Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (121986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống. Để đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết phải đổi mới tư duy. Thực tiễn xã hội đã khách quan hóa vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của lý luận và tư duy lý luận đối với sự phát triển của đất nước và dân tộc. Đổi mới tư duy lý luận của Đảng, là vấn đề cấp thiết với sự lãnh đạo của Đảng đồng thời là vấn đề cơ bản, có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng nước ta. Ở vị trí Đảng cầm quyền, có trọng trách lãnh đạo đất nước và lãnh đạo xã hội đi lên CNXH, thực hiện mục tiêu lý tưởng của CNXH ở Việt Nam.
Trang 1SỰ PHÁT TRIỂN TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỀ CON ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG
QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam(12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống Để đổimới toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết phải đổi mới tư duy Thựctiễn xã hội đã khách quan hóa vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của lý luận và tưduy lý luận đối với sự phát triển của đất nước và dân tộc Đổi mới tư duy lý luận củaĐảng, là vấn đề cấp thiết với sự lãnh đạo của Đảng đồng thời là vấn đề cơ bản, có ýnghĩa chiến lược đối với cách mạng nước ta Ở vị trí Đảng cầm quyền, có trọng tráchlãnh đạo đất nước và lãnh đạo xã hội đi lên CNXH, thực hiện mục tiêu lý tưởng củaCNXH ở Việt Nam
Đại hội lần thứ VI của Đảng đã nhận định: “trong nhận thức của chúng ta vềchủ nghĩa xã hội có nhiều quan niệm lạc hậu”(1) Vì vậy, Đảng ta chủ trương đổi mới
tư duy lý luận trước hết phải bắt đầu từ nhận thức từ chủ nghĩa Mác - Lênin, vềCNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta Chính vì nhận thức của chúng ta vềnhững vấn đề lý luận nền tảng đó còn nhiều bất cập, không chỉ lạc hậu với cuộc sống
mà còn hiểu sai, dẫn đến giải thích sai và vận dụng không đúng những nguyên lý cơbản ấy vào thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, do đó đổi mới tư duy lýluận về chủ nghĩa Mác - Lênin là xây dựng cở lý luận về con đường đi lên CNXH ởnước ta, trang bị vũ khí lý luận và tư tưởng cho sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta
1 Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng cộng sản Việt Nam về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong quá trình đổi mới.
1.1 Tính tất yếu phát triển tư duy lý luận của Đảng về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
1 Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Nghị quyết ĐHĐBTQ lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội tr.125
Trang 2* Đặc điểm tình hình của cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội
Đại thắng chiến dịch mùa xuân năm 1975 đã tạo ra bước ngoặt lịch sử có ýnghĩa trọng đại, mở ra kỉ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: Đất nước hoàn toàn độclập, thống nhất, đi lên Chủ nghĩa xã hội (CNXH) Trong thời kì mới, đất nước ta cónhiều thuận lợi, song cũng có không ít khó khăn và thách thức mới
Về thuận lợi:
- Tổ quốc thống nhất là điều kiện thuận lợi quan trọng để huy động cáctiềm năng, sức mạnh của thiên nhiên và con người (rừng và đất rừng, bờ biển,lực lượng lao động…) trong công cuộc xây dựng đất nước
- Cơ sở vật chất kiõ thuật của chính quyền chế độ cũ miền Nam hầu nhưcòn nguyên vẹn được chính quyền cách mạng tiếp thu đã tạo điều kiện thuận lợicho công cuộc xây dựng đất nước trong giai đoạn mới
- Uy tín của Nhà nước Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngàycàng được nâng cao trên trường quốc tế Sự ra đời của nước Cộng hòa dân chủnhân dân Lào đã làm cho cục diện bán đảo Đông Dương có nhiều thay đổi, tạonhững bước phát triển mới của cách mạng Việt Nam - Lào
- Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật (KHKT) của thế giới trong nhữngnăm qua như vũ bão đã đạt nhiều thành tựu to lớn mở ra thời cơ cho các nướcđang phát triển có thể rút ngắn qúa trình tiến triển của mình từ hàng trăm nămxuống còn vài chục năm
- Xu thế toàn cầu hóa, công nghiệp hóa nền kinh tế thế giới ngày càng sâusắc mở ra khả năng hợp tác toàn diện giữa các nước (kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội), là thời cơ hội nhập cho các nước đang phát triển trong công cuộc xâydựng kinh tế đất nước
Trang 3- Bài học kinh nghiệm của nước ta rút ra được từ sự sụp đổ của các nướcĐông Âu và Liên Xô là những bài học kinh nghiệm xương máu, bổ ích cho việcxây dựng đất nước và đi lên theo con đường chủ nghĩa xã hội.
Về những khó khăn: Việt Nam với 30 năm liên tục tiến hành chiến tranh
giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc đã để lại hậu qủa tàn dư chiến tranh rấtnặng nề Xu thế toàn cầu hóa, công nghiệp hóa nền kinh tế thế giới vừa tạothuận lợi cũng vừa là thách thức lớn cho hội nhập, cạnh tranh để tồn tại và pháttriển trong khi nền kinh tế của nước ta là nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu chậmphát triển so thế giới và khu vực Là một nước vừa thoát khỏi chiến tranh thốngnhất hai miền Nam, Bắc lại tiếp tục đương đầu hai cuộc chiến tranh biên giớiphía Nam và phía Bắc đã hạn chế nguồn tài lực, vật lực cho qúa trình xây dựng
cả nước đi lên CNXH Từ những đặc điểm lịch sử nêu trên đã đặt ra cho nước tanhững yêu cầu mới là:
- Tiếp tục hoàn thành những nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
- Giải quyết những hậu qủa nặng nề của chiến tranh, khôi phục kinh tế,từng bước ổn định đời sống nhân dân
- Đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất, toàn Đảng, toàn dân quyết tâmxây dựng thành công CNXH Đi lên CNXH trong điều kiện quốc tế có nhữngthận lợi và khó khăn mới; do vậy, con đường đi như thế nào là phù hợp với ViệtNam là một nhiệm vụ phải tập trung giải quyết hàng đầu của Đảng ta
Với trách nhiệm là đại biểu tiên phong của GCCN Việt Nam, đại biểu trungthành lợi ích của dân tộc; Đảng ta đảm đương sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhândân Việt Nam giải quyết kịp thời những yêu cầu thực tiễn của cách mạng nước
ta trong thời kì mới
Trang 4* Quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Theo các nhà kinh điển, chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội thoát thai từ chủnghĩa tư bản và có những đặc trưng cơ bản như sau: Cơ sở vật chất của chủ nghĩa xãhội là nền đại công nghiệp cơ khí; Chủ nghĩa xã hội xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủnghĩa, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; Chủ nghĩa xã hội điều tiết mộtcách có kế hoạch nền sản xuất xã hội và xoá bỏ sản xuất hàng hoá (trong chính sáchkinh tế mới, Lênin đã nói tới sự cần thiết của sản xuất hàng hoá trong chủ nghĩa xãhội); Chủ nghĩa xã hội tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới; Chủnghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động; Chủ nghĩa xã hội là sựxoá bỏ giai cấp; Chủ nghĩa xã hội và giải phóng con người khỏi mọi áp bức, kể cả ápbức dân tộc và tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện; Chủ nghĩa xã hộithực hiện quyền bình đẳng của xã hội; Nhà nước trong chủ nghĩa xã hội là nhà nướcthực hiện chức năng của chuyên chính vô sản
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng nhấn mạnh, chủ nghĩa xãhội không phải là một lý tưởng thực hiện phải khuôn theo nó, nó là một phong tràohiện thực; chủ nghĩa xã hội không phải là kết quả của những sắc lệnh từ trên xuống,
nó là sự nghiệp sáng tạo của bản thân quần chúng nhân dân Vì thế không nên quanniệm thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội là việc gò ép, điều chỉnh thực tế sinh động,phong phú cho phù hợp với những tư tưởng, những khái niệm và công thức đượcđưa ra một lần và được coi là vĩnh viễn Kinh nghiệm đã chỉ rõ rằng không thể quanniệm chủ nghĩa xã hội là một xã hội cứng nhắc bất biến nào đó Chủ nghĩa xã hộihiện thực luôn luôn phát triển, do đó quan niệm của nó phải được phát triển
Quá độ bỏ qua giai đoạn phát triển đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa củanhiều nước vốn từ nước nông nghiệp lạc hậu lên CNXH Đó là một kiểu quá độ “đặc biệt của đặc biệt” (tất nhiên phải trải qua nhiều giai đoạn khó khăn, phức tạp, lâudài, chủ yếu vì chưa qua trường học dân chủ tư sản và chưa có cơ sở vật chất – kỹ
Trang 5thuật hiện đại) Những nước thuộc các kiểu quá độ bỏ qua, đương nhiên phải cóĐảng Cộng sản lãnh đạo nhân dân giành chính quyền, có đường lối xây dựng và bảo
vệ đất nước theo mục tiêu XHCN, tận dụng những thành quả của cách mạng XHCN,của chủ nghĩa tư bản và của cả nhân loại để quá độ lên CNXH Theo Lênin ở cácnước này cần khắc phục những biểu hiện của tính tiểu tư sản, tiểu nông trong ĐảngCộng sản, trong quần chúng; chống mọi kẻ thù phá hoại,… để từng bước quá độ lênCNXH phải trải qua rất nhiều “những bước quá độ nhỏ” , những hình thức trunggian quá độ “đan xen giữa các thành phần và các mảnh của chủ nghĩa tư bản lẫnCNXH,… Do đó, “các nước quá độ bỏ qua” dù là quá độ rút ngắn thì cũng khôngthể nóng vội đốt cháy giai đoạn mà phải vận dụng đúng những quy luật khách quan,những tiên đề và những điều kiện cụ thể để giành thắng lợi từng bước, trên tất cả cáclĩnh vực của xã hội
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những luận giải cực kỳ phong phú về CNXH ởViệt Nam Người đã đặt tiền đề lý luận quan trọng cho sự nghiệp đổi mới hiện naycủa nhân dân ta Người diễn đạt một cách giản dị, ngắn gọn và dễ hiểu rằng chủnghĩa xã hội là “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càngtốt”(2) Chủ nghĩa xã hội là “mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do”(3)
“Chủ nghĩa xã hội là làm cho người dân được ấm no, hạnh phúc và học hành tiếnbộ”(4)“Chủ nghĩa xã hội là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháuchúng ta ngày càng sung sướng”, “Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhândân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm
no và sống một đời hạnh phúc” Còn nhiều luận điểm quan trọng khác ở tầm phươngpháp luận đã đặt cơ sở lý luận cho Đảng ta tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào sựnghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay
* Thực trạng của đất nước trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
2 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.591
3 Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội tr.396
4 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội tr.97
Trang 6Từ cuối những năm 1970, nền kinh tế nước ta đứng trước những mất cân đốinghiêm trọng đã đẫn đến một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài Biểu hiện
rõ nhất là sản xuất xã hội trì trệ, lạm phát tăng nhanh, lòng tin của nhân dân đối với
sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành quản lý của Nhà nước giảm sút Cuộc khủnghoảng này thật sự là một thách thức lớn đối với cả dân tộc ta
Nguyên nhân sâu xa, cơ bản dẫn đến khủng hoảng do chúng ta đã nhận thứcsai, vận dụng không đúng chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là lý luận về chủ nghĩa xãhội, về thời kỳ quá độ, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cũng như quá trình xâydựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Trong nhiều thập kỷ, quan niệm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội còn đơngiản và chưa rõ ràng, chúng ta chưa hình dung được một xã hội xã hội chủ nghĩa phùhợp với đặc điểm của nước ta Đối với chủ nghĩa tư bản, chúng ta cũng chưa có sựnghiên cứu đầy đủ và toàn diện, khách quan với tư cách là một hình thái kinh tế - xãhội, chưa thấy rõ những mặt tiêu cực cần phủ định và những mặt tích cực cần phảichọn lọc để kế thừa chủ nghĩa
Về cơ chế quản lý, đã kéo dài quá lâu cơ chế quản lý tập trung quan liêu, baocấp Với mô hình kinh tế hiện vật, với phương thức quản lý tập trung và kế hoạch bị
áp đặt từ bên trên đã dẫn đến sự phát triển chủ nghĩa quan liêu trong bộ máy Nhànước và trong các tổ chức kinh tế
Với tinh thần tự phê bình và đổi mới, Đại hội lần thứ VI của Đảng đã chỉ rõ:
“Những sai lầm và khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế, xã hội, bắt nguồn từ những
khuyết diểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng Đây là
nguyên nhân của mọi nguyên nhân”(5)
Những khuyết điểm trong lĩnh vực tư tưởng chính là sự lạc hậu về tư duy, sựbất cập về nhận thức, và đó là lý do phải đặt ra yêu cầu về đổi mới tư duy Đổi mới
tư duy thực chất là xây dựng cơ sở lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và
5 Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Nghị quyết ĐHĐBTQ lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.27
Trang 7quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, là trang bị vũ khí lý luận và tư tưởngcho sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta
Thực trạng nước ta từ cuối những năm 1970 đã bước vào một cuộc khủnghoảng kinh tế - xã hội trầm trọng và kéo dài, đó là thách thức lớn nhất đối với cả dântộc ta và cũng là nguyên nhân quan trọng nhất đòi hỏi Đảng ta phải nhận thức, đổimới tư duy lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Mặt khác, từ cuối những năm 1970 - đầu những năm 1980, xu thế đổi mới,cải cách đã diễn ra khá mạnh mẽ trên thế giới Đó cũng là nhân tố tác động đến quátrình đổi mới tư duy lý luận ở nước ta và đòi hỏi chúng ta phải đổi mới kịp thời.Những nhân tố tác động ấy là: Tình hình đổi mới, cải cách, cải tổ của các nước xãhội chủ nghĩa trên thế giới; Vào thời gian đó, cuộc cách mạng khoa học và côngnghệ đã và đang diễn ra mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu kỳ diệu trong mọi lĩnhvực Yêu cầu nhận thức lại để trên cơ sở đó bảo vệ và phát triển CNXHKH, chủnghĩa Mác - Lênin trở thành một yêu cầu cấp bách của cuộc sống
1.2 Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng ta về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trước thời kỳ đổi mới ( trước 1986 ).
Trước đổi mới, quan điểm về CNXH và con đường xây dựng CNXH ở nước
ta, chịu ảnh hưởng sâu sắc về nhiều mặt các quan điểm của Liên Xô, Trung Quốc,phổ biến và rõ nét nhất là chịu ảnh hưởng của mô hình Xôviết Đây cũng là tình hìnhchung trong tất cả các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa
Đại hội lần thứ II của Đảng ta đã xác định “con đường tiến lên chủ nghĩa xã
hội của nước ta sẽ quanh co và dài”, phải trải qua một thời gian dài gồm nhiều giai
đoạn Giai đoạn thứ nhất có nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành giải phóng dân tộc;
giai đoạn thứ hai có nhiệm vụ chủ yếu là xoá bỏ những tàn tích phong kiến và nửa
phong kiến, thực hiện triệt để người cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ, hoàn chỉnh chế
độ dân chủ nhân dân; giai đoạn thứ ba có nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở cho
Trang 8chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội” (6) Những quan điểm của Đạihội lần thứ II thể hiện một sự quá độ thận trọng, dần từng bước lên CNXH.
Quan điểm tiến thẳng lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủnghĩa trong giai đoạn này thể hiện tư tưởng chủ quan, nóng vội, không đánh giáđúng tình hình thực tế, vi phạm quy luật khách quan Có thể nói Đảng ta đã đề raquan điểm về thời kỳ quá độ, nhưng chưa hình dung rõ nội dung của nó với những
mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể, thời gian thực hiện Đại hội lần thứ IV khi xác định
khoảng 20 năm cho thời kỳ này, đã không tính được hết những khó khăn của mộtnước nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá, đòi hỏi phải trải qua một thời kỳdài và phải trải qua nhiều bước quá độ nhỏ
Đến Đại hội lần thứ V, Đảng nêu lên khái niệm “chặng đường đầu tiên của
quá trình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa” Đây là vấn đề có ý nghĩa rất lớn về
mặt lý luận và thực tiễn Ý nghĩa của nó thể hiện ở chỗ giúp chúng ta nhận thức rõràng rằng, quá độ lên CNXH không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa dứtkhoát phải trải qua một giai đoạn đặc biệt mà nội dung của giai đoạn này khác hẳnnội dung của giai đoạn đầu tiên của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH
Để thấy được sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về CNXH, không chỉnhìn nhận những quan niệm trước đây, mà còn phải tìm thấy những nguyên nhân dẫnđến nhận thức đó, đánh giá nó trên những quan điểm thực tiễn, lịch sử cụ thể
Thứ nhất, cần phải đánh giá đúng những tính đặc thù lịch sử của Việt Nam
trong quan hệ với tính phổ biến của CNXH hiện thực thế giới Quá độ lên CNXH với
điểm xuất phát thấp, từ xã hội nông nghiệp truyền thống, từ chế độ thực dân nửaphong kiến, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tới CNXH; bước quá độ tới CNXH lạikhông đồng nhất ở mỗi miền do hoàn cảnh đất nước bị chia cắt làm hai miền với chế
độ chính trị khác nhau
Thứ hai, sau giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, vào lúc mà Việt
Nam có điều kiện triển khai các nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả nước
6 Lê Mậu Hãn (chủ biên) (1998), ĐCSVN - các đại hội và hội nghị Trung ương, Nxb CTQG, Hà Nội tr.63
Trang 9thì lại liên tiếp xảy ra hai cuộc chiến tranh cục bộ ở hai đầu biên giới ( Tây Nam
-1978, phía Bắc - 1979 ) trong khi hậu quả chiến tranh chưa được khắc phục.
Trong khoảng 10 năm đầu trước đổi mới ( 1975 – 1985 ), Việt Nam đứngtrước những tác động phức tạp của tình hình quốc tế
- Quan hệ Việt Nam – Campuchia và quan hệ Việt Nam – Trung Quốc căngthẳng kéo dài
- Mỹ phát động chiến lược bao vây cấm vận nhằm cô lập Việt Nam, đẩy tìnhhình kinh tế – xã hội nước ta vốn khó khăn tới những khó khăn lớn hơn, gay gắt hơn
- Các nước xã hội chủ nghĩa, kể cả Liên Xô đang trong thời kỳ trì trệ vàkhủng khoảng, sự giúp đỡ và chi viện cho Việt Nam không còn như trước
- Các nước tư bản chủ nghĩa tranh thủ thành tựu của khoa học - công nghệ,đẩy nhanh tốc độ phát triển, có ưu thế về tiềm lực kinh tế và tiềm lực khoa học - côngnghệ, tạo nên những thách thức đối với chủ nghĩa xã hội
Vào lúc này, thực tiễn đã hối thúc mạnh mẽ những cải cách, đổi mới CNXH.Trong khi ở Việt Nam vẫn bị những cản trở của mô hình, cơ chế đã tồn tại từ lâu kìmhãm Những biểu hiện chủ quan, duy ý chí, coi thường quy luật khách quan đã tácđộng tiêu cực và ảnh hưởng nặng nề vào các quyết định đường lối, chính sách Sựphát triển đơn tuyến, khép kín trong phạm vi, khuôn khổ của hệ thống CNXH đã làmcho CNXH không tiếp cận được với văn minh hiện đại của phương Tây Sự lạc hậu,tụt hậu trong phát triển là sự yếu kém phổ biến của CNXH Việt Nam cũng nằm trongtầm ảnh hưởng đó, thậm chí căn bệnh chủ quan duy ý chí, tả khuynh còn nặng nề hơnbởi những đánh giá thái quá về chủ quan sau giải phóng miền Nam
Thứ ba, do đặc điểm của cơ sở xã hội - lịch sử và những hạn chế của phát
triển không qua tư bản chủ nghĩa, ở nước ta khuynh hướng giáo điều và chủ quan
duy ý chí mặc dù đã được phát hiện và nhận thức để quyết tâm đi vào đổi mới, nhưngcăn bệnh này dẫn dễ tái sinh và không loại trừ khả năng mắc phải sai lầm cũ tronghình thức mới Do vậy, đổi mới là một cuộc đấu tranh giữa những cái mới, cái tiến bộ
Trang 10với cái cũ, cái lạc hậu, lỗi thời; giữa thái độ tích cực đổi mới và sự níu kéo của trì trệ,
ta toàn diện hơn, hoàn chỉnh hơn Nhận thức mới của Đảng ta về mô hình CNXH vàcon đường đi lên CNXH đã được thể hiện nhất quán Sự nhất quán đó sẽ tạo nên mộtnền tảng vững chắc cho hệ thống quan điểm lý luận về CNXH và con đường đi lênCNXH ở nước ta đã bắt đầu hình thành và sẽ từng bước được bổ sung, hoàn thiện
Thực tế hơn 25 năm qua đã chứng minh, với mô hình này, chúng ta đã thuđược những thành tựu, to lớn, có ý nghĩa lịch sử Thời điểm hiện nay đã có yêu cầubức thiết và những điều kiện cơ bản đã chín muồi cho việc bổ sung phát triển Cươnglĩnh trong đó có mô hình CNXH của nước ta Lãnh đạo công cuộc đổi mới, nhậnthức của Đảng về con đường quá độ lên CNXH của nước ta có những đổi mới sâusắc
Đại hội VI (12/1986 ) đặt cơ sở cho sự hình thành lý luận đổi mới mà còn xâydựng nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta thông qua đổi mớinhư một cuộc cách mạng lâu dài, toàn diện và triệt để, có kế thừa và có phát triển Đổi
mới không chỉ là quan điểm mà còn là vấn đề phương pháp, không chỉ là động
cơ mà còn là trình độ, không chỉ là ý thức mà còn là bản lĩnh Bước vào đổi mới,
Đảng ta nhấn mạnh trước hết phải đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế Đây là tiền
đề nhận thức để đổi mới trong thực tiễn, từ đổi mới tổ chức đến cơ chế, chính sách,đến con người
Đại hội VII, trên cơ sở tổng kết thực tiễn 5 năm đầu đổi mới từ Đại hội VI thôngqua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (1991) Lần đầu tiên
đã đề cập một cách có hệ thống dưới hình thức luận đề, xác định 6 đặc trưng của chủ