Đoàn kết là một truyền thống quý báu trong lịch sử dụng nước và giữ nước của dân tộc. Truyền thống đoàn kết ấy được hun đúc từ tinh thần tương thân, tương ái, gắn bó mật thiết với nhau trong lao động sản xuất, trong đấu tranh chống lại thiên nhiên khắc nghiệt và trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, vấn đề đoàn kết dân tộc được thể hiện trong đường lối chiến lược chung của cách mạng cả nước. Đại đoàn kết dân tộc là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo sự phát triển bên vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đánh giá vị trí trọng yếu của miền núi, nơi có vị trí rất quan trọng về kinh tế, chính trị, đối ngoại và quốc phòng; là vị trí “căn cứ địa cách mạng”, “nơi có nhiều đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống”; “nơi phên giậu của quốc gia”… Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến địa bàn chiến lược này. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh: Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau... Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta. Tin tưởng vào lòng trung thành, tinh thần chịu đựng hy sinh, lối sống giản dị, chất phác và sự tận tụy với công việc của đồng bào các dân tộc thiểu số, ngay khi trở về Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí Minh đã chọn Cao Bằng làm điểm dừng chân; xây dựng Cao Bằng và các tỉnh miền núi phía Bắc như: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên làm căn cứ địa của cách mạng. Từ đây, Người đã tuyên truyền, cổ vũ đồng bào các dân tộc thiểu số tham gia phong trào cách mạng, tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc; đào tạo đội ngũ cán bộ từ những người con ưu tú của đồng bào các dân tộc thiểu số Tày, Nùng,.. như Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Nọn, Hoàng Văn Thụ,… thành những “hạt giống đỏ”, góp phần phát triển phong trào cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung và các dân tộc khu vực miền núi phía Bắc nói riêng luôn đoàn kết một lòng, tin tưởng theo Đảng làm cách mạng; không chỉ căm thù thực dân xâm lược mà còn đoàn kết, nỗ lực gây dựng, phát triển phong trào cách mạng và có những đóng góp hết sức to lớn vào thành công của sự nghiệp giải phóng dân tộc, làm nên thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, Đảng và Nhà nước luôn chủ trương tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, đặc biệt coi trọng phát huy vai trò tại chỗ của đồng bào các dân tộc thiểu số, giúp đồng bào nhận thức sâu sắc hơn về ý thức đoàn kết và bình đẳng dân tộc; làm cho đồng bào hiểu được sự cần thiết phải xóa bỏ các định kiến dân tộc, khắc phục những tập tục lạc hậu, chăm lo phát triển sản xuất, để từng bước thoát khỏi đói nghèo lạc hậu. Vì lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Đảng lãnh đạo phát huy vai trò của các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc trong đấu tranh giành chính quyền (19301945) và kinh nghiệm đối với hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cấp cơ sở năm 2020.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HIỆN NAY
Chủ nhiệm : Thư ký : Các thành viên :
ThS Đỗ Văn Phương
TS Dương Thị Huệ
TS Nguyễn Bình PGS TS Trịnh Thị Hồng Hạnh
TS Nguyễn Thị Xuân
Trang 2HÀ NỘI - 2020
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC VÀ CHỦ TRƯƠNG VẬN ĐỘNG ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA ĐẢNG 10
1 Vị trí chiến lược và truyền thống cách mạng của đồng bào các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc 10
2 Quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về phát huy vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số trong đấu tranh giành chính quyền 18
Chương 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC TRONG ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930-1945) 28
1 Đảng lãnh đạo phát huy vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc tiến tới đấu tranh giành chính quyền 28
2 Lãnh đạo đồng bào các dân tộc giành chính quyền 59
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 68
1 Nhận xét 68
2 Kinh nghiệm 71
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đoàn kết là một truyền thống quý báu trong lịch sử dụngnước và giữ nước của dân tộc Truyền thống đoàn kết ấy đượchun đúc từ tinh thần tương thân, tương ái, gắn bó mật thiết vớinhau trong lao động sản xuất, trong đấu tranh chống lại thiênnhiên khắc nghiệt và trong các cuộc kháng chiến chống giặcngoại xâm của dân tộc Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạngViệt Nam, vấn đề đoàn kết dân tộc được thể hiện trong đường lốichiến lược chung của cách mạng cả nước Đại đoàn kết dân tộc lànguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyếtđịnh đảm bảo sự phát triển bên vững của sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc
Đánh giá vị trí trọng yếu của miền núi, nơi có vị trí rất quantrọng về kinh tế, chính trị, đối ngoại và quốc phòng; là vị trí “căn
cứ địa cách mạng”, “nơi có nhiều đồng bào các dân tộc thiểu sốsinh sống”; “nơi phên giậu của quốc gia”… Đảng và Chủ tịch HồChí Minh luôn quan tâm đến địa bàn chiến lược này Trong tưtưởng Hồ Chí Minh: Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay mán, GiaRai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác,đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sốngchết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau Sông cóthể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta khôngbao giờ giảm bớt Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữvững quyền tự do, độc lập của chúng ta
Tin tưởng vào lòng trung thành, tinh thần chịu đựng hy sinh,lối sống giản dị, chất phác và sự tận tụy với công việc của đồngbào các dân tộc thiểu số, ngay khi trở về Tổ quốc, Nguyễn ÁiQuốc - Hồ Chí Minh đã chọn Cao Bằng làm điểm dừng chân; xây
Trang 5dựng Cao Bằng và các tỉnh miền núi phía Bắc như: Cao Bằng, BắcKạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên làm căn cứđịa của cách mạng Từ đây, Người đã tuyên truyền, cổ vũ đồngbào các dân tộc thiểu số tham gia phong trào cách mạng, tiếnhành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc; đào tạo đội ngũ cán bộ
từ những người con ưu tú của đồng bào các dân tộc thiểu số Tày,Nùng, như Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Nọn, Hoàng Văn Thụ,
… thành những “hạt giống đỏ”, góp phần phát triển phong tràocách mạng
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào các dân tộc thiểu số nóichung và các dân tộc khu vực miền núi phía Bắc nói riêng luônđoàn kết một lòng, tin tưởng theo Đảng làm cách mạng; khôngchỉ căm thù thực dân xâm lược mà còn đoàn kết, nỗ lực gâydựng, phát triển phong trào cách mạng và có những đóng góphết sức to lớn vào thành công của sự nghiệp giải phóng dân tộc,làm nên thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, lậpnên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, Đảng
và Nhà nước luôn chủ trương tăng cường khối đại đoàn kết dântộc, đặc biệt coi trọng phát huy vai trò tại chỗ của đồng bào cácdân tộc thiểu số, giúp đồng bào nhận thức sâu sắc hơn về ý thứcđoàn kết và bình đẳng dân tộc; làm cho đồng bào hiểu được sựcần thiết phải xóa bỏ các định kiến dân tộc, khắc phục những tậptục lạc hậu, chăm lo phát triển sản xuất, để từng bước thoát khỏiđói nghèo lạc hậu
Vì lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Đảng lãnh
đạo phát huy vai trò của các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc trong đấu tranh giành chính quyền
Trang 6(1930-1945) và kinh nghiệm đối với hiện nay” làm đề tài
nghiên cứu cấp cơ sở năm 2020
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về vị trí, vai trò của đồng bào các dân tộc nóichung và đồng bào các dân tộc khu vực miền núi phía Bắc nóiriêng là một chủ đề khoa học, hấp dẫn, thu hút nhiều nhà nghiêncứu quan tâm, tìm hiểu Đến nay, đã có nhiều công trình nghiêncứu đề cập đến những khía cạnh khác nhau
2.1 Những công trình nghiên cứu về quá trình vận động giành chính quyền ở Việt Nam thời kỳ 1930-1945
Sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, tập hợpnhững bài đã đăng trên báo “Sự thật”, năm 1946, Trường Chinh
cho ra mắt tác phẩm “Cách mạng tháng Tám” Công trình đã tái
hiện lịch sử cuộc vận động cách mạng vĩ đại của dân tộc đưa đếnthành công của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945
Năm 1957, Nhà xuất bản Văn Sử Địa ấn hành công trình
“Cách mạng cận đại Việt Nam: Tài liệu tham khảo lịch sử” do Trần
Huy Liệu chủ biên Đây là công trình nghiên cứu công phu và đồ
sộ nhất về lịch sử Việt Nam cận đại nói chung và cuộc vận độnggiải phóng dân tộc 1930-1945 nói riêng Trong các tập 10, 11, 12,công trình đã tái hiện bức tranh toàn cảnh và sinh động về phongtrào chống phát xít, chống chiến tranh, về cuộc khởi nghĩa BắcSơn, Nam Kì, binh biến Đô Lương; về vai trò của nhân dân trongcách mạng, trong đó có các tỉnh miền núi phía Bắc
Để làm rõ hơn vai trò của nhân dân trong cuộc tổng khởinghĩa giành chính quyền trong toàn quốc, năm 1960, Viện Sử học
đã xuất bản công trình “Cách mạng tháng Tám - Tổng khởi nghĩa
ở Hà Nội và các địa phương” (quyển 1, 2) Công trình đã tập hợp
được nguồn tư liệu phong phú, về vai trò của nhân dân trong khởi
Trang 7nghĩa giành chính quyền ở các địa phương, trong đó có khu vựcmiền núi phía Bắc.
Năm 1967, Nhà xuất bản Sự thật xuất bản các công trình
“Tìm hiểu Cách mạng tháng Tám” và “Tìm hiểu tính chất và đặc điểm của Cách mạng tháng Tám” Hai công trình đã đi sâu nghiên
cứu về quá trình chuẩn bị và diễn biến cuộc khởi nghĩa giànhchính quyền trong toàn quốc, trong đó có phân tích vai trò củađồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc trong cuộcvận động cách mạng tháng Tám năm 1945
Đề cập toàn diện hơn về Cách mạng tháng Tám, năm 1971,
Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng xuất bản công trình “Cách mạng tháng Tám 1945” Công trình là kết quả nghiên cứu của tập thể
các nhà khoa học uy tín trong nước, trên cơ sở những tư liệu mới,các tác giả đã làm rõ được vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng,
sự sáng tạo của các địa phương, trong đó có các tỉnh miền núiphía Bắc
Kỉ niệm lần thứ 40 Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh
2-9, Viện Lịch sử Đảng phối hợp với Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng
các tỉnh, thành phố trong cả nước xuất bản cuốn “Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945” Công trình đã trình bày khái quát diễn
biến Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 ở các tỉnh trong cả nước,trong đó có các tỉnh miền núi phía Bắc
Nhân kỉ niệm 50 năm Cách mạng tháng Tám 1945, vào năm
1995, Viện Lịch sử Đảng cho xuất bản công trình “Lịch sử Cách mạng tháng Tám 1945” Công trình này đã làm rõ hơn về quá
trình chuẩn bị lực lượng cách mạng, vai trò của nhân dân các tìnhmiền núi phía Bắc trong cuộc vận động giành chính quyền
Năm 1995, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản công
trình “Cách mạng tháng Tám - Một số vấn đề lịch sử” do Văn Tạo
Trang 8chủ biên Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu của tập thểcác nhà khoa học uy tín trong cả nước, đề cập đến nhiều vấn đềkhác nhau của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 như chủtrương đại đoàn kết dân tộc của Đảng Cộng sản Đông Dương, vaitrò của nhân dân… Đặc biệt, một số chuyên đề đã đi sâu nghiêncứu, làm rõ tính năng động và sáng tạo của phong trào quầnchúng do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Năm 2005, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản công
trình “Khởi nghĩa từng phần lên Tổng khởi nghĩa trong Cách mạng tháng Tám 1945” của Nguyễn Thanh Tâm Công trình đã đi sâu
nghiên cứu nội dung của ba hình thức khởi nghĩa Trong đó đưa ranhững tư liệu mới góp phần làm sáng rõ vai trò của nhân dân cáctỉnh miền núi phía Bắc trong cách mạng tháng Tám năm 1945
Năm 2018, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản công
trình “Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tập I (1930-1954)” do GS
Trịnh Nhu chủ biên Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu,toàn diện về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đếnhết cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược Trong đó, đưa ranhiều tư liệu mới về vai trò của đồng bào các dân tộc miền núiphía Bắc trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền 1930-1945
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây đã tập trunglàm sáng tỏ về bối cảnh lịch sử, quá trình chuẩn bị lực lượng, diễnbiến, tính chất, đặc điểm, ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi
và bài học kinh nghiệm của cuộc vận động đấu tranh giải phóngdân tộc ở Việt Nam Các công trình đã đề cập đến vai trò củaĐảng bộ và nhân dân các địa phương, trong đó có các tỉnh miềnnúi phía Bắc
2.2 Những công trình nghiên cứu tiêu biểu ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Trang 9- Cuốn “Căn cứ địa Việt Bắc (1940 - 1945)” của TS Hoàng
Ngọc La - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995 đã đề cậpđến vị trí chiến lược, truyền thống đấu tranh trong lịch sử vàkhẳng định vai trò vô cùng quan trọng của căn cứ địa Việt Bắc đốivới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945
- Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng xuất bản: “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng 1930-1945”, tập 1, sơ thảo (1982); “Lịch
sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng 1930-2000” (2003) Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ cao Bằng xuất bản “Lịch sử Cách mạng tháng Tám tỉnh Cao Bằng” (1995); “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng 1930-1945” tập 1 (1995); “Pác Bó cội nguồn cách mạng” (2006) Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Bằng xuất bản “Cao Bằng lịch sử đấu tranh vũ trang cách mạng 1930-1954” (1990) Năm 1995 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Cao Bằng chỉ đạo biên soạn cuốn “Bác Hồ với nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng 1941-1945”.
- Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn xuất bản: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn - tập 1 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn, xuất bản
- Năm 1970, cuốn Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Thái
Nguyên xuất bản cuốn “Lịch sử thời kỳ vận động cách mạng tháng Tám tỉnh Thái Nguyên 1939 - 1945”; Cuốn “Lịch sử cách mạng tháng Tám Bắc Thái” xuất bản năm 1978; Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Phổ Yên”, tập I (1930 - 1954), xuất bản năm 1990; Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Định Hoá (1930 - 2000)” do
Huyện uỷ (huyện) Định Hoá xuất bản năm 2000…
Trang 10Nhìn chung, các cuốn lịch sử Đảng bộ tỉnh, huyện đã kháiquát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, con người và truyền thốngđấu tranh cách mạng và vai trò to lớn của nhân dân các dân tộccác tỉnh miền núi phía Bắc trong cuộc đấu tranh giành độc lập.
2.3 Các tài liệu, sách báo, hồi ký cách mạng
Bên cạnh các công trình nghiên cứu, còn có các tác phẩmviết dưới dạng hồi ký, bút ký, ghi chép… phản ánh khá trung thực
về hoạt động, về tình cảm gắn bó sâu sắc của Hồ Chí Minh, cáccán bộ lãnh đạo trong các cơ quan của Trung ương Đảng, Chínhphủ, Bộ Tổng tư lệnh… với đồng bào các dân tộc miền núi phía
Bắc Tiêu biểu như: “Uống nước nhớ nguồn” - tập hồi kí của nhiều
tác giả hoạt động trong thời kì vận động Cách mạng tháng Tám;
hai cuốn hồi kí của Võ Nguyên Giáp “Từ nhân dân mà ra”, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1964 và “Những chặng đường lịch sử”, Nxb Văn Học, 1977; hồi kí của Nông Văn Quang “Con đường Nam tiến”, Nxb Văn hoá Dân tộc, 1995… Các cuốn hồi kí trên
chứa đựng nhiều nội dung phong phú, trong đó có đề cập tới việcxây dựng căn cứ địa cách mạng và vai trò của đồng bào các dântộc miền núi phía Bắc thời kỳ đấu tranh giành chính quyền 1930-
1945
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đề cập ở mức độkhác nhau về vị trí, vai trò của nhân dân các dân tộc miền núiphía Bắc trong đấu tranh giành chính quyền, nhưng, đến nay vẫnchưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàndiện, sâu sắc về vị trí, vai trò của nhân dân các dân tộc thiểu sốkhu vực miền núi phía Bắc trong đấu tranh giành chính quyền
(1930-1945) Do đó, chúng tôi chọn vấn đề: “Đảng lãnh đạo
phát huy vai trò của các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc trong đấu tranh giành chính quyền (1930-1945) -
Trang 11Kinh nghiệm đối với hiện nay” làm đề tài nghiên cứu khoa học
cấp cơ sở năm 2020
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
+ Làm sáng rõ vị trí, vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu
số khu vực miền núi phía Bắc trong công cuộc đấu tranh giànhchính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng; đúc rút một số kinhnghiệm vận dụng trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiệnnay
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Tập hợp và hệ thống hóa tư liệu, tài liệu thuộc lĩnh vựcĐảng vận động, lãnh đạo đồng bào các dân tộc thiểu số khu vựcmiền núi phía Bắc trong công cuộc đấu tranh giành chính quyền.+ Phân tích quan điểm, chủ trương của Đảng và vị trí, vai tròcủa đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc trong công cuộc đấutranh giành chính quyền
+ Làm rõ quá trình Đảng vận động, lãnh đạo và vai trò củađồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc trong công cuộc đấutranh giành chính quyền
+ Phân tích, đánh giá những thành công và hạn chế củaĐảng trong vận động, lãnh đạo đồng bào các dân tộc thiểu số khuvực miền núi phía Bắc trong công cuộc đấu tranh giành chínhquyền
+ Đúc kết những kinh nghiệm trong vận động, lãnh đạo đồngbào các dân tộc miền núi phía Bắc trong công cuộc đấu tranhgiành chính quyền, vận dụng với hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: từ năm 1930 đến năm 1945
Trang 12- Phạm vi không gian: các tỉnh miền núi phía Bắc (Cao Bằng,Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên)
5 Cơ sở lí luận, phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lí luận: Đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác
- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của ĐảngCộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò của quần chúng nhân dân,đồng bào các dân tộc thiểu số trong cách mạng
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp lịch
sử kết hợp phương pháp logic, sưu tầm, thống kê là chủ yếu,ngoài ra đề tài sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu
6 Nội dung nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu
+ Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sảnViệt Nam về vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số khu vựcmiền núi phía Bắc trong đấu tranh giành chính quyền
+ Khái quát về các tỉnh miền núi phía Bắc và bối cảnh lịch sửgiai đoạn 1930-1945
+ Vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số khu vực miềnnúi phía Bắc trong xây dựng lực lượng cách mạng
+ Vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số khu vực miềnnúi phía Bắc trong nuôi, giấu cán bộ và làm hậu phương cho cáchmạng
+ Vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số khu vực miềnnúi phía Bắc trong xây dựng và củng cố căn cứ địa cách mạng
+ Vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số khu vực miềnnúi phía Bắc trong xây dựng lực lượng vũ trang và khởi nghĩagiành chính quyền
- Nhận xét và kinh nghiệm
Trang 13+ Nhận xét sự lãnh đạo của Đảng và vị trí vai trò của đồngbào các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc trong đấutranh giành chính quyền.
+ Đúc rút một số kinh nghiệm về phát huy vai trò của đồngbào các dân tộc miền núi phía Bắc trong công cuộc đổi mới hiệnnay
7 Đóng góp của đề tài
- Khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo trong những quan điểm
của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về đồng bào dân tộcthiểu số trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
- Làm rõ thê sự lãnh đạo của Đảng và vai trò của đồng bàocác dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc trong thời kỳ đấutranh giành chính quyền (1930-1945)
- Đúc kết một số kinh nghiệm, cung cấp thêm những tư liệu
về vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số trong đấu tranh cáchmạng, góp phần phục vụ nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền lịch
sử Đảng tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
8 Bố cục của đề tài
Đề tài có bố cục bao gồm: Phần mở đầu; Phần nội dung với 3chương, 6 tiết; Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 14Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC VÀ CHỦ TRƯƠNG VẬN ĐỘNG ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
CỦA ĐẢNG
I VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC VÀ TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG CỦA ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
1 1 Vị trí chiến lược khu vực miền núi phía Bắc
Phạm vi nghiên cứu bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn(cũ), Lạng Sơn, Thái Nguyên (cũ), Tuyên Quang, Hà Giang Đây làvùng đất giàu truyền thống cách mạng, với đông đảo đồng bàocác dân tộc ít người sinh sống
Nơi đây có diện tích tự nhiên khoảng 50.000km², chiếm 15%diện tích cả nước và bằng khoảng 32% diện tích miền Bắc Khuvực miền núi phía Bắc là nơi rừng núi, với các cao nguyên đá vôi,những cảnh quan cacxtơ trải dài nối liền tới phía Nam TrungQuốc Nhìn tổng quan, địa hình nơi đây cao dần về phía Bắc, thấpdân về phía Nam và Tây Nam Các huyện Phổ Yên, Phú Bình (TháiNguyên), Nam Sơn Dương (Tuyên Quang)… là thềm cổ được đồngbằng hóa trở thành vùng bán sơn địa; là nơi tiếp giao giữa vùngnúi và đồng bằng Có thể nói, địa hình nơi đây hiểm trở, kín đáonhưng không bị chia cắt, cô độc, mà nối liền một dải với trungchâu và đồng bằng Nơi đây có khí hậu nhiệt đới gió mùa, cólượng mưa trung bình trong năm từ 1400 - 1600 mm; nhiệt độtrung bình hằng năm vào khoảng 23°C ở vùng thấp, 20-22°C ởvùng có độ cao trung bình (200-500m) và dưới 20°C ở vùng có
Trang 15độ cao từ 500m trở lên Nhìn chung, khí hậu nơi đây phù hợp cho
sự sinh trưởng của các loại thảo mộc nhiệt đới và cận ôn đới Nơi đây là vùng rừng núi nhưng cũng lắm sông, suối, ao, hồ.Sông, suối được cấu tạo theo năm hệ thống sông chính: sôngThao, sông Lô, sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam Sông,suối, ao, hồ chẳng những đóng vai trò thiết yếu trong đời sốngcủa đồng bào các dân tộc nơi đây mà còn phát huy tác dụngquan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo
vệ Tổ quốc
Cao Bằng có sông Bằng Giang, sông Bác Vọng, sông Năng, có
hồ Thang Hen… Mặc dù sông ở Cao Bằng nhỏ, hẹp, chảy xiết vànhiều thác ghềnh, lưu lượng nước thấp về mùa khô, song vẫn cóthể đi lại bàng thuyền mảng để chuyên chở lâm sản Theo sôngMáng, thuyển nhỏ có thể đi từ mỏ sắt (Sóc Giang) đến Tè Lùng,sát biên giới Việt - Trung Xưa kia, đồng bào thường theo sôngMáng, đi thuyền qua ải Na Thống, đến tận động La Hồi, LongChâu (Trung Quốc)1
Lạng Sơn có sông Kỳ Cùng, sông Tạng, sông Chung, sông BắcKhê và sông Văn Mịch chảy từ Pát Xát qua thành phố Lạng Sơn,sang Trung Quốc Nhân dân vùng biên giới thường dùng mảng đilại trên sông Văn Mịch để trao đổi hàng hóa Sông Văn Mịch cũng
là con sông quan trọng trong giao thông thời kỳ cách mạng
Hà Giang có sông Gâm, Tuyên Quang có sông Lô, một đườngthủy chiến lược vô cùng quan trọng của Việt Bắc Bắc Giang, TháiNguyên có sông Công, sông Cầu Sông Cầu bắt nguồn từ ChợĐồn, chảy qua Bắc Kạn về Thái Nguyên Về mặt quân sự, sôngCầu từ thời Lý đã được lợi dụng làm chiến hào tự nhiên trong cuộckháng chiến chống Tống
1 PGS TS Hoàng Ngọc La, Căn cứ địa Việt Bắc (1940-1945), Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội,
1995, tr.7
Trang 16Do kiến tạo địa chất cùng với những tác động của khí hậu,sông ngòi đã làm cho địa hình khu vực Việt Bắc trở nên muônhình, muôn vẻ Giữa các ngọn núi và khe sâu, thung lũng lòngchảo rộng, hẹp khác nhau, hết sức kín đáo vừa thuận lợi cho đồngbào sản xuất, chăn nuôi, vừa có tác dụng che giấu, bảo vệ lựclượng cách mạng
Địa hình núi đá vôi cũng tạo nên ở nơi đây vô vàn các hangđộng, mái đá kín đáo, là nơi tốt nhất để đồng bào các dân tộc ẩnnáu và cất giấu lương thực, thực phẩm Có những hang lớn nhưhang Mỏ Gà (Vũ Nhai, Thái Nguyên), là nơi có thể chứa hàngnghìn quần chúng nhân dân các dân tộc xã Lâu Thượng, PhúThượng… trốn giặc càn quét Có những hang bí mật, ít người biếtnhư hang Pác Bó (Hà Quảng, Cao Bằng), nơi gắn liền với cuộc đờihoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh Các hang động ở Bắc Sơn(Lạng Sơn), Võ Nhai (Thái Nguyên), hang Kéo Quảng (NguyênBình), động Bó Lình (Quảng Hòa) thuộc Cao Bằng… đã gắn liềnvới lịch sử cách mạng ở địa phương và đi sâu vào lịch sử dân tộc Nhìn tổng quan, khu vực này có rừng núi hiểm trở, nhiềuxung yếu, biên ải xa xôi, nhưng có hệ thống giao thông đường bộthuận lợi, có thể dễ dàng bắt nối, liên lạc với trung tâm chính trị,kinh tế văn hóa của cả nước, xưa là Thăng Long, nay là thủ đô HàNội
Theo Quốc lộ 3 từ Hà Nội lên Thái Nguyên, Bắc Kạn, tới tậnCao Bằng (khoảng 320km) Từ trung tâm Cao Bằng có thể tỏa đicác huyện Cao Bằng có đường biên giới, có hàng chục cửa khẩu
và hàng trăm lối mòn sang thông sang Trung Quốc Trong đó,đường Quảng Uyên ra Thủy Khẩu, Long Châu (Trung Quốc) trởthành con đường trọng yếu của nhân dân hai nước vùng biên, củacác chiến sĩ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX và phong trào
Trang 17giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh Hệthống giao thông thủy, bộ của Cao Bằng giữ vị trí quan trọng và
có tầm chiến lược không chỉ với Cao Bằng mà với cả nước
Từ Hà Nội, theo quốc lộ 2 qua Việt Trì lên Tuyên Quang(khoảng 160km), lên Hà Giang (khoảng 320km) Từ Hà Giang cóthể đi Bảo Lạc (Cao Bằng) với hơn 200km Từ trung tâm Hà Giang
ra Thanh Thủy (20km) đến biên giới Việt - Trung
Tuyên Quang là vùng thấp, bán sơn địa, vừa tiếp giáp vớitrung du, đồng bằng, lại và dễ dàng liên lạc với các tỉnh TháiNguyên (cũ), Bắc Kạn (cũ) và Cao Bằng Tuyên Quang trong lịch
sử là vùng căn địa, là nơi hoạt động quan trọng của các thủ lĩnh,của các nghĩa quân khởi nghĩa…
Lạng Sơn là tỉnh có hệ thống giao thông thuận lợi, có vị tríchiến lược cả về chính trị, kinh tế, văn hóa và quân sự Từ đây,theo quốc lộ 1A, từ Đồng Đăng về Hà Nội (158km) là con đườngthiên cổ hết sức trọng yếu, ghi nhiều dấu ấn vẻ vang của dân tộctrong lịch sử chống ngoại xâm Ngoài quốc lộ 1A, Lạng sơn còn cóquốc lộ 4A từ Lạng Sơn đi Cao Bằng; đường 4B từ Lạng Sơn điMóng Cái; đường 1B từ Lạng Sơn đị Thái Nguyên và hàng trămcon đường đi các huyện và lối mòn sang Trung Quốc
Thái Nguyên được coi là cửa ngõ của khu vực miền núi phíaBắc, là đầu mối giao thông, hội tụ ngược xuôi Về quân sự, TháiNguyên là bàn đạp tiến công, là phên giậu bảo vệ Hà Nội
Nhìn chung có thể thấy, các tỉnh miền núi phía Bắc rất giàuđẹp và là nơi án ngữ phía Bắc Việt Nam, tiếp giáp với đất nướcTrung Quốc bao la, trên một tuyến biên giới dài 751km Vì vậy, ởthời đại nào, nơi đây cũng giữ một vị trí chiến lược hết sức quantrọng Với núi rừng hiểm trở, nơi đây thuận lợi khi phòng thủ vàlợi thế khi tiến công Trong chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo
Trang 18vệ Tổ quốc chống quân xâm lược phương Bắc, các triều đại phongkiến Đại Việt luôn coi nơi đây là những “bức phên giậu” bảo vệThăng Long
Trong điều kiện lịch sử mới, với vị trí chiến lược quan trọng
-là nơi kết nối, thông thương với thế giới mà trực tiếp -là TrungQuốc Vì vậy, nơi đây là địa bàn quan trọng trong tập hợp, pháttriển lực lượng trong đấu tranh cách mạng và tiến hành khởinghĩa vũ trang giành chính quyền
1.2 Truyền thống cách mạng của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc
Khu vực miền núi phía Bắc1 là địa bàn cư trú của cộng đồngbào các dân tộc thiểu số, như Tày, Nùng, Dao, Mông … Trong đó,người Tày có dân số đông hơn cả với khoảng 2 triệu người, sốngtập trung ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, phía Bắc Thái Nguyên,Tuyên Quang Dân tộc Tày, Nùng sống ở vùng thấp, làm ruộng,quần cư thành các làng, bản, có nơi tới hàng trăm nóc nhà
Đồng bào Dao sinh sống chủ yếu ở các huyện Yên Sơn, SơnDương (Tuyên Quang) và rải rác ở các huyện Chợ Đồn, Ba Bể (BắcKạn), Ngân Sơn, Nguyên Bình (Cao Bằng)… Người Mông sống ởvùng cao Hà Giang và rải rác ở các huyện phía Đông Bắc tỉnh CaoBằng như huyện Bảo Lạc, Thông Nông, Lục Kha (Hà Quảng) và số
ít ở Nguyên Bình, Hòa An…
Người Dao và người Mông hầu như không có ruộng, họ sốngchủ yếu bằng phát rẫy, làm nương, sống du canh, du cư, lảng bảnthưa thớt Họ có tập quán cấy lúa nương, trồng ngô, các loại đỗ
và các loại cây hoa màu khác Cuộc sống du canh du cư, kinh tếkém phát triển đời sống gặp nhiều khó khăn
1 Trong phạm vị nghiên cứu, gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn (cũ), Lạng Sơn, Thái Nguyên (cũ), Tuyên Quang, Hà Giang.
Trang 19Dân tộc Kinh, dân tộc Hoa sinh sống chủ yếu ở thị xã, thịtrấn, phần nhiều làm nghề buôn bán các mặt hàng lương thực,thực phẩm và hàng tạp hóa, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ…Trước cách mạng tháng Tám, đời sống kinh tế của đồng bào cácdân tộc nơi đây chủ yếu là kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ, tựcung tự cấp Nhân dân dựa vào rừng núi, đồng ruộng, ao, hồ,sông, suối để duy trì cuộc sống So với miền xuôi, kinh tế các tỉnhmiền núi Việt Bắc chậm phát triển Song, điều quan trọng là hầunhư nhà nào cũng tự sản xuất được các sản phẩm phục vụ đờisống Sản xuất lương thực: lúa, ngô, khoai, sắn được trồng ởruộng, soi bãi, trên nương Ngoài ra họ còn chăn nuôi trâu, bò,ngựa, dê, lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng… Tình trạng thiếu ăn trongnhân dân vẫn thường xuyên xảy ra, nhất là đối với những gia đình
ít ruộng, nương, nhưng không có tình trạng nạn đói đe dọa trầmtrọng trong những năm mất mùa ở một số tỉnh miền xuôi
Nghề thủ công gia đình như trồng bông, kéo sợi, dệt vải (khổhẹp), dệt thổ cẩm, làm mộc, rèn, đan lát phát triển hầu khắptrong đồng bào như nghề dệt thổ cẩm, nghề rèn, nghề gốm… sảnphẩm chủ yếu là nông cụ cầm tay bằng sắt thép như dao quắm,rìu, kéo, dao, cuốc, xẻng, liềm…
Nhìn chung, đời sống kinh tế, văn hóa của các dân tộc ở thiểu
số khu vực miền núi phía Bắc còn thấp Tuy vậy, họ sống chấtphác, chân thành và mến khách, dân tộc nào cũng có nhưng néthào sảng, văn hóa thuần hậu, lành mạnh Nét nổi bật trongtruyền thống của các dân tộc nơi đây là tính cộng đồng sâu sắc.Đồng bào tự nguyện và hăng hái tham gia sản xuất và các sinhhoạt xã hội Điều này tạo nên tinh thần đoàn kết dân tộc trongquá trình lao động, sản xuất và đấu tranh bảo vệ con người, giảiphóng xã hội
Trang 20Mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo,nếp sinh hoạt văn hoá khác nhau… song đều thể hiện đậm đàbản sắc dân tộc Tất cả đều có những nét tương đồng, hòa nhậptrong một thể thống nhất và chung sống trên cùng một lãnh thổ.
Từ nếp nhà sàn truyền thống của các dân tộc Tày, Nùng, đến cácngôi nhà đất của các dân tộc Mông, Dao… đều hàm chứa các giátrị về bản sắc văn hoá truyền thống, nguồn gốc lịch sử tộcngười… Nét nổi bật trong các dân tộc là ưa thích sinh hoạt vănhoá của cả cộng đồng, gắn bó mật thiết với nhau trong việc làng,việc xóm, trong ma chay cưới xin, có quan hệ đồng tộc, họ hàngbền vững Nét văn hóa tinh thần của các dân tộc cũng đa dạng vàphong phú, thể hiện được bản sắc của từng dân tộc Dân tộc Tày
có làn điệu “lượn slương”, “lượn then”, “phong slư”; dân tộc Nùng
có làn điệu “sli Nùng”, “sli Giang”; dân tộc Mông có lễ hội Gầu tào
và múa khèn…
Chính những bản sắc văn hoá phong phú, đậm đà tính dântộc đã vun đắp nên nhiều truyền thống quý báu, là cơ sở nảysinh, tạo dựng truyền thống đoàn kết đấu tranh, kiên cường, bấtkhuất của các dân tộc trong tiến trình dựng nước và giữ nước.Sinh tụ ở vùng địa bàn chiến lược, tiếp giáp với biên giới,đồng bào các dân tộc nơi đây luôn ý thức được sự tồn tại và pháttriển của mình Dựng cờ khởi nghĩa, chống áp bức, bất công,chống giặc ngoại xâm, bảo vệ biên cương của Tổ quốc… đã trởthành truyền thống quý báu của đông bào các dân tộc nơi đây Thế kỷ X, tại Cao Bằng, Quan Triều, một tù trưởng quê ởTương Cần huyện Thạch Lâm (thuộc Bản Ngần xã Vĩnh Quang,Cao Bằng) đã cùng nhân dân Hòa An tổ chức đánh quân Tốngtrên địa bàn huyện, rồi truy đuổi chúng ra khỏi biên giới, đượcvua phong Hộ quốc tướng quân Sau khi ông mất cùng với công
Trang 21chúa Hồng Liên, vua Lê đã truy phong ông là Đại vương Nhândân đã lập đền thờ ông ở làng Đà Quận xã Xuân Lĩnh (nay là xãHưng Đạo, Hòa An, Cao Bằng)1
Sang thế kỷ XI, trong kháng chiến chống Tống, các đội quân
áo chàm do các tù trưởng chỉ huy như Tôn Đản, Hoàng Kim Mãn,Thân Cảnh Phúc… đã góp phần đưa cuộc kháng chiến của dântộc đến thắng lợi
Thế kỷ XIII, trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông,Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Lĩnh (Lạng Sơn) Hà Bổng, Hà Đặc (TuyênQuang) đã lãnh đạo đồng bào phối hợp với quân triều đình nhàTrần làm nên những chiến công hiển hách
Thời Lê, thế kỷ XV, nhân dân Cao Bằng hưởng ứng cuộc khởinghĩa của Lê Lợi đã đứng lên kháng chiến giết chết tên tướng giặc
là Cao Sĩ Văn ở Quảng Uyên; đội dân binh do Bế Khắc Thiệu chỉhuy đã lập nhiều chiến công xuất sắc
Tinh thần tự cường với truyền thống dựng cờ xướng nghĩa,anh dũng đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc của đồng bào cácdân tộc nơi đây tiếp tục được phát huy mạnh mẽ trong các giaiđoạn lịch sử kế tiếp, nhất là từ khi thực dân Pháp xâm lược vàđấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam
Từ khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách đô hộ, cùng với cảnước, dân dân các dân tộc nơi dây đã không ngừng đứng dậy đấutranh chống lại
Tại Thái Nguyên, năm 1889, các đội nghĩa quân do Phùng BáChỉ, Mã Sình Long chỉ huy đã anh dũng chặn đánh các cuộc tiếncông xâm lược của quân Pháp ở chợ Mới (Phú Lương) và trên sôngCầu… Nhân dân các huyện Võ Nhai, Phổ Yên, Đại Từ… đồng loạt
1 Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hoà An (1995), Lịch sử Đảng bộ huyện Hoà An, tập
1(1930-1945), tr.18.
Trang 22nổi dậy theo tiếng gọi của nghĩa quân Yên Thế do Hoàng HoaThám lãnh đạo, gây cho thực dân Pháp những tổn thất nặng nề.Đối với đồng bào các dân tộc ít người vùng cao cũng liên tiếp
nổ ra các cuộc nổi dậy Như cuộc nổi dậy của người Dao xã TânSơn và Cao Sơn (Bạch Thông) năm 1904; của đồng bào các dântộc thuộc vùng Ba Châu và Lục Khu (Cao Bằng); của những người
tù ở Bắc Kạn do Lý Thảo Long cầm đầu nổ ra năm 1914; cuộc khởinghĩa của binh lính Thái Nguyên do Lương Ngọc Quyến và TrịnhVăn Cấn tổ chức năm 1917…
Tại Tuyên Quang, Hà Giang, phong trào kháng Pháp cũng liêntục nổ ra ở nhiều nơi Có tiếng vang nhất là cuộc nổi dậy khởinghĩa của Sùng Mí Chảng (1886), người Mông, đã tập hợp đượchơn 100 tay súng Nghĩa quân của Sùng Mí Chảng đã đánh chiếmđồn Pháp ở Mai So, Sin Cải, Mỏ Loi và kiểm soát một vùng rộnglớn cao nguyên Đồng Văn
Mặc dù các cuộc khởi nghĩa thất bại, nhưng đã nêu caotruyền thống bất khuất của đồng bào các dân tộc nơi đây; tạotiền đề cho phong trào đấu tranh cách mạng thời kỳ mới do ĐảngCộng sản Việt Nam lãnh đạo
Đầu thế kỷ XX, lịch sử cách mạng Việt Nam ghi một dấu ấnquan trọng với việc Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh ra đi tìm đườngcứu nước Việc tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc
và sự chuẩn bị khẩn trương, tích cực của Người cả về chính trị, tưtưởng và tổ chức đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản ViệtNam (2-1930), có ảnh hưởng quyết định đến xu thế phát triển củaphong trào cách mạng Việt Nam
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công cũng cónhững tác động lớn tới phong trào yêu nước ở Trung Quốc và ViệtNam, tới những nhà yêu nước Việt nam đang tích cực hoạt động
Trang 23tại Tại Trung Quốc Quảng Châu (Trung Quốc) trở thành trung tâmcủa phong trào cách mạng Trung Quốc và ảnh hưởng mạnh mẽđến Việt Nam
Kề sát biên giới với Trung Quốc, các tỉnh miền núi phía Bắckhông những chịu ảnh hưởng của phong trào cách mạng trongnước mà còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của phong trào QuảngChâu công xã, đặc biệt là các tổ chức cách mạng Việt Nam ởQuảng Châu, nam Trung Quốc Trong đó, ảnh hưởng của Việt NamThanh niên cách mạng đồng chí hội, một tổ chức tiền thân củaĐảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa quyết định đối với sự pháttriển của phong trào cách mạng nơi đây
Do ảnh hưởng của phong trào yêu nước những năm
1925-1927 và được những người cách mạng theo chủ nghĩa Mác - Lêningiác ngộ, Hoàng Văn Thụ (người Tày, Lạng Sơn) và Hoàng ĐìnhGiong (người Tày, Cao Bằng) đã hăng hái tham gia cách mạng.Năm 1927, Hoàng Văn Thụ tổ chức các nhóm yêu nước thanhniên ở gần thị xã Lạng Sơn; Hoàng Đình Giong tổ chức cơ sởthanh niên yêu nước ở Hòa An (Cao Bằng) Đến đầu năm 1928,Hoàng Văn Thụ và Hoàng Đình Giong sang Long Châu (TrungQuốc), sau đó tham gia Hội Việt Nam cách mạng thanh niên Năm
1929, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Nọn (ngườiTày, Cao Bằng) được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng; chi
bộ Hải ngoại của Đảng ra đời ở Long Châu (Trung Quốc), HoàngĐình Giong được bầu làm Bí thư
Sau khi gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốcsáng lập, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Đình Giong và nhiều cán bộcách mạng khác của Đảng đã bí mật tiếp xúc, tuyên truyền trongđồng bào các dân tộc thiểu số thuộc Cao Bằng; đồng thời, bí mật
tổ chức cơ sở đảng và cơ sở quần chúng cách mạng tại nơi đây
Trang 24Nhờ đó, ngày 1-4-1930, chi bộ Đảng đầu tiên ở Cao Bằng ra đờitại Nặm Lìn (Hòa An) do Hoàng Văn Nọn làm Bí thư.
Có thể nói, truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm là
cơ sở cho sự phát triển cách mạng của đồng bào các dân tộctrong thời kỳ mới Đây cũng là những yếu tố quan trọng cho bướcphát triển của phong trào cách mạng nơi đây và cả nước Đâycũng là yếu tố quan trọng để Đảng và Nguyễn Ái Quốc - Hồ ChíMinh lựa chọn làm nơi xây dựng căn cứ địa, nhằm phát huy sứcmạnh của đồng bào các dân tộc thiểu số trong thời kỳ đấu tranhgiành chính quyền cách mạng, đặc biệt trong giai đoạn 1939-1945
II QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN 2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp nhất của chủ nghĩa yêunước chân chính, cả cuộc đời Người cống hiến cho sự nghiệp giảiphóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, vì hòa bình, độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội Trong di sản tư tưởng vĩ đại của Người, tưtưởng về đoàn kết dân tộc, phát huy vai trò to lớn của đồng bàocác dân tộc thiểu số được thể hiện trong các luận điểm sau:
Một là: C ách mạng là sự nghiệp của quần chúng
Thấu suốt quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, cách mạng là
sự nghiệp của quần chúng, trong suốt cuộc đời hoạt động cách
mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn đặt lên hàng đầu công tác giáodục, vận động, tổ chức quần chúng thành một lực lượng cáchmạng to lớn Người cho rằng, chỉ khi có sức mạnh to lớn của quầnchúng thì cách mạng mới thắng lợi Cách mạng muốn thắng lợiphải tổ chức đồng thời được cả lực lượng chính trị quần chúng và
Trang 25lực lượng vũ trang quân chúng Nắm vững quan điểm cách mạngbạo lực, Đảng và Hồ Chí Minh đã xây dựng lực lượng vũ trang trên
cơ sở lực lượng chính trị, vừa xây dựng lực lượng chính trị, vừaxây dựng lực lượng vũ trang Trong đó, lực lượng chính trị là cơ sởcủa lực lượng vũ trang và lực lượng vũ trang là “mũi mác” của lựclượng chính trị Hai lực lượng kết hợp với nhau tạo nên một sứcmạnh to lớn
Trong thời kỳ vận động cách mạng giành chính quyền 1945), đặc biệt trong những năm tháng ở Việt Bắc, khi suy nghĩ
(1930-về mối quan hệ giữa vũ khí và con người, trong cuốn “Kinh nghiệm du kích Tàu”, Hồ Chí Minh đã trình bày một cách rõ ràng,
dễ hiểu Người viết: hễ nói đến khởi nghĩa, nói đến du kích thìngười ta thường hỏi: “súng ở đâu?”, trả lời rằng: có người thì ắthẳn có súng; dân mà biết đoàn kết chắc chắn, thì nhất định tìm
ra súng Theo Hồ Chí Minh nếu dân ta biết đoàn kết, biết giươngcao ngọn cờ độc lập dân tộc, phát huy mạnh mẽ tinh thần yêunước và đoàn kết thống nhất dân tộc, lấy khối liên minh côngnông và trí thức làm nền tảng, đoàn kết với mọi lực lượng yêunước và tiến bộ, đoàn kết giữa các dân tộc miền núi và miền xuôitrong mặt trận thống nhất rộng rãi,thì cách mạng sớm muộn nhấtđịnh thành công
Hai là: Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn quantâm và thấu hiểu đặc điểm, tình hình của các dân tộc Người coitrọng sự đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc có tầm quan trọngchiến lược Trong đó, với đồng bào miền núi, Người đánh giá cao
vị trí, vai trò của họ trong sự nghiệp cách mạng Miền núi là nơiđồng bào dân tộc ít người sinh sống, là nơi có vị trí quan trọng vềkinh tế, quốc phòng và an ninh
Trang 26Đối với Việt Bắc, Người đã ca ngợi: “Đồng bào Việt Bắc đã cómột lịch sử rất vẻ vang… Tên Việt Bắc đã lừng lẫy khắp cả nước,khắp thế giới Có sự vẻ vang đó là vì toàn thể đồng bào Việt Bắc:Kinh, Thổ, Mán, Nùng, Mèo, v.v, ai cũng yêu nước, ai cũng khôngchịu làm nô lệ, ai cũng đoàn kết, ai cũng hăng hái ủng hộ cáchmạng”1 Người xúc động ghi nhớ tấm lòng, nghĩa cử cao đẹp củađồng bào dân tộc giúp đỡ cán bộ làm cách mạng: “Tôi không baogiờ quên được, trong những ngày gian nan cực khổ đó, đồng bàotrong tỉnh ta, các cụ già, các chị em phụ nữ, anh em nông dân,các em thanh niên, các cháu nhi đồng ai cũng hăng hái giúp đỡ…Đồng bào Thổ, đồng bào Nùng, đồng bào Mán, đồng bào Mèo,người thì giúp chúng tôi ăn, kẻ thì cho chúng tôi áo Có nhữngđồng bào nhịn ăn nhịn mặc, bán trâu, bán ruộng để giúp đỡchúng tôi làm cách mệnh”2
Trong những ngày đầu cách mạng, dù phải chịu đựng muônvàn khó khăn, thử thách, nhưng đồng bào các dân tộc thiểu số đãmột lòng kiên trung, tin tưởng và theo Đảng, theo Bác Hồ; khôngchỉ căm thù bọn giặc xâm lăng mà còn nỗ lực gây dựng nhữngviên gạch đầu tiên của phong trào cách mạng, đoàn kết và gópsức mình vào thành công của sự nghiệp giải phóng dân tộc, làmnên thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945, sánglập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Khẳng định vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số tronghành trình đấu tranh cách mạng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nhờsức đoàn kết đấu tranh chung của tất cả các dân tộc, nước ViệtNam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳngcùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh em trong một nhà,không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói nữa Trước kia các
1 Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2011, t.5, tr.221.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2011, t.5, tr.238.
Trang 27dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nềnđộc lập càng phải đoàn kết hơn nữa”1
Trong quá trình cách mạng, sự bình đẳng giữa các dân tộcphải được thể hiện bằng đường lối, chủ trương, chính sách củaĐảng và Chính phủ nhằm động viên, giáo dục đồng bào các dântộc về lòng yêu nước, yêu Tổ quốc Theo Hồ Chí Minh, làm cáchmạng là giành độc lập dân tộc, nhưng nếu có độc lập mà dân vẫnđói, rét, chỉ một số người được hành phúc, đồng bào các dân tộcthiểu số ở vùng sâu, vùng xa vẫn cứ nghèo khổ, bệnh tật, thì độclập chẳng có ý nghĩa gì Do vậy, các dân tộc miền núi cũng nhưmiền xuôi phải đoàn kết giúp đỡ, tương trợ nhau cùng phát triển,cùng nhau xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp: “Đồng bàomiền núi phải đoàn kết giúp đỡ đồng bào miền xuôi Và đồng bàomiền xuôi phải đoàn kết giúp đỡ đồng bào miền núi”2
Ba là: Chính sách dân tộc phải chú ý đến tính đặc thù dân tộc
và phải hướng vào sự phát triển toàn diện miền núi
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với truyền thống đoàn
kết, gắn bó keo sơn dựa trên một cội nguồn lịch sử như Hồ Chí
Minh đã khẳng định: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay MánGia Rai hay Êđê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khácđều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt”3 Tuy nhiên, ởmỗi dân tộc lại có một nền văn hóa với những bản sắc đặc trưng,một tập lý, phong tục, tập quán riêng Bởi thế, trong mọi côngtác, nhất là công tác tuyên truyền và thực hiện chính sách dântộc, phải chú ý tới những đặc điểm riêng của từng dân tộc đểchính sách được thực hiện hiệu quả Người nói: “Một tỉnh có đồngbào Thái, đồng bào Mèo, thì tuyên truyền huấn luyện, đối với
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.4, tr.130.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2011, tr 166.
3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tr 429.
Trang 28đồng bào Thái khác, đồng bào Mèo khác, phải có sự thay đổithích hợp”1.
Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Cái gì miền xuôi làm được, thì miềnngược cũng làm được”2 Vấn đề là phải có những phương pháp,hình thức vận động, khích lệ đồng bào cho phù hợp Chính vì vậy,đối với miền núi và vùng các dân tộc thiểu số, việc đề ra các biệnpháp và tìm ra những bước đi thích hợp trong từng hoàn cảnh lịch
sử cụ thể có ý nghĩa vô cùng thiết thực Người yêu cầu Đảng vàChính phủ phải có những chính sách thiết thực, kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội để phát triển toàn diện miền núi, giúp chomiền núi tiến kịp miền xuôi, để cho đồng bào cả nước ai cũng đủ
ăn, ai cũng được học hành, ai cũng được làm chủ đất nước Ngườinêu rõ, để nâng cao đời sống của đồng bào, cùng với việc bãi bỏhết “những điều hủ tệ cũ”, “bao nhiêu bất bình trước sẽ sửa chữađi”, Chính phủ “sẽ gắng sức giúp cho các dân tộc thiểu số về mọimặt”: 1) Về kinh tế, sẽ mở mang nông nghiệp cho các dân tộcđược hưởng; 2) Về văn hóa, sẽ chú ý trình độ học thức cho đồngbào dân tộc… Cùng với đó, các dân tộc anh em được tự do bày tỏnguyện vọng và phải cố gắng để cùng giành cho được độc lậphoàn toàn, tự do và thái bình
Bốn là: Phải chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, con em của đồng bào dân tộc thiểu số
Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần cách mạng củađồng bào các dân tộc thiểu số, đánh giá cao vai trò của họ trongcuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc và trong xây dựng đấtnước, Người quan tâm chu đáo đến các trường đào tạo cán bộ chocác dân tộc thiểu số, chăm sóc đội ngũ cán bộ các trường này.Người cho rằng: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc Vì vậy,
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 14, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tr 159.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 14, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tr 162.
Trang 29huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”1, “Muôn việc thànhcông hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”2
Người đòi hỏi công tác cán bộ: “Phải chú trọng đào tạo, bồidưỡng, cất nhắc cán bộ miền núi Cố nhiên cán bộ người Kinhphải giúp đỡ cán bộ địa phương, nhưng phải làm sao cho cán bộđịa phương tiến bộ, tự quản lý lẩy công việc ở địa phương, chứkhông phải là bao biện làm thay”3 Chính vì vậy, đào tạo, pháttriển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số là đòi hỏi của thực tiễn miềnnúi nước ta
Những tư tưởng của Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc vàchính sách dân tộc đã được thực tiễn chứng minh là đúng đắn.Việc hiện thực hoá những tư tưởng ấy đã đem lại những thành tựu
to lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển vùng đồng bào cácdân tộc cũng như trong cả nước
2.2 Quan điểm và chủ trương đoàn kết các dân tộc thiểu số của Đảng Cộng sản Việt Nam
Một là: Các dân tộc có mối quan hệ đoàn kết gắn bó
Đảng nhận rõ trên đất nước Việt Nam, dù là người Kinh hayngười dân tộc đều phải chịu ách áp bức bóc lột của thực dân Pháp
và phong kiến Trong khi đàn áp khốc liệt phong trào đấu tranhcủa người Kinh ở miền xuôi, thực dân Pháp và tay sai cũng đàn
áp, bóc lột đồng bào các dân tộc thiểu số Đói khổ là tình cảnhchung của người dân Việt Nam, dù ở miền ngược hay miền xuôi.Chế độ sưu thuế nặng nề đè lên vai đồng bào Ở miền núi phíaBắc, đồng bào dân tộc thiểu số bị bắt đi phu hàng tháng trời, cókhi đến vài tháng
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11-1939khẳng định: “Các dân tộc Việt Nam, Miên, Lào và các dân tộc
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tr.309.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tr 280
3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tr 225.
Trang 30thiểu số khác cùng sinh hoạt trên dải đất chữ S, đều có liên quan
về kinh tế và chính trị, tất cả đều bị đế quốc áp bức, tất cả đều bịbóc lột bởi những độc quyền tư bản tài chánh, tất cả đều nằmdưới một bộ máy đàn áp thống nhất về chính trị và quân sự của
đế quốc Pháp Phong trào giải phóng các dân tộc vì vậy có mậtthiết quan hệ với nhau và phải dựa lẫn nhau”1
Đảng nhận thức giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Namnói chung và giải phóng đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng
có mối quan hệ chặt chẽ Lực lượng cách mạng Việt Nam phảibao gồm lực lượng của đồng bào dân tộc thiểu số, sự nghiệp giảiphóng dân tộc Việt Nam phải bao hàm giải phóng các dân tộcthiểu số và ngược lại, có đánh đổ được đế quốc và phong kiến thìcác dân tộc thiểu số mới thoát khỏi ách nô lệ “Những người cộngsản Việt Nam phải hết sức cổ động tuyên truyền trong quầnchúng mình rằng: mình phải hết sức giúp đỡ và thống nhất mặttrận với thợ thuyền và nông dân các dân tộc thiểu số để đánh đổ
đế quốc với địa chủ thì cách mạng mới thành công được Còn cácngười cộng sản Thổ, Nùng, Thượng, Mán phải hết sức tuyêntruyền trong quần chúng mình rằng: mình phải hết sức liên hệmật thiết với thợ thuyền và nông dân của người Việt Nam mớiđánh đổ được tụi đế quốc, thì các dân tộc thiểu số mới thoát khỏivòng nô lệ”2
Trong những năm 1930-1945, các dân tộc thiểu số Việt Namchỉ chiếm khoảng 5% dân số, nhưng Đảng đã khẳng định cuộcđấu tranh của đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ có ý nghĩaquyết định trực tiếp đến sự giải phóng bản thân các dân tộc đó
mà còn góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp cáchmạng của dân tộc Việt Nam do Đảng lãnh đạo Nghị quyết Đại hội
1 1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H 2002, tập 6, tr 530.
2 2 Nghị quyết Hội nghị cán bộ Bắc Kỳ ngày 13-19/3/1935.
Trang 31đại biểu lần thứ nhất của Đảng nêu rõ: “lực lượng tranh đấu củacác dân tộc thiểu số là một lực lượng rất lớn Cuộc dân tộc giảiphóng của họ là một bộ phận quan trọng trong cuộc cách mạngphản đế và điền địa ở Đông Dương” và “ở các xứ và các miền dântộc thiểu số đã có điều kiện khách quan sẵn sàng cho sự pháttriển cách mạng vận động”3
Hai là: Các dân tộc thiểu số nói chung, khu vực miền núi phía Bắc riêng có truyền thống đấu tranh anh dũng bất khuất
Dưới ách áp bức bóc lột của thực dân, phong kiến, đồng bàocác dân tộc thiểu số đã sớm tham gia cùng đồng bào Kinh đấu tranhchống thực dân Pháp và tay sai Tiêu biểu các cuộc khởi nghĩa củadân tộc Mông do Giàng Chử Hùng lãnh đạo ở Bắc Hà (1891-1895),khởi nghĩa của Lường Xám (người Hoa), khởi nghĩa của Sùng TảChang (1901-1911), khởi nghĩa của Triệu Tiến Kiên, Triệu Tài Lộc(người Dao) 1901-1914, khởi nghĩa của Giàng Tả Chay (1918-1922)
Mặc dù chỉ mang tính tự phát và cuối cùng đều thất bại,phong trào đấu tranh của đồng bào dân tộc thiểu số cho thấy tinhthần tự do, yêu quê hương, đất nước, không chịu khuất phục trước
kẻ thù xâm lược và đó là một trong những cơ sở để Đảng và Hồ ChíMinh khơi sâu tinh thần yêu nước, lãnh đạo, tổ chức và vận độngđồng bào dân tộc thiểu số tham gia sự nghiệp đấu tranh giải phóngdân tộc
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cao trào cách mạng 1930-1931với đỉnh cao Xô viết Nghệ - Tĩnh đã “ảnh hưởng trực tiếp rất lớnđến đám lao động dân tộc thiểu số Năm 1931 cố nông Mọi CôngTum đã hăng hái ủng hộ Xô viết vận động ở Nghệ An”1 Nhữngnăm 1932-1935, sau khủng bố trắng của thực dân Pháp, Đảng
3 3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H 2002, tập 5, tr 71, 72,
73
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H 2002, tập 5, tr 71.
Trang 32chú ý khôi phục tổ chức và lực lượng cách mạng và trên địa bànmiền núi, tổ chức Đảng và phong trào cách mạng được phục hồi
và phát triển mạnh mẽ Ảnh hưởng của Đảng đã rất mạnh đối vớiđồng bào dân tộc thiểu số và “Điều rất đặc sắc là cuộc tranh đấucủa công nông người Thổ, người Nùng ở Cao Bằng, Lạng Sơn cótính chất tổ chức chu đáo và theo những khẩu hiệu cộng sản rất
rõ rệt Một điều thắng lợi cho chủ nghĩa cộng sản nữa là: côngnông các dân tộc thiểu số chẳng những đã vào hàng ngũ Đảngcộng sản và các đoàn thể cách mạng khác do Đảng chỉ đạo màthôi, mà họ đã giữ một địa vị rất quan trọng trong các cơ quan chỉđạo từ hạ cấp cho tới thượng cấp”1 Trên thực tế, đến Đại hội lầnthứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương, tổ chức và lực lượng củaĐảng trong đồng bào dân tộc thiểu số rất mạnh, nhất là ở CaoBằng, Lạng Sơn với hơn 200 đảng viên, chiếm hơn 1/3 tổng số đảngviên cộng sản toàn Đông Dương lúc đó và tổ chức Đảng cấp xứ, tức
Xứ ủy Bắc Kỳ gồm những cán bộ dân tộc thiểu số
Để chống lại chính sách chia rẽ của thực dân Pháp, Đảngchủ trương đoàn kết dân tộc, chống kẻ thù chung và chủ trương
đó được từng bước hoàn thiện, góp phần xây dựng khối đại đoànkết dân tộc trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng nhưtrong hai cuộc kháng chiến sau này
Tháng 6-1932, Chương trình hành động của Đảng Cộng sản
Đông Dương xác định “phong trào cách mạng khắp Đông Dươngbao hàm cả các dân tộc”, nêu vấn đề chống chính sách chia rẽ củathực dân Pháp, động viên nhân dân các dân tộc thiểu số đứng lênđấu tranh đòi các quyền lợi của mình, chủ trương “các dân tộc ởĐông Dương đều liên hiệp đệ huynh với nhau”2 Tiếp đó, Đảng Cộngsản Đông Dương nêu lên 12 yêu cầu đấu tranh của đồng bào dân
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H 2002, tập 5, tr 71.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H 2002, tập 4, tr 10, 13.
Trang 33tộc thiểu số, coi đó là bộ phận quan trọng trong phong trào đấutranh giải phóng dân tộc, giai cấp ở Đông Dương1.
Năm 1935, Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng thông qua
Nghị quyết về công tác trong các dân tộc thiểu số Đây là văn
kiện chính thức đầu tiên của Đảng đánh giá cao vị trí, vai trò củađồng bào dân tộc thiểu số và đề ra những nhiệm vụ cụ thể vềcông tác tuyên truyền, vận động, tổ chức đồng bào dân tộc thiểu
số tham gia mạnh mẽ hơn nữa vào sự nghiệp đấu tranh giảiphóng dân tộc
Tháng 11-1939, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương chủtrương Ban Trung ương và các Xứ ủy phải tổ chức ban chuyênmôn về vấn đề dân tộc thiểu số, phải cho người đi học chữ, họctiếng, ra báo bằng tiếng dân tộc để tuyên truyền, vận động đồngbào, xây dựng cơ sở trong của dân tộc thiểu số
Tháng 5-1941, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trungương hoàn chỉnh đường lối cách mạng, đặt nhiệm vụ giải phóngdân tộc lên hàng đầu, xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang Hộinghị tiếp tục đề ra những chủ trương, chính sách đoàn kết, vậnđộng đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng mặt trận dân tộc thốngnhất rộng rãi Nghị quyết Hội nghị khẳng định: “Những dân tộcsống ở Đông Dương đều chịu dưới ách thống trị của giặc Pháp -Nhật, cho nên muốn đánh đuổi chúng nó không chỉ dân tộc nàyhay dân tộc kia mà đủ, mà phải có một lực lượng thống nhất củatất thảy các dân tộc Đông Dương họp lại”2 Từ đây, Đảng và Chủtịch Hồ Chí Minh đẩy mạnh công tác xây dựng lực lượng chính trị,
vũ trang, xây dựng căn cứ địa mà địa bàn tiến hành chủ yếu ởmiền núi, chuẩn bị những điều kiện chủ quan, sẵn sàng chớp thời
cơ tổng khởi nghĩa giành chính quyền
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H 2002, tập 4, tr 361-362.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H 2002, tập 7, tr 114.
Trang 34Đảng thực hiện nhiều chính sách, biện pháp có hiệu quả vậnđộng đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần trực tiếp vào quá trìnhkhôi phục tổ chức Đảng, xây dựng lực lượng và đẩy mạnh phongtrào đấu tranh cách mạng.
Trước hết, Đảng và Hồ Chí Minh chú ý đào tạo, bồi dưỡng độingũ cán bộ người dân tộc thiểu số Tháng 4-1930, chi bộ Cộngsản đầu tiên của tỉnh Cao Bằng được thành lập do Hoàng Vĩnh Tuy(Hoàng Văn Nọn) làm Bí thư với vai trò Tỉnh ủy lâm thời Ở LạngSơn, giữa năm 1933, chi bộ cộng sản đầu tiên do Hoàng Văn Thụlàm Bí thư được thành lập, giữ vai trò chức năng Tỉnh ủy lâm thời.Những năm 1932-1935, Lê Hồng Phong, Hoàng Văn Thụ, HoàngĐình Giong mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ ở Long Châu (TrungQuốc) đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số, nhất là của hai tỉnhCao Bằng, Lạng Sơn, góp phần vào quá trình chắp nối liên lạc,khôi phục tổ chức Đảng Tại Đại hội đại biểu lần thứ nhất củaĐảng, Hoàng Đình Giong, Hoàng Vĩnh Tuy được bầu vào Ban Chấphành Trung ương Sau đó, Hoàng Vĩnh Tuy còn được Đảng Cộngsản Đông Dương cử đi dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản.Tháng 2-1937, sau một thời gian học tập, công tác ở Liên Xô,Hoàng Vĩnh Tuy về nước, được bầu làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ Đầunăm 1942, tại vùng biên giới Việt- Trung, Nguyễn Ái Quốc cùngmột số cán bộ Trung ương đã trực tiếp mở lớp huấn luyện hơn 40cán bộ người Cao Bằng về các bước công tác cách mạng để thíđiểm Mặt trận Việt Minh Sau Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hànhTrung ương, công tác huấn luyện cán bộ được đẩy mạnh, đã đàotạo nhiều lớp cán bộ cho Đảng và Mặt trận Việt Minh Tính từ
1940 đến 1945, Hồ Chí Minh và các cán bộ Trung ương Đảng đã
mở các lớp huấn luyện cấp tốc cho hơn 1.000 cán bộ, chiến sĩngười dân tộc thiểu số Tiêu biểu cho đội ngũ cán bộ dân tộc
Trang 35thiểu số là Hoàng Văn Thụ, Hoàng Đình Giong… Số cán bộ đó trởthành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết đồng bào các dân tộc thiểu sốđấu tranh theo đường lối của Đảng.
Từ khi Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạngViệt Nam, công tác tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộcthiểu số được đẩy mạnh hơn nữa Đặc biệt với chủ trương thành
lập Mặt trận Việt Minh, ra báo Việt Nam độc lập (Việt Lập), đồng
bào dân tộc thiểu số đoàn kết dưới ngọn cờ Mặt trận Việt Minh,đến gần tổng khởi nghĩa xuất hiện những “xã hoàn toàn”, “tổnghoàn toàn”, “châu hoàn toàn”, cơ sở để khởi nghĩa thắng lợi ở cácđịa phương cũng như góp phần vào thắng lợi của tổng khởi nghĩatrên toàn quốc
***
Với vị trí địa lý có tầm quan trọng đặc biệt về quân sự vàchính trị, trong suốt chiều dài lịch sử, nhân dân các dân tộc khuvực miền núi phía Bắc luôn cần cù trong lao động, đoàn kết anhdũng trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm Từ cuối thế kỷ XIX,dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, nhândân các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc đã cùng vớinhân dân cả nước đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp xâmlược Từ những năm 30 của thế kỷ XX, phong trào cách mạng nơiđây đã có chuyển biến mới, được đánh đấu bằng sự ra đời củacac chi bộ đảng, mở ra một bước ngoặt lịch sử của phong tràocách mạng Ngay sau khi ra đời, các chi bộ đảng đã tuyên truyền,giáo dục quần chúng, làm cho tổ chức quần chúng ngày càng mởrộng, lực lượng cách mạng ngày càng phát triển, chuẩn bị điềukiện để đưa phong trào cách mạng phát triển theo xu hướng mới
Trang 36Chương 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC TRONG
ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930-1945)
I ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC TIẾN TỚI ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN
1.1 Xây dựng lực lượng chính trị
Trên cơ sở ra đời của các tổ chức cộng sản, tháng 2-1930,dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc Hội nghị hợp nhất các tổ chứccộng sản được họp tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) Hộinghị đã hoàn toàn nhất trí tán thành thống nhất các tổ chức cộngsản để thành lập một đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sảnViệt Nam Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lượcvắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo.Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đảm nhận sứ mệnh lịch sử lãnhđạo công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin coi cách mạng
là sự nghiệp của quần chúng, ngay từ khi vừa thành lập, Đảng đã
có chủ trương xây dựng các tổ chức quần chúng để thu hút côngnhân, nông dân và các tầng lớp trí thức, tiểu tư sản kết nạp vàoĐảng Đảng cho rằng lực lượng của cuộc cách mạng giải phóngdân tộc phải bao gồm tất cả các giai cấp, các đảng phái, cácphần tử phản đế muốn giải phóng dân tộc, thực hiện Đông Dươnghoàn toàn độc lập với quyền dân tộc tự quyết, trong đó côngnông là lực lượng chính, đặt dưới quyền lãnh đạo của giai cấpcông nhân
Trang 37Ngay sau khi thành lập, Đảng đã chủ trương xúc tiến xâydựng, phát triển phong trào quần chúng cách mạng ở các tỉnh vàthành phố trong đó có các tỉnh miền núi Cao Bằng, Lạng Sơn,Thái Nguyên…
Tại Cao Bằng, đầu năm 1930 chi bộ Đảng Long Châu đã cửHoàng Văn Nọn về Cao Bằng hoạt động, chuẩn bị về tư tưởng và
tổ chức tiến tới thành lập tổ chức Đảng ở Cao Bằng Sau một thờigian kiểm tra phong trào và thử thách rèn luyện cán bộ, HoàngVăn Nọn thay mặt chi bộ Long Châu, kết nạp hai hội viên tiêubiểu trong Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Cao Bằng là LêĐoàn Chu và Nông Văn Đô vào Đảng Cộng sản Việt Nam và tuyên
bố thành lập chi bộ Đảng của Cao Bằng ngày 1-4-1930 tại khesuối Nặm Lìn (thuộc xã Hoàng Tung, châu Hoà An), do Hoàng VănNọn làm Bí thư Đây là chi bộ Đảng đầu tiên của Cao Bằng, nênngay từ lúc được thành lập đã làm nhiệm vụ như Ban Tỉnh uỷ lâmthời, lãnh đạo phong trào cách mạng toàn tỉnh1
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong lúc phong trào đấutranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao độngngày càng phát triển sâu rộng trong cả nước Đảng đã phát độngmột phong trào cách mạng rộng lớn nhân ngày quốc tế lao động1-5-1930, đã làm nên cao trào Xô viết Nghệ - Tĩnh Từ thành thịđến nông thôn, từ miền xuôi đến miền núi, cả ba miền Bắc -Trung - Nam, nhiều nơi treo cờ Đảng, rải truyền đơn, tổ chức míttinh biểu tình, tuần hành thị uy Hoảng sợ trước làn sóng đấutranh cách mạng của quần chúng, đế quốc Pháp và bọn tay sai
đã tập trung mọi lực lượng điên cuồng khủng bố, đàn áp Chúngthẳng tay đàn áp dã man, nhiều cơ sở đảng bị vỡ, một số lãnh tụcủa Đảng bị bắt, nhiều chiến sĩ cách mạng, đảng viên ưu tú bị
1 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng (2003), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng
(1930-2000), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội tr.33-34
Trang 38chúng giết hại, phong trào cách mạng trong phạm vi toàn quốc ởvào tình thế khó khăn.
Trong khi phong trào cách mạng cả nước tạm thời lắng xuống
do khủng bố ác liệt của kẻ thù, thì riêng ở Cao Bằng, từ năm 1930
- 1935, phong trào cách mạng và các cơ sở đảng vẫn tiếp tụcđược củng cố và phát triển, nhiều chi bộ đảng mới được thànhlập: như chi bộ xã Phúc Tăng huyện Hoà An (6-1930), chi bộ mỏthiếc Tĩnh Túc huyện Nguyên Bình và chi bộ xã Xuân Phách huyệnHoà An (10-1930), chi bộ xã Sóc Hà huyện Hà Quảng (6-1931),chi bộ xã Chí Thảo huyện Quảng Uyên (2-1932), chi bộ xã VânTrình huyện Thạch An (2-1933) và chi bộ xã Minh Tâm huyệnNguyên Bình (11-1935)1 Năm 1931, tổ chức Công hội đỏ đượcthành lập tại Tĩnh Túc - Cao Bằng Năm 1933, ở Hòa An xuất hiện tổchức Nông hội đỏ với mục đích là vận động và tổ chức các tầng lớpnhân dân đấu tranh chống bắt phu, đòi giảm thuế Sau đó, Nông hội
đỏ phát triển rộng rãi sang châu Hà Quảng, Nguyên Bình, Trongnhững năm 1930-1935, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ tỉnhCao Bằng đã tổ chức vận động quần chúng đấu tranh từ hình thứcthấp như làm đơn xin chữ ký, cử đại biểu lên châu, phủ, tỉnh đòiquyền lợi kinh tế trước mắt đến xuống đường biểu tình; đề ra cácchủ trương, biện pháp tuyên truyền, vận động quần chúng phù hợpvới đặc điểm, tình hình của tỉnh và các dân tộc thiểu số, thu hútđông đảo quần chúng nhân dân đấu tranh
Tháng 2-1932, chi bộ đảng đầu tiên của Quảng Uyên thànhlập tại làng Cốc Coóc, xã Lạc Giao (nay là Chí Thảo) Sự ra đời củachi bộ Chí Thảo chẳng những có ảnh hưởng lớn tới phong tràocách mạng vùng Ba Châu, mà còn có tác dụng xây dựng, củng cốđường dây liên lạc từ trong nước mà trực tiếp là Cao Bằng sang
1 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng (2003), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng
(1930-2000), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội tr.35
Trang 39Long Châu (Trung Quốc), nơi có chi bộ hải ngoại của Đảng Cộngsản Đông Dương ở đó làm nhiệm vụ đào tạo cán bộ và tham gialãnh đạo phong trào cách mạng các tỉnh miền núi phía Bắc.
Song song với việc phát triển các cơ sở Đảng, công tác tổchức của Đảng cũng được kiện toàn Tháng 7-1933, Ban lãnh đạocủa Đảng Cộng sản Đông Dương công nhận Ban Chấp hành Đảng
bộ tỉnh Cao Bằng do Hoàng Như (tức Hoàng Văn Nọn) làm Bí thư.Các châu uỷ đã được thành lập ở Hoà An (1933), Hà Quảng(1935)1
Trên cơ sở các chi bộ Đảng phát triển rộng khắp, Ban Tỉnh uỷCao Bằng thực hiện chỉ thị của chi bộ Long Châu, đã lần lượt chọn
cử nhiều thanh niên yêu nước ra nước ngoài học tập, dự các lớphuấn luyện của Đảng tại Long Châu Các lớp huấn luyện đã đượctiến hành liên tục từ năm 1930 đến năm 1935, đào tạo được mộtđội ngũ cán bộ để đưa về nướchoạt động Những cán bộ này đãtrở thành hạt nhân, đủ khả năng và uy tín lãnh đạo quần chúngđấu tranh
Tại Tuyên Quang, đầu năm 1938, tổ chức Đoàn Thanh niên dânchủ gồm một số thanh niên ưu tú được thành lập, làm nòng cốtphong trào thanh niên ở thị xã Ngày 20-3-1940, Chi bộ Mỏ thanTuyên Quang được thành lập, đáp ứng yêu cầu cấp thiết phải có tổchức Đảng trực tiếp lãnh đạo, đưa phong trào phát triển Giữa năm
1941, Ban Cán sự Đảng Tuyên Quang ra đời, chủ trương củng cố tổchức cơ sở đã có, xây dựng phát triển các cơ sở mới, vận động, tậphợp quần chúng đấu tranh Trong 3 năm (1937 - 1940), phong tràocách mạng ở Tuyên Quang đã trải qua thời kỳ gây dựng cơ sở, tậphợp và tổ chức lực lượng cách mạng
1 Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Cao Bằng (1995), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng, tập 1
(1930-1945)., tr.40-41
Trang 40Tại Lạng Sơn, ngay sau khi Đảng ra đời, chi bộ Đảng Cộngsản vùng núi biên giới Cao - Bắc- Lạng được thành lập Giữa năm
1930, Chi bộ đã hướng nhiệm vụ trọng tâm vào bắt mối, gâydựng các tổ chức quần chúng cách mạng ở hai tỉnh Lạng Sơn vàCao Bằng Được sự giúp đỡ của các quần chúng trung kiên như
Mã Khánh Phương, Khèn Chang, Khi Chang và một số quần chúngtốt ở khu vực biên giới, đến cuối năm 1931, Hoàng Quốc Việt đãchỉ đạo tuyên truyền, vận động, giác ngộ, tập hợp được 10 tổchức quần chúng cách mạng với 30 người ở Khơ Lếch, Văn Uyên.Hoạt động của các tổ chức quần chúng ở đây đã tạo được địabàn, đường dây liên lạc cho hoạt động của các chiến sỹ cáchmạng Việt Nam giữa hai vùng biên giới1
Thời kỳ 1936-1939, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ cáctỉnh khu vực miền núi phía Bắc đã kịp thời tổ chức quần chúngđấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ bằng nhiều hình thức hợppháp và nửa hợp pháp khác nhau Tiêu biểu như phong trào đấutranh của quần chúng nhân dân ở Bắc Sơn, Tràng Định đã khích lệtinh thần cách mạng tập dượt đấu tranh chính trị cho quầnchúng, chuẩn bị cơ sở cho những cuộc đấu tranh quyết liệt mớivới kẻ thù trong giai đoạn cách mạng tiếp theo
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin coi cáchmạng là sự nghiệp của quần chúng, Hồ Chí Minh rất coi trọng vấn
đề xây dựng lực lượng chính trị trong cách mạng Người cho rằng,
cách mạng muốn thành công trước hết phải có lực lượng lớnmạnh, phải có Đảng cách mạng dẫn lối và Đảng phải biết đoànkết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kếttoàn dân vững chắc
1 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn 1930-1954, Ban
Tuyên giáo Tỉnh ủy Lạng Sơn xuất bản, năm 1998, tr 30.