Kính thưa các vị đại biểu, thưa các nhà khoa học Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay đã nhiều lần tiến hành chỉnh đốn đảng. Tuy nhiên, cho đến nay, còn nhiều vấn đề lý luận về chỉnh đốn đảng chưa thực sự sáng rõ, còn nhiều vấn đề chưa có câu trả lời thỏa đáng như: (i) vai trò của công tác chỉnh đốn đảng đối với quá trình vận động và phát triển của cấu trúc đảng về cả mặt chính trị tư tưởng, tổ chức, đạo đức tác phong; (ii) mối quan hệ giữa chỉnh đảng về mặt chính trị tư tưởng với chỉnh đảng về các mặt tổ chức, đạo đức tác phong; (iii) vấn đề tự kiểm soát của một cuộc vận động chỉnh đốn đảng nhằm đảm bảo tính hướng đích, tránh gây ra rối loạn trong nội bộ đảng hoặc tạo những cơ hội để các lực lượng phản động lợi dụng phá hoại; (iv) điểm tương đồng khác biệt giữa chỉnh đảng trong điều kiện bất thường với các hoạt động chỉnh đảng trong điều kiện bình thường; (v) tính giới hạn về mặt thời gian của một cuộc vận động chỉnh đốn đảng khi bối cảnh lịch sử không còn, nhiệm vụ cách mạng mới xuất hiện và vấn đề lựa chọn thời điểm bắt đầu và kết thúc một cuộc vận động chỉnh đốn đảng; (vi) quy trình, phương pháp và các hình thức tiến hành các cuộc chỉnh đốn đảng (cả trong điều kiện bình thường cũng như trong điều kiện bất thường); (vii) vai trò của từng thành tố tập thể với cá nhân, cấp trên với cấp dưới, trung ương với địa phương… trong các cuộc vận động, chỉnh đốn đảng; (viii) vai trò của chỉnh đốn đảng đối với xây dựng nhà nước nước và phát huy dân chủ trong xã hội… Vô vàn các vấn đề lý luận đó đặt ra trách nhiệm nặng nề cho giới khoa học chính trị nước nhà, mà đặt trong bối cảnh hiện nay, việc trả trả lời một cách thoả đáng nằm ở chính tổng kết lịch sử Đảng. Để không ngừng hoàn thiện đảng cộng sản cầm quyền trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam, việc dựa vào các nguyên lý sẵn có là chưa đủ, mà đòi hỏi phải luôn tiếp tục tìm tòi và sáng tạo. Ở đây, phương pháp tổng kết thực tiễn lý luận chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng. Tuân thủ phương pháp này đòi hỏi phải xuất phát từ chính thực tiễn tổ chức và hoạt động của Đảng trong từng giai đoạn lịch sử để tổng kết, đánh giá, từ đó nâng lên thành lý luận. Có như thế, các thiết kế chính trị về mô hình tổ chức, phương thức và nội dung hoạt động của Đảng, trong đó có vấn đề chỉnh đảng, mới tuân theo đúng lý luận và bám sát đặc điểm thực tiễn đất nước, từng bước hạn chế đi tới phòng ngừa bệnh máy móc, giáo điều. Trải qua hơn 80 năm hình thành và phát triển, đã có nhiều đợt chỉnh đảng, thanh đảng được Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành. Sau mỗi đợt chỉnh đảng như vậy, tuy có sơ kết, đánh giá nhưng chưa có một tổng kết toàn diện, đánh giá thấu đáo trên tất cả các mặt, các bình diện, nhận thức các tác động của nó để tìm ra những nội quang mang tính quy luật về chỉnh đảng. Điều này đặt ra yêu cầu tổng kết, đánh giá một cách có hệ thống, toàn diện các cuộc vận động chỉnh đảng trong lịch sử của Đảng trở nên hết sức có ý nghĩa, đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi mà công tác chỉnh đảng được đặt trong những vấn đề hết sức phức tạp, đa chiều, đa hướng của điều kiện kinh tế thị trường, của thể chế nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế. Ngày 30102016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Nghị quyết số 04NQTW Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Nghị quyết là “sự phát triển tiếp nối” không chỉ về mặt quan điểm, nội dung của Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư khóa XI “Về một số vấn đề cấp bách về xây dựng đảng hiện nay” mà còn cả tinh thần quyết tâm của toàn hệ thống chính trị trong công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng. Tuy cuộc vận động chỉnh đảng mới bắt đầu, nhưng trong Đảng và ngoài xã hội xuất hiện hai tâm trạng khác nhau. Một bộ phận tin tưởng cuộc chỉnh đảng lần này sẽ đem lại chuyển biến của Đảng, nhất là đẩy lùi nguy cơ suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Ngược lại, không ít người thiếu tin tưởng khi nhìn vào hiệu quả của hai cuộc chỉnh đảng theo Nghị quyết Trung ương ba khóa VII (61992) và Nghị quyết Trung ương sáu lần 2 khóa IX (11999). Thậm chí có cả biểu hiện lo ngại, trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay, việc tiến hành chỉnh đảng thiếu phương pháp thích hợp có thể gây nên hậu quả khôn lường như: các “nhóm lợi ích” lợi dụng chỉnh đảng để gây rối loạn trong đảng, thanh trừng nội bộ; những người chân chính, muốn Đảng thật sự chỉnh đốn để trưởng thành lành mạnh có thực sự kiểm soát được quá trình chỉnh đảng hay không; phải đấu tranh với các thế lực thù địch và cơ hội chính trị như thế nào để tránh chỉnh Đảng bị lợi dụng gây bất lợi cho Đảng; bản thân nội bộ Đảng có đủ sức để tự điều chỉnh hay cần đến phát động phong trào xã hội rộng lớn hơn… Tất cả những vấn đề đó đòi hỏi không chỉ phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm mà thực sự phải có những tổng kết mang tính toàn diện, đầy đủ về các cuộc vận động chỉnh Đảng trong lịch sử của Đảng, từ đó thấy những bài học thành công để kế thừa, những bài học thất bại cần né tránh. Kính thưa các đồng chí Thực hiện Kế hoạch số 386KHHVCTKVI ngày 08 tháng 9 năm 2017 của Giám đốc Học viện Chính trị khu vực I về việc tổ chức Hội thảo khoa học cấp Học viện, Khoa Lịch sử Đảng long trọng tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Lịch sử các cuộc vận động chỉnh đốn đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ 19301975 Những bài học kinh nghiệm cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay”. Hội thảo nhằm một số mục đích cơ bản: 1 Nghiên cứu, tái hiện bức tranh các cuộc chỉnh đốn đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ 19301975, từ đó đưa ra những đánh giá, nhận xét mang tính ban đầu về kết quả, hạn chế, ý nghĩa tác động của các cuộc vận động, chỉnh đốn này đối với sự trưởng thành, lớn mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như đối với sự phát triển chung của phong trào cách mạng Việt Nam. 2 Bám sát những yêu cầu mang tính “thời sự”, “cấp bách” của vấn đề xây dựng, chỉnh đốn đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI và Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII, việc tiến hành nghiên cứu về lịch sử các cuộc vận động, chỉnh đốn đảng của thời kỳ 19301975 với những ưu khuyết điểm nhằm hướng tới mục tiêu vận dụng, tham khảo cho giai đoạn hiện nay. 3 Đáp ứng yêu cầu gắn kết chặt chẽ lý luận với thực tiễn trong các hoạt động đào tạo tại Học viện chính trị khu vực I, các nghiên cứu từ hội thảo còn nhằm tham góp vào mục tiêu đổi mới, sáng tạo, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học tại Học viện Chính trị khu vực I. Với mục tiêu xã hội hoá các kết quả nghiên cứu khoa học, Hội thảo sẽ góp phần vào việc thực hiện đổi mới chương trình, giáo trình bài giảng (theo hướng ngày càng gắn kết các vấn đề lý luận với thực tiễn sinh động, biến đổi không ngừng) 4 Thông qua các hoạt động nghiên cứu trực tiếp về các cuộc vận động, chỉnh đốn đảng trong thời kỳ 1930197, Hội thảo góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (trực tiếp là đội ngũ giảng viên) không chỉ trong nghiên cứu khoa học mà còn cung cấp các tư liệu phong phú phục vụ trực tiếp cho các hoạt động giảng dạy, đặc biệt là đối với những vấn đề phức tạp, còn nhiều “góc khuất” của lịch sử Đảng thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, của vấn đề lịch sử tổ chức đảng, của công tác xây dựng đảng,... Như vậy, với những mục tiêu cả về lý luận và thực tiễn, cả tính lịch sử và tính thời sự, cả phục vụ công tác đào tạo cũng như nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, không chỉ đối với cá nhân các giảng viên trong khoa Lịch sử Đảng mà còn đối với tập thể cán bộ, giảng viên, viên chức Học viện Chính trị khu vực I, việc tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Lịch sử các cuộc vận động chỉnh đốn đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ 19301975 Những bài học kinh nghiệm cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay” là một hoạt động hết sức có ý nghĩa. Hội thảo dù được chuẩn bị với thời gian không dài, song đã thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà lãnh đạo, các nhà khoa học, đội ngũ giảng viên, cán bộ công nhân viên của Học viện Chính trị khu vực I, đặc biệt , Hội thảo còn có sự tham gia của nhiều nhà khoa học từ các đơn vị, cơ sở đào tạo bên ngoài. Điều này trước hết chứng tỏ vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng của vấn đề chỉnh đốn đảng nói riêng, của công tác xây dựng đảng nói chung, đồng thời cũng phản ánh tinh thần trách nhiệm của các đơn vị đã tham gia phối hợp với khoa Lịch sử Đảng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị quan trọng này như: Ban Quản lý khoa học, Văn phòng Học viện,... Thay mặt cho các đơn vị tham gia phối hợp thực hiện, tôi xin cám ơn sự chỉ đạo sâu sát của Đảng uỷ, Ban Giám đốc Học viện Chính trị khu vực I, sự tham gia nhiệt tình của các nhà khoa học đã viết bài, đóng góp ý kiến cho chương trình, nội dung của Hội thảo khoa học “Lịch sử các cuộc vận động chỉnh đốn đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ 19301975 Những bài học kinh nghiệm cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay”. Xin chúc các đồng chí mạnh khoẻ, chúc hội thảo khoa học hôm nay thành công tốt đẹp. Xin trân trọng cảm ơn
Trang 1MỤC LỤC
Trang
BÁO CÁO ĐỀ DẪN HỘI THẢO 3
1 Khái quát về bộ máy tổ chức, hoạt động của Đảng Cộng sản Việt
Nam và những yêu cầu đặt ra trong xây dựng, chỉnh đốn đảng
thời kỳ (1930-1945)
PGS, TS Bùi Thị Thu Hà - Ths Nguyễn Thị Thanh Nhàn 8
2 Cuộc vận động chỉnh đốn đảng phục vụ sự nghiệp đấu tranh duy
trì phong trào cách mạng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương
hai (từ tháng 3/1931 - đến tháng 12/1931) - Thành tựu và kinh
nghiệm
TS Biện Thị Hoàng Ngọc 27
3 Cuộc đấu tranh thống nhất tư tưởng trong Đảng theo tinh thần
Tác phẩm “Tự chỉ trích” của Nguyễn Văn Cừ (3/19389/1939)
-Thành tựu và kinh nghiệm
Ths Mai Thúc Hiệp 51
4 Cuộc vận động tự phê bình và phê bình, nâng cao đạo đức cách
mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Đông
Dương (4/1947-10/1948) - Thành tựu và kinh nghiệm
Ths Nguyễn Thị Ngọc Diễn 72
5 Cuộc vận động “Chỉnh đảng, chỉnh quân” theo tinh thần Nghị
quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ ba
(4/1952-6/1953) - Thành tựu và kinh nghiệm
Ths Nguyễn Thị Thu Hà 90
6 Cuộc vận động chỉnh đốn đảng về tổ chức trong cải cách ruộng
đất sau năm 1954 ở miền Bắc - Thành tựu và kinh nghiệm
TS Nguyễn Đình Quỳnh 112
Trang 27 Cuộc vận động “chỉnh huấn” và “xây dựng chi, đảng bộ bốn tốt”
ở miền Bắc (1965 - 1968) - Thành tựu và kinh nghiệm
Ths Đặng Minh Phụng 136
8 Cuộc vận động “chỉnh huấn”, nâng cao chất lượng đảng viên
(1969-1973) - Thành tựu và kinh nghiệm
Ths Nguyễn Thị Huyền Trang 155
9 Một số nhận xét về công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng thời kỳ
1930-1975
TS Doãn Hùng - Ths Trần Thị Thiều Hoa 178
10 Những kinh nghiệm chủ yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam trong
quá trình tiến hành các cuộc vận động, chỉnh đốn đảng thời kỳ
(1930-1975)
Ths Lê Tuấn Vinh 193
11 Vận dụng kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quá trình
xây dựng, chỉnh đổn đảng thời kỳ 1930-1975 trong bối cảnh hiện
nay…
Ths Nguyễn Việt Phương 219
Trang 3BÁO CÁO ĐỀ DẪN HỘI THẢO
“LỊCH SỬ CÁC CUỘC VẬN ĐỘNG CHỈNH ĐỐN ĐẢNG
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM THỜI KỲ 1930-1975
- NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÔNG TÁC
XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG HIỆN NAY”
TS Nguyễn Thị Thanh Huyền (*)
Kính thưa các vị đại biểu, thưa các nhà khoa học!
Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay đã nhiều lần tiến hànhchỉnh đốn đảng Tuy nhiên, cho đến nay, còn nhiều vấn đề lý luận về chỉnhđốn đảng chưa thực sự sáng rõ, còn nhiều vấn đề chưa có câu trả lời thỏa
đáng như: (i) vai trò của công tác chỉnh đốn đảng đối với quá trình vận
động và phát triển của cấu trúc đảng về cả mặt chính trị - tư tưởng, tô chức, đạo đức - tác phong; (ii) mối quan hệ giữa chỉnh đảng về mặt chính trị
- tư tưởng với chỉnh đảng về các mặt t ô chức, đạo đức - tác phong; (iii) vấn đề tư kiểm soát của một cuộc vận động chỉnh đốn đảng nhằm đảm bảo tính hướng đích, tránh gây ra rối loạn trong nội bộ đảng hoặc tạo những
cơ hội để các lưc lượng phản động lợi dụng phá hoại; (iv) điểm tương đồng - khác biệt giữa chỉnh đảng trong điều kiện bất thường với các hoạt động chỉnh đảng trong điều kiện bình thường; (v) tính giới hạn về mặt thời gian của một cuộc vận động chỉnh đốn đảng khi bối cảnh lịch sử không còn, nhiệm vụ cách mạng mới xuất hiện và vấn đề lưa chọn thời điểm bắt đầu và kết thúc một cuộc vận động chỉnh đốn đảng; (vi) quy trình, phương pháp và các hình thức tiến hành các cuộc chỉnh đốn đảng (cả trong điều kiện bình thường cũng như trong điều kiện bất thường); (vii) vai trò của từng thành tố tập thể với cá nhân, cấp trên với cấp dưới, trung ương với địa phương… trong các cuộc vận động, chỉnh đốn đảng; (viii) vai trò của chỉnh đốn đảng đối với xây dưng nhà nước nước và phát huy dân chủ trong
(*) (*) Trưởng khoa Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị khu vưc I.
Trang 4xã hội… Vô vàn các vấn đề lý luận đó đặt ra trách nhiệm nặng nề cho giới
khoa học chính trị nước nhà, mà đặt trong bối cảnh hiện nay, việc trả trả lờimột cách thoả đáng nằm ở chính tổng kết lịch sử Đảng
Để không ngừng hoàn thiện đảng cộng sản cầm quyền trong điều kiện
cụ thể ở Việt Nam, việc dựa vào các nguyên lý sẵn có là chưa đủ, mà đòi
hỏi phải luôn tiếp tục tìm tòi và sáng tạo Ở đây, phương pháp tông kết thưc
tiễn - lý luận chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng Tuân thủ phương pháp
này đòi hỏi phải xuất phát từ chính thực tiễn tổ chức và hoạt động củaĐảng trong từng giai đoạn lịch sử để tổng kết, đánh giá, từ đó nâng lênthành lý luận Có như thế, các thiết kế chính trị về mô hình tổ chức, phươngthức và nội dung hoạt động của Đảng, trong đó có vấn đề chỉnh đảng, mớituân theo đúng lý luận và bám sát đặc điểm thực tiễn đất nước, từng bướchạn chế đi tới phòng ngừa bệnh máy móc, giáo điều
Trải qua hơn 80 năm hình thành và phát triển, đã có nhiều đợt chỉnhđảng, thanh đảng được Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành Sau mỗi đợtchỉnh đảng như vậy, tuy có sơ kết, đánh giá nhưng chưa có một tổng kếttoàn diện, đánh giá thấu đáo trên tất cả các mặt, các bình diện, nhận thức
các tác động của nó để tìm ra những nội quang mang tính quy luật về chỉnh
đảng Điều này đặt ra yêu cầu tổng kết, đánh giá một cách có hệ thống,
toàn diện các cuộc vận động chỉnh đảng trong lịch sử của Đảng trở nên hếtsức có ý nghĩa, đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi mà công tác chỉnhđảng được đặt trong những vấn đề hết sức phức tạp, đa chiều, đa hướng củađiều kiện kinh tế thị trường, của thể chế nhà nước pháp quyền và hội nhậpquốc tế
Ngày 30-10-2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Nghị
quyết số 04-NQ/TW Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Về tăng
cường xây dưng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sư suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tư diễn biến”, “tư chuyển hóa” trong nội bộ” Nghị quyết là “sự phát triển tiếp nối” không chỉ
về mặt quan điểm, nội dung của Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung
ương lần thứ tư khóa XI “Về một số vấn đề cấp bách về xây dưng đảng
Trang 5hiện nay” mà còn cả tinh thần quyết tâm của toàn hệ thống chính trị trong
công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng Tuy cuộc vận động chỉnh đảng mới bắtđầu, nhưng trong Đảng và ngoài xã hội xuất hiện hai tâm trạng khác nhau
Một bộ phận tin tưởng cuộc chỉnh đảng lần này sẽ đem lại chuyển biến của
Đảng, nhất là đẩy lùi nguy cơ suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lốisống của một bộ phận không nhỏ đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của Đảng Ngược lại, không ít người thiếu tin tưởng khi nhìn
vào hiệu quả của hai cuộc chỉnh đảng theo Nghị quyết Trung ương ba khóaVII (6-1992) và Nghị quyết Trung ương sáu lần 2 khóa IX (1-1999) Thậmchí có cả biểu hiện lo ngại, trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhậpquốc tế hiện nay, việc tiến hành chỉnh đảng thiếu phương pháp thích hợp cóthể gây nên hậu quả khôn lường như: các “nhóm lợi ích” lợi dụng chỉnhđảng để gây rối loạn trong đảng, thanh trừng nội bộ; những người chânchính, muốn Đảng thật sự chỉnh đốn để trưởng thành lành mạnh có thực sựkiểm soát được quá trình chỉnh đảng hay không; phải đấu tranh với các thếlực thù địch và cơ hội chính trị như thế nào để tránh chỉnh Đảng bị lợi dụnggây bất lợi cho Đảng; bản thân nội bộ Đảng có đủ sức để tự điều chỉnh haycần đến phát động phong trào xã hội rộng lớn hơn… Tất cả những vấn đề đóđòi hỏi không chỉ phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm mà thực sự phải cónhững tổng kết mang tính toàn diện, đầy đủ về các cuộc vận động chỉnhĐảng trong lịch sử của Đảng, từ đó thấy những bài học thành công để kếthừa, những bài học thất bại cần né tránh
Kính thưa các đồng chí!
Thực hiện Kế hoạch số 386/KH-HVCTKVI ngày 08 tháng 9 năm
2017 của Giám đốc Học viện Chính trị khu vực I về việc tổ chức Hội thảokhoa học cấp Học viện, Khoa Lịch sử Đảng long trọng tổ chức hội thảo
khoa học với chủ đề “Lịch sử các cuộc vận động chỉnh đốn đảng của Đảng
Cộng sản Việt Nam thời kỳ 1930-1975 - Những bài học kinh nghiệm cho công tác xây dưng, chỉnh đốn Đảng hiện nay” Hội thảo nhằm một số mục
đích cơ bản:
Trang 61- Nghiên cứu, tái hiện bức tranh các cuộc chỉnh đốn đảng của ĐảngCộng sản Việt Nam trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ 1930-1975, từđó đưa ra những đánh giá, nhận xét mang tính ban đầu về kết quả, hạn chế,ý nghĩa tác động của các cuộc vận động, chỉnh đốn này đối với sự trưởngthành, lớn mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như đối với sự pháttriển chung của phong trào cách mạng Việt Nam
2- Bám sát những yêu cầu mang tính “thời sự”, “cấp bách” của vấn đềxây dựng, chỉnh đốn đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI
và Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII, việc tiến hành nghiên cứu về lịch sửcác cuộc vận động, chỉnh đốn đảng của thời kỳ 1930-1975 với những ưu -khuyết điểm nhằm hướng tới mục tiêu vận dụng, tham khảo cho giai đoạnhiện nay
3- Đáp ứng yêu cầu gắn kết chặt chẽ lý luận với thực tiễn trong cáchoạt động đào tạo tại Học viện chính trị khu vực I, các nghiên cứu từ hội
thảo còn nhằm tham góp vào mục tiêu đôi mới, sáng tạo, nâng cao chất
lượng công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học tại Học viện Chính trị khu vưc I Với mục tiêu xã hội hoá các kết quả nghiên cứu khoa học, Hội thảo
sẽ góp phần vào việc thực hiện đổi mới chương trình, giáo trình bài giảng
(theo hướng ngày càng gắn kết các vấn đề lý luận với thưc tiễn sinh động,
biến đôi không ngừng)
4- Thông qua các hoạt động nghiên cứu trực tiếp về các cuộc vận
động, chỉnh đốn đảng trong thời kỳ 1930-197, Hội thảo góp phần nâng cao
chất lượng nguồn nhân lưc (trực tiếp là đội ngũ giảng viên) không chỉ
trong nghiên cứu khoa học mà còn cung cấp các tư liệu phong phú phục vụ trực tiếp cho các hoạt động giảng dạy, đặc biệt là đối với những vấn đề phức tạp, còn nhiều “góc khuất” của lịch sử Đảng thời kỳ cách mạng dân
tộc dân chủ, của vấn đề lịch sử tô chức đảng, của công tác xây dưng đảng,
Như vậy, với những mục tiêu cả về lý luận và thưc tiễn, cả tính lịch sử
và tính thời sư, cả phục vụ công tác đào tạo cũng như nâng cao chất lượng
nghiên cứu khoa học, không chỉ đối với cá nhân các giảng viên trong khoa
Trang 7Lịch sử Đảng mà còn đối với tập thể cán bộ, giảng viên, viên chức Học
viện Chính trị khu vực I, việc tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Lịch
sử các cuộc vận động chỉnh đốn đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ 1930-1975 - Những bài học kinh nghiệm cho công tác xây dưng, chỉnh đốn Đảng hiện nay” là một hoạt động hết sức có ý nghĩa
Hội thảo dù được chuẩn bị với thời gian không dài, song đã thu hút sựquan tâm của đông đảo các nhà lãnh đạo, các nhà khoa học, đội ngũ giảngviên, cán bộ công nhân viên của Học viện Chính trị khu vực I, đặc biệt ,Hội thảo còn có sự tham gia của nhiều nhà khoa học từ các đơn vị, cơ sở
đào tạo bên ngoài Điều này trước hết chứng tỏ vai trò và ý nghĩa đặc biệt
quan trọng của vấn đề chỉnh đốn đảng nói riêng, của công tác xây dựng
đảng nói chung, đồng thời cũng phản ánh tinh thần trách nhiệm của các đơnvị đã tham gia phối hợp với khoa Lịch sử Đảng trong thực hiện nhiệm vụchính trị quan trọng này như: Ban Quản lý khoa học, Văn phòng Họcviện,
Thay mặt cho các đơn vị tham gia phối hợp thực hiện, tôi xin cám ơn
sự chỉ đạo sâu sát của Đảng uỷ, Ban Giám đốc Học viện Chính trị khu vực
I, sự tham gia nhiệt tình của các nhà khoa học đã viết bài, đóng góp ý kiến
cho chương trình, nội dung của Hội thảo khoa học “Lịch sử các cuộc vận
động chỉnh đốn đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ 19301975 Những bài học kinh nghiệm cho công tác xây dưng, chỉnh đốn Đảng hiện nay”.
-Xin chúc các đồng chí mạnh khoẻ, chúc hội thảo khoa học hôm naythành công tốt đẹp
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 8KHÁI QUÁT VỀ BỘ MÁY TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG THỜI KỲ (1930-1945)
Lênin viết: “Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, giai cấp vô sản
không có vũ khí nào khác hơn là sư tô chức…” 1 Hệ thống tổ chức là nền
tảng cơ bản, quyết định sự tồn tại và sức lãnh đạo của Đảng Chính vì thế,ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định công tác xâydựng, củng cố hệ thống tổ chức Đảng từ Trung ương đến địa phương lànhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cáchmạng Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước thành ĐảngCộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930 đã thông qua Chánh cương vắn tắt,Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng, trong đó, Điều lệ vắn tắt quyđịnh hệ thống tổ chức của Đảng như sau:
“Hệ thống tô chức:
Chi bộ gồm tất cả đảng viên trong một nhà máy, một công xưởng, một hầm mỏ, một sở xe lửa, một chiếc tàu, một đồn điền, một đường phố, v.v
(*) (*) Giảng viên Khoa Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Khu vưc I.
(**) (**) Giảng viên Khoa Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Khu vưc I.
1 Lênin: toàn tập, tập 8, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1978, tr.490.
Trang 9Huyện bộ, thị bộ hay là khu bộ:
Huyện bộ gồm tất cả các chi bộ trong một huyện.
Thị bộ gồm tất cả các chi bộ trong một châu thành nhỏ.
Khu bộ gồm tất cả các chi bộ trong khu của một thành phố lớn như Sài Gòn, Chợ Lớn, Hải Phòng, Hà Nội hay của một sản nghiệp lớn như mỏ Hòn Gai.
Tỉnh bộ, thành bộ hay đặc biệt bộ:
Tỉnh bộ gồm các huyện bộ, thị bộ trong một tỉnh.
Thành bộ gồm tất cả các khu bộ trong một thành phố Đặc biệt bộ gồm tất cả các khu bộ trong một sản nghiệp lớn.
Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng Hội nghị chủ trương “chỉnh
đốn nội bộ, làm cho Đảng Bônsơvích hoá”; căn cứ vào Điều lệ của Quốc tế
Cộng sản, Hội nghị lần thứ nhất định ra Điều lệ Đảng của Đảng Cộng sản
Đông Dương, tổ chức ra các Xứ ủy cho vững vàng để “chỉ huy công việc
trong một xứ T.Ư vì có công việc toàn thể Đảng không thể trưc tiếp chỉ huy các tỉnh bộ (…) các Đảng bộ thượng cấp (từ thành và tỉnh ủy trở lên) phải tô chức cả các ban chuyên môn nề giới để vận động (…) Đảng bộ thượng cấp và hạ cấp phải liên lạc mật thiết luôn luôn thì Đảng với quần chúng mới khỏi xa nhau Phải tô chức cho nhiều cách giao thông để cho các cấp đảng bộ xa nhau thường không tin tức cho mau và chuyên (tỉnh ủy với xứ ủy, xứ ủy với Trung ương, xứ ủy này với xứ ủy khác, Trung ương với
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, tập 2,
tr 7-8.
Trang 10các đảng huynh đệ như Pháp và Tàu, Trung ương với Quốc tế Cộng sản” 1
Nghị quyết Hội nghị cũng nêu rõ cần tổ chức nhiều cách giao thông đểquan hệ giữa các cấp bộ Đảng được liên tục; tranh thủ phong trào đấu tranhđể phát triển tổ chức, tích cực thu nạp đảng viên mới, lập ra các chi bộlàng; chú ý lấy phụ nữ, thợ thuyền vào Đảng; tăng cường và nâng cao chấtlượng sinh hoạt chi bộ Nghị quyết quy định rõ hệ thống tổ chức Đảng có 6cấp: Trung ương, Xứ bộ, Tỉnh bộ hoặc Thành bộ, Huyện bộ, Tổng bộ vàChi bộ, gồm:
“a, Chi bộ: Mỗi cái sản nghiệp, nhà buôn, hoặc đường phố, làng, trại
lính… có ban cán sư chi bộ chỉ huy.
b, Tông bộ (ở nhà quê) có một ban tông ủy chỉ huy.
c, Huyện bộ (ở các tỉnh), khu bộ (các thành phố, các vùng đồn điền, các vùng mỏ) có một ban huyện ủy hay khu ủy chỉ huy.
d, Tỉnh bộ hoặc thành bộ (thành bộ Hà Nội, Hải Phòng, Vinh - Bến Thủy, Huế, Tourane, Sài Gòn, Chợ Lớn, Nam Vang) hoặc đặc biệt bộ các địa phương đồn điền, mở rộng như một tỉnh) có ban tỉnh, thành ủy, hoặc đặc ủy chỉ huy.
đ, Xứ bộ (Trung, Nam, Bắc, Cao Miên, Lào) có Ban Xứ ủy chỉ huy.
e, Trung ương”2
Điều lệ xác định nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc quantrọng nhất chỉ đạo mọi hoạt động tổ chức, sinh hoạt nội bộ và phong cáchlàm việc của Đảng, xác định chi bộ là nền tảng của Đảng, lập Đảng đoàntrong các tổ chức quần chúng Chi bộ là tổ chức căn bản của Đảng, là mộttrong những khâu quan trọng trong hệ thống tổ chức và trong việc thựchiện sự lãnh đạo của Đảng Nơi nào có ba đảng viên trở lên thì được tổ
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, tập 2,
tr 113-114
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, tập 2,
tr 120-121.
Trang 11chức một chi bộ mới Nơi nào chỉ có một, hai đảng viên thì phải vào chi bộgần đó Còn những đảng viên khác như thủ công nghiệp, trí thức, người đi
ở thì phải lấy địa phương mình làm gốc mà tổ chức ra chi bộ đường phố, ởnhà quê có công xưởng nhỏ thì được tổ chức ra chi bộ riêng
Điều lệ quy định trong các tỉnh (thành, đặc biệt) bộ có ban thường vụđể làm việc hàng ngày Trong những trường hợp cụ thể, Xứ uỷ đóng ởthành phố nào thì chỗ ấy không cần có thành uỷ Công việc chỗ ấy do Xứ
uỷ trực tiếp chỉ huy
Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương (3-1931) tập trung
bàn về công tác tổ chức Hội nghị nhấn mạnh: “Công việc tô chức là một
phần công việc rất quan trọng của Đảng Nếu công việc đó làm không đúng thì nguy hại cho Đảng rất lớn”1 Hội nghị nêu rõ các nguyên tắc củaviệc củng cố, phát triển hệ thống tổ chức Đảng cho các xứ uỷ, các đảng bộthực hiện là: Đảng phải có kỷ luật sắt; phải lấy công nhân làm lực lượngcăn bản; phải tổ chức theo cách dân chủ, tập trung; gắn công tác tổ chứcvới đấu tranh… Về nguyên tắc tập trung dân chủ, Nghị quyết Hội nghị viết:
“Đảng Cộng sản là một đội tiền phong lãnh đạo hành động cách mạng chớ không phải là một hội thảo luận nghiên cứu suông, cho nên Đảng không phải là một bầy bè phái, Đảng phải thành một đoàn thể có tư tưởng và hành động thống nhất (…) Đảng tô chức theo cách dân chủ tập trung Dân chủ trong Đảng nghĩa là các cơ quan chỉ huy từ dưới lên trên đều do đảng viên cử ra, các đảng bộ ở các địa phương có quyền tư trị về việc địa phương, nghĩa là trong phạm vi nghị quyết chung của Đảng thì các đảng
bộ địa phương có thể phát sinh hết sáng kiến và tư động của họ Còn tập trung nghĩa là hết thảy cơ quan dưới phải phục tùng cơ quan trên mà cơ quan chỉ huy cao hơn hết là Trung ương Tuy nhiên Đảng Cộng sản không phải cứ sùng bái hai chữ dân chủ, khi nào cũng thưc hành mà không kể gì
1Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1999, tập 3
(1931) tr.104.
Trang 12đến thời buôi và điều kiện làm việc Trái lại, gặp lúc khủng bố dữ dội, khó khăn cản trở nhiều mà công việc lại cấp bách thì không thể theo dân chủ được, không phải bầu cử gì hết mà chỉ phải trên chỉ định xuống mà thôi Nếu hoàn cảnh thuận tiện thì tất nhiên phải thưc hành hoàn toàn dân chủ Vậy cho nên ý nghĩa dân chủ không phải là một quy tắc nhất định, nhưng phải tùy theo từng lúc mà mở rộng hay thâu hẹp” 1
Nghị quyết nhấn mạnh “Chi bộ là cơ sở của Đảng” đặc biệt là chi bộsản nghiệp vì thế Hội nghị yêu cầu các đảng bộ phải coi chi bộ sản nghiệp
là căn bản tổ chức, là tổ chức cơ sở căn bản nên phải “xoay hướng” về chi
bộ, nhất là chi bộ nhà máy, Nghị quyết viết: “Đảng Cộng sản là cái tô chức
cách mạng, phải liên lạc mật thiết với quần chúng công nhân Đảng chỉ là một bộ phận giác ngộ tiên tiến nhất của giai cấp công nhân, vậy muốn ảnh hưởng đến toàn thể giai cấp công nhân, truyền bá chiến lược chương trình
và khẩu hiệu của Đảng, tô chức giai cấp công nhân và kéo họ đi tranh đấu thì chỉ có tới tận những nơi mà quần chúng tụ họp sẵn rồi mà hoạt động, tức là tới các nhà máy, các trại rẫy, các đồn điền, các mỏ v.v Vì vậy phải theo sản nghiệp mà tô chức ra chi bộ nhà máy, chi bộ đồn điền” 2 Hệ thống
tổ chức cấp ủy các cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam từ sau khi hợp nhất(2-1930 đến 4-1931) được tổ chức như sau:
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1999, tập 3
(1931) tr.107-108.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1999, tập 3
(1931) tr.108.
Trang 13Ban Trung ương chấp ủy
Tổ chức Đảng ở Lào Tổ chức
Đảng ở Cao Miên Tỉnh ủy
thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương về cơ bản đã định hình về hệ thống tô
chức của Đảng trong suốt quá trình đấu tranh giành chính quyền
Với bộ máy được tổ chức một cách khá hệ thống nên mặc dù với sốlượng đảng viên ít (tính đến thời điểm Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời,toàn Đảng có 310 đảng viên1), lực lượng còn mỏng nhưng với đường lối,chủ trương đúng đắn với biện pháp vận động quần chúng phù hợp, ĐảngCộng sản Việt Nam đã sớm phát động được phong trào cách mạng rộng
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, tập 2, tr.21.
Trang 14khắp trong toàn quốc Cao trào 1930-1931 và đỉnh cao là Xô viết NghệTĩnh đã thể hiện rõ nét vai trò lãnh đạo của Đảng và ảnh hưởng to lớn củalàn sóng cách mạng vô sản đối với cách mạng Việt Nam
2 Đặc điểm cách mạng Việt Nam thời kỳ 1930-1945 và những vấn
đề đặt ra về xây dựng, chỉnh đốn Đảng
Giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, triều đìnhNguyễn nhanh chóng đầu hàng, nước ta trở thành một nước thuộc địa nửaphong kiến Sự đàn áp bóc lột của thực dân Pháp và tay sai phong kiến đãđẩy nhân dân vào tình cảnh một cổ đôi tròng Trong hoàn cảnh đó, đã cóhàng loạt các cuộc khởi nghĩa, các phong trào yêu nước chống thực dânPháp diễn ra nhưng cuối cùng đều thất bại Phong trào giải phóng dân tộcViệt Nam vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX lâm vào cuộc khủng hoảngsâu sắc về đường lối và giai cấp lãnh đạo
Yêu cầu khách quan của dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX là phải có
hệ thống lý luận tiên tiến dẫn đường với một đảng cách mạng chân chính,có đường lối cách mạng giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp đúng đắnphù hợp
Trước tình hình đó, năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn TấtThành - Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước Với trí tuệ siêu việt
và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú, đầu năm 1930, Nguyễn ÁiQuốc triệu tập và chủ trì Hội nghị thành lập Đảng ở Cửu Long (HươngCảng, Trung Quốc) Hội nghị hoàn toàn nhất trí với đề xuất của Nguyễn Ái
Quốc thống nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội nghị thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm
tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc dự thảo Đảng Cộng sản
Việt Nam ra đời chấm dứt cuộc khủng hoảng lãnh đạo kéo dài trong nhiềunăm, mở ra thời đại thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Những tháng đầu năm 1931, kẻ địch đàn áp khốc liệt phong trào cáchmạng và Đảng Cộng sản Nhiều cán bộ đảng viên và quần chúng cách
Trang 15mạng bị kẻ thù giết hại và tù đày Nhiều tổ chức đảng và cấp ủy bị tan vỡ.Các ủy viên ban chấp hành Trung ương Đảng đều bị địch bắt Mặc dù bịthực dân Pháp khủng bố, tra tấn, tù đày, xử chém nhưng các chiến sĩ cộngsản vẫn giữ vững chí khí chiến đấu và lý tưởng cách mạng, học tập và rènluyện nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất và đức hy sinh vì giai cấp vàdân tộc là biểu hiện sáng ngời của những cán bộ, đảng viên của buổi đầuxây dựng và thực hiện sự lãnh đạo của Đảng Đó cũng là yêu cầu căn bảntrong công tác xây dựng Đảng Vượt lên sự khủng bố ác liệt của kẻ thù, cácđồng chí cán bộ, đảng viên còn lại đã dựa chắc vào quần chúng nhân dân,từng bước xây dựng lại các tổ chức quần chúng (nông hội, công hội), tiếntới xây dựng lại các tổ chức đảng Các đồng chí cộng sản đã biến nhà tùthành nơi học tập, rèn luyện ý chí, tinh thần cách mạng Cuối năm 1931 đã
ra đời Chi bộ Đảng tại nhà tù Hỏa Lò Đầu năm 1932, thành lập Chi bộĐảng đầu tiên ở nhà tù Côn Đảo
Cuộc đấu tranh về tư tưởng và quan điểm chính trị của Đảng chống lạinhững quan điểm sai lầm đã diễn ra sôi nổi, tiêu biểu là năm 1932 diễn racuộc đấu tranh của những chiến sĩ cộng sản chống những quan điểm sailầm của tù chính trị Quốc dân Đảng tại nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội) và CônĐảo Tính đúng đắn của tư tưởng và đường lối cách mạng đúng đắn củaĐảng Cộng sản đã làm chuyển hóa nhận thức của những người trong Quốcdân Đảng; nhiều người đã chuyển lập trường và đứng vào hàng ngũ củanhững người cộng sản: Trần Huy Liệu, Tô Hiệu… Tháng 10-1933 diễn racuộc tranh luận về duy tâm - duy vật trên lĩnh vực tư tưởng, triết học; tháng8-1935 bắt đầu cuộc tranh luận giữa quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật vànghệ thuật vị nhân sinh Đó là cuộc tranh luận có ý nghĩa chính trị , lý luậnphản ánh sự trưởng thành của Đảng về nhận thức trong sự nghiệp đấu tranhchung của dân tộc
Cuộc đấu tranh làm rõ nội dung xây dựng Đảng và là sự trưởng thànhcủa Đảng về chính trị và tư tưởng lý luận
Trang 16Tháng 3-1934 thành lập Xứ ủy Đảng Cộng sản Đông Dương ở Lào.Để giữ vững sự lãnh đạo thông suốt của Đảng, theo sự chỉ đạo thông suốt
của Đảng, tháng 3-1934, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng được thành lập
Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất họp tại Ma
Cao (Trung Quốc) từ ngày 27 đến ngày 31-3-1935, Đại hội là sự khôi phụchoàn toàn hệ thống tổ chức của Đảng Cộng sản ở Đông Dương Tổng sốđảng viên của Đảng đến tháng 2-1935 là 522 đồng chí Đại hội đã bầu Ban
Trung ương 13 người Đại hội thông qua Điều lệ xác định Đảng là phân bộ
của Quốc tế Cộng sản, xác định tôn chỉ và hệ thống tổ chức của Đảng Trong những năm 1936-1939, Quốc tế cộng sản có sự chuyển hướng
về mục tiêu chiến lược và sách lược đấu tranh, đã có sự chia sẻ về quanđiểm với Nguyễn Ái Quốc Ở trong nước, về cơ bản các tổ chức đảng đãđược phục hồi Chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp có những điều chỉnhtrong chính sách với các thuộc địa, trả tự do cho nhiều tù chính trị ở ĐôngDương, do đó đội ngũ cán bộ lãnh đạo, đảng viên của Đảng Cộng sản đượctăng cường Những cải cách dân chủ, dân sinh là thuận lợi cho phong trào.Công tác xây dựng Đảng và thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng có nhữngchuyển biến quan trọng:
- Về chính trị: Đảng có bước trưởng thành về giải quyết vấn đề chiếnlược và sách lược, mục tiêu lâu dài và mục tiêu trước mắt, đường lối vàhình thức, phương pháp đấu tranh Kiên định mục tiêu chiến lược là giànhđộc lập và tiến lên CNXH, nhưng biết đặt ra những mục tiêu cụ thể trướcmắt vì dân sinh, dân chủ, sử dụng nhiều hình thức, phương pháp đấu tranhphù hợp (đấu tranh nghị trường, báo chí, tổ chức Đông Dương đại hội, đưadân nguyện…) như Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (tháng 10-1930),trong Án Nghị quyết đã “Thủ tiêu chánh cương sách lược và Điều lệ cũ củaĐảng”1 tức là thủ tiêu Cương lĩnh của Hội nghị thành lập Đảng do Nguyễn
Ái Quốc soạn thảo Quan điểm chính trị của Nguyễn Ái Quốc là nêu cao
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, tr.112.
Trang 17vấn đề dân tộc, đấu tranh giải phóng dân tộc phù hợp với đặc điểm và mâuthuẫn cơ bản, chủ yếu của xã hội thuộc địa, trong khi đó quan điểm củaQuốc tế cộng sản là đề cao đấu tranh giai cấp, chưa thấy hết vai trò của vấn
đề dân tộc và cách mạng thuộc địa đối với sự nghiệp cách mạng toàn thếgiới Vì vậy, quan điểm của Nguyễn Ái Quốc đã không được nhận thứcđúng và còn bị phê phán Nguyễn Ái Quốc đã kiên trì giữ vững quan điểmcủa mình
- Triệt để lợi dụng mặt trận báo chí, xuất bản để truyền bá rộng rãi tưtưởng, lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, chính sách của Đảngtrong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nâng cao nhận thức lý luận và thốngnhất tư tưởng trong Đảng; phê phán những khuynh hướng tư tưởng sai tráinhất là của các phần tử tờrốtkít
- Có bước tiến quan trọng về công tác vận động, tổ chức phong tràocủa quần chúng nhân dân Hội nghị Trung ương Đảng (3-1938) quyết địnhthành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương, báo Tin tức của Mặt trận ra sốđầu ngày 2-4-1938 phát triển ảnh hưởng của Mặt trận và Đảng; lập các tổchức quần chúng rộng rãi (hội tương tế, hội ái hữu…); nhận thức rõ tầmquan trọng của công tác vận động quần chúng nhân dân (dân vận)
- Vấn đề xây dựng, củng cố hệ thống tổ chức đảng từ Trung ương đếnđịa phương và các lĩnh vực hoạt động chủ yếu được coi trọng và có bướcphát triển mới nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự phát triểnphong phú, sôi nổi của phong trào quần chúng và sự phát triển của thực tiễncách mạng
Ngày 5-4-1938, Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi báo cáo tới BanPhương Đông, Quốc tế Cộng sản về công tác xây dựng Đảng Théo báocáo, đến tháng 4 -1938, Đảng Cộng sản Đông Dương có 1.597 đảng viên bímật; Ban Chấp hành Trung ương được tổ chức lại với 11 ủy viên trong đócó 2 đồng chí ở nước ngoài Đảng đã tranh thủ cơ hội có thể để đưa một bộ
Trang 18phận cán bộ, đảng viên ra hoạt động công khai trong khi vẫn chú trọngcủng cố tổ chức bí mật của Đảng
Khi hoạt động ở Trung Quốc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có nhiều bàiviết về hoạt động của những phần tử tờ rốt kít Năm 1939, trong bài
“Những chỉ thị mà tôi nhớ và truyền đạt” gửi về nước, Nguyễn Ái Quốcviết: “Đối với bọn tờrốtkít, không thể có thỏa hiệp nào, một nhượng bộ nào.Phải dùng mọi cách để lột mặt nạn chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phátxít, phải tiêu diệt chúng về chính trị”1
Về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với phong trào cách mạng và đối vớiMặt trận - tổ chức tập hợp rộng rãi lực lượng quần chúng - Nguyễn ÁiQuốc nhấn mạnh: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnhđạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt độngnhất và chân thực nhất Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khiquần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạocủa Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”2 Từ hoạt động thựctiễn với cương lĩnh, đường lối chính sách đúng đắn mà Đảng củng cố mốiquan hệ mật thiết với quần chúng, củng cố địa vị và vai trò lãnh đạo củaĐảng Điều đó cho thấy việc xây dựng Đảng về chính trị có tầm quan trọngđặc biệt gắn kết Đảng với quần chúng nhân dân Mặt khác, như Nguyễn ÁiQuốc nhấn mạnh, về phương diện tổ chức, Đảng phải gồm những phần tửtrung thành, ưu tú nhất, hăng hái hoạt động thực tiễn Từ hoạt động thựctiễn lãnh đạo, tổ chức phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân màĐảng được củng cố, trưởng thành
Trong xây dựng Đảng phải giữ vững nguyên tắc về tư tưởng, lý luận
và chính trị, tổ chức; giữ vững tính chất tiên phong, bản chất giai cấp côngnhân của Đảng Cộng sản, mở rộng sự lãnh đạo phong trào quần chúng rộngrãi, đồng thời quan tâm xây dựng Đảng; phát triển ảnh hưởng của Đảng
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.138.
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.139.
Trang 19trong giai cấp công nhân và phong trào công nhân và lực lượng quần chúnglao động
Năm 1939, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ với bút danh Trí Cường đã
xuất bản cuốn sách Tư chỉ trích bàn về cuộc bầu cử Hội đồng quản hạt ở
Nam Kỳ mà các đại biểu do Mặt trận Dân chủ, tức các đồng chí cộng sảnđã thất bại còn những người phái Tờrốtkít lại đắc cử Đồng chí NguyễnVăn Cừ đã chỉ ra nguyên nhân đồng thời cũng đề cập nhiều vấn đề xây
dựng Đảng, nêu rõ những người cộng sản là chiến sĩ thưc tế, coi trọng hành động cách mạng đúng đắn, không chấp nhận xu hướng thỏa hiệp, xu hướng
hữu khuynh Đảng Cộng sản cần có nhãn quan chính trị, thái độ đúng đắn
trong đánh giá các đảng phái, các giai cấp, tầng lớp Phải tăng cường công
tác vận động dân chúng: “Người cộng sản có bổn phận nói sư thật với quần
chúng, dẫn đường cho quần chúng chớ không phải theo đuôi họ hay phỉnh họ.”1 Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh sự thống nhất ý chí, hành độngtrong toàn Đảng, đồng thời thực hiện tốt hơn chính sách mặt trận dân tộcthống nhất nhằm tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp, giai cấp, phần tử thực hiệnmục đích đấu tranh đúng đắn của Đảng
Tác phẩm Tư chỉ trích là sự tự phê bình thẳng thắn, nghiêm túc của
Đảng - điều rất cần thiết trong xây dựng Đảng Tác phẩm cũng thể hiện sựtrưởng thành và tầm tư duy, trình độ về lý luận cách mạng của Đảng và trởthành tài liệu để giáo dục, huấn luyện nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo
và tổng kết thực tiễn cách mạng của toàn Đảng và của mỗi tổ chức đảng,mỗi cán bộ, đảng viên
Đặc điểm nổi bật của tình hình những năm 1939-1945 là chủ nghĩaphát xít gây ra Chiến tranh thế giới lần thứ hai Cuối năm 1939 đầu năm
1940, mặc dù đã chuyển trọng tâm công tác và địa bàn hoạt động về nôngthôn, song Đảng Cộng sản Đông Dương vẫn bị tổn thất nặng nề Tronghoàn cảnh đó, sự lãnh đạo của Đảng và công tác xây dựng, củng cố Đảng
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6, tr.644.
Trang 20từ Trung ương đến các xứ, tỉnh, thành, huyện và cơ sở có ý nghĩa đặc biệtđối với sự phát triển của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Công tácxây dựng Đảng tập trung trên những vấn đề cơ bản và bức thiết
Về chính trị, Đảng hoàn thiện quan điểm, đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu Từ ngày 10
đến ngày 19-5-1941, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8 đãquyết định nhiều vấn đề quan trọng, hoàn thiện đường lối cách mạng, giảiphóng dân tộc: nêu cao mục tiêu giải phóng dân tộc, giành độc lập cho Tổ
quốc; xây dựng Mặt trận Việt Minh tập hợp toàn dân tộc thực hiện mục tiêu
cứu quốc
Về tô chức và đội ngũ cán bộ, đảng viên, sau những cuộc khủng bố
năm 1939-1945, Đảng tổn thất và mất nhiều cán bộ lãnh đạo cả cấp Trungương và Xứ ủy, thiếu cán bộ chuyên môn của các ban tuyên truyền, côngvận, nông vận, binh vận Thành phần giai cấp vô sản còn ít Theo số liệucủa Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5-1941): “Hiện nay trong Đảng ta chỉcó 25% là vô sản, 5% là phụ nữ, còn 70% nông dân và tiểu tư sản, vì đó lựclượng của Đảng ta trong các chỗ vô sản tập trung và các nơi thành thị, đồnđiền lại rất yếu”1 Hội nghị Trung ương 8 trù bị tăng cường công tác xâydựng Đảng, coi trọng xây dựng tổ chức đảng ở các xứ, tỉnh và cơ sở, chú ýđào tạo cán bộ từ giai cấp vô sản Ngay sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung
ương lần thứ 8, Tổng Bí thư Trường Chinh đã viết bài “Củng cố Đảng”
đăng trên báo “Giải phóng” số 2, tháng 6-1941 Đồng chí đã nêu rõ một sốkhuyết điểm lớn của Đảng bộ Bắc Kỳ: về đào tạo cán bộ, về tình trạng baobiện công việc, về tình trạng không sinh hoạt chi bộ đều đặn, về cách làmviệc quan liêu Tổng Bí thư nêu rõ: “Đảng ta là một Đảng sinh trưởng trongquần chúng Đảng chỉ có con đường chính trị đúng và có một lực lượngmạnh mẽ, nếu Đảng gần quần chúng… Đảng ta phải gần quần chúng thìĐảng mới mỗi ngày một mạnh mẽ thêm và mới có thêm những cán bộ mới
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, tr.132.
Trang 21để gánh vác công việc”1 Đồng chí Trường Chinh nhấn mạnh: “Tổ chức cănbản của Đảng là chi bộ, nếu không được kiên cố thì lẽ tất nhiên cơ sở củaĐảng sẽ lung lay do đó phong trào cách mạng sẽ trì hoãn và quần chúng sẽkhông tín nhiệm lực lượng của Đảng”2, “Phải biết phê bình xác đáng nhữngkhuyết điểm của hạ cấp, nhưng lại phải nâng đỡ các đồng chí ấy lên, giúpcho họ có nhiều sáng kiến, do đó năng lực cách mạng của họ sẽ phát triểnnhanh chóng Cái sinh lực của Đảng là ở chỗ giải quyết được vấn đề “Sinhhoạt chi bộ”“3 Những ý kiến đó có ý nghĩa quan trọng không chỉ với Đảng
bộ Bắc kỳ mà đối với toàn Đảng, có ý nghĩa cơ bản và lâu dài đối với côngtác xây dựng Đảng; Báo Cờ giải phóng (10-10-1942) tuyên truyền đườnglối của Đảng, đồng thời hướng dẫn về tư tưởng, sinh hoạt Đảng, chỉ đạophong trào quần chúng; góp phần vào cuộc đấu tranh bảo vệ nội bộ Đảng.Trong cao trào giải phóng dân tộc, công tác xây dựng Đảng, vai trò tổchức lãnh đạo của hệ thống tổ chức đảng có ý nghĩa quyết định thắng lợi
Ngày 1-12-1941, Ban Chấp hành Trung ương ra Chỉ thị về công tác tô
chức Mục đích “Làm cho Đảng xứng đáng là một đội tiền phong có tổ
chức của giai cấp vô sản… một Đảng thật quần chúng có cơ sở vững vàngtrong quần chúng”4 Phương châm tổ chức của Đảng là rộng rãi, thưc tế và
khoa học Chỉ thị cũng nêu rõ những nhiệm vụ chính về tổ chức đảng:
Củng cố và mở rộng cơ sở đảng ở các tổng, làng, xí nghiệp, đồn điền…Phải thống nhất tổ chức đảng, giữ mối liên lạc giữa các cấp Tổ chức cácban chuyên môn: Ban tuyên truyền, huấn luyện, Ban công vận, Ban binhvận, Ban tài chính Tổ chức đảng đoàn trong các đoàn thể cứu quốc Chútrọng các tổ chức quần chúng; tổ chức đấu tranh với những mục đích cụthể, thiết thực và phát triển tổ chức
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7,tr.169.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7,tr.170.
3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7,tr.171.
4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7,tr.206.
Trang 22Sự thống nhất của tổ chức đảng phải dựa trên nền tảng tư tưởng, sựnhất trí về hệ tư tưởng, đồng thời phải dựa trên cương lĩnh, đường lối củaĐảng, của Trung ương, trên tư tưởng chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc– Hồ Chí Minh Chỉ có như vậy mới thống nhất trong nhận định, đánh giá,xác định kẻ thù, mục tiêu và khẩu hiệu đấu tranh, tổ chức và sắp xếp lựclượng cách mạng, đoàn kết và tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dânvào hành động cách mạnh Rõ ràng, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng đãthật sự là một nguyên tắc trong xây dựng và phát triển Đảng cả về tư tưởng,chính trị và tổ chức
Trong giai đoạn 1930-1945, Đảng vừa mới ra đời, thiếu kinh nghiệm
và nhiệm vụ chủ yếu là lãnh đạo nhân dân giành chính quyền trong điềukiện thực dân Pháp tiến hành khủng bố, đàn áp các cuộc đấu tranh trong bểmáu vì thế xây dựng, chỉnh đốn Đảng thời kỳ này chủ yếu tập trung vàoviệc phải khẳng định vai trò lãnh đạo, bản chất giai cấp công nhân củaĐảng Cộng sản, khắc phục những khuynh hướng lệch lạc như đánh giá thấpvai trò và khả năng lãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân hoặc chorằng nhấn mạnh đến bản chất giai cấp công nhân của Đảng là hẹp hòi, biệtphái…; xác định thành phần giai cấp trong Đảng; đấu tranh về tư tưởngtrong nội bộ Đảng, khắc phục những nhận thức lệc lạc, những xu hướng cơhội, bè phái, những quan điểm phản cách mạng đặc biệt là chống lại nhómTờrốtkít để nhằm xây dựng khối đoàn kết nhất trí trên cơ sở cương lĩnh,đường lối của Đảng Đặc biệt là chú trọng đến công tác xây dựng, khôiphục, củng cố, phát triển hệ thống tổ chức đảng từ Trung ương đến địa
phương Vấn đề xây dưng Đảng vững mạnh về tô chức bộ máy đặt ra cấp
thiết trong điều kiện vừa hợp nhất các tổ chức đảng trong cả nước, lại hoạt
động bí mật trong sự đàn áp khốc liệt của kẻ thù Sau Hội nghị hợp nhấtcủa Đảng (2-1930), trong Đảng đã bộc lộ những sai lầm, khuyết điểm về tổchức như: “Ít chú ý đến bài trừ những tư tưởng và hành động biệt phái củacác đảng phái trước kia”, “các cấp bộ đảng không liên quan mật thiết với
Trang 23nhau”, “công tác quần chúng kém, công hội rất yếu, các đoàn thể khác(Cứu tế, Phản đế) thì tổ chức lộn xộn hoặc rất sơ sài Chi bộ rất ít người, rấtyếu mà lại phát triển rất chậm”1 “Trong hệ thống tổ chức của Đảng thì bỏmất xứ bộ… làm cho Trung ương đã không châu đáo được đến mỗi việc ởcác tỉnh; mà lại không có thì giờ mà lo đến việc quan trọng chung cho toànthể Đảng nữa”; “Trong điều lệ công, nông hội thì tôn chỉ không rõ ràng”2…Trước tình hình đó, tại Hội nghị Trung ương I (tháng 10-1930) đã thôngqua Điều Đảng để làm rõ: Tên Đảng, đảng viên; cách thức theo lối dân chủtập trung; tổ chức hệ thống bộ máy từ chi bộ - tổng bộ - khu bộ, huyện bộ -tỉnh, thành bộ - xứ bộ - Trung ương;… Tiếp đến, trong Điều lệ Đảng Cộngsản Đông Dương được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứnhất của Đảng (3-1935) và Điều lệ tóm tắt của Đảng (1941), hệ thống tổchức Đảng được phân làm 6 cấp: toàn Đông Dương, xứ, tỉnh (thành, đặckhu), huyện (quận, phủ, châu), tổng bộ, chi bộ Nguyên tắc tổ chức củaĐảng là dân chủ tập trung Cách thức xây dựng hệ thống tổ chức là từ dướilên trên; cơ quan chỉ đạo mỗi cấp của Đảng đều do đại hội đại biểu của cấp
bộ tương ứng cử ra: chi bộ hội nghị cử ra bí thư (hoặc ban chấp ủy), tổng
bộ đại biểu hội nghị cử ra ban tổng uỷ; huyện bộ (quận, phủ, châu) đại biểuhội nghị cử ra huyện ủy (quận, phủ, châu), tỉnh (thành, đặc khu) đại biểuhội nghị cử ra ban xứ ủy, toàn Đông Dương đại biểu đại hội cử ra BanTrung ương chấp hành ủy viên Trong các đoàn thể quần chúng có từ 2đảng viên trở lên thì lập Đảng đoàn Tuy nhiên, Đảng đấu tranh giành chínhquyền trong điều kiện bị địch thẳng tay đàn áp, khủng bố đẫm máu, thì vấn
đề xây dựng Đảng cần phải hết sức linh hoạt, sáng tạo với tinh thần chủđộng tích cực, dám nghĩ dám làm, không cứng nhắc xây dựng hệ thống tổ
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội, 1998,
tập 2, tr.109
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội, 1998,
tập 2, tr.111
Trang 24chức đảng theo những điều đã ghi trong Điều lệ Đảng nhằm làm cho côngtác xây dựng Đảng đạt kết quả tối ưu
Trong quá trình đó, nguyên tắc phê bình, tự phê bình đã được Đảnghết sức chú trọng, phản ánh bản chất bônsêvích cách mạng và khoa họcngay từ khi Đảng mới ra đời Điều này được thể hiện rõ ngay trong cao tràocách mạng đầu tiên 1930-1931, tổ chức Đảng từ Trung ương đến địaphương, cơ sở đã chịu tổn thất nặng nề, đòi hỏi phải giữ vững và củng cố tổchức đảng, giữ vững ý chí đấu tranh và chấn chỉnh biểu hiện tả khuynh
trong vấn đề thanh Đảng của Xứ ủy Trung Kỳ Trước tình hình đó, ngày
20-5-1931, Trung ương Đảng ra chỉ thị phê phán nghiêm khắc sai lầm của
Xứ ủy Trung Kỳ về vấn đề thanh Đảng Bản Chỉ thị nghiêm khắc phê bình những sai lầm thanh Đảng của Xứ ủy Trung kỳ: “Xứ ủy Trung kỳ, nhất là
đồng chí Bí thư, ra chỉ thị thanh Đảng viết rõ từng chữ: thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ, như vậy thì gốc đâu mà đào, xem rễ đâu
mà trốc, quả là một ý nghĩ mơ hồ, một chỉ thị võ đoán và là một lối hànhđộng quàng xiên chí tướng”1 Sau đó, Trung ương Đảng hướng dẫn Xứ ủyphương pháp sửa chữa sai lầm trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá khách quantình hình thanh Đảng, tiến hành tự phê bình, nhận khuyết điểm; kết hợpviệc sửa chữa khuyết điểm với việc nâng cao nhận thức lý luận chính trị vàphương pháp lãnh đạo phong trào cách mạng của quần chúng Tiếp đến,tháng 7- 1939, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ với bút danh Trí Cường đã
xuất bản cuốn sách Tư chỉ trích bàn về cuộc bầu cử Hội đồng quản hạt ở
Nam Kỳ mà các đại biểu do Mặt trận Dân chủ, tức các đồng chí cộng sảnđã thất bại còn những người phái Tờrốtkít lại đắc cử Đồng chí NguyễnVăn Cừ đã chỉ ra nguyên nhân đồng thời phê phán những biểu hiện, xu
hướng hữu khuynh, thỏa hiệp, coi thường nạn tờrốtkít, để thống nhất nhận
thức và hành động trong Đảng Tác phẩm cũng đề cập nhiều đến vấn đề
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội, 1999,
tập 3, tr.157.
Trang 25xây dựng Đảng, nêu rõ những người cộng sản là chiến sĩ thưc tế, Đảng
Cộng sản cần có nhãn quan chính trị, thái độ đúng đắn trong đánh giá cácđảng phái, các giai cấp, tầng lớp Phải tăng cường công tác vận động dânchúng đồng thời thực hiện tốt hơn chính sách mặt trận dân tộc thống nhấtnhằm tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp, giai cấp, phần tử thực hiện mục đíchđấu tranh đúng đắn của Đảng
Tác phẩm Tư chỉ trích là sự tự phê bình thẳng thắn, nghiêm túc của
Đảng – điều rất cần thiết trong xây dựng Đảng Tác phẩm cũng thể hiện sựtrưởng thành và tầm tư duy, trình độ về lý luận cách mạng của Đảng và trởthành tài liệu để giáo dục, huấn luyện nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo
và tổng kết thực tiễn cách mạng của toàn Đảng và của mỗi tổ chức đảngviên
Nguyên tắc tự phê bình và phê bình để nhằm củng cố và tăng cường
sự thống nhất trong Đảng, nâng cao uy tín và ảnh hưởng của Đảng tiếp tụcđược phát huy Tháng 6-1941, ngay sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung
ương lần thứ 8, Tổng Bí thư Trường Chinh đã viết bài Củng cố Đảng đăng
trên báo Giải phóng số 2 Đồng chí đã nêu rõ một số khuyết điểm lớn củaĐảng bộ Bắc Kỳ: về đào tạo cán bộ, về tình trạng bao biện công việc, vềtình trạng không sinh hoạt chi bộ đều đặn, về cách làm việc quan liêu.Những ý kiến đó có ý nghĩa quan trọng không chỉ với Đảng bộ Bắc kỳ màđối với toàn Đảng, có ý nghĩa cơ bản và lâu dài đối với công tác xây dựngĐảng Hội nghị Trung ương 8 (5-1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã hoànchỉnh đường lối giải phóng dân tộc và kiện toàn tổ chức của Đảng Ngày 1-
12-1941, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Chỉ thị về công tác tô chức
nhằm: “Làm cho Đảng xứng đáng là đội tiền phong có tổ chức của giai cấp
vô sản… một Đảng thật quần chúng, có cơ sở vững vàng trong quầnchúng”1 Phương châm tổ chức của Đảng là rộng rãi, thưc tế và khoa học.
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 2000, t.7,
tr.206.
Trang 26Trung ương tập trung lãnh đạo cao trào giải phóng dân tộc, đồng thời củng
cố tổ chức các Xứ ủy Bắc Kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, hệ thống tổ chức đảng ở
cơ sở
Có thể nói, trong giai đoạn cách mạng 1930 - 1945, công tác xây dựngĐảng gắn liền với quá trình Đảng lãnh đạo giai cấp công nhân cùng toàndân tộc đấu tranh giải phóng giành độc lập, giành chính quyền Vừa xâydựng Đảng vừa lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền, vì vậy Đảng khôngngừng hoàn thiện Cương lĩnh, đường lối giải phóng dân tộc, không ngừngphát triển về tổ chức và đội ngũ đảng viên, trưởng thành về tư tưởng, lýluận; nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnhthực tế của Việt Nam và Đông Dương, đề ra chiến lược, sách lược, phươngpháp đấu tranh, đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi bằng cuộcCách mạng Tháng Tám năm 1945 có ý nghĩa lịch sử và thời đại khi Đảngmới vừa 15 tuổi với 5.000 đảng viên
Trang 27CUỘC VẬN ĐỘNG CHỈNH ĐỐN ĐẢNG PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP ĐẤU TRANH DUY TRÌ PHONG TRÀO CÁCH MẠNG THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG HAI (TỪ THÁNG 3/1931 ĐẾN
THÁNG 12/1931 - THÀNH TỰU VÀ KINH NGHIỆM
TS Biện Thị Hoàng Ngọc (*)
1 Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ hai (3/1931) - Nghị quyết về cuộc vận động chỉnh đốn đảng đầu tiên của Đảng
Ngay sau phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, thực dân Pháp tiến hànhcuộc khủng bố trắng tàn khốc, làm thiệt hại rất lớn đến tổ chức của Đảng.Trong hoàn cảnh đó, nội bộ Đảng lại xuất hiện những tư tưởng phi vô sản,nhiều cán bộ, đảng viên chưa nhận rõ vị trí, vai trò của Đảng Cộng sản, củagiai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh quyết liệt với kẻ thù Trong quá trìnhlãnh đạo nhân dân thực hiện nhiệm vụ cách mạng, nhiều tổ chức đảng chưathực sự tin vào năng lực cách mạng của quần chúng; trong thực tiễn phátđộng phong trào quần chúng ở một số địa phương còn xuất hiện dấu hiệu tảkhuynh Công tác phát triển Đảng còn chậm, nhất là thành phần công nhântrong Đảng còn ít, đặc biệt ở Bắc Kỳ Nguyên tắc tập trung trong Đảngchưa được quán triệt thực sự nghiêm túc, việc chỉ huy thiếu thống nhất,trong khi nhiều nơi kỷ luật Đảng còn lỏng lẻo, để cho tư tưởng, hành độngtrong Đảng mỗi người mỗi khác thì ở một số nơi khác, việc thi hành kỷ luậtĐảng lại được tiến hành một cách máy móc, dùng mệnh lệnh mà thiếu giảithích
Những hạn chế này trong điều kiện Đảng vừa phải nhanh chóng hợpnhất các tổ chức đảng trong cả nước, lại vừa phải hoạt động bí mật trong sự(*)(*) Giảng viên Khoa Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Khu vưc I.
Trang 28đàn áp khốc liệt của kẻ thù đã đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với vấn đề xây
dưng Đảng vững mạnh về tô chức bộ máy.
Trước tình hình đó, nhằm xây dựng, khôi phục, củng cố, phát triển
hệ thống tổ chức đảng từ Trung ương đến địa phương để phục vụ sựnghiệp lãnh đạo đấu tranh duy trì phong trào cách mạng, tháng 3-1931,Đảng Cộng sản Đông Dương tiến hành Hội nghị Trung ương lần thứ hai.Hội nghị họp từ ngày 13-3 đến ngày 1-4-1931 tại Sài Gòn Tham dự Hộinghị có các đồng chí: Trần Phú, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Trọng Nhã,Trần Văn Lan, Lê Mao Đồng chí Trần Phú chủ trì Hội nghị Hội nghị đề
ra nhiệm vụ tất cả các xứ phải “đem hết lực lượng mau mau phá nhữngtrở ngại để tiến hành việc lãnh đạo cách mạng”1; trước hết, phải “chỉnhđốn sức chỉ huy”, các xứ phải chỉnh đốn thành các cơ quan chỉ huy tậptrung của Đảng, phải coi đó là nhiệm vụ cần kíp, là điều kiện tiên quyếtlàm cho công tác lãnh đạo của Đảng phát triển Hội nghị chủ trương: tập
trung chỉnh đốn đảng trên 3 phương diện chính: một là, chấn chỉnh các
Xứ ủy; hai là, tăng cường lãnh đạo chi bộ đảng đặc biệt là chi bộ nhà máy (chi bộ sản nghiệp); ba là, là cương quyết chống chủ nghĩa cơ hội
trong Đảng
Về chấn chỉnh các Xứ ủy: Hội nghị yêu cầu phải chỉnh đốn các Xứ ủy
thành các cơ quan tập trung của Đảng ở các xứ Phải tổ chức Xứ ủy Bắc kỳcho đủ số ủy viên, cho có thường vụ, củng cố các Xứ ủy Trung Kỳ và Nam
Kỳ, đưa những đảng viên, những phần tử công nhân tốt cương quyết đứng
về đường chính trị của Đảng thay những phần tử trí thức đã rõ rệt có xuhướng cơ hội chủ nghĩa Đây là một biện pháp quan trọng bởi vì nó là mộtđiều kiện đầu tiên để mong công việc của Đảng phát triển Thực hành vàhuấn luyện chính trị để đào tạo ra lớp chỉ huy mới cho Đảng, biện pháp này
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 1999, tập 3,
tr.96.
Trang 29cần phải đặc biệt lưu ý bởi lẽ nó là vấn đề thiết thực cho sự phát triển củaĐảng ở cả hiện tại và tương lai
Về việc tăng cường lãnh đạo chi bộ đảng: Cần tập trung sự lãnh đạo
của Đảng vào chi bộ nhất là chi bộ nhà máy Nhiệm vụ này cần phải làmcho “kỳ được” để nhằm tăng số lượng đảng viên công nhân, làm cho chi bộ
ở các nhà máy phát triển và chủ động lãnh đạo quần chúng tranh đấu “…Phải hết sức lần lần thay những phần tử trí thức, thủ cựu ở các cơ quan chỉhuy, tiến cử những phần tử công nhân hay nông dân nghèo, những phần tửmới mẻ của Đảng vào các cơ quan chỉ huy (…) phải hết sức mà thực hành
và huấn luyện chánh trị để đào tạo ra lớp chỉ huy mới cho Đảng Vấn đềđào tạo công nhân chỉ huy là vấn đề thiết thực quan trọng cho sự phát triểncủa Đảng”1 Phải chỉ thị và huấn định luôn cho các chi bộ nhà máy tăngcường công tác tổ chức, thu nạp đảng viên, mở đường tổ chức ở các nhàmáy quan trọng, các mỏ và các đồn điền Các Đảng bộ địa phương phảinhanh chóng gây ra các cơ sở của Đoàn Các chi bộ Đoàn phải chỉ huy chocác Bộ Thanh niên trong Công, Nông hội…
Về việc chống chủ nghĩa cơ hội: Hội nghị đề ra nhiệm vụ cho các xứ
ủy phải tăng cường theo hướng kiện toàn đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội,giữ nghiêm kỷ luật Đảng Mỗi cơ quan chỉ huy, mỗi đảng viên đều phảikiên quyết chống lại chủ nghĩa cơ hội, chống lại thái độ lãnh đạm hay đềhuề hay tư vị và cả thái độ kiêng nể; giữ kỷ luật nghiêm khắc đối với đảng
bộ hạ cấp và giữ kỷ luật nghiêm khắc đối với những đảng viên vi phạm Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương (3-1931)đã có những chỉ đạo rất cụ thể trong việc chỉnh đốn công tác tổ chức củacác Xứ ủy và góp phần giải quyết nhiều vấn đề cấp bách về công tác xâydựng Đảng cũng như duy trì phong trào cách mạng trước sự đàn áp khốcliệt của kẻ thù Với những nội dung như vậy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 1999, tập 3,
tr.97.
Trang 30Ban Chấp hành Trung ương (3-1931) có ý nghĩa như một Nghị quyết
chỉnh đảng đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.
2 Nội dung và phương thức tiến hành cuộc vận động chỉnh đốn đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị BCH TW Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ hai (3/1931)
2.1 Đẩy mạnh thực hiện “Nghị quyết về vấn đề tổ chức và cổ động tuyên truyền”
Để tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng với quần chúng, Hội nghị
BCH TW Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ hai (3/1931) đã đề ra Nghị
quyết về vấn đề tô chức và cô động tuyên truyền
Về vấn đề tổ chức, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 2
(3-1931) nêu rõ tầm quan trọng, ý nghĩa công việc tổ chức của Đảng: “Côngviệc tổ chức là một phần công việc rất quan trọng của Đảng Nếu công việcđó làm không đúng thì nguy hại cho Đảng rất lớn”1 Hội nghị nêu rõ cácquy tắc tổ chức Đảng bao gồm các vấn đề như: thành phần, tinh thần hoạtđộng, kỷ luật Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, các tổ chức và hoạt đôngcủa chi bộ nhất là chi bộ nhà máy (chi bộ sản nghiệp)
Đối với công tác xây dựng chi bộ sản nghiệp, Hội nghị yêu cầu cácđảng bộ phải coi chi bộ sản nghiệp là tổ chức cơ sở căn bản, phải xoayhướng về chi bộ, nhất là chi bộ nhà máy Hội nghị chỉ thị các đảng bộ căn
cứ vào sản nghiệp mà tổ chức căn bản - nghĩa là theo chỗ làm việc củaquần chúng công nhân mà đặt chi bộ, chứ không phải theo chỗ ở của đảngviên Nghị quyết viết: “Đảng Cộng sản là cái tổ chức cách mạng, phải liênlạc mật thiết với quần chúng công nhân Đảng chỉ là một bộ phận giác ngộtiên tiến nhất của giai cấp công nhân, vậy muốn ảnh hưởng đến toàn thểgiai cấp công nhân, truyền bá chiến lược chương trình và khẩu hiệu củaĐảng, tổ chức giai cấp công nhân và kéo họ đi tranh đấu thì chỉ có tới tận
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1999, tập 3,
tr.104.
Trang 31những nơi mà quần chúng tụ họp sẵn rồi mà hoạt động, tức là tới các nhàmáy, các trại rẫy, các đồn điền, các mỏ Vì vậy phải theo sản nghiệp mà tổchức ra chi bộ nhà máy, chi bộ đồn điền”1
Đối với cách tổ chức chi bộ, Hội nghị nêu rõ: Mỗi sản nghiệp có 3đảng viên thì thành lập một chi bộ Nếu chi bộ quá đông thì có thể phân chi
bộ ra từng bộ phận theo từng xưởng, từng kíp… Nếu phân bộ còn đông thìcó thể chia ra từng tiểu tổ Mỗi tiểu tổ phải có một tổ trưởng Công việcphải phân chia đều cho mỗi thành viên Các tiểu tổ cần bầu ra Ban Chỉ huy(phân ủy) Mỗi chi bộ từ 5 người trở lên phải bầu ra chi ủy Ban chi ủy gồm
3 người hoặc 5 người, là những đảng viên tốt nhất trong chi bộ Ban chi ủycó nhiệm vụ chỉ huy các phân ủy thực hiện mọi công việc Chi ủy và phân
ủy chỉ huy các tổ, trực tiếp với tổ trưởng và phải liên lạc thường xuyên vớiđảng viên trong các tổ Ở các làng quê, cách phân chia các chi bộ làng đôngcũng như vậy, theo từng thôn, xóm, từng vùng mà tổ chức phân bộ và tiểutổ
Song song với công tác tổ chức, Nghị quyết còn nêu rõ các hoạt động,các công việc trong chi bộ, coi đó là nhân tố quyết định sự phát triển củaĐảng Vì chi bộ là cơ sở của Đảng, Đảng mạnh hay yếu là do chi bộ hoạtđộng mạnh hay yếu; vì thế cần tăng cường đẩy mạnh hoạt động của chi bộlàm cho hoạt động trở nên sôi nổi Muốn làm được điều đó chi bộ cần phảithu hút đảng viên tham gia hăng hái vào sinh hoạt chính trị của Đảng nhưthảo luận, nghiên cứu những vấn đề chính trị, những nghị quyết và kếhoạch của Đảng, những vấn đề trọng yếu ở thế giới, trong nước và tìnhhình trong nhà máy, xí nghiệp Chi bộ cần tiến hành phân hóa đối tượng rất
cụ thể để có thể thu hút tất cả mọi người tham gia Đối với chi bộ nhà máycó các công nhân lạc hậu thì chi bộ phải dựa vào Công hội để khuyếchtrương ảnh hưởng đến các công nhân còn lạc hậu và kéo họ vào vòng tranhđấu Đối với công nhân là nữ giới, chi bộ cử 1 hay 2 đảng viên để cộng tác
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H, 1999, tr.108.
Trang 32với họ, theo kế hoạch của bộ phụ nữ khu ủy hay thành ủy Nếu nhà máykhông có phụ nữ thì chi bộ cần cử người vận động vợ con của công nhân vàcần phải hết sức liên lạc với bộ phụ nữ ở Công hội Đối với thanh niên thìChi bộ phải giao cho 1 số đảng viên phụ trách vận động tổ chức và liên lạcvới bộ thanh niên trong Công hội Đối với công nhân người Trung Quốchay người ngoại quốc thì phải có 1-2 người đảng viên phụ trách liên lạc vớihọ và công tác để lôi kéo họ vào tổ chức; chuyên trách tìm sách vở, tài liệubằng tiếng của họ cho họ xem Đối với các Hội như Hội Cứu tế, Hội Thểdục thì Chi bộ cần phải có đảng viên ở trong các hội đó.
Để có thể tuyên truyền và gây ảnh hưởng trong nhà máy, Chi bộ phải
sáng lập ra Báo sản nghiệp và cần phải có những đảng viên phụ trách việc
tuyên truyền Chi bộ cũng cần phải tổ chức các đội tự vệ công, nông để bảo
vệ phong trào, lập ra các ủy ban tranh đấu có tổ chức, mục tiêu đấu tranhchặt chẽ và rõ ràng
Để thực hiện tốt Nghị quyết về vấn đề tổ chức đặc biệt là chỉnh đốncông tác tổ chức đối với Xứ ủy Bắc Kỳ, theo đó Xứ ủy Bắc Kỳ phải chỉnhđốn thành những cơ quan chỉ huy tập trung của Đảng trong xứ; phải tăngcường theo hướng kiện toàn về số lượng gồm những đồng chí cương quyếttheo đúng đường lối chính trị của Đảng, bổ sung những đồng chí thuộcthành phần công nhân vào xứ ủy thay cho những ủy viên thuộc thành phầntrí thức có xu hướng cơ hội, tổ chức Ban Thường vụ Hội nghị yêu cầu Xứ
ủy Bắc Kỳ triệu tập Hội nghị đại biểu các tỉnh, thành ở Bắc kỳ để bầu ra
Xứ ủy mới gồm 05 đồng chí trong đó có 03 đồng chí làm Thường vụ; mởcác lớp huấn luyện chính trị để đào tạo lớp chỉ huy mới cho Đảng; đấutranh chống chủ nghĩa cơ hội, giữ nghiêm kỷ luật Đảng; tập trung sức chỉhuy của Xứ ủy vào chi bộ, đặc biệt là chi bộ nhà máy, chi bộ lò máy; chútrọng khâu sinh hoạt chi bộ, kết nạp đảng viên mới; mở rộng tổ chức ởnhững nhà máy quan trọng, các mỏ và đồn điền
Trang 33Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Xứ ủy Bắc kỳ tiến hành bổ sungnhân sự, xúc tiến tổ chức hội nghị để chỉnh đốn tổ chức, kiện toàn Xứ ủy.Tuy nhiên, trong khi Xứ ủy Bắc kỳ đang tiến hành chỉnh đốn thì một số cán
bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bị bắt, một số không giữ được khí tiết đãkhai báo thậm chí còn tiếp tay cho mật thám Pháp phá hoại Đảng Ngày 22-5-1931, mật thám Pháp bao vây và bắt hầu hết các đồng chí lãnh đạo của
Xứ ủy đang họp hội nghị mở rộng tại Hà Nội Xứ ủy Bắc Kỳ bị vỡ Cùngvới sự đổ vỡ của cơ quan Xứ ủy, các tổ chức Đảng trực thuộc cũng bị đánhphá nghiêm trọng Từ cuối năm 1931 đầu năm 1932, các tổ chức Đảng ởkhu mỏ từ chi bộ đến Đảng ủy mỏ và đặc khu ủy đều bị phá vỡ Trong hoàncảnh khó khăn đó, cơ quan lãnh đạo cấp xứ không còn, đồng chí TrầnQuang Tặng đã tiến hành móc nối khôi phục Xứ ủy Bắc Kỳ, gồm 3 đồngchí do đồng chí Trần Quang Tặng làm Bí thư
Dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy, tổ chức Đảng trong một số địa phươngđược khôi phục Cơ quan lãnh đạo ở các tỉnh được lập lại dưới các hìnhthức Tỉnh ủy hoặc Ban cán sự như ở Hà Nội, Thái Bình1
Do địch đàn áp phong trào cách mạng, tổ chức Đảng trong xứ bị phá
vỡ, Ban Chấp hành Trung ương không còn nên công tác khôi phục củaĐảng bộ Bắc Kỳ tiếp tục gặp khó khăn và tổn thất Đầu năm 1932, Xứ ủyBắc Kỳ tiếp tục bị đánh phá và tan vỡ Từ thời điểm này, Đảng bộ Bắc Kỳbước vào thời kỳ khôi phục tổ chức mà không có cơ quan lãnh đạo cấp xứtập trung và thống nhất Tổ chức Đảng ở các địa phương, nhất là các cơquan lãnh đạo phải lập đi lập lại nhiều lần và không ổn định Địa phươngduy nhất ở Bắc Kỳ không bị khủng bố là tỉnh Cao Bằng nên tổ chức Đảng
1 Toàn tỉnh Thái Bình đến tháng 3-1931, tuy bị khủng bố nhưng vẫn còn 67 đảng viên, 13
chi bộ (Xem: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Viện Lịch sử Đảng - Đề tài Khoa học
cấp bộ năm 2006: Đảng lãnh đạo công tác xây dưng hệ thống tô chức Đảng ở Bắc Kỳ trong thời kỳ 1930-1945, tr.45) Khoảng cuối tháng 8-1931, Hội nghị của các chi bộ ở 4 huyện: Kiến
Xương, Tiền Hải, Thái Ninh, Thụy Anh đã bầu Ban Tỉnh ủy mới gồm 5 đồng chí, đến tháng
1-1932, thành lập Ban Tỉnh ủy lâm thời
Tháng 9-1931, Thành ủy lâm thời Hà Nội được Xứ ủy khôi phục gồm 03 đồng chí, đồng chí Trần Quang Tặng - Bí thư Xứ ủy lâm thời trực tiếp làm Bí thư Thành ủy
Trang 34tiếp tục được củng cố, xây dựng và lan rộng ra các châu, huyện Sự tồn tại
và phát triển của tổ chức Đảng ở Cao Bằng đã tạo cơ sở để các đồng chílãnh đạo của Đảng chủ trương tái lập cơ quan lãnh đạo của Bắc Kỳ
Tổ chức Đảng không chỉ được thành lập ở các địa phương mà cònđược những chiến sĩ cộng sản kiên cường vẫn giữ vững chí khí chiến đấu
và lý tưởng cách mạng, học tập và rèn luyện nâng cao bản lĩnh, trí tuệ,phẩm chất và đức hy sinh đã thành lập các chi bộ trong nhà tù thực dân.Các đồng chí cộng sản đã biến nhà tù thành nơi học tập, rèn luyện ý chí,tinh thần cách mạng Cuối năm 1931, Chi bộ Đảng tại nhà tù Hỏa Lò rađời, đến đầu năm 1932, Chi bộ Đảng đầu tiên ở nhà tù Côn Đảo cũng đượcthành lập
Từ năm 1932, nhiều đảng viên ở nước ngoài và nhiều đồng chí trongtù ra đã trở về các địa phương ở Bắc Kỳ hoạt động Các đồng chí tiến hànhnắm tình hình, chắp nối lại các mối liên hệ ở các địa phương và cùng vớicác đảng viên ở địa phương xây dựng lại cơ sở, khôi phục các tổ chứcĐảng, lãnh đạo quần chúng đấu tranh
Về vấn đề cổ động tuyên truyền, Nghị quyết khẳng định vai trò của
việc cổ động tuyên truyền trong công tác đấu tranh để thu phục quầnchúng, thu phục đại đa số thợ thuyền và lãnh đạo quần chúng tranh đấunhằm đẩy mạnh phong trào cách mạng trong tình hình đang rất khó khăn.Nghị quyết nêu rõ công tác tuyên truyền cổ động có tầm quan trọng đặcbiệt trong lúc “kinh tế của tư bản chủ nghĩa toàn thế giới đương bị khủnghoảng lớn, trong lúc giai cấp đấu tranh ngày càng kịch liệt, điều kiện pháttriển của phong trào cộng sản cách mạng đã chín chắn… trong khi Đảngmới thành lập trình độ lý luận của Đảng còn thấp kém, nền tư tưởng cònchưa vững bền, nhân tài để làm việc Đảng còn rất hiếm”1 Hội nghị đã phêphán những khuyết điểm trong công tác tuyên truyền cổ động như việc
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1999, tập 3
(1931) tr 117.
Trang 35không chú ý xây dựng tư tưởng bônsơvích cho vững bền; ở các đảng bộcấp trên thì không có bộ cổ động tuyên truyền nên việc tuyên truyền khôngcó kế hoạch, rời rạc, sơ sài, diễn ra trong phạm vi nhỏ hẹp Đặc biệt là báochí làm công cụ tuyên truyền thì xuất bản rất bất thường, nhiều khi hai, batháng không xuất bản số nào, việc phân phát báo chỉ lưu hành trong Đảng,rất ít phát ra cho quần chúng…
Từ sự phân tích các khuyết điểm, Nghị quyết đề ra những nhiệm vụchính của công tác tuyên truyền cổ động trong thời gian tới, đó là lập bộmáy tuyên truyền cổ động ở Trung ương, các Xứ ủy và Tỉnh ủy, ở các miềncông nghệ lớn và ở các sản nghiệp lớn (mỏ than ở Bắc Kỳ, máy sợi NamĐịnh, ) Bộ cổ động tuyên truyền là một bộ làm việc chuyên môn, phảituân theo những chỉ thị của đảng bộ và làm việc dưới quyền chỉ huy củađảng bộ và phải có một ủy viên đảng bộ phụ trách bộ cổ động tuyên truyền.Kế hoạch làm việc của bộ cổ động tuyên truyền phải được đảng bộ duyệtrồi mới được thi hành, bộ cổ động tuyên truyền của đảng bộ cấp dưới nằmchịu sự chỉ đạo của bộ cổ động tuyên truyền của đảng bộ cấp Bộ cổ độngtuyên truyền cần phải chú ý đến việc kiểm soát các báo “trước hết là cácbáo sản nghiệp, để giữ vững lấy một nền tư tưởng giai cấp cho đúng và đểgiữ vững lấy con đường chánh trị đúng của Đảng…”1
Bộ cổ động tuyên truyền có trách nhiệm tuyên truyền, huấn luyện vềchủ nghĩa Mác - Lênin, xây dựng tư tưởng bônsêvích, chống các xu hướng
cơ hội, chống chủ nghĩa quốc gia cải lương, mở rộng công tác tuyên truyền
cổ động trong quần chúng, chống các trò lừa bịp của đế quốc, “đào tạo ranhân tài thợ thuyền làm việc Đảng”2 Về cách thực hiện, phải thiết thực, lýluận gắn liền với thực tiễn cách mạng, “cần phải huấn luyện cho đảng viên
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1999, tập 3
(1931) tr 121.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1999, tập 3
(1931) tr 125.
Trang 36và thợ thuyền theo đại cương của chủ nghĩa Mác - Lênin mà giải quyếtnhững việc xảy ra trong sự giai cấp tranh đấu hằng ngày, và căn cứ vàonhững sự kinh nghiệm đấu tranh mà phát triển trình độ tư tưởng”1.
Về cách cổ động tuyên truyền trong quần chúng, vì trình độ chính trịcủa quần chúng còn kém trong hoàn cảnh bị thực dân Pháp đàn áp, khủng
bố nên “cách cổ động tuyên truyền phải cho xác thực, phải lấy những sự ápbức hàng ngày của quần chúng mà giải thích cho họ hiểu sự cần phải tranhđấu, lấy những sự nhu yếu thiết thực của họ mà làm cho họ hiểu nhữngkhẩu hiệu chánh của Đảng”2
Trong báo chí thì cần phải xuất bản cho đúng kỳ hạn để cho ảnhhưởng của báo trong quần chúng thêm mạnh và cần phải đào tạo ra cácphóng viên công nông cho các báo của Đảng và của quần chúng bởi vì
“việc huấn luyện phóng viên công nông không những chỉ giúp cho việc nhàbáo mà thôi, mà lại là một cách huấn luyện rất có hiệu quả để đào tạo nhântài cho Đảng”3 Nội dung của báo chí thì cần phải đề cập đến “những vấn
đề chính trị phổ thông, những khẩu hiệu chánh trị mà liên kết với sự sinhhoạt hàng ngày của thợ thuyền trong sản nghiệp”4, về cách viết báo thì
“phải viết văn bài cho thiệt dễ hiểu… đồng thời lại phải chú ý làm chonhững tiếng mới thuộc về chính trị và kinh tế được mau phổ thông… phảisoạn ra những tài liệu để cổ động tuyên truyền… để cho chi bộ và đảng
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1999, tập 3
Trang 37viên căn cứ vào đó mà làm việc cho xác đáng,… soạn ra các thứ sách vởcho quần chúng”5.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ hai về vấn đề cổ động vàtuyên truyền, cuộc đấu tranh về tư tưởng và quan điểm chính trị của Đảngchống lại những quan điểm sai lầm đã diễn ra sôi nổi Tiêu biểu là năm
1932 diễn ra cuộc đấu tranh của những chiến sĩ cộng sản chống những quanđiểm sai lầm của tù chính trị Quốc dân Đảng tại nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội) vàCôn Đảo Đóng vai trò tích cực trong cuộc tranh luận có đồng chí Lê Duẩn,
chủ bút báo “Đuốc đưa đường”, đồng chí Trường Chinh chủ bút báo “Con
đường chính”,”Đuốc Việt Nam”, đồng chí giáo Thẩm, Nguyễn Văn Chi
chủ bút tờ “Thế giới” Đó là những tờ báo bí mật, viết tay để phục vụ việc nghiên cứu, học tập và đấu tranh tư tưởng với tờ “Bút tiêu sầu” của Quốc
dân Đảng Tính đúng đắn của tư tưởng và đường lối cách mạng đúng đắncủa Đảng Cộng sản đã làm chuyển hóa nhận thức của những người trongQuốc dân Đảng; nhiều người đã chuyển lập trường và đứng vào hàng ngũcủa những người cộng sản: Trần Huy Liệu, Tô Hiệu, Nguyễn Phương Thảo(Nguyễn Bình), … Tháng 10-1933 diễn ra cuộc tranh luận về duy tâm - duyvật trên lĩnh vực tư tưởng, triết học Đại diện cho Đảng Cộng sản là đồngchí Nguyễn Khoa Văn (Hải Triều) và một số đồng chí khác đã viết nhiềubài báo tranh luận với Phan Khôi, khẳng định giá trị khoa học cả triết họcduy vật biện chứng Tháng 8-1935 bắt đầu cuộc tranh luận giữa quan điểmnghệ thuật vị nhân sinh mà đại biểu là Hải Triều, Trần Huy Liệu, Hồ Xanh,Lâm Mộng Quang, Hải Âu, với phái nghệ thuật vị nghệ thuật gồm cóHoài Thanh, Thiếu Sơn, Lưu Trong Lư Đó là cuộc tranh luận có ý nghĩachính trị, lý luận phản ánh sự trưởng thành của Đảng về nhận thức trong sựnghiệp đấu tranh chung của dân tộc.Cuộc đấu tranh làm rõ nội dung xâydựng Đảng và là sự trưởng thành của Đảng về chính trị và tư tưởng lý luận
5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1999, tập 3
(1931) tr 128.
Trang 38Từ những chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương lần thứ hai về vấn đề cổđộng và tuyên truyền, các báo chí đã được xuất bản đều đặn hơn để truyền
bá rộng rãi tư tưởng, lý luận Chủ nghĩa Mác - Leenin, đường lối, chínhsách của Đảng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nâng cao nhận thức lýluận và thống nhất tư tưởng trong Đảng
2.2 Điều chỉnh về tổ chức và xây dựng lực lượng của Xứ ủy Bắc kỳ
và Trung kỳ theo tinh thần Lá thư của Nguyễn Ái Quốc gửi Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 20-4-1931
Để đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng và phát triển lực lượng củaĐảng, ngày 20-4-1931, đồng chí Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Ban Chấphành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, trong đó Người góp ý, phêbình những khuyết điểm của Xứ ủy Trung Kỳ và Bắc Kỳ về tổ chức cũngnhư về xây dựng lực lượng trong thời gian qua Trước hết, Người phê bình
“cách khai hội” Hội nghị Xứ uỷ Trung Kỳ và Bắc Kỳ, thời gian quá dài(Trung Kỳ 18 buổi, Bắc Kỳ 13 ngày), các xứ uỷ không thảo luận kỹ cácvấn đề từ trước làm việc không theo trật tự sắp sẵn Điều đó không thíchhợp với hoàn cảnh hoạt động bí mật Một số địa phương quan trọng ở Bắc
Kỳ như Hải Phòng lại không có đại biểu tham dự Người phê phán cáchthảo luận ở các hội nghị không thiết thực, tầm chương trích cú, đại biểu ítphát biểu ý kiến, lại vắng nhiều nên những nội dung hội nghị chưa đượcbàn bạc kỹ Về kế hoạch xứ uỷ chưa đề ra được kế hoạch tổ chức thực hiệnhoặc hướng dẫn các địa phương tổ chức thực hiện Các xứ uỷ chưa thấmnhuần tinh thần quốc tế vô sản và thực hiện tốt chỉ thị của Quốc tế Cộngsản về vấn đề giải thích việc đổi tên Đảng
Về xây dựng và phát triển lực lượng của Đảng, bằng những số liệuthống kê cụ thể, Nguyễn Ái Quốc chỉ ra sự phát triển chưa đều khắp vàmạnh mẽ của các tổ chức quần chúng như Công hội, Nông hội, Hội Phụ nữ,Thanh niên Ở Bắc Kỳ, đoàn thể quần chúng còn quá yếu, “trong một xứcông nghiệp như Bắc Kỳ mà chỉ có hai tỉnh có Công hội, bốn nơi có
Trang 39thanh niên, năm nơi có Công hội, nhưng xem ra chưa bằng tổ cức củamột huyện thuộc hạng bốn ở Trung Ở một trung tâm chính trị và kinh tếquan trọng như Hà Nội, trừ vài đồng chí lãnh đạo ra thì không có mộtchiến sĩ nào khác”1 Ở Trung Kỳ “Tổ chức Đảng có trong 13 huyện vàtỉnh Nhưng chỉ có 3 huyện là có tổ chức Thanh niên”2 Cả hai xứ đềukhông có tổ chức “Mặt trận phản đế”, “Cứu tế đỏ”, “Cứu tế thất nghiệp”.
Từ việc chỉ ra những khuyết điểm về xây dựng lực lượng nói trên, Ngườiyêu cầu các cấp bộ Đảng phải nhanh chóng sửa chữa khuyết điểm, lậpchương trình hành động cụ thể trong từng huyện và từng tỉnh, phân công,điều động cán bộ, đảng viên cho hợp lý,; các ban chấp ủy phải quản lý vàkiểm soát kỹ lưỡng việc thi hành các chương trình hành động, phát triểnphong trào rộng rãi và đều khắp Các tổ chức Đảng phải xây dựng được kếhoạch hoạt động, nắm được tình hình đảng viên và quần chúng cách mạng,phát triển mạnh tổ chức Thanh niên Cộng sản đoàn và Công hội
Để thống nhất tư tưởng và hành động trong toàn Đảng và không đichệch chủ trương, đường lối của Quốc tế Cộng sản, Người nêu rõ: các cấp
ủy Đảng khi ra nghị quyết, chỉ thị phải được Trung ương Đảng và Quốc tếCộng sản thông qua Có như vậy, cách mạng vô sản ở Đông Dương mớithực sự trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản trên thế giới
Từ bức thư phê bình về tổ chức và xây dựng lực lượng của đồng chíNguyễn Ái Quốc, Đảng bộ Bắc Kỳ nhất là Xứ ủy Bắc Kỳ đã chú trọnglãnh đạo thành lập các đoàn thể quần chúng yêu nước tiến bộ như “CôngĐoàn”, “Hội nông dân”; “Hội Phụ nữ dân chủ” “Đoàn Thanh niên Dânchủ”, “Nghiệp đoàn báo giới Bắc Kỳ”, “Hội truyền bá chữ quốc ngữ”…qua đó tập hợp và lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi các quyền dân sinh,
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1999, tập 3
(1931) tr 132-133.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1999, tập 3
(1931) tr 132
Trang 40dân chủ mà tiêu biểu là phong trào mít tinh, biểu tình, đồng thời lựa choncác quần chúng tích cực, bồi dưỡng đưa vào Đảng Chính nhờ thànhcông của công tác xây dựng cơ quan lãnh đạo, xây dựng hệ thống tổchức Đảng gắn với xây dựng tổ chức quần chúng, chuẩn bị tốt công tác
tổ chức
2.3 Thực hiện “Chỉ thị của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương về phê phán nghiêm khắc và điều chỉnh những sai lầm của Xứ
ủy Trung kỳ về vấn đề thanh đảng”
Trước sự khủng bố tàn bạo của đế quốc Pháp, trong một số ít cán bộđảng viên xuất hiện tư tưởng cầu an, dao động Giữa lúc đó Xứ uỷ Trung
Kỳ do không nắm vững đặc điểm xã hội nước ta và đặc điểm tình hìnhlúc đó, cho nên trong lúc chấn chỉnh tổ chức, Xứ ủy Trung Kỳ phát động
cuộc chỉnh đốn đảng lớn với mục tiêu “thanh đảng”, đã ra Chỉ thị thanh
Đảng Hưởng ứng chủ trương “thanh đảng” của Xứ ủy Trung Kỳ, các
đảng bộ nhất là đảng bộ Nghệ An, Hà Tĩnh tiến hành rà soát, sàng lọcđội ngũ đảng viên một cách chặt chẽ và có nhiều dấu hiệu tả khuynh.Các đảng viên xuất thân từ trí thức, phú nông, địa chủ, kỳ hào bị đưa rakhỏi những chức vụ quan trọng Những đảng viên mặc dù đã từ bỏ giaicấp của mình, tích cực tham gia phong trào cách mạng của công nông từđầu, cũng không được giữ vai trò chủ chốt trong Đảng, những đảng viênđó không sao tránh khỏi hoang mang, tiêu cực, làm cho phong trào đãkhó khăn lại càng khó khăn hơn
Trước tình hình đó, ngày 20-5-1931, Trung ương Đảng ra chỉ thị phêphán nghiêm khắc sai lầm của Xứ ủy Trung Kỳ về vấn đề thanh Đảng được
thể hiện quan Chỉ thị của Trung ương gửi Xứ ủy Trung kỳ về vấn đề thanh
đảng Trung kỳ Chỉ thị nêu ra những tiêu chuẩn cơ bản của đảng viên và
khẳng định đa số đảng viên hết sức trung thành, tận tụy hy sinh trongcuộc đấu tranh quyết liệt với địch mặc dù thành phần xuất thân có khácnhau, cũng có một số ít đầu hàng, phản bội không thể tránh khỏi, “không