bộ, đảng viên tự giáo dục, tu dưỡng
để đạo đức ngày càng tốt hơn, hoàn thành tốt các nhiệm vụ mà Đảng và nhândân giao phó
Đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh là “đạo đức cách mạng”, khác xa vớiđạo đức thủ cựu, phong kiến Nội hàm đạo đức cách mạng bao gồm: “Nhận rõphải, trái Giữ vững lập trường Tận trung với nước Tận hiếu với dân”22; “tuyệt
19 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t 5, tr 321
20 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t 11, tr 601
21 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t 5, tr.292
22 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t 9, tr.354
Trang 18đối trung thành với Đảng, với nhân dân”23; “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vôtư”24 Theo Người: “Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính” 25, cán bộ, đảng viên
“không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâumọt của dân”26
Muốn xây dựng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên phải tạo ra môitrường tốt, để mỗi cán bộ, đảng viên tự tu dưỡng, rèn luyện hoàn thiện nhữngmặt tốt, mặt thiện, đồng thời mặt ác, xấu xa bị đẩy lùi Song quan trọng nhất củarèn luyện đạo đức cách mạng là bản thân mỗi cán bộ, đảng viên phải “nâng caođạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” Mắc vào chủ nghĩa cá nhân
sẽ sinh ra các bệnh tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa dẫn đến hại lợi ích chungcủa cách mạng, của nhân dân Để tránh bệnh chủ nghĩa cá nhân, cán bộ, đảngviên phải tích cực học tập, rèn luyện nâng cao tính Đảng, thấm nhuần và thựchành đạo đức cách mạng, phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải: “Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷluật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng”; “Đặt lợi ích củaĐảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhânmình”; “Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân; quên mình, gương mẫu trong mọiviệc”; “luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiếncông tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”; “Vô luận trong hoàn cảnhnào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵnsàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu”; “Hòa mìnhvới quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ýkiến của quần chúng” 27
23 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t 11, tr.604
24 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t 6, tr.208
25 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t 6, tr.129
26 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t 5, tr.122
27 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t 11, tr 603-609
Trang 19II MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG CHỈNH ĐỐN ĐẢNG
1 Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng thời kỳ 1954-1975
Bước sang năm 1953, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân
ta ngày càng thay đổi theo hướng có lợi cho cách mạng Để tăng cường sứcngười, sức của cho cuộc kháng chiến, Đảng chủ trương tiến hành triệt để giảm
tô, giảm tức, phát động quần chúng tiến hành cải cách ruộng đất, xóa bỏ giai cấpđịa chủ phong kiến, chia ruộng đất cho dân cày Cuối tháng 1-1953, Đảng raNghị quyết xác định mục đích, ý nghĩa, phương châm, phương pháp và kếthoạch thực hiện cải cách ruộng đất Tháng 11-1953, Hội nghị lần thứ năm củaBan Chấp hành Trung ương bàn về chính sách cải cách ruộng đất và đến Quốc
hội khóa I, Kỳ họp thứ ba (từ ngày 1 đến ngày 4-12-1953) Luật cải cách ruộng
đất được thông qua Cùng với việc phát động giảm tô, cải cách ruộng đất đã được
thực hiện thí điểm trong phạm vi 6 xã thuộc huyện Đại Từ (Thái Nguyên) từ tháng12-1953 đến tháng 3-1954 Đợt 1 cải cách ruộng đất đã tiến hành từ 22-5-1954trong 47 xã của ba huyện Phú Bình, Đồng Hỷ, Đại Từ (Thái Nguyên), dự địnhđến 20-8-1954 thì kết thúc Ở Liên khu IV từ tháng 6-1954 đã thí điểm cải cáchruộng đất ở sáu xã thuộc Thanh Hóa28 Cùng với việc thực hiện cải cách ruộngđất, Đảng tiến hành cuộc vận động chỉnh đống Đảng nhằm làm cho các tổ chứcĐảng trong sạch vững mạnh, thực hiện tốt nhiệm vụ cải cách ruộng đất
Bước sang năm 1960, với thắng lợi của phong trào Đồng khởi đã thúc đẩycách mạng miền Nam ngày càng phát triển, cùng với đó ở miền Bắc cuộc cải tạo
xã hội chủ nghĩa đã tạo nên những chuyển biến quan trọng về kinh tế, chính trị,
xã hội miền Bắc, đời sống vật chất và tinh thần nhân dân được cải thiện mộtbước, tình đoàn kết, nhất trí được tang cường, vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lýcủa Nhà nước được củng cố Từ năm 1961, nhân dân miền Bắc thực hiện kếhoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) nhằm xây dựng bước đầu cơ
28 Đảng Cộng sản Việt Nam (2001): Văn kiện Đảng toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.201.
Trang 20sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Nhiệm vụ cách mạng của Việt Namthời kỳ này là: “tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vữnghòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩymạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhấtnước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình,thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe
xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới”29
Về công tác xây dựng Đảng, trải qua sự giáo dục của Đảng và qua thực tếđấu tranh cách mạng, trình độ chính trị, tư tưởng và năng lực công tác của cán
bộ, đảng viên và trình độ giác ngộ cách mạng của nhân dân lao động đã có nhiềutiến bộ Tuy nhiên, đi sâu vào phân tích diễn biến tư tưởng, trong nội bộ Đảngvẫn còn tồn tại một số trường hợp như sau:
- Một số đảng viên, cán bộ lập trường tư tưởng chưa vững vàng, khi hữukhi tả, thậm chí có những cá biệt thoái hóa, sa vào luận điểm phản cách mạng,chống đối lại sự lãnh đạo sự lãnh đạo của Đảng;
- Hầu hết cán bộ đảng viên tin tưởng tuyệt đối vào tiền đồ sáng lạn của Tổquốc và phe xã hội chủ nghĩa, nhưng chưa nắm vững thực chất và nội dung củagiai đoạn cách mạng tiến lên xã hội chủ nghĩa, đồng thời biểu hiện cá nhân chủnghĩa và tự do chủ nghĩa trong hòa bình được dịp phát triển, làm trở ngại phầnnào sự phát triển của giai đoạn cách mạng mới
- Một số đảng viên, cán bộ còn quan liêu xa rời thực tế, chưa thực hiện tốttác phong “ba cùng” gần gũi quần chúng, kém động viên thuyết phục quầnchúng, còn nặng mệnh lệnh nhằm đảm bảo kịp thời nhiệm vụ cấp bách của trêngiao cho
29 Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21 (1960), Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, tr 917.
Trang 21Những tồn tại đó yêu cầu Đảng phải tiến hành cuộc chỉnh huấn trong toànĐảng để giải quyết căn bản những tư tưởng phi vô sản, nâng cao lập trườngquan điểm giai cấp và xây dựng một tác phong theo đường lối quần chúng.
Bước sang giai đoạn mới, Đảng lãnh đạo toàn dân kiến thiết xây dựng miềnBắc trong thời kỳ quá độ tiến lên xã hội chủ nghĩa Bởi vậy, tổ chức Đảng cầnđược xây dựng củng cố để đủ khả năng đảm bảo nhiệm vụ nặng nề và phức tạp.Tình hình đó đòi hỏi Đảng phải vững mạnh, có đường lối, chủ trương phù hợpvới hoàn cảnh mới; xây dựng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân tưtưởng phù hợp với chế độ chính trị và quan hệ sản xuất mới, tin tưởng vào sựlãnh đạo của Đảng; hệ thống tổ chức Đảng cần tiếp tục được hoàn thiện, pháthuy mọi nhân tố tích cực, động viên mọi lực lượng để triệt để thực hiện các mụctiêu đặt ra Kế thừa kinh nghiệm thời kỳ trước, trong giai đoạn 1961-1965, công
tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn liền với 2 cuộc vận động “chỉnh huấn mùa
xuân” và phong trào “xây dựng chi bộ, Đảng bộ bốn tốt”.
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) của quân và dân ta đãgiành được thắng lợi lớn, làm cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn lâm vào khủnghoảng Để cứu vãn tình hình, Mỹ đã huy động trở lại lực lượng quân sự và tiếnhành chiến tranh phá hoại miền Bắc với quy mô lớn hơn, thủ đoạn thâm độchơn Chúng sử dụng máy bay chiến lược B52 ném bom hủy diệt Hải Phòng và
Hà Nội
Trước sự tấn công của kẻ thù, quân và dân ta anh dũng chiến đấu và làmnên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” vẻ vang, góp phần buộc Mỹ phảiquay trở lại bàn đàm phán ký kết hiệp định Paris rút hết quân đội về nước
Trong công tác xây dựng Đảng, trải qua quá trình tôi luyện, tuyệt đại đa sốcán bộ và đảng viên có phẩm chất cách mạng tốt đẹp, góp phần đưa cách mạng
đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Song, trình độ của phần đông cán bộ,đảng viên ta về các mặt giác ngộ giai cấp, năng lực tổ chức, năng lực quản lýkinh tế, kiến thức khoa học và kỹ thuật còn bị hạn chế, nên vẫn chưa đáp ứng
Trang 22được yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ cách mạng Mặt khác, do công tác tổchức và giáo dục của Đảng ta còn có những chỗ thiếu sót, nên một số cán bộ,đảng viên có tư cách và nhân phẩm chưa tốt, một số khác lại chưa có tinh thầnvươn lên cho nên trình độ chính trị và năng lực công tác đều quá kém, khônglàm tròn nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước giao phó Chưa kể có những đảng viên
cá bộ có dấu hiệu suy sút đạo đức, trình độ giác ngộ cách mạng quá thấp, nhưnglại có chức có quyền, họ thường dựa vào uy tín của Đảng và chính quyền đểxâm phạm lợi ích của nhân dân, coi thường kỷ luật của Đảng và Nhà nước, độcđoán, quan liêu nặng
Công tác phát triển đảng viên còn thiên hướng chạy theo số lượng, chưađảm bảo chặt chẽ về chất lượng; phương hướng phát triển Đảng chưa chú ý đầy
đủ công nhân lâu năm đứng tuổi, nữ công nhân Đối với lực lượng đảng viênmới kết nạp dù là những người đã trải qua thử thách trong cuộc kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội rất nhiệthuyết cống hiến, nhưng vì mới vào Đảng, các đồng chí đó chưa có đủ thời gianhọc tập, sự hiểu biết về đường lối, chính sách và nguyên tắc tổ chức của Đảng,
về nhiệm vụ đảng viên và phương pháp công tác của người cộng sản còn hạnchế Tính đến tháng 9-1968 có trên 7 vạn đảng viên dự bị thì trên 3 vạn chưa quahuấn luyện Về chức năng, nhiệm vụ của chi bộ, đảng ủy, về quan hệ giữa chi
bộ, đảng ủy với các ban ngành còn có mặt chưa thật rõ ràng, hợp lý, từ đó ảnhhưởng đến việc cải tiến nội dung và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đảng
ủy Sự lãnh đạo của chi, đảng bộ chưa toàn diện, kiến thức lãnh đạo còn hạnchế
Xác định chất lượng của các đảng viên và của các chi bộ Đảng là một nhân
tố quan trọng làm nên sức mạnh của Đảng Bồi dưỡng và nâng cao chất lượngcủa đảng viên của chi bộ Đảng tức là bồi dưỡng và nâng cao chất lượng củaĐảng Thông qua kết quả khả quan từ cuộc vận động xây dựng “đảng bộ cơ sởbốn tốt”, “chi bộ bốn tốt”, “đảng viên bốn tốt”, đầu năm 1969, Hồ Chủ tịch kêu
Trang 23gọi cán bộ, đảng viên toàn Đảng “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủnghĩa cá nhân” Tiếp đó, trong Di chúc, Người căn dặn “mỗi đảng viên và cán
bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chícông vô tư”, “phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch”, “phải xứng đáng là ngườilãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”
2 Bối cảnh mới và chủ trương của Đảng thời kỳ 1975 - 1986
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi đã mở ra một thời kỳ mớicho cách mạng Việt Nam Thời kỳ độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa
xã hội Bước vào thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới, Việt Nam cónhững thuận lợi cơ bản Trước tiên, đất nước được hòa bình, độc lập, thống nhất
là điều kiện quan trọng để phát huy các tiềm năng, sức mạnh của con người vàthiên nhiên; tạo ra sức mạnh mới toàn diện, bảo đảm cho sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Đảng phát huy vai trò, sức mạnh trong việc lãnh đạo cả nướcthực hiện chung một nhiệm vụ chiến lược cách mạng xã hội chủ nghĩa Nhànước có điều kiện để tăng cường hiệu lực quản lý mọi mặt của đất nước Nhândân tiếp tục phát huy cao độ sức mạnh của khối đại đoàn kết, làm cơ sở vữngchắc cho cả hệ thống chính trị và tạo nên nguồn lực quan trọng để thực hiệnthắng lợi các nhiệm vụ của đất nước trong giai đoạn mới
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (1954 - 1975), miền Bắc đãđạt được những thành quả nhất định: quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đượcxác lập; cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội bước đầu được xây dựng,với những cơ sở công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ hình thành, trong đótrọng tâm là các lĩnh vực như điện, cơ khí, luyện kim, hóa chất và vật liệu xâydựng Miền Nam có tiềm lực lớn về công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm,cùng với hệ thống giao thông, bến cảng, sân bay, kho tàng, nhà cửa rất phát triểncủa chế độ cũ để lại Việc kế thừa những cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc và tiếp quản, cải tạo toàn bộ hạ tầng cơ sở ở miền Nam, sẽ tạo
ra nền tảng thuận lợi ban đầu cho cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trang 24Với thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, uy tín và vị thế của ViệtNam trên trường quốc tế được nâng cao Đây là một thuận lợi khách quan, giúpViệt Nam có thể tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè thế giới, của lực lượng độc lậpdân tộc, dân chủ và hòa bình trên thế giới để tạo nên sức mạnh ngoại lực đónggóp vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mớicũng đứng trước những khó khăn, thách thức lớn Mặc dù có được nền tảng cơ
sở vật chất kỹ thuật ban đầu, song nhìn chung, điểm xuất phát đi lên chủ nghĩa
xã hội của Việt Nam rất thấp Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp nghèonàn, lạc hậu Cả nước phải tiến hành quá trình tổ chức lại nền sản xuất xã hội.Hậu quả của 30 năm chiến tranh (1945 - 1975) đối với cả nước rất nặng nề, đặcbiệt là trong cuộc chiến tranh xâm lược và phá hoại của đế quốc Mỹ kéo dài 21năm Tình hình đó đặt ra nhiệm vụ hết sức khó khăn cho Đảng và Nhà nước,phải nhanh chóng giải quyết để tạo sự ổn định xã hội, ổn định tư tưởng chongười dân miền Nam
Sau chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ vẫn không từ bỏ âm mưu chống phácách mạng Việt Nam, thực hiện chính sách bao vây, cô lập, cấm vận thương mại;phủ quyết việc Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc; đồng thời, vận động hầu hếtcác nước trong Nghị viện Châu Âu đình chỉ các hoạt động viện trợ kinh tế đối vớiViệt Nam
Hệ thống xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển đã đạt nhiều thànhtựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học - kỹ thuật,đóng vai trò quyết định trong đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc Nhưng từ nửacuối thập niên 70 - nửa đầu thập niên 80, các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào tìnhtrạng trì trệ, khủng hoảng về kinh tế - xã hội Viện trợ kinh tế của Liên Xô,Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác đối với Việt Nam giảm sút
Trang 25nhanh chóng, góp phần làm cho nền kinh tế Việt Nam sau chiến tranh gặp rấtnhiều khó khăn
Có thể thấy rõ, sau năm 1975, mặc dù có một số thuận lợi cơ bản, songViệt Nam đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện đất nước gặp rấtnhiều khó khăn Yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra cho Đảng và nhân dân Việt Namtrong giai đoạn mới là: Phải bảo vệ vững chắc chủ quyền, biên giới lãnh thổ;tiếp tục hoàn thành những nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ;nhanh chóng khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, khôi phục kinh tế,từng bước ổn định đời sống nhân dân; tìm mô hình và con đường quá độ lênchủ nghĩa xã hội cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của đất nước Thời kỳnày, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Đảng chú trọng vào các nộidung:
Trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, thực hiện tuyên truyền thắng lợi, phát huy
truyền thống cách mạng, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiệnthắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; xây dựngkhối đại đoàn kết, thực hiện hòa hợp dân tộc; hướng đất nước đi lên theo conđường xã hội chủ nghĩa; nâng cao hiểu biết về đường lối cách mạng xã hội chủnghĩa; nâng cao ý thức giữ gìn hòa bình, tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thứcđộc lập tự chủ bảo vệ tổ quốc xã hội trong điều kiện mới; không chịu khuất phụctrước bất cứ thế lực xâm lược nào; kiên định chủ nghĩa Mác- Lênin và vấn đềnhà nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó nhấn mạnh phát huymạnh mẽ quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, xây dựng nhà nướcchuyên chính vô sản; tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng, trong đó cách mạngkhoa học kỹ thuật là then chốt, công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụtrung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Về công tác tổ chức, xây dựng tổ chức Đảng gắn với việc điều chỉnh quy
mô địa giới các cấp quản lý hành chính lãnh thổ, chủ yếu là việc sáp nhập cáctỉnh huyện; tăng cường việc củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức của Đảng từ
Trang 26Trung ương đến cơ sở, trong đó chú ý xây dựng các ban và cơ quan sự nghiệpcủa Đảng, xây dựng tổ chức Đảng trong quân đội nhân dân và công an nhân dân,xây dựng tổ chức cơ sở Đảng ở các xã phường, các doanh nghiệp và những cơ
sở Đảng khác, coi việc chỉnh đốn, đổi mới các tổ chức cơ sở Đảng là một nhiệm
vụ trọng tâm có tính cấp bách của toàn Đảng Tập trung củng cố tổ chức Đảng ởcác đơn vị trọng điểm, giữ vững nề nếp và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ;lựa chọn đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cấp ủy viên; xây dựngđội ngũ cán bộ, đảng viên; nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện tốt hơnvới việc định kỳ bầu cử các cơ quan lãng đạo của Đảng, xây dựng các Đảngđoàn, tiếp tục phát huy dân chủ, khơi dậy tính tức cực, chủ động, sáng tạo củacác tổ chức đảng và đảng viên đối với việc xây dựng và trưởng thành của Đảng
Trang 27Chương 2 CÁC CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG
TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1986
I XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG TRONG THỜI KỲ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC VÀ ĐẤU TRANH THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1954- 1975)
1 Chỉnh đốn chi bộ nông thôn trong cuộc vận động quần chúng giảm
tô (11-1953 đến 10-1954)
Trong bối cảnh cuộc kháng chiến đang diễn ra, vùng giải phóng chủ yếu ởkhu vực nông thôn và để thực hiện tốt chương trình giảm tô và cải cách ruôngđất, Đảng xác định phải đồng thời làm tốt công tác chỉnh Đảng, trọng tâm là
chỉnh đốn chi bộ nông thôn Ngày 10-11-1953, Đảng ra Chỉ thị về chỉnh đốn chi
bộ nông thôn trong cuộc vận động quần chúng giảm tô Trong Chỉ thị, Trung
ương Đảng nói rõ: “…trong công tác chỉnh đốn chi bộ vừa qua cũng còn nhiềukhuyết điểm, như chưa chú ý đầy đủ việc bồi dưỡng đảng viên tốt, giáo dục, cảitạo đảng viên kém, dìu dắt chi bộ trong công tác Do đó, chưa làm cho chi bộthật sự đóng được vai trò lãnh đạo ở xã sau khi phát động quần chúng Sở dĩphạm khuyết điểm trên là vì cán bộ tham gia công tác phát động quần chúngchưa thấy rõ sự quan trọng của việc chỉnh đốn chi bộ, coi nhẹ công tác này, chưanắm vững phương châm, kế hoạch chỉnh đốn chi bộ, chưa biết sử dụng đúngmực từng loại chi bộ”30
Mục tiêu trước hết là chỉnh huấn về tổ chức nhằm đảm bảo sự lãnh đạo củagiai cấp công nhân và phải làm cho chi bộ thật sự là hạt nhân lãnh đạo, tổ chứcquần chúng ở nông thôn
30 Đảng Cộng sản Việt Nam (2001): Văn kiện Đảng toàn tập, tập 14, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; tr.356.
Trang 28Nội dung của cuộc vận động là “cần phải nâng cao trình độ giác ngộ củađảng viên; khai trừ ra khỏi Đảng những đảng viên thuộc thành phần địa chủ vànhững đảng viên thuộc thành phần phú nông có biểu hiện cố thủ chống lạiđường lối chính sách của Đảng và Chính phủ; tăng thêm tỷ lệ thành phần bần cốnông trong chi bộ, bước đầu làm cho “thành phần giai cấp trong chi bộ đượctrong sạch”; cải tạo ban chi ủy bằng cách đề bạt những đảng viên thành phầnbần cố nông có lý lịch trong sạch, biểu hiện lập trường vững, công tác tích cựcđối với cuộc phát động quần chúng vào ban chi ủy31
Cuộc chỉnh huấn được thực hiện theo các bước sau
Thứ nhất, tiến hành phân loại chi bộ: Chi bộ nông thôn được phân thành 3
loại: loại thứ nhất là những chi bộ căn bản tốt, ban chi ủy và đảng viên xuất thân
thuộc thành phần tốt, chấp hành đúng chính sách Chi bộ này đủ tiêu chuẩn để
phát động quần chúng thực hiện giảm tô, cải cách ruộng đất; loại thứ hai trong
thành phần chi ủy, đảng viên một phần là địa chủ, cường hào Đối với loại chi bộ
này cần phải chỉ định lại chi ủy, củng cố lại vai trò lãnh đạo của chi bộ; loại thứ
ba tuyệt đại đảng viên, chi ủy là địa chủ, cường hào hoặc do địa chủ, cường hào
nắm Đối với chi bộ này cần phải giải tán
Thứ hai, chỉnh đốn chi bộ: Giai đoạn này được tiến hành thành 5 bước, cụ
thể: bước thứ nhất: tiến hành giáo dục chi bộ về lập trường giai cấp và chính
sách vận động quần chúng đồng thời kiểm thảo sự thi hành chính sách của Đảng
và sắc lệnh của Chính phủ về ruộng đất Bước thứ hai (tương ứng với giai đoạn
mở lớp “huấn luyện rễ”): tiến hành chọn lọc, cử những đảng viên chủ chốt đưa
đi đào tạo, bồi dưỡng Đối với những đảng viên chưa “bắt rễ” thì phân phối công
tác Bước thứ ba (Tương ứng với thời kỳ tổ chức “xâu chuỗi”, thành lập nông hội): tiến hành “xử lý đối với từng chi bộ đã được phân loại trước đấy” Đối với
chi bộ loại thứ nhất giáo dục, dìu dắt và giúp đỡ họ lãnh đạo quần chúng Tuyên
bố tự giải tán đối với loại chi bộ thứ ba Tiến hành cải tạo chi ủy đối với chi bộ
31 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1953): Chỉ thị về chỉnh đốn chi bộ nông thôn trong cuộc vận động quần
chúng giảm tô, số 59 CT – TW, ngày 28-12-1953, Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, Phông 11, ML 02, ĐVBQ 288.
Trang 29loại thứ hai bằng cách chỉ định chi uỷ lâm thời: đưa những phần tử xấu ra khỏichi uỷ và thay thế bằng những đảng viên tốt Ngoài ra, còn phải tiến hành một sốkhâu như kiện toàn sinh hoạt chi bộ; khai trừ ra khỏi Đảng những phần tử nội
gián, phần tử đầu hàng phản bội… Bước thứ tư (Tương ứng với giai đoạn đấu
tranh, giảm tô và chia những thứ đấu tranh được trong phát động quần chúng):Đây là bước “nhạy cảm”, động chạm đến lợi ích của nhiều người nên cần tiếnhành họp chi ủy, tổ Đảng hoặc chi bộ trước và sau mỗi đợt chia quyền lợi Quanhững cuộc họp đó, kiểm điểm công tác của chi ủy và đảng viên, mở rộng phêbình và tự phê bình trong chi bộ, phê phán những sai lầm của đảng viên về lậptrường, tư tưởng, tác phong đồng thời chú ý giáo dục về chính sách, giao nhiệm
vụ mới cho từng đảng viên Đối với những đảng viên được bầu vào Ban chấphành nông hội, cần đặc biệt chú ý giáo dục cho họ giữ vững lập trường, tích cựccông tác, chí công vô tư, liên hệ với quần chúng, khiêm tốn, đoàn kết giúp đỡ
những quần chúng tiến bộ, cốt cán làm đối tượng phát triển Đảng Bước thứ
năm: hoàn thành công tác chỉnh đốn chi bộ (Tương ứng với giai đoạn chỉnh đốn
tổ chức, củng cố thắng lợi) Ở bước này tập trung tổng kết công tác của chi bộ,đảng viên tự kiểm thảo với tinh thần tự phê bình và phê bình, bầu cử chi uỷ,định chế độ sinh hoạt và công tác của chi bộ, kết nạp đảng viên mới Nhằm đảmbảo cho tư tưởng và đường lối của Đảng được giữ vững, việc bầu cử chi ủy vàlựa chọn đảng viên vào chi ủy phải tuân thủ những điều kiện sau: “Trung thànhvới Đảng, lập trường vững, công tác tích cực; Được đảng viên và quần chúng tínnhiệm; Thành phần xuất thân tốt, lịch sử trong sạch Trong việc đề bạt, cần tránhmấy khuynh hướng: Chỉ nhìn vào thành phần, vào trình độ văn hóa, nhanh nhẹn,tháo vát, không chú ý xét về lập trường, tư tưởng, tác phong, không tìm hiểu kỹ
về lịch sử, về quan hệ của họ với giai cấp bóc lột Đề bạt gượng ép để có đủngười lãnh đạo các ngành Gạt hết những chi ủy viên cũ và tốt ra ngoài chi ủy”32
32 Đảng Cộng sản Việt Nam (2001): Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
tr.569-570.
Trang 30Thực hiện chủ trương của Đảng, các địa phương đã tiến hành chỉnh đốn chi
bộ Các chi bộ đã đưa ra khỏi đảng các đảng viên thuộc thành phần địa chủ, phúnông, kỳ hào, cải tạo ban chi ủy và kết nạp được một số lớn quần chúng thuộcthành phần bần cố nông Nhiều địa phương ở thôn xóm đã tổ chức các buổi phêbình đảng viên và dự các buổi kiểm thảo của chi bộ về việc thực hiện đường lốicủa Đảng và Chính phủ Nhiều cán bộ được rèn luyện về lập trường tư tưởng,trưởng thành qua công tác thực tiễn Chi bộ, chính quyền ở nông thôn từng bướcvững mạnh, triệt để thi hành chính sách của Đảng và Chính phủ, thực hiện pháttriển sản xuất, phục vụ kháng chiến Nhờ đó mà cuộc cải cách ruộng đất đãmang lại những kết quả tích cực ở nông thôn Nếu như trước năm 1945, địa chủchiếm 3% dân số nhưng lại chiếm đến 52,1% tổng số ruộng đất thì đến năm 1954,địa chủ chỉ còn chiếm 2,3% dân số và chiếm hữu 18% tổng số ruộng đất Nông dânlao động gồm trung nông, bần nông, cố nông) chiếm 92,5% dân số đã làm chủ70,7% tổng số ruộng đất33
Tuy nhiên, cuộc vận động chỉnh đốn chi bộ nông thôn thời kỳ này đã phạmphỉa một số khuyết điểm sai lầm Đó là tư tưởng hẹp hòi, chủ nghĩa thành phần,
tả khuynh do đánh giá “những tổ chức của ta chưa được thật trong sạch và vữngmạnh, nhất là tổ chức cơ sở”34 vì thế đã xuất hiện tình trạng quy chụp, không tintưởng với những đảng viên xuất thân từ giai cấp địa chủ phong kiến Nhữngkhuyết điểm sai lầm này là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những sai lầm trongcải cách ruộng đất
2 Chỉnh đốn chi bộ nông thôn và chỉnh đốn đảng ở cấp tỉnh, huyện trong cải cách ruộng đất (12-1954 đến tháng 7-1956)
2.1 Chỉnh đốn chi bộ nông thôn
Sau cuộc chỉnh huấn chi bộ ở nông thôn cuối năm 1953, về cơ bản các chi
bộ đã được củng cố, tuy nhiên vẫn còn nhiều tồn tại, phức tạp, nhiều chi bộ vẫn
33 Lê Mậu Hãn (chủ biên) (1998), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 99.
34 Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 14, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.404.
Trang 31bị giai cấp địa chủ, phong kiến khống chế, làm ảnh hưởng tới kết quả của cuộccải cách ruộng đất Xuất phát từ tình hình trên, ngày 7-12-1954, Đảng ra Chỉ thị
“Về việc chỉnh đốn chi bộ nông thôn trong cải cách ruộng đất”, mục đích làm cho chi bộ thật sự trở thành hạt nhân lãnh đạo chính trị ở nông thôn, đảm bảo
chính sách của Đảng và Chính phủ được chấp hành nghiêm chỉnh ở nông thôn,đảm bảo quyền lãnh đạo của Đảng đối với nông dân
Chỉnh đốn chi bộ nông thôn thời kỳ này gồm 4 nội dung: 1, xử trí đảng
viên xấu: trong quá thực hiện cải cách ruộng đất nếu phát hiện những phần tử
xấu, những đảng viên có xuất thân từ giai cấp bóc lột như địa chủ, phong kiến,những đảng viên được giai cấp bóc lột dung dưỡng thì cần phải xử trí Nguyêntắc là kiên quyết và thận trọng, tránh khai trừ quá nhiều, ồ ạt, tạo thành một lực
lượng chống Đảng 2, giáo dục, cải tạo đảng viên: trong quá trình thực hiện cải
cách ruộng đất, thông qua thực tiễn mà giáo dục đảng viên, nâng cao trình độgiác ngộ giai cấp cho đảng viên, làm cho đảng viên nhận rõ trách nhiệm trước
Đảng, gương mẫu trước quần chúng, giữ vững tình đoàn kết trong nhân dân 3,
phát triể đảng viên mới: nguyên tắc là tích cực nhưng thận trọng, kết nạp đúng
đối tượng, đủ điều kiện 4, cải tạo chi ủy: chi ủy phải được xây dựng trong sạc,
vững mạnh, đảm bảo việc lãnh đạo chính trị của Đảng ở nông thôn, làm chođường lối, chủ trương của Đảng được thông suốt trong chi bộ và ngoài quầnchúng
Cuộc chỉnh đốn Đảng ở chi bộ nông thôn mục đích nhắm phục vụ cải cáchruộng đất, vì vậy các bước tiến hành đều có trọng tâm và phải dựa vào thực tếcủa phong trào quần chúng mà áp dụng linh hoạt, sáng tạo Các bước chính được
xác định như sau: Bước 1, (Trong kế hoạch cải cách ruộng đất gọi là bước tìm chỗ dựa, đánh đổ cường hào gian ác): tìm hiểu, phân tích, bước đầu phân loại
đảng viên, chi bộ sau giảm tô Khai trừ những đảng viên xấu, kết nạp nhữngđảng viên đủ điều kiện; giáo dục cho đảng viên mục đích của cải cách ruộng đất
và xác định thái độ của đảng viên Bước đầu chỉnh huấn đảng viên nhằm nângcao lập trường tư tưởng cho đảng viên đứng hẳn về phía nông dân, kiên quyết
Trang 32đánh đổ giai cấp địa chủ, phong kiến Bước 2 (Trong kế hoạch cải cách ruộng
đất gọi là bước đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ, tiêu diệt chế độ chiếm hữuruộng đất của giai cấp địa chủ): nội dung chủ yếu là phát triển đảng viên và cảitạo chi ủy, kiện toàn chi ủy Sau khi đánh đổ cường hào, địa chủ gian ác và chỉnhđốn tổ chức thì kết nạp đảng viên mới và cải tạo chi ủy Từ những cuộc sinh hoạt
mà thúc đẩy tinh thần đấu tranh của đảng viên Bước 3 (Trong kế hoạch cải cách
ruộng đất gọi là bước điều chỉnh diện tích và sản lượng ruộng đất, chia ruộng
đất): hoàn thành viên kết nạp đảng viên mới trong cải cách ruộng đất Bước 4:
(Trong kế hoạch cải cách ruộng đất gọi là bước hoàn thành chỉnh đốn tổ chức,giải quyết những vấn đề còn lại, tổng kết thắng lợi) Bước này hoàn thành côngtác chỉnh đốn chi bộ Bình chi bộ, đảng viên gương mẫu, chuẩn bị cho việcchỉnh đốn cơ quan lãnh đạo ở xã; tổng kết công tác đảng viên tham gia cải cáchruộng đất; biểu dương những đảng viên tốt, giới thiệu vào chi ủy…
Đến năm 1965, công tác chỉnh đốn chi bộ trong 4 đợt cải cách ruộng đất đãthu được nhiều kết quả tích cực, làm thay đổi cơ bản bộ mặt nông thôn Tuy vậy,công tác chỉnh đốn chi bộ trong 4 đợt cải cách ruộng đất vẫn còn nhiều bất cập,hạn chế do chỉ chú trọng đi sâu nghiên cứu, nắm tình hình chi bộ, chưa nắmvững chính sách và yêu cầu của cải cách ruộng đất, dẫn đến dập khuôn, máymóc; kết nạp đảng viên nhiều nơi còn thiếu thận trọng; việc xử trí những phần tửđịch, một mặt thì không kiên quyết; mặt khác lại không thận trọng, không phânbiệt đối xử một cách thích đáng, ít chú ý cải tạo những đảng viên có thể cải tạođược và cũng ít chú ý giáo dục đảng viên kém
Trong đợt 5 cải cách ruộng đất, được tiến hành trong một phạm vi rộng lớn,các xã phần lớn là vùng mới giải phóng, nhiều xã chưa qua giảm tô; có nhữngvùng bị địch chiếm đóng sâu và lâu ngày; có nhiều xã là nơi công giáo toàn tòng
và đạo gốc; trình độ quần chúng còn rất thấp so với vùng tự do, thường khônghiểu thế nào là địa chủ, không biết đến Đảng Các chi bộ ở vùng này cũng rấtphức tạp: bị địa chủ lũng đoạn, bị tổ chức phản động cài người Thêm nữa, trongđợt 5 cải cách ruộng đất có nhiều xã chưa có chi bộ đảng, hoặc có nhưng vì xấu
Trang 33phải giải tán Những nơi không có cơ sở đảng thì bọn phản động hoành hành, mêhoặc quần chúng, xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng… Căn cứ vào tình
hình đó, ngày 27-1-1956 Đảng đã ra Chỉ thị “Về việc tăng cường lãnh đạo công
tác chỉnh đốn và xây dựng chi bộ nông thôn trong đợt 5 cải cách ruộng đất”.
Chỉ thị đã đưa ra 3 nội dung: 1- Tẩy trừ phần tử phản động ra khỏi chi bộ và đánh tan ảnh hưởng của chúng trong đảng viên; 2- Chú ý đầy đủ việc kết nạp đảng viên mới và xây dựng chi bộ ở những nơi chưa có cơ sở đảng; 3- Tăng
cường việc giáo dục đảng viên; có kế hoạch thích hợp với từng loại; nhiệt tìnhcải tạo đảng viên kém, đảng viên có nhiều sai lầm nhưng không phải là phần tửđịch Với 3 nội dung chính của Chỉ thị, đòi hỏi cán bộ phải nêu cao quyết tâmđánh địch, có kế hoạch cụ thể và dựa vào quần chúng, vào đảng viên tốt để loạitrừ bọn phản động ra khỏi tổ chưc và đánh tan những luận điệu xuyên tạc củachúng Đồng thời phải củng cố những chi bộ đã có, kết nạp thêm đảng viên, phảilàm cho chi bộ nông thôn thật sự vững mạnh, làm thất bại mọi âm mưu và hànhđộng của các thế lực phản động
Như vậy, việc chỉnh đốn chi bộ ở nông thôn được coi là một nhiệm vụ quantrọng trong đợt cải cách ruộng đất Công tác chỉnh đốn chi bộ đã thu được nhiềukết quả: loại trừ những phần tử có lập trường của giai cấp bóc lột và những phần
tử xấu ra khỏi Đảng; kết nạp thêm những đảng viên mới có lập trường giai cấp,hầu hết là bần cố nông; xây dựng, củng cố chi bộ ở một số nơi trước đây chưa cóchi bộ Tuy nhiên, càng về sau, nhất là trong đợt 4, 5 của cải cách ruộng đất,công tác chỉnh đốn chi bộ càng mắc phải nhiều sai lầm, gây ra những tổn thươngnặng nề cho đội ngũ cán bộ Do phương châm và phương pháp sai lầm, nêntrong việc chỉnh đốn chi bộ, đã đả kích tràn lan vào nội bộ Đảng, giải tán chi bộ
Trang 34bừa bãi, bắt bớ và xử trí cả những đảng viên tốt, xử bắn lầm một số Bí thư chi
bộ hay chi uỷ viên có nhiều công lao với Đảng…35
2.2 Chỉnh đốn đảng ở cấp huyện, tỉnh
- Chỉnh đốn cơ quan cấp huyện
Trong bối cảnh thực hiện cải cách ruộng đất, ở các cơ quan cấp huyện vẫncòn tình trạng phức tạp: nhiều cán bộ huyện còn ảnh hưởng tư tưởng của giaicấp bóc lột; trong cơ quan vẫn có những thành phần xấu chiếm đa số hoặc giữvai trò chủ chốt, cán bộ tốt nhưng bị chèn ép không phát huy được … Qua đợtchỉnh huấn, chỉnh Đảng đã tiến hành xử trí, đề bạt nhưng mới chỉ dựa vào kiểmthảo của cán bộ mà chưa có sự kết hợp với sự giúp đỡ của quần chúng nên chưa
đạt kết quả tốt… Trước tình hình đó, ngày 3-2-1955, Trung ương ra Chỉ thị “Về
việc chỉnh đốn cơ quan chỉ đạo cấp huyện trong cải cách ruộng đất” Công tác
chỉnh đốn cấp huyện trong cải cách ruộng đất được xác định là một bộ phận của
công tác tiếp tục chỉnh Đảng kết hợp với cuộc vận động cải cách ruộng đất
nhằm mục đích nhằm làm cho cấp huyện trở nên trong sạch, vững mạnh; nângcao lập trường tư tưởng cho cán bộ, đảng viên; đảm bảo giữ đúng tính chất cáchmạng của Đảng là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Yêu cầucủa chỉnh đốn là: loại bỏ tư tưởng của giai cấp địa chủ, phong kiến bóc lột; loại
bỏ những phần tử có tư tưởng của giai cấp địa chủ, phong kiến; nâng cao lậptrường tư tưởng cho cán bộ, đảng viên
Công tác chỉnh đốn cơ quan chỉ đạo cấp huyện được tiến hành kết hợp chặtchẽ với công tác cải cách ruộng đất Công tác này được xác định bao gồm hai
bước: bước 1: tìm hiểu, lấy ý kiến của quần chúng nhân dân, tiến hành sơ bộ phân loại cán bộ trong huyện; bước 2: khi công tác cải cách ruộng đất kết thúc
thì triệu tập ngay hội nghị cán bộ để tiến hành chỉnh đốn Tất cả cán bộ trong
35 Trong báo cáo của Bộ Chính trị năm 1956 nhận định: “Qua 8 đợt giảm tô và cải cách ruộng đất, đã chỉnh đốn 2.876 chi bộ trên tổng số 3.777 chi bộ, như vậy là 3/4 chi bộ đã trải qua chỉnh đốn, gồm 15 vạn đảng viên trên tổng số 17,8 vạn đảng viên (chiếm 84,2% số đảng viên dự chỉnh đốn) Theo thống kê chưa kiểm tra lại, tổng số
đảng viên bị xử trí là 84.000 người (chiếm 47,1% tổng số đảng viên) - Đề cương báo cáo của Bộ Chính trị tại
Hội nghị Trung ương lần thứ 10, tháng 10-1956 Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, tr.432.
Trang 35huyện đều phải tham dự hội nghị Ngoài ra, có cán cán bộ xã đến dự để đại diệncho ý kiến của quần chúng và đảng viên, giúp đỡ cán bộ kiểm thảo sai lầm.
- Chỉnh đốn cơ quan chỉ đạo cấp tỉnh
Đến cuối năm 1955, các cơ quan chỉ đạo cấp tỉnh (Đảng, chính, quân, dân)tuy đã được chỉnh đốn sau đợt chỉnh Đảng, chỉnh huấn và trải qua cải cáchruộng đất, nhưng nói chung vẫn còn phức tạp nghiêm trọng về mặt tư tưởng và
tổ chức Ngày 9-11-1955, Trung ương ra Chỉ thị “Về việc chỉnh đốn các cơ quan
chỉ đạo cấp tỉnh trong cải cách ruộng đất” Chỉ thị này được thực hiện ở những
tỉnh đã làm xong cải cách ruộng đất, sau khi chỉnh đốn các cơ quan chỉ đạo cấphuyện, phải tiến hành chỉnh đốn các cơ quan chỉ đạo cấp tỉnh
Mục đích làm cho các cơ quan chỉ đạo cấp tỉnh trong sạch, vững mạnh,
thực hiện thắng lợi cải cách ruộng đất, chấp hành nghiêm chỉnh và đúng đắn mọi
đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ Yêu cầu của việc chỉnh đốn là:
xác lập tư tưởng vô sản, chống tư tưởng địa chủ và ảnh hưởng tư tưởng đế quốc;
đề bạt những cán bộ tốt xuất hiện trong cuộc đấu tranh chống đế quốc và phongkiến, thanh trừ những phần tử xấu; kiện toàn các cơ quan cấp tỉnh về tổ chức
Các bước tiến hành: Bước 1: điều tra nghiên cứu tình hình các cơ quan cấp tỉnh; Bước 2: Mở hội nghị chỉnh đốn: vì số cán bộ ở tỉnh đông, không thể mở
hội nghị chỉnh đốn tất cả một lần, nên phải chia làm mấy đợt, cán bộ chủ chốt
làm trước, cán bộ thứ yếu làm sau; Bước 3: tuyên bố kết quả đề bạt, xử trí, tuyên
bố danh sách tỉnh ủy mới và danh sách cán bộ cốt cán các cơ quan của tỉnh, ổnđịnh bộ máy, kiểm điểm công tác đã qua, định chương trình công tác mới
Thực hiện Chỉ thị của Trung ương, công tác chỉnh đốn đảng, chính quyền
đã tiến hành trong 66 huyện và 7 tỉnh Trong tổng số 3.425 cán bộ và nhân viên
ở cơ quan tỉnh dự chỉnh đốn, trong đó có 2.677 là đảng viên, tổng số bị xử trí là
720 cán bộ và nhân viên, tỷ lệ là 21% Nhưng nếu lấy cán bộ từ cấp Ty trở lênthì tổng cộng có 284 người, số bị xử trí lên 105 người Tỉnh uỷ viên tại chức dựchỉnh đốn 36 người, thì bị xử trí 19 người, tỉnh uỷ viên cũ dự chỉnh đốn là 61
Trang 36người thì bị xử trí 26 người, Uỷ viên Uỷ ban hành chính tỉnh dự chỉnh đốn 17người thì bị xử trí 15 người.
Về chỉnh đốn cấp huyện, chỉ tính 66 ban huyện uỷ trong 4 đợt thì tổng sốhuyện uỷ viên dự chỉnh đốn là 396 người, số bị xử trí là 191, tỷ lệ 48,23% Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện mắc phải “tư tưởng thành phần chủnghĩa rất nặng”, cho thành phần là quyết định tất cả, thậm chí nhiều nơi cho rằngquyền lãnh đạo ở nông thôn phải thuộc về bần cố nông, đặt bần cố nông cao hơnĐảng, làm mơ hồ sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng Dẫn đến kếtquả làm tăng thêm thành phần bần cố nông trong chi uỷ lên tới tỷ lệ 97% ,dùng quần chúng để vạch tội đảng viên cũ, dùng truy bức nhục hình đối vớiđảng viên, giao cho cán bộ của đội không phải là đảng viên làm nhiệm vụ xử tríđảng viên, kết nạp đảng viên, như vậy là sai lầm nghiêm trọng và vô nguyên tắc,
đã vi phạm những quyền tự do cá nhân của người nông dân, đã đem phươngpháp đấu tranh với kẻ địch mà tiến hành đấu tranh trong nội bộ ”36
Bộ Chính trị nhận định hậu quả của những sai lầm kể trên: “Do những sailầm nói trên, mà hiện nay tình hình trong Đảng và trong nhân dân đang căngthẳng một cách phổ biến, từ thôn quê đến thành thị, từ quần chúng cơ bản đếncác tầng lớp trên, từ ngoài nhân dân đến trong Đảng, ai nấy đều thấy đời sốngchính trị và vật chất đang gặp những khó khăn không bình thường, trong Đảng
và ngoài nhân dân đang chờ đợi những biện pháp sửa chữa gấp rút và kiên quyếtcủa Trung ương và Chính phủ ”37
Như vậy, có thể thấy công tác chỉnh đốn chi bộ nông thôn và chỉnh đốnđảng ở cấp tỉnh, huyện trong cải cách ruộng đất (12-1954 đến tháng 7-1956) tuy
có đạt được một số kết quả nhưng đã phạm phải những sai lầm nghiêm trọng.Trước tình hình ấy, Từ tháng 7-1956, liên tiếp có nhiều cuộc hội nghị quan trọngcủa Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Chấp hành Trung ương Đảng để bàn về
36 Đề cương báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10, tháng 10-1956, Văn kiện Đảng toàn
tập, tập 17, tr.434.
37 Đề cương báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10, tháng 10-1956, Văn kiện Đảng toàn
tập, tập 17, tr.477.
Trang 37những sai lầm và về việc sửa sai Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10 tháng
11-1956, đã thẳng thắn vạch rõ những sai lầm trong chỉnh đốn Đảng, phân tích sâusắc những nguyên nhân, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp kiên quyết sửa sai.Hội nghị đã quyết định thi hành kỷ luật một số cán bộ lãnh đạo cấp cao củaĐảng và chủ trương nhanh chóng khôi phục lại danh dự và cương vị cho nhữngngười đã bị xử trí oan, đền bù và chăm sóc thích đáng cho thân nhân và nhữngngười đã tự sát và bị xử bắn oan, công khai xin lỗi nhân dân
Hội nghị cũng thông qua một loạt Nghị quyết chuyên đề về công tác tưtưởng, về dân chủ hoá bộ máy, về thực hiện quyền dân chủ của nhân dân, vềtăng cường chế độ pháp trị, về kiện toàn tổ chức, cải tiến lề lối làm việc Đặc
biệt Nghị quyết về kiện toàn tổ chức và cải tiến lề lối làm việc có đề ra những
biện pháp cụ thể để khắc phục tình trạng quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, mấtdân chủ
3 Vận động chỉnh đốn Đảng trong cuộc vận động “Chỉnh huấn mùa xuân” và phong trào “Xây dựng chi bộ, Đảng bộ bốn tốt” (1961 - 1965)
Với thắng lợi của phong trào Đồng Khởi cuối năm 1960 đã giáng một đònmạnh mẽ vào chính sách thực dân kiểu mới của Mỹ, làm lung lay chính quyềntay sai Việt Nam Cộng hòa Đồng thời đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ củacách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công
Tại miền Bắc, cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đã tạo nên những chuyển biếnquan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Đời sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân được nâng lên, vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nướcđược củng cố Từ năm 1961, nhân dân miền Bắc thực hiện kế hoạch Nhà nước 5năm lần thứ nhất (1961-1965), xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội,đồng thời làm hậu phương cho cách mạng miền Nam
Về công tác xây dựng Đảng, trải qua thực tế đấu tranh cách mạng, trình độchính trị, tư tưởng và năng lực công tác của cán bộ, đảng viên đã có nhiều tiến
bộ Uy tín của Đảng trong nhân dân và trình độ giác ngộ cách mạng của nhândân đã ngày càng được nâng lên Tuy nhiên, đi sâu vào phân tích diễn biến tư
Trang 38tưởng trong nội bộ Đảng vẫn còn một số tồn tại: một số đảng viên có lập trường
tư tưởng chưa vững vàng, khi hữu khi tả, thậm chí có những cá biệt thoái hóa, savào luận điểm phản cách mạng, chống đối lại sự lãnh đạo sự lãnh đạo của Đảng.Một số đảng viên tin tưởng vào tiền đồ của cách mạng nhưng chưa nắm vữngđược nội dung của giai đoạn cách mạng tiến lên xã hội chủ nghĩa, đồng thời xuấthiện tư tưởng cá nhân chủ nghĩa và tự do chủ nghĩa…
Sau cải cách ruộng đất, việc đào tạo cán bộ công nông chưa được chú trọngđúng mức, quan hệ lãnh đạo giữa các cấp các ngành chưa được phân định rõràng và hợp lý; việc thi hành chính sách dân tộc, xây dựng khu vực tự trị cònnhiều vấn đề quan trọng và phức tạp
Trước những biểu hiện đó, yêu cầu Đảng phải tiếp tục đẩy mạnh chỉnhhuấn trong toàn Đảng để loại bỏ hoàn toàn những tư tưởng lệch lạc, phi vô sản,đồng thời nâng cao quan điểm giai cấp và xây dựng một tác phong cách mạngcho mọi cán bộ, đảng viên Kế thừa kinh nghiệm của thời kỳ trước, trong giaiđoạn 1961-1965, công tác chỉnh đốn, xây dựng Đảng gắn liền với 2 cuộc vận
động “chỉnh huấn mùa xuân” và phong trào “xây dựng chi bộ, Đảng bộ bốn tốt”.
- Nội dung cuộc vận động:
Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công xây dựng chủ nghĩa xãhội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà, Nghị quyết Đại hội Đảng toànquốc lần thứ III (tháng 9-1960) nêu rõ “cần phải tăng cường tính chất giai cấp vàtính chất tiên phong của Đảng, tăng cường sức chiến đấu của Đảng và phải quántriệt yêu cầu ấy trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng”38 Trên lĩnh vực tưtưởng, cần “bồi dưỡng tư tưởng vô sản, chống ảnh hưởng của tư tưởng tư sản,chống tư tưởng tiểu tư sản, tiếp tục xoá bỏ tàn tích của tư tưởng phong kiến và
tư tưởng không vô sản khác”39 Về tổ chức, phải “kiện toàn cơ quan lãnh đạo ởcác cấp, tăng cường sự lãnh đạo thống nhất, của Trung ương và sự lãnh đạo toàndiện của các cấp uỷ, khắc phục hiện tượng phân tán, và chống lối tập trung quan
38 Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21 (1960), sđd, tr 937.
39 Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21 (1960), sđd, tr 938.
Trang 39liêu Các cơ quan lãnh đạo và cán bộ phụ trách phải đi sâu vào công tác thực tế,nắm vững những nhiệm vụ công tác quan trọng, đồng thời giữ vững sự lãnh đạotoàn diện; tăng cường công tác chỉ đạo thực hiện”40.
Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng, ngày 25-2-1961, Bộ Chính trị ra Nghịquyết số 12/NQ-TW về cuộc vận động chỉnh huấn mùa xuân 1961 Nghị quyết
đề cập rõ cuộc vận động chỉnh huấn này “phải là một cuộc vận động lớn về tưtưởng không những trong nội bộ Đảng mà cả ở ngoài quần chúng nhân dân,nhằm làm cho tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng lao động phù hợpvới yêu cầu phát triển của cách mạng trong giai đoạn hiện nay và trở thành mộtlực lượng vật chất mạnh mẽ bảo đảm thi hành Nghị quyết của Đại hội lần thứ IIIcủa Đảng, hoàn thành vượt mức kế hoạch nhà nước và thúc đẩy cách mạng pháttriển lên những bước mới”41 Nghị quyết cũng chỉ ra phương châm cần nắm
vững để đạt được mục đích và yêu cầu cuộc chỉnh huấn: Thứ nhất, chú trọng bồi
dưỡng và xây dựng nhận thức, tư tưởng mới, trên cơ sở đó phát huy ưu điểm,
khắc phục tư tưởng và tác phong sai lầm Thứ hai, phải kết hợp yêu cầu chỉnh
huấn chung với yêu cầu cụ thể của từng địa phương, từng ngành, từng đối
tượng Thứ ba, kết hợp đúng đắn sự cố gắng của cá nhân với sự giúp đỡ của tập thể Thứ tư, cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, biết lắng nghe và tiếp thu ý kiến xây dựng của quần chúng, nhất là của công nhân, nông dân Thứ năm, phải vừa
bảo đảm chỉnh huấn tốt, đồng thời bảo đảm sản xuất và công tác tốt
Trên cơ sở đường lối của Đảng, từ ngày 13 đến ngày 21-3-1961, gần 1.000cán bộ phụ trách các ngành, đơn vị từ Trung ương đến địa phương ở miền Bắc
đã họp Hội nghị để chuẩn bị tiến hành cuộc chỉnh huấn mùa xuân 1961 Tại Hộinghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Đợt chỉnh huấn này, là một cuộc vậnđộng lớn về tư tưởng trong Đảng và trong nhân dân lao động, nhằm xây dựngnhững con người của chủ nghĩa xã hội, có tư tưởng và tác phong xã hội chủ
40 Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21 (1960), sđd, tr 938.
41 Nghị quyết số 12/NQ-TW của Bộ Chính trị “Về cuộc vận động chỉnh huấn mùa xuân 1961”, tr.1.
Trang 40nghĩa”42 Cụ thể, cuộc vận động tập trung bồi dưỡng, nâng cao ý thức làm chủNhà nước và tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa Xây dựng quan điểm phục vụsản xuất; quan điểm cần, kiệm xây dựng nước nhà; quan điểm tiến nhanh, tiếnmạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.
Từ tháng 3-1961, Ban Chỉnh huấn Trung ương được thành lập có nhiệm vụgiúp Bộ Chính trị lãnh đạo công tác chỉnh huấn của toàn Đảng43 Ở cấp dưới,Ban Thường vụ thành lập Ban Chỉnh huấn để hỗ trợ công tác chỉnh huấn diễn rathuận lợi, đồng thời đồng chí bí thư hoặc phó bí thư được bầu giữ chức trưởngban chỉnh huấn để nắm chắc công tác chỉnh huấn, một số cán bộ ở một số ngành
có liên quan cũng được bầu vào ban chỉnh huấn
Các tài liệu tại các lớp chỉ huấn bao gồm: bài phát biểu của Hồ Chủ tịch tạicuộc Hội nghị phổ biến kế hoạch chỉnh huấn; tinh thần cơ bản của Tuyên bốMatxcơva tháng 11-1960, nội dung cơ bản của Nghị quyết Đại hội toàn quốclần thứ III của Đảng; văn kiện của Trung ương về “Những quan điểm cơ bản cầnphải nắm vững để đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miềnBắc”…
Sau Hội nghị, trên khắp miền Bắc, từ Trung ương đến cơ sở, hầu hết cán
bộ, đảng viên, cán bộ, nhân viên ở các cơ quan nhà nước và các đoàn thể, cán bộ
và chiến sĩ trong quân đội, công nhân các xí nghiệp, xã viên các hợp tác xã đềutham gia chỉnh huấn Đối với các cán bộ, nhân viên thuộc các cơ quan nhà nước
lấy hình thức chỉnh huấn tại chức ở cơ quan làm chủ yếu Mỗi tuần học hai buổi
vào giờ hành chính, hai buổi tối Trong thời gian chỉnh huấn, tất cả các buổisinh hoạt Đảng, Đoàn vào buổi tối, nói chung tạm đình chỉ; còn học tập văn hoávẫn tiếp tục như thường lệ Những nơi vì hoàn cảnh riêng có thể tổ chức nhữnglớp chỉnh huấn tập trung
42 Báo Nhân dân số 2563 (tháng 27-3-1961), Lời Hồ Chủ tịch nói chuyện tại hội nghị bàn cuộc vận động chỉnh
huấn mùa xuân 1961, tr.1.
43 Ban Chỉnh huấn Trung ương gồm 11 đồng chí: Trường Chinh (Trưởng ban), Lê Đức Thọ, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Quốc Việt, Tố Hữu, Hoàng Anh, Lê Văn Lương, Xuân Thuỷ, Song Hào, Trần Quang Huy.