Là một Đảng mácxít, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn ý thức được tầm quan trọng của lý luận cách mạng. Thực tiễn chỉ rõ, lý luận phải phản ánh được sự vận động của các quy luật khách quan, phải được hình thành, xây dựng trên cơ sở phương pháp tư duy đúng đắn. Cuộc sống luôn vận động, phát triển, đòi hỏi Đảng tiên phong phải nhạy bén, có những thay đổi, điều chỉnh, bổ sung, phát triển thích hợp về đường lối, chủ trương, không thể áp dụng các biện pháp một cách máy móc mà phải căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Là một Đảng mácxít, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn ý thức được tầm quan trọng của lýluận cách mạng Thực tiễn chỉ rõ, lý luận phải phản ánh được sự vận động của các quyluật khách quan, phải được hình thành, xây dựng trên cơ sở phương pháp tư duy đúngđắn Cuộc sống luôn vận động, phát triển, đòi hỏi Đảng tiên phong phải nhạy bén, cónhững thay đổi, điều chỉnh, bổ sung, phát triển thích hợp về đường lối, chủ trương, khôngthể áp dụng các biện pháp một cách máy móc mà phải căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụthể Chính vì vậy, đổi mới tư duy lý luận là nhiệm vụ thường xuyên để lý luận, đường lốicủa Đảng không bị lạc hậu, đáp ứng được tình hình Đảng ta xác định đổi mới tư duy làyêu cầu đầu tiên khi bước vào thời kỳ đổi mới, là điều kiện quyết định để xác định vàtừng bước phát triển đường lối của Đảng Mọi quyết định thực tiễn đều phải có sự chuẩn
bị về lý luận, tư tưởng Vì vậy, Đại hội lần thứ VI của Đảng ta đã nhấn mạnh vấn đề đổimới tư duy, nhất là tư duy về kinh tế Thực tiễn cho thấy vấn đề đổi mới tư duy lý luận
có vai trò đặc biệt quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước
Sau hơn 16 năm đổi mới, nhìn chung chúng ta đã vượt qua được nhiều khó khăn, thửthách; kinh tế - xã hội đạt được nhiều thành tựu, giữ vững ổn định chính trị, đời sốngnhân dân từng bước được cải thiện Những thành tựu đó là cơ sở, tiền đề để bước vào thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Thành tựu của công cuộc đổi mới gắn liền với sự lãnh đạo, với đường lối đổi mới đúngđắn của Đảng Cộng sản Việt Nam Cũng chính từ những thành tựu đổi mới, cho phépchúng ta khẳng định rõ vai trò, sự cần thiết của tư duy lý luận, của việc đổi mới tư duytrên tất cả các lĩnh vực trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Trang 2Hiện nay, nhiệm vụ quan trọng nhất đối với chúng ta là phải đẩy tới một bước côngnghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm loại trừ nguy cơ tụt hậu, giữ vững sự phát triển theo conđường xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh và đấu tranh thắng lợi với các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.
Vì thế, về mặt thực tiễn và lý luận, cần thiết trước hết, phải tổng kết kinh nghiệm thực
tiễn của quá trình đổi mới: đổi mới cách nghĩ, cách làm trong hơn những năm qua Tất cảcác cấp, các ngành đang đặt ra yêu cầu phải gắn liền tổng kết thực tiễn với quát lý luận
Hai là, phải không ngừng hoàn thiện và phát triển đường lối đổi mới của Đảng ta.
Về mặt tư tưởng, đó là vấn đề giáo dục ý thức chính trị, xây dựng quyết tâm, lòng tincủa nhân dân về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta.Đặc biệt, chúng ta đang cùng nhân loại bước vào thiên niên kỷ mới với bối cảnh quốc
tế mới, rất nhiều vấn đề trong nước và quốc tế đặt ra cần có sự tổng kết, đánh giá, rút ranhững bài học cho định hướng phát triển Tổng kết thực tiễn rút ra những bài học kinhnghiệm là khâu quan trọng trong xây dựng, phát triển lý luận Gắn lý luận với thực tiễnViệt Nam là phương châm được Đảng ta hết sức coi trọng Chính vì vậy, Đảng ta nêu rõ:
“Chúng ta phải không ngừng thông qua tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận mà từngbước hình dung ngày càng sáng tỏ về chủ nghĩa xã hội ở nước ta, làm rõ những mô hình
cụ thể trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá” [23, tr.24] Hội nghị lần thứ sáu (lần 2)Ban Chấp hành Trung ương khoá VII nhấn mạnh nhiệm vụ: “Đẩy mạnh công tác tổng kếtthực tiễn và nghiên cứu lý luận (trong nước và thế giới), tiếp tục làm rõ hơn những vấn đềbức xúc do thực tiễn đặt ra, làm rõ hơn mô hình và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII trình Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ IX khi đánh giá về công tác lý luận đã nêu rõ: “Công tác lý
Trang 3luận chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn và yêu cầu của cách mạng, chưa làm sáng
tỏ nhiều vấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới để phục vụ việc hoạch định chiếnlược, chủ trương, chính sách của Đảng, tăng cường sự nhất trí về chính trị, tư tưởng trong
xã hội” [31, tr.78]
Trong tình hình đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu, tổng kết quá trình đổi mới tư duy lý luận
ở nước ta trong những năm qua, nêu lên những vấn đề đặt ra để tiếp tục đổi mới, nângcao trình độ tư duy lý luận là vấn đề cần thiết và có ý nghĩa
Đó cũng là lý do tôi chọn vấn đề Đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội qua thực tiễn Việt Nam làm chủ đề luận án.
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề tư duy, tư duy lý luận là một đề tài nghiên cứu rất quan trọng của chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trước đây, nó thường được xem xét, nghiêncứu trong khi nghiên cứu về ý thức, lý luận nhận thức, ít có các bài viết, trong công trìnhđặt nó như một đối tượng trực diện Từ những năm 1980 trở lại đây, đặc biệt là từ sau Đạihội lần thứ VI của Đảng, vấn đề tư duy, tư duy lý luận thực sự thu hút sự quan tâm đôngđảo của các nhà nghiên cứu Có thể khẳng định, sự ra đời đường lối đổi mới của Đảng,
với việc xác định điểm khởi đầu là “đổi mới tư duy” đã nói lên vai trò, tầm quan trọng
của tư duy, tư duy lý luận đối với sự phát triển của đời sống xã hội, của đất nước Cuốinhững năm 1980, một điều dễ nhận thấy và cần thiết phải đề cập trước tiên đó là sự xuấthiện của các bài viết trên báo, đặc biệt là các tạp chí như: Tạp chí Cộng sản, Nghiên cứu
lý luận, Triết học, Thông tin lý luận, Quốc phòng toàn dân Các cuộc hội thảo, toạ đàm
về vấn đề này đã được các cơ quan nghiên cứu, các cơ quan xuất bản, báo chí tổ chức vàthu hút sự tham gia của các đồng chí lãnh đạo Đảng, đông đảo những người làm quản lý,
Trang 4thực tiễn, các nhà nghiên cứu, giảng dạy Đã có những kỷ yếu khoa học được giới thiệu
khá rộng rãi, đáng kể nhất là cuốn Mấy vấn đề cấp bách về đổi mới tư duy lý luận [44]
của Học viện Nguyễn Ái Quốc Có những chuyên mục thảo luận rất sâu về vấn đề này
như trên Tạp chí Cộng sản trong 2 năm 1987, 1988 Đây cũng là một hoạt động khoa học
trọng tâm trong thời kỳ này Có thể nói, giới triết học, kinh tế học đã tham gia trao đổi,tranh luận khá sôi nổi, có những đóng góp thiết thực
Trong giai đoạn này, đã xuất bản một số tập sách của các đồng chí lãnh đạo Đảng như
cuốn Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước và của thời đại [7], Bàn về đổi mới tư duy
[106] Đây là những cuốn sách quan trọng, thu hút sự quan tâm của ban đọc Ngoài ra
còn có một số cuốn sách khác như Triết học với sự nghiệp đổi mới [ 93], Trao đổi ý kiến
- những vấn đề lý luận của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [100].
Một thực tế không thể đề cập là tình hình đổi mới, cải cách, cải tổ và nghiên cứu lýluận ở các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là ở Liên Xô và Trung Quốc đã có tác độngnhất định đến hoạt động nghiên cứu lý luận ở nước ta trong giai đoạn này
Các công trình trên đây đã góp phần hình thành nhận thức về tư duy, tư duy lý luận,phân biệt tư duy lý luận với tư duy kinh nghiệm phân tích thực trạng, khẳng định sự cầnthiết, biện pháp, phương pháp đổi mới tư duy lý luận, và những vấn đề đặt ra trên conđường đi lên chủ nghĩa xã hội nước ta Những thành tựu trong nghiên cứu thời gian này
đã góp phần quan trọng vào việc hoàn chỉnh đường lối đổi mới của Đảng ta, trong đó có
việc xây dựng Cương lĩnh xây dựng nước ta trog thời kỳ qua độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000.
Từ năm 1991 đến nay, những nghiên cứu về tư duy lý luận có bước phát triển mới Một
số chuyên khảo đã đi sâu hơn như Một số nhận thức mới về con đường đi lên chủ nghĩa
Trang 5xã hội ở Việt Nam [83], Quá trình hình thành con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam [107] Điều đáng chú ý nhất là một loạt chương trình khoa học nghiên cứu cấp Nhànước về khoa học xã hội đã triển khai trong giai đoạn 1991 - 1995 Đây là giai đoạn khásôi động trong đời sống nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, thu hút đông đảo các thế hệnghiên cứu tham gia Nhiều sản phẩm nghiên cứu của các đề tài đã được xã hội hoá như
Những vấn đề lý luận của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [85], Quá trình hình thành và và phát triển quan điểm lý luận của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội [41] Một số đề tài nghiên cứu từ góc độ kinh tế cũng đã
được xã hội hoá với nhiều đầu sách hay, có giá trị Những kết quả của các chương trình
nghiên cứu này được phản ánh khái quát trong hai tập sách Khoa học xã hội và nhân văn mười năm đổi mới và phát triển [13-14] Ngoài ra, còn có một số cuốn sách như Đổi mới phong cách tư duy [11], Đổi mới - bước phát triển tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [48], Đổi mới và phát triển bền vững dưới ngọn cờ tư tưởng của giai cấp công nhân [77], Góp phần tìm hiểu sự phát triển tư duy lãnh đạo của Đảng ta trong công cuộc đổi mới trên các lĩnh vực chủ yếu [82]
Những công trình trên đây đã: một là, tiếp tục khẳng định vai trò, tầm quan trọng đổi với tư duy lý luận đối với công cuộc đổi mới ở nước ta; hai là, thuyết minh, luận chứng,
trình bày những kết quả trong đổi mới về nhận thức, quan điểm, về tư duy lý luận, trong
tổ chức chỉ đạo thực tiễn các lĩnh vực của đời sống xã hội; và ba là, nêu lên những vấn đề
lý luận cần tiếp tục đầu tư nghiên cứu
Hoạt động khoa học trong thời kỳ này với tinh thần đổi mới tư duy cả về nội dung vàphương pháp nghiên cứu đã đóng góp quan trọng vào thành tựu tư duy lý luận của Đảng
ta, góp phần làm cho “quan niệm về chủ nghĩa xã hội và về con đường đi lên chủ nghĩa
Trang 6xã hội ở nước ta đã có thể hình thành trên những đường nét chủ yếu” [20, tr.111] và “con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xãc định rõ hơn” [27, tr.68].Nhiều đề tài cấp Nhà nước giai đoạn 1996 - 2000 đã được triển khai theo hướng làm rõthêm nhưng vấn đề lý luận và thực tiễn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Trong không khí hoạt động khoa học sôi nổi ấy, nhiều nghiên cứu sinh triết học đã lựachọn đề tài luận án mà ở đó, với các mức độ khác nhau, vấn đề tư duy, tư duy lý luận
cũng được đề cập Chẳng như luận án Tìm hiểu một số nét mới của tư duy khoa học hiện đại [37], Nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã hiện nay - đã xuất bản thành sách [95], Bệnh chủ quan duy ý chí trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta thời kỳ sau năm 1975: nguyên nhân và phương hướng khắc phục [86], Sự thống nhất giữa tri thức khoa học và tình cảm cách mạng với sự nhiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [87], Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa ở đội ngũ cán bộ nước ta trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội [80], Khắc phục “bệnh” giáo điều ở đội ngũ cán bộ nước ta trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội [92] Các luận án trên đây đã
góp phần làm sáng tỏ vai trò của tư duy, tư duy lý luận; phân tích đặc điểm, đặc trưng của
tư duy lý luận; phân tích nguyên nhân của sự lạc hậu trong nhận thức, tư duy lý luận,khẳng định sự cần thiết phải đổi mới và nâng cao trình độ tư duy lý luận cho cán bộ, đảngviên và đều coi đổi mới tư duy lý luận là một trong những phương hướng, giải pháp đểkhắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, bệnh giáo điều
Kế thừa các kết quả nghiên cứu trên đây, luận án Đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa
xã hội thực tiễn Việt Nam góp phần tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề quan trọng này.
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.1 Mục đích của luận án
Trang 7Luận án phân tích, làm rõ những đổi mới quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng ta
về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong thời gian vừa qua và nêulên một số phương hướng tiếp tục đổi mới, nâng cao trình độ tư duy lý luận về chủ nghĩa
xã hội của Đảng ta
3.2 Nhiệm vụ của lụân án
Để đạt được mục đích trên, luận án có nhiệm vụ:
- Trình bày quan niệm về tư duy, tư duy lý luận và tính tất yếu của đổi mới tư duy lýluận về chủ nghĩa xã hội
- Trình bày những đổi mới quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng và chủ nghĩa xãhội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội qua thực tiễn đổi mới ở Việt Nam
- Nêu lên những vấn đề thực tiễn đặt ra và một số phương hướng để tiếp tục đổi mới vànâng cao trình độ tư duy lý luận của Đảng ta
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án xác định đối tượng là xem xét, nghiên cứu vấn đề đổi mới tư duy lý luậnvề chủnghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, tác giả luận án quan niệm rằng, đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xãhội không chỉ là đổi mới phương thức, phương pháp tư duy mà còn là đổi mới nội dung,kết quả tư duy, đổi mới quan niệm, nhận thức, kiến thức về chủ nghĩa xã hội Ở đây, luận
án chủ yếu xem xét, tìm hiểu những đổi mới nội dung tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội,
về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta trong một số vấn đề, một số lĩnh vực
Trang 8Về thời gian: xem xét, tìm hiểu đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta từ Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VI (1986) đến nay.
5 Cơ sở lý luận - thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án
5.1 Cơ sở lý luận - thực tiễn
Luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng vàthực tiễn cách mạng ở nước ta, đặc biệt là thời gian từ Đại hội lần thứ VI của Đảng đếnnay là cơ sở lý luận - thực tiễn quy định, quán xuyến toàn bộ luận án
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được luận án sử dụng gồm có: phương pháp của chủ nghĩaduy vật biện chứng, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích và tổng hợp, phươngpháp lịch sử và lôgích, phương pháp hệ thống
6 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Luận án trình bày, phân tích những thành tựu và nêu lên những đóng về lý luận vàphương pháp luận trong tư duy lý luận của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đilên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong hơn 16 năm đổi mới
- Nêu lên một số phương hướng để tiếp tục đổi mới và nâng cao trình độ tư duy lý luậncủa Đảng
7 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần vào việc học tập, nghiên cứu, tìm hiểu, quán triệt các văn kiện củaĐảng, các chuyên đề về những vấn đề lý luận của chủ nghĩa xã hội; góp thêm ý kiến vàoviệc xây dựng cơ sở cho sự lãnh đạo của Đảng trong việc đổi mới công tác tư tưởng, lýluận
Trang 9- Luận án phục vụ thiết thực cho công việc hàng ngày của tác giả, đó là xây dựng các
đề tài, kế hoạch, biên tập sách lý luận, chính trị - xã hội
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở bài, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương 9tiết
Chương 1
TƯ DUY LÝ LUẬN VÀ TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC ĐỔI MỚI TƯ DUY LÝ
LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 1.1 Tư duy v à tư duy lý luận
1.1.1 Quan niệm về tư duy
Tư duy l à đối tượng nghiên cứu của nhiều ng nh khoa hà ọc khác nhau như sinh lý học, điều khiển học, lôgích học, tâm lý học, triết học Mỗi ng nh khoa hà ọc nghiên cứu
tư duy theo một góc độ nhất định
Sinh lý học nghiên cứu tư duy với tính cách l hoà ạt động của hệ thần kinh cấp cao.Điều khiển học nghiên cứu cơ chế điều khiển giữa tư duy các hoạt động vật chất của
cơ thể, tìm ra mối tương quan giữa tư duy con người v các hoà ạt động Lôgích họcnghiên cứu những hình thức v nhà ững quy luật của tư duy đúng đắn nhằm nhận thứcchân lý Tâm lý học nghiên cứu tư duy trong sự tác động qua lại của hệ thần kinh cấpcao, não người với thế giới xung quanh
Trong lịch sử triết học, vấn đề tư duy có vị trí đặc biệt quan trọng v à được đặt ra từrất sớm, có người cho rằng nó được đặt ra ngay từ buổi “ bình minh của lịch sử triếthọc” trong cuộc đấu tranh về lý luận nhận thức Nhận thức luận nghiên cứu tư duy
Trang 10trong mối quan hệ giữa chủ thể v khách thà ể trong quá trình nhận thức, trong quan hệgiữa tri thức v hià ện thực.
Tư duy với tư cách l à đối tượng v vià ệc xem xét nó trong mối quan hệ với vật chất,với thế giới khách quan l và ấn đề cơ bản nhất của triết học Trong tác phẩm Lútvích Phoiơbắc v s à s ự cáo chung của triết học cổ điển Đức, Ph.Ăngghen (1820 - 1895) nêu
rõ: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt l cà ủa triết học hiện đại, l và ấn đềquan hệ giữa tư duy với tồn tại” [66, tr.403] Việc luận giải khác nhau thể hiện quacác đại biểu, các trường phái triết học về vấn đề cơ bản n y trong là ịch sử triết họcmấy nghìn năm qua khá phong phú v à đa dạng Những vấn đề thường xuyên, chủ yếuđược nghiên cứu, tranh luận l : cà ơ sở, nguồn gốc, sự hình th nh, phát trià ển của tưduy; tư duy l gì; vai trò v chà à ức năng của nó; mối quan hệ giữa tư duy v các trà ạngthái tinh thần khác của con người
Các nh trià ết học duy tâm cho rằng, tư duy l sà ản vật của một bản nguyên siêu tựnhiên như thần linh, ý niệm tuyệt đối, nó độc lập, không phụ thuộc v o và ật chất Lậpluận của họ xuất phát từ lôgích cho rằng, ý thức l cái thà ứ nhất so với vật chất, dovậy nó không cần đến vật chất Theo họ, để có tư duy, ho n to n không nhà à ất thiếtphải có bộ não Chủ nghĩa duy tâm tách rời khỏi vật chất, khỏi bộ não người, ngônngữ v hoà ạt động thực tiễn xã hội của con người Trong một chừng mực n oà đó, nếu
họ có thừa nhận mối liên hệ như vậy, thì thường thường họ trình b y tà ư duy củanhững cá nhân như một cái gì sinh ra từ một bản nguyên tinh thần đứng trên vật chất
v à đó l ý thà ức của những cá nhân riêng lẻ
Trong một số những đại biểu duy tâm tiêu biểu không thể không đề cập đến I.Cantơ(1724 - 1804) v G.Hêghen (1770 - 1831) Hai trià ết gia duy tâm cổ điển Đức n y à đã
Trang 11luận giải khá nhiều về tư duy v mà ột điều đáng lưu ý l hà ọc thuyết của G.Hêghen về
tư duy, về căn bản, đã xuất hiện chính l nhà ờ khắc phục những hạn chế trong quanniệm của I.Cantơ về tư duy [9, tr.66] Khái niệm tư duy được Hêghen trình b yà tronghai tác phẩm Khoa học lôgích v Bách khoa thà ư các khoa học triết học G.Hêghen chorằng, I.Cantơ có nhiều quan điểm sâu sắc về tư duy nhưng nó vẫn thể hiện một sự
“đánh giá rất thấp” về tư duy Ba luận điểm cơ bản trong học thuyết của Cantơ về tưduy được Hêghen đặc biệt quan tâm l : 1 Và ấn đề nhận thức “vật tự nó”; 2 Vấn đềmối tương quan giữa cảm tính v lý tính; 3 Và ấn đề quan hệ giữa khái niệm v thà ựchiện
Ở Cantơ, “vật tự nó” l bà ất cứ khả tri đối với khả tri v tà ư duy Thuyết bất khả tricủa Cantơ đã chứng tỏ sự bất lực của tư duy; tư duy không có năng lực nhận thức
“vật tự nó” Hêghen đã bác bỏ “vật tự nó” bất khả tri v cho rà ằng tư duy của conngười có khả năng nhận thức được tất cả Trong quan niệm của Hêghen, tư duy,
“không những không bị tước mất năng lực nhận thức hiện thực m còn có nà ăng lựcthâm nhập v oà bản chất của các sự vật, đạt tới quy luật của thế giới” vật tự nó”” [9,tr.69]
Đề cập mối quan hệ của tư duy với nhận thức cảm tính, Cantơ cho rằng, tư duy nếuthiếu cảm tính thì sẽ không có hiệu quả, v tính tích cà ực của tư duy chính l thà ểhiện ở việc xử lý các t i lià ệu đo cảm tính đem lại Nhận xét về điểm n y, Hêghenà cho đó là sự hạ thấp quyền hạng của tư duy Hêghen không hiểu tư duy theo nghĩathông thường Với ông, tư duy rộng hơn năng lực chủ quan thuần tuý Ông không hiểu
tư duy theo nghĩa bó hẹp trong phạm vi ý thức cá nhân như năng lực chủ quan của conngười m hià ểu theo nghĩa rộng hơn, đó l “ý à niệm tuyệt đối” đã sáng tạo ra giới tự
Trang 12nhiên v con ngà ười Hêghen quan niệm tư duy l mà ột trong các năng năng lực tinhthần, tồn tại cùng với tri giác, biểu tượng, ý chí Quá trình tư duy l quáà trình đi từcái đơn nhất đến cái phổ biến Các giác quan bên ngo i không thà ể nhận thức được cáiphổ biến Cái phổ biến (bản chất) được tư duy nhận thức bằng con đường xử lý cáiđơn nhất do cảm tính đem lại, bằng con đường vượt ra khỏi lĩnh vực biểu tượng cảmtính để vươn lên lĩnh vực khái niệm [9, tr.79] Như vậy, có thể nói, Hêghen khôngthừa nhận sự phụ thuộc chung của tư duy v o à đối tượng v chia cà ắt mối liên hệ nộidung tư duy với đối tượng Ông chỉ quan tâm đến những t i lià ệu về tư duy, m khôngà chú ý xem còn nguồn gốc n o khác v à à độc lập với tư duy hay không Vì ông cho rằng,mọi hoạt động xét đến cùng đều dựa v o tà ư duy vì hoạt động ấy thực hiện thông qua
tư duy Hêghen cũng đã nghiên cứu về những hình thức của tư duy, những phạm trùlôgích v à đạt được nhiều kết quả Đánh giá về vấn đề n y, Ph.à Ăngghen cho rằng, đó
l mà ột nhiệm vụ rất có ích và cần thiết V ông khà ẳng định: “sau Aritxtốt, chỉ cóHêghen l ngà ười duy nhất đã tiến h nh mà ột cách có hệ thống nhiệm vụ n y” [65,à tr.732] Như vậy, chúng ta nhận thấy rằng, Hêghen đã thừa nhận tính đồng nhất củahọc thuyết về tồn tại với học thuyết về nhận thức Việc cố gắng vươn tới tính hiệnthực, tính khách quan của tư duy đôi khi đã dẫn Hêghen tiến gần đến chủ nghĩa duyvật biện chứng, và theo Lênin thì chỉ cần cắt “cái đuôi duy tâm” l à đủ , tức l chà ỉcần vứt bỏ quan niệm về tư duy ở bên ngo i, bên cà ạnh v có trà ước cái hiện thực thực
tế [119, tr 94]
Một trong những điểm cơ bản của các nh trià ết học tư sản duy tâm l không thà ừanhận nguồn gốc, cơ sở vật chất của tư duy Avênarirút Risa (1843 - 1896) - nh trià ếthọc duy tâm chủ quan Đức khẳng định: óc của chúng ta không phải l nà ơi ở, l trà ụ sở
Trang 13của tư duy, l kà ẻ sáng tạo ra tư duy, cũng không phải l công cà ụ hoặc khí quan của tưduy, l kà ẻ chứa đựng tư duy hoặc l cà ơ chất của tư duy.
Triết học tư sản hiện đại, chủ nghĩa thực chứng mới phủ nhận tư duy v cho rà ằng
tư duy tồn tại cùng với vật chất l mà ột điều hư cấu, đồng thời họ cũng phủ nhận ngônngữ với tư cách l phà ương tiện biểu hiện, l hình thà ức của tư duy
Trái lại, các nhà duy vật trên cơ sở tiếp thu, kế thừa kết quả của các ng nh khoaà học với một thế giới quan tiến bộ đã từng bước lý giải một cách khoa học cơ sở, bảnchất v à đặc trưng của tư duy
Giải thích sự xuất hiện của ý thức, tư duy,một số nh duy và ật thời trước đã chorằng tư duy là thuộc tính của to n bà ộ vật chất Nh trià ết học duy vật H Lan Barúcà Spinôda (1632 - 1677) cho rằng, vật chất có sinh khí phổ biến, mọi vật đều biết tư duy.Khi luận chứng chống lại những người coi vật chất l bià ết tư duy v có linh hà ồn,Giăng Tôlăng (1670 - 1722) nêu rõ: biết tư duy không phải l cà ủa mọi vật chất nóichung, m chà ỉ l bà ộ phận vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - đó là não Não là
cơ quan tư duy Ông viết; “Tư duy l sà ự vận động đặc biệt của não - một cơ quanđặc biệt của năng lực đó” [116, tr.290] Tư duy l kà ết quả hoạt động tích cực củanão Như vậy, với việc xác định tư duy l thuà ộc tính v là à hoạt động của vật chất có
tố chức xác định, Tôlăng đã tiến một bước trên con đường giải quyết mối quan hệgiữa tư duy v tà ồn tại so với các bậc tiền bối của mình, trong đó có Spinôda
Nh trià ết học khai sáng Pháp, người lãnh đạo phái Bách khoa to n thà ư Đơni Điđơrô(1713 - 1784) cũng đã bác bỏ những quan điểm duy tâm về tính tự sinh của tư duy.Ông cho rằng, mọi suy luận đều có nguồn gốc trong tự nhiên, đồng thời ông cũng chú ýđến vai trò kỹ thuật v công nghià ệp trong sự phát triển của tư duy v nhà ận thức
Trang 14Cùng với việc lý giải cơ sở, nguồn gốc vật chất tư duy, các nh duy và ật trước Mácnhư Spinôda, Điđơrô đã lý giải quá trình, cơ chế hình th nh, vai trò cà ủa nhận thức, tưduy Họ đã có được kết quả đúng đắn khi cho rằng, nhận thức l phà ản ảnh những sựvật v hià ện tượng khách quan của tự nhiên, nhưng về mặt n o à đó, đánh giá thấp vaitrò của tư duy Ngược lại, phái duy tâm chủ nghĩa thì đã đẩy nguyên lý tích cực của
tư duy th nh kà ẻ sáng tạo ra tự nhiên V à điều nghiêm trọng hơn l hà ọ đã không hiểuvai trò quan trọng của thực tiễn đối với nhận thức, tách nhận thức ra khỏi thực tiễn.Khoa học tự nhiên chứng minh rằng, ý thức l thuà ộc tính phản ánh của vật chất có
tổ chức cao l bà ộ óc người, trong quan hệ tác động qua lại với thế giới bên ngo i Sà ựhình th nh ýà thức con người không đơn thuần l sà ự phản ánh có tính chất xã hội Đểxuất hiện ý thức v khà ả năng tư duy cần phải có bộ não Bộ não hình th nh trong quáà trình tiến hoá của sự sống theo những quy luật nhất định Triết học mácxít khẳngđịnh, chỉ có vật chất có tính tổ chức cao đưới dạng bộ não con người mới có khảnăng sản sinh ra ý thức, ý thức l chà ức năng của bộ não con người Trong tác phẩm
Chống Đuyrinh, Ph.Ăngghen viết: “nếu người ta đặt câu hỏi rằng tư duy và ý thức là
gì, chúng từ đâu đến, thì người ta sẽ thấy rằng chúng l sà ản vật của bộ óc con người
v bà ản thân con người, l sà ản vật của giới tự nhiên, một sản vật đã phát triển trongmột môi trường nhất định và cùng với môi trường đó Vì vậy, lẽ tự nhiên l nhà ữngsản vật của bộ óc con người, quy đến cùng, cũng l nhà ững sản vật của giới tự nhiên, không mâu thuẫn m là ại còn phù hợp với mối liên hệ còn lại của giới tự nhiên” [65,tr.55]
Khẳng định quan điểm của C.Mác (1818 - 1883) v Ph.à Ăngghen, sau n y trongà
tác phẩm Chủ nghĩa duy vật v ch à s ủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, V.I.Lênin (1870-1924)
Trang 15một lần nữa nêu rõ: tư duy, ý thức l sà ản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chứctheo một cách thức đặc biệt [53, tr.56] v tà ổ chức vật chất ở đây l bà ộ óc người.Bản thân bộ não l à điều kiện cần thiết, song chưa đủ Bộ não chỉ có thể phát triểnmột cách tương ứng, chỉ có thể có được những đặc điểm cần thiết cho việc nhận thứcthực tại nhờ lao động, nhờ các hoạt động thực tiễn Ở đây lao động có vai trò quyếtđịnh đối với sự hình th nh, phát trià ển của con người Ý thức của con người gắn bóhữu cơ với hoạt động lao động Theo lôgích đó, con người nhận thức trước hếtnhững gì liên quan trực tiếp đến lao động, đến việc thoả mãn những nhu cầu củamình Những nghiên cứu khoa học đã chứng minh, trong thời gian h ng trià ệu năm,
lo i ngà ười chỉ khác lo i và ật l bià ết đi thẳng, tuy có khôn ngoan hơn nhưng vẫn kiếm
ăn từ các sản vật có sẵn trong tự nhiên Chỉ đến giai đoạn biết dùng các vật trong tựnhiên để tìm kiếm thức ăn, biết đến săn bắt v hái là ượm, biết lao động thì conngười mới có tư duy, có trí nhớ, trí khôn Ph.Ăngghen đã phê phán việc coi thườngảnh hưởng v vai trò cà ủa lao động đối với sự hình th nh v phátà à triển tư duy con
người Theo ông, “chính việc người ta biến đổi tự nhiên l cà ơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song vớiviệc người ta đi học cải biến tự nhiên” [56, tr.720]
Cùng với lao động, ngôn ngữ có vai trò quan trọng với sự hình th nh, phát trià ển của
tư duy Ngôn ngữ được hình th nh trong quá trình lao à động để thoả mãn nhu cầugiao tiếp giữa người với người Tư duy tồn tại không thể thiếu ngôn ngữ, cũng nhưngôn ngữ tồn tại không thể thiếu tư duy Ngôn ngữ l cái và ật chất hoá tư duy, l hià ệnthực trực tiếp của tư tưởng Ngôn ngữ không chỉ l công cà ụ để con người giao tiếptrao đổi với nhau, phản ánh khái quát về sự vật m còn l phà à ương tiện lưu trữ tư duy
Trang 16Tư duy phản ánh sự vật, còn ngôn ngữ thể hiện sự vật, ghi lại và củng cố danh từ và trong các danh từ hợp th nh các mà ệnh đề những kết quả hoạt động của tư duy nhằmhiểu biết hiện thực khách quan.
Ngôn ngữ l cà ơ sở hình th nh nên khái nià ệm, phán đoán, v nà ếu như thiếu các kháiniệm, phán đoán thì tư duy không phát triển được Các nh kinh à điển mácxít địnhnghĩa ngôn ngữ l hià ện thực trực tiếp của tư tưởng, v có tác dà ụng quan trọng bậcnhất trong sự tiến hoá của con người v cà ủa tư duy Ngôn ngữ v nhà ững phạm trùkhoa học nêu lên những quy luật của khoa học v do à đó đi sâu v o bà ản chất của hiệntượng C.Mác khẳng định, chỉ nhờ có ngôn ngữ thì những th nh quà ả của tư duy mới
có thể trở th nh t i sà à ản của tất cả mọi người, mới cho phép tổ chức lao động có hiệuquả nhằm cải tạo điều kiện sống của con người
Sự xuất hiện ngôn ngữ l mà ột bước ngoặt trong sự phát triển của lo i ngà ười, mở rathời kỳ mới của sự phát triển trí tuệ, tư tưởng Nhờ có ngôn ngữ v giao là ưu, conngười đã có những bước tiến khổng lồ Tư duy với tư cách l chà ức năng của bộ óccon người, l mà ột quá trình tự nhiên, không tồn tại bên ngo i xã hà ội, bên ngo i ngônà ngữ, vì vậy nó có bản chất xã hội
Quan điểm của các nh kinh à điển chủ nghĩa Mác - Lênin về tư duy đã được cáccông trình của khoa học y sinh học xác nhận, trong đó có công trình của hai nh sinhà
lý học Nga M.I.Xêsênốp (1829 - 1905) v P.I.Páplà ốp (1849 - 1930)
Những công trình nghiên cứu n y có ý nghà ĩa quan trọng trong việc phản bác nhữngquan điểm duy tâm về “linh hồn bất diệt”, về “tự do ý chí” chiếm địa vị thống trị trongkhoa học thời kỳ n y Khi nghiên cà ứu về tư duy, Xêsênốp khẳng định, chỉ khi n oà quan sát tư duy trên quan điểm lịch sử, trong quá trình ra đời v phát trià ển của nó thì
Trang 17mới có thể giải quyết được vấn đề Những nghiên cứu n y à đã giúp cho việc hiểu bảnchất của tư duy, quan hệ của tư duy với tiếng nói, ngôn ngữ v hoà ạt động của conngười.
Từ góc độ tâm lý học, vấn đề tư duy đã được sáng tỏ hơn Vuntơ (1839 -1920) nhà tâm lý học, nhà triết học duy tâm người Đức thừa nhận ngôn ngữ l công cà ụ tiện lợinhất, quan trọng nhất của tư duy Trong cuốn Tư duy v ngôn ngà ữ, Vưgốtxki (1896 -1934) viết: tư duy con người l mà ột dạng h nh vi là ịch sử, chỉ có ở người l có à đặcđiểm riêng v nó chà ỉ phát triển trong sự phụ thuộc v o ngôn ngà ữ Ông còn quả quyết:không được xem xét tư duy tách khỏi to n bà ộ cung bậc của cuộc sống, tách khỏi kíchthích của cuộc sống, khỏi hứng thú, đam mê của con người suy nghĩ [38, tr.88] Vìnếu nghiên cứu tư duy tách khỏi những vấn đề trên thì không tìm được nguyên nhân
n o tà ạo ra phương hướng của tư duy, động cơ của tư duy Vưgốtxki còn khẳng địnhmối quan hệ khăng khít giữa tư duy, lý trí v tình cà ảm v hà ơn thế nữa cần khải tìmhiểu nguyên nhân của tư duy trong tình cảm Vì vậy, phương pháp quyết định luậnphân tích cần phải tìm ra các nhu cầu, hứng thú, kích thích, xu hướng xác định xựvận động của ý nghĩ theo hướng n y hay hà ướng kia [38, tr.169] Ý kiến mang tínhphương pháp luận n y rà ất có ý nghĩa đối với chúng ta trong việc đổi mới tư duy nóiriêng, cũng như trong việc nâng cao hơn nữa tính tích cực của con người, phát huyvai trò của nhân tố chủ quan nói chung trong công cuộc đổi mới hiện nay
Những quan điểm ấy đã bác bỏ những lập luận của những người theo chủ nghĩa
h nh vi nhà ư G.Oátxơn (1878 - 1958), Tôman (1886 - 1959) Khi họ phủ nhận sự cóthật của ý thức với tư cách l chà ức năng của vật chất có tổ chức cao, họ quy đời sốngtâm lý của con người v o nhà ững phản ứng sinh lý của cơ thể Chủ nghĩa h nh vi và ới
Trang 18lập trường phản khoa học phủ nhận việc nghiên cứu những nguyên nhân xã hội của sựphát triển ý thức lo i ngà ười, họ không thấy mối quan hệ giữa tư duy v ngôn ngà ữ.Với họ, nguồn gốc v sà ự phát triển của tư duy v ngôn ngà ữ bị tách khỏi cơ sở thựctiễn xã hội v bà ị coi l mà ột quá trình thuần tuý về sinh lý
Những quan điểm về cơ sở, nguồn gốc tư duy trên đây cũng chính l nhà ững lý giải
“khía cạnh thứ nhất” vấn đề cơ bản của triết học Tìm hiểu “khía cạnh thứ hai” chophép chúng ta hiểu bản chất, đặc trưng v khà ả năng của tư duy
Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm chủ quan v hà ọc thuyết bất khả tri,V.I.Lênin đã phát triển to n dià ện học thuyết mácxít về tính chất có thể nhận thứcđược của thế giới, lý luận về phản ánh Lênin đã bảo vệ quan điểm duy vật về cái tâm
lý, về ý thức với tính cách l sà ản phẩm cao nhất của vật chất, với tính cách l chà ứcnăng của óc con người Lênin đã nhấn mạnh rằng, tư duy, ý thức l sà ự phản ánh thếgiới bên ngo ià
Trong khi nghiên cứu tư duy, việc phân biệt, l m rõ mà ối quan hệ giữa tư duy với ýthức, nhận thức, tư tưởng có ý nghĩa không chỉ về mặt học thuật m cà ả về mặt thựctiễn Ý thức l sà ự phản ánh hiện thực khách quan bởi bộ não người, trên cơ sở hoạtđộng thực tiễn Tư duy l quá trình xà ử lý, phân tích, khái quát các t i lià ệu cảm tính
để vạch ra bản chất sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan Với ý nghĩa đó tưduy l quá trình phà ản ánh tích cực giới hiện thực khách quan v o trong ýà thức củacon người [109, tr.799] Có người đồng nhất tư duy với tư tưởng Tư tưởng với nghĩa
l ý nghà ĩ đã định hình của con người về đối tượng khách quan n oà đó được thể hiệndưới các hình thức như khái niệm, phạm trù, quy luật l kà ết quả của tư duy Tư duyđúng sẽ thu được tư tưởng đúng v ngà ược lại, từ đó quy định hiệu quả của h nhà
Trang 19động Có người đồng nhất hai khái niệm về tư duy v nhà ận thức Chúng ta thống nhấtrằng, tư duy không tách rời nhận thức v nhà ận thức phải thông qua tư duy, bằng tưduy, nhưng tư duy v nhà ận thức không phải là một.
Trong thực tế, khái niệm tư duy còn có nhiều cách hiểu khác nhau Lý luận nhậnthức của triết học Mác - Lênin chỉ rõ: Tư duy không phải l to n bà à ộ nhận thức m chà ỉ
l giaià đoạn cao, l cà ấp độ cao của nhận thức Như thế, tư duy thuộc giai đoạn thứ hai(giai đoạn nhận thức lý tính) của quá trình nhận thức; l sà ự khái quát những cảmgiác; tri giác để phản ánh hiện thực khách quan thông qua những khái niệm, phạm trùkhoa học, v nà ăng lực trìu tượng của bộ óc con người
Nội dung của tư duy hình th nh trên cà ơ sở những t i lià ệu của cảm giác, tri giác,biểu tượng về các sự vật v hià ện tượng của thế giới bên ngo i tác à động trực tiếp v oà các giác quan Nhưng, tư duy không phải l sà ự tổng hợp giản đơn cảm giác v trià giác Tư duy l hình thà ức nhận thức ho n to n mà à ới về chất, l hình thà ức ho n thià ệnhơn so với nhận thức cảm tính vì tư duy có thể đi sâu v o bà ản chất của sự vật, nhậnthức quy luật, phản ánh sự vật, hiện tượng một cách sắc hơn, chính xác hơn “Chínhtrong tư duy v thông qua tà ư duy con người mới thực hiện được bước chuyển thực
sự từ cái riêng đến cái chung” [10, tr.135] Tư duy có khả năng nắm bắt, phát hiệnđược bản chất của sự vật ng y c ng sâu sà à ắc hơn, từ bản chất cấp một đến bản chấtcấp hai Tư duy được thực hiện bằng cách vận dụng những khái niệm, phản ánhnhững mặt căn bản của thế giới xung quanh Những phương pháp chủ yếu của hoạtđộng tư duy l trìu tà ượng, phân tích v tà ổng hợp, quy nạp v dià ễn dịch Tính giántiếp, tính khái quát hoá, trìu tượng hoá, tính tích cực v sángà tạo l nhà ững đặc điểm
cơ bản của tư duy con người Quá trình biện chứng của tư duy l sà ự vận động từ cái
Trang 20đặc thù đến cái phổ biến, l qua trình tà ư duy đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bảnchất cấp thấp lên bản chất cấp cao, từ trìu tượng đến cụ thể v ngà ược lại [68, tr.26].Qua những phân tích trên cho thấy, tư duy có vai trò to lớn trong quá trình nhậnthức Tư duy giúp con người nhận thức được bản chất của các sự vật v hià ện tượng.Trong quá trình trìu tượng hoá, tư duy duờng như tách rời hiện thực, tách rời cái cụthể để gạt bỏ bề ngo i, không cà ăn bản, đi sâu v o bà ản chất của sự vật, phát hiệnnhững mối quan hệ, thuộc tính căn bản nhất, từ đó tái toạ về sự vật, phát hiện nhữngmối liên hệ, thuộc tính căn bản nhất, từ đó tái tạo về sự vật, hiện tượng một cách
to n dià ện v sâu sà ắc trong tư duy
Nhưng thế giới khách quan l bià ện chứng v bà ản thân tư duy cũng bị hạn chế donhiều điều kiện khách nhau nên nhận thức không phải một lần l xong xuôi, m à à đó là một quá trình trong đó tư duy ng y c ng à à đi gần đến chân lý khách quan Trong mỗigiai đoạn nhất định, tư duy của con người chỉ đạt đến những chân lý tương đối mà thôi Theo Ph.Ăngghen, tư duy con người vừa tối cao, vừa không tối cao Xét theo bảnchất v khà ả năng thì tư duy của con người l tà ối cao v vô hà ạn, xét theo sự thực hiện
cá biệt thì không tối cao v có hà ạn Trong thực tế, các sản phẩm của tư duy chỉ có tínhđộc lập tương đối, bởi vì trong quá trình nhận thức, con người dựa v o kà ế thừa vậtliệu tư duy do lao động các thế hệ trước tạo ra Ph.Ăngghen đã phân tích một cách sâusắc phép biện chứng của tư duy to n nhân loà ại Tư duy con người không phải l tà ưduy của từng cá nhân riêng lẻ, nhưng nó chỉ được thực hiện thông qua tư duy cá nhân
V , “tính vô hà ạn của tư duy trong việc đạt được nhận thức tuyệt đối cũng được hợp
th nh bà ởi vô v n bà ộ óc hữu hạn của con người” [65, tr.724-725]
Trang 21Từ những phân tích, trình b y trên à đây cho thấy, tư duy con người l mà ột sảnphẩm của tự nhiên - lịch sử - xã hội; l quá trình hoà ạt động nhận thức ở giai đoạn cao
- giai đoạn trìu tượng của sự phản ánh thực tại khách quan, l sà ự suy nghĩ của conngười nhằm nhận thức bản chất v cà ải tạo hiện thực khách quan Quá trình phát triển
tư duy, của ý thức xã hội không thể hiểu được ngo i sà ự phụ thuộc v o thà ực tiễn conngười, v o tà ồn tại xã hội Tuy nhiên, tư duy l mà ột “sự tinh thần” có tính độc lậptương đối, nó có lôgích phát triển nội tại của mình, chịu sự chi phối của các quy tắc,nguyên tắc riêng Đây l à đặc điểm quan trọng cho phép chúng ta khẳng định việc đổimới tư duy không chỉ l tà ất yếu khách quan, m còn khà ẳng định cơ sở của các kếtquả, sự th nh công cà ủa nó
1.1.2 Tư duy lý luận - hình thức phản ánh cao nhất thực hện khách quan bởi bộ
óc con người
Chúng ta có thể xem xét, phân loại tư duy theo những loại hình khác nhau Xét theophạm vi lĩnh vực phản ánh, thì có tư duy về kinh tế, tư duy về quân sự, tư duy vềchính trị, tư duy về văn hóa ; theo phương pháp tư duy thì có phương pháp tư duysiêu hình, phương pháp tư duy biện chứng; theo trình độ phản ánh thì có tư duy kinhnghiệm, tư duy lý luận Tư duy xét theo phạm vi lĩnh vực sẽ được đề cập ở chươngsau Ở đây chỉ phác hoạ đôi nét về phương pháp tư duy siêu hình, phương pháp tưduy biện chứng, v tà ư duy kinh nghiệm được phân tích khi trình b y và ề tư duy lýluận
Phương pháp tư duy siêu hình và phương pháp tư duy biện chứng là hai phương pháp
tư duy đối lập nhau Cuộc đấu tranh lâu dài giữa hai phương pháp này trong lịch sử triếthọc đã thúc đẩy tư duy triết học phát triển hoàn thiện với sự thắng lợi của phương pháp tư
Trang 22duy biện chứng duy vật Sự đối lập giữa hai phương pháp này thể hiện trước hết và chủyếu trong việc xem xét hiện thực khách quan Phương pháp tư duy siêu hình nhìn nhận,xem xét sự vật, hiện tượng trong trạng thái cô lập, tĩnh tại, phiến diện Phương pháp tưduy siêu hình “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qualại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy
sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những
sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấyrừng” [65, tr.37]
Do đó, phương pháp tư duy siêu hình không thể phản ánh đúng đắn, chân thực, đầy
đủ, sâu sắc thực tại khách quan, bởi lẽ giới tự nhiên cũng như xã hội con người luônphát triển, tiến hoá không ngừng Theo Ph.Ăngghen, phương pháp tư duy siêu hình dùcần thiết đến mức n o trong nhià ều lĩnh vực, nhưng sớm hay muộn nó cũng vấp phảinhững mâu thuẫn không thể n o già ải quyết được [65, tr.37] Các nh kinh à điểnmácxít chỉ rõ hạn chế, hậu quả của phương pháp tư duy siêu hình đã l m cho mà ột số
nh và ật lý cuối thế kỷ XIX rơi v o chà ủ nghĩa duy tâm vật lý Họ đã xem nhữngnguyên lý của cơ học cổ điển l nhà ững chân lý tuyệt đối, không giải thích đượcnhững sự kiện mới do khoa học thực nghiệm phát hiện
Phương pháp tư duy biện chứng xem xét hiện thực khách quan trong mối quan hệqua lại với nhau, trong sự vận động phát triển Do đó, nó l phà ương pháp tư duy caonhất, thích hợp nhất cho phép chủ thể tư duy nắm bắt, phản ánh được bản chất của
sự vật, hiện tượng Cũng nhờ đó phương pháp tư duy biện chứng giúp cho chủ thể tưduy nâng cao được tính tự giác trong hoạt động thực tiễn, cải tạo tự nhiên v xãà hội
Trang 23Cho đến nay, phương pháp tư duy biện chứng có ba hình thức phát triển cơ bản l :à
tư duy biện chứng tự phát, tư duy biện chứng duy tâm khách quan v tà ư duy biệnchứng mácxít
Phương pháp tư duy biện chứng được hình th nh tà ừ rất sớm, khoảng thế kỷ VI, Vtrước công nguyên Trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ cổ đại, những quan diểm biệnchứng được thể hiện sâu sắc khi lý giải về các vấn đề bản thể luận, tự nhiên v xãà hội Họ cho rằng, thế giới, vũ trụ trong đó có con người luôn vận động, biến đổi, là kết quả của các sự tác động qua lại, sự chuyển hoá giữa hai mặt đối lập Kế thừanhững th nh tà ựu của triết học phương Đông cổ đại, các nh trià ết học cổ đại Hy Lạpvới các đại biểu tiêu biểu l Hêraclít, à Đêmôcrít, Aritxtốt đã phát triển những quanđiểm biện chứng lên một bước đáng kể Tuy nhiên quan điểm của họ mới dừng lại ởtrình độ cổ sơ, chất phác v à đây cũng chính l à đặc điểm chủ yếu của tư duy biệnchứng thời kỳ cổ đại Trình độ n y thà ể hiện trong quan niệm của họ về vật chấtnguyên thuỷ đầu tiên của thế giới Aritxtốt đã có những tư tưởng biện chứng về sựchuyển hoá từ khả năng th nh hià ện thực khi khảo sát hình thức v phà ạm trù của tưduy lý luận Các nh kinh à điển mácxít đánh giá rất cao các nh trià ết học Hy Lạp cổđại, coi họ l nhà ững nh bià ện chứng đầu tiên trong lịch sử Đó cũng chính l lý doà
m “chúng ta phà ải luôn luôn trở lại với th nhà tựu của cái dân tộc nhỏ bé đó, cái dântộc m nà ăng lực v hoà ạt động to n dià ện của nó đã tạo ra cho nó một địa vị m khôngà một dân tộc n o khác có thà ể mong ước được trong lịch sử phát triển của nhân loại”[65, tr.491]
Phương pháp tư duy biện chứng đã có bước phát triển đáng kể trong triết học HyLạp cổ đại, nhưng tiếc rằng nó đã ho n to n bià à ến mất trong 1.500 năm tiếp theo Đây
Trang 24l mà ột thực tế cho dù các triết học thời kỳ tan rã của xã hội chiếm hữu nô lệ cổ đại,triết học trung cổ sơ kỳ v các trià ết học thời kỳ Phục hưng đã để lại không ít nhữngminh hoạ trong quan niệm biện chứng sâu sắc, nhưng về cơ bản nó vẫn bị thống trị bởiphương pháp siêu hình [116, tr.14] Phương pháp tư duy siêu hình trở th nh phà ươngpháp thống trị thời kỳ n y à đã không đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu của nhậnthức khoa học hiện đại Những kết quả nghiên cứu mới trong lĩnh vực vật lý học và sinh vật học thế kỷ XIX đòi hỏi phải có cách nhìn nhận biện chứng về thế giới Nềntriết học cổ điển Đức với tinh thần biện chứng đã ra đời trước yêu cầu nhận thức củakhoa học
Phép biện chứng duy tâm của các nh trià ết học cổ điển Đức bắt đầu từ I.Cantơ và đạt tới đỉnh cao trong triết học Hêghen Các ông đã có công lao trong việc đề ra v xâyà dựng quan niệm biện chứng về sự phát triển Ph.Ăngghen nhận xét Hêghen l ngà ườiđầu tiên đã coi to n bà ộ thế giới tự nhiên, lịch sử v tinh thà ần như một quá trình, nghĩa
l luôn luôn luôn và ận động, thay đổi, biến hoá v phát trià ển, trong đó ông đã cố tìm ramối liên hệ nội tại của sự vận động v phát trià ển [65, tr.39-40] Hêghen đã xây dựngphép biện chứng th nh mà ột hệ thống với các phạm trù, quy luật của sự vận động và phát triển, đối lập với phép siêu hình v ông coi phép bià ện chứng là một hình thứccao nhất của tư duy Với việc trình b y nhà ững quy luật cơ bản của phép biện chứng,Hêghen đã l m nà ổi bật nguồn gốc, phương thức, con người và khuynh hướng của sựphát triển Nhưng tiếc rằng, đó lại l phép bià ện chứng duy tâm, khi m bià ện chứng chỉ
l sà ự phát triển của “ý niệm tuyệt đối”
Phương pháp tư duy biện chứng duy vật mácxít dựa trên nền tảng của phép biệnchứng duy vật, kế thừa những giá trị tư tưởng của lịch sử trên hai nghìn năm của phép
Trang 25biện chứng, trên cơ sở những th nh tà ựu của khoa học tự nhiên, nó đã vượt qua đượcnhững hạn chế của phương pháp tư duy biện chứng tự phát, ngây thơ thời cổ đại và phương pháp tư duy biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức
Về trình độ của tư duy, trong di sản triết học trước Mác có những phạm trù khácnhau được sử dụng để biểu thị các trình độ Tựu trung, người ta đã phân biệt hai
trình độ: một là s, hoạt động tư duy xem xét, ghi nhận, mô tả những kết quả của kinh nghiệm cảm tính; hai là s, tư duy ở trình độ phát hiện bản chất, những quy luật chi
phối sự phát triển của sự vật, hiện tượng
Khả năng tư duy ở mỗi chủ thế l khác nhau Khái nià ệm năng lực tư duy diễn tả sự
khác nhau về khả năng giữa cá nhân, cộng đồng xã hội người Cùng với phạm trù tưduy, phạm trù năng lực được các nh nghiên cà ứu ở nước ta phân tích khá nhiều từsau Đại hội đại biểu to n quà ốc lần thứ VI của Đảng v xác à định đây l và ấn đề quantrọng trong quá trình đổi mới tư duy Có người cho rằng, năng lực tư duy l tà ổng hợpnhững phẩm chất trí tuệ đáp ứng yêu cầu nhận thức thế giới v bà ản thân con người,đảm bảo cho h nh à động sáng tạo, nó biểu hiện ở khuynh hướng nhận thức và h nhà động, ở kết quả xử lý thông tin v nhà ất l à ở kết quả h nh à động [60, tr.48] Có các tácgiả đã phân tích yếu tố cấu th nh nà ăng lực tư duy bao gồm năng lực nhận thức, khảnăng phát triển tri thức v nà ăng lực vận dụng sáng tạo tri thức trong hoạt động thựctiễn "Năng lực tư duy l tà ổng hợp những khả năng ghi nhớ, tái hiện, trừu tượng hóa,khái quát hoá, liên tưởng, luận - giải, v xà ử lý trong quá trình phản ánh, phát triển tríthức v và ận dụng đúng v o thà ực tiễn trên cơ sở quy luật khách quan mang lại nhữngkết quả nhất định [95, tr.15 - 16]
Trang 26Năng lực tư duy không tách rời trình độ tư duy, nội dung v phà ương pháp tư duy.Trình độ tư duy phải dựa trên cơ sở một năng lực tư duy nhất định Chúng ta khôngthể nói đến một trình độ tư duy cao nếu không có năng lực tư duy sâu sắc của chủ thể
tư duy Năng lực tư duy phụ thuộc v o nhià ều yếu tố, trong đó có trình độ, tri thức củachủ thể tư duy Trình độ, nội dung, dung lượng tri thức tuỳ thuộc v o phà ương pháp tưduy, do đó năng lực tư duy luôn gắp bó chặt chẽ với phương pháp tư duy Với ý nghĩa
đó, "phương pháp tiếp cận vấn đề khác nhau chính la biểu hiện trình độ khác nhaucủa năng lực tư duy”[60, tr 48] Tư duy l mà ột quá trình, trong đó chủ thể tư duy tiến
h nh h ng loà à ạt các thao tác trí tuệ theo một lô gích nhất định V à ở đây, sự khácnhau của các chủ thể tư duy l à ở chỗ nghệ thuật vận dụng các khái niệm v nghà ệthuật n y không phà ải bẩm sinh m có, cà ũng không phải do ý thức thường ng y à đemlại, m nó à đòi hỏi một tư duy thực sự v tà ư duy n y có mà ột lịch sử kinh nghiệm lâu
d i [65, tr 27 - 28] Có thà ể nói, năng lực tư duy là tổng hợp những phẩm chất trí tuệ,đảm bảo cho việc nhận thức v hoà ạt động sáng tạo của con người dạt hiệu quả
Triết học mácxít phân biệt hai hình do tư duy: tư duy kinh nghiệm v tà ư duy lýluận Mỗi kiểu tư duy trải qua những trình độ phát triển khác nhau với những phongcách đặc trưng và do đó sản phẩm, kết quả tư duy cũng khác nhau
Xét theo tính chất v kà ết quả, tư duy kinh nghiệm cũng thê hiện năng lực trừutượng hoá của trí tuệ con người, nhưng ở trình độ thấp, chưa khái quát được nhữngmối liên hệ căn bản giữa các sự vật, hiện tượng, chưa giải thích một cách thực sựkhoa học về những kết luận ấy Tư duy kinh nghiệm l tà ập hợp những tri thức nhấtđịnh, được hình th nh trên trên cà ơ sở của các sự tác động trực tiếp, lặp đi lặp lại củacon người về thế giới xung quanh Trong quá trình hình th nh, phát trià ển của tư duy
Trang 27kinh nghiệm, yếu tố tình cảm, cảm tính có vai trò chi phối trong quá trình nhận thức;
về thao tác tư duy, phương pháp tổng hợp mạnh hơn phân tích, lập đề mạnh hơn luận
đề
Tư duy lý luận là trình độ phát triển cao của năng lực tư duy con người Tư duy lýluận phản ánh thực tiễn khách quan một cách gián tiếp Con người sử dụng ngôn ngữ
v các hìnhà thức tư duy thông minh qua các khái niệm, phạm trù, suy lý được tiến
h nh chà ủ yếu bởi những quy tắc lôgích để tổng hợp, phân tích, khái quát các mối liên
hệ có tính bản chất, quy luật Tư duy lý luận tiếp cận với khách thể, thông qua thựctiễn bằng năng lực trừu tượng hóa, khái quát hoá cao, giúp con người phát hiện ranhững hệ thống, sáng tạo ra những hệ thống lý luận hay hệ thống lý thuyết khoa học.Như vậy, tư duy lý luận l hoà ạt động trí tuệ con người theo những quy luật nhận thức
để nắm được những thuộc tính cơ bản, những quan hệ cơ bản giữa các sự vật, hiệntượng, nó cho phép hiểu được những mâu thuẫn bên trong v chià ều hướng phát triểnkhách quan của sự vật, hiện tượng
Như đã trình b y à ở trên, tư duy của con người xuất hiện, hình th nh tà ừ rất sớm,nhưng phải đến một giai đoạn phát triển nhất định trong lịch sử xã hội lo i ngà ười, conngười mới có tư duy lý luận Con người có khả năng tư duy, nhưng khả năng đó đạtđến trình độ tư duy lý luận l mà ột quá trình chuyển biến chất, nó không phải l sà ựsuy nghĩ thông thường, m l sà à ự vận động mang tính chất trí tuệ
Với quan điểm duy vật biện chứng, Ph.Ăngghen phân tích một cách sâu sắc cơ sởhình th nh v à à điều kiện phát triển của tư duy lý luận gắn liền với thực tiễn xã hội và đòi hỏi quá trình rèn luyện và phát triển của chủ thể tư duy Theo Ph.Ăngghen, quá
trình phát triển, rèn luyện năng lực tư duy lý luận cần phải: một là s, nghiên cứu sự
Trang 28phát triển của lịch sử triết học; hai là s, tiếp thu th nh quà ả của phép biện chứng trongtriết học cổ đại v trià ết học cổ điển Đức; ba là s, gắn với việc phê phán phương pháp
tư duy siêu hình, chủ nghĩa kinh nghiệm; bốn là s, quan tâm, nắm bắt các th nh tà ựumới của khoa học tự nhiên Những tư tưởng của Ph.Ăngghen trên đây l nhà ững chỉdẫn hết sức quý báu cho chúng ta trong việc đổi mới v nà ăng cao lực lượng tư duy lýluận hiện nay Với chúng ta, việc đổi mới, năng cao năng lực, trình độ tư duy lý luậnphải trên cơ sở nhận thức của chủ nghĩa Mác - Lênin v tà ư tưởng Hồ Chí Minh
Trong Biện chứng của tự nhiên, từ chỗ chỉ ra những hạn chế của việc nghiên cứu chỉ
dựa v o kinh nghià ệm v nhà ững phương pháp hiện thời, Ph.Ăngghen đã chỉ ra vai tròcủa tư duy lý luận trong điều kiện, khả năng, phát triển mới của khoa học tự nhiên.Ông viết: việc nghiên cứu giới tự nhiên dựa v o kinh nghià ệm thì đã tích luỹ được một
số tri thức chính diện to lớn đến nỗi ng y nay tuyà ệt đối bức thiết phải sắp xếp nhữngtri thức ấy lại một cách có hệ thống v dà ựa v o mà ối liên hệ nội tại của chúng trongmỗi lĩnh vực nghiên cứu riêng biệt Nhưng l m thà ế thì những phương pháp dựa
v o kinh nghià ệm không đem lại kết quả, chỉ có tư duy lý luận mới có thể giúp íchđược [65, tr.487]
Khi đề cập vai trò của tư duy lý luận, Ph.Ăngghen cũng đề cập tầm quan trọng củaphép biện chứng, coi đó l phà ương pháp tư duy quan trọng đối với khoa học tự nhiênhiện đại Đánh giá cao phép biện chứng v tà ư duy lý luận, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Trongthực tế, khinh miệt phép biện chứng thì không thể không bị trừng phạt Dù người ta có
tỏ ý khinh thường mọi tư duy lý luận như thế n o à đi nữa, nhưng không có tư duy lý luận thì người ta cũng không thể liên hệ hai sự kiện trong giới tự nhiên với nhauđược, hay không thể hiểu được mối liên hệ giữa hai sự kiện đó sự khinh thường lý
Trang 29luận, con đường đưa chúng ta đến chỗ suy nghĩ theo lối tự nhiên chủ nghĩa, tức l suyà nghĩ sai” [65, tr.508] Trong khi phân tích vai trò, khả năng của tư duy lý luậnPh.Ăngghen đã chống lại những quan điểm duy tâm, phép siêu hình, thuyết bất khả tri
v cà ả chủ nghĩa duy vật tầm thường, đấu tranh chống lại các khuynh hướng phảnkhoa học thuộc nhiều m u à sắc khác nhau Ông cũng cảnh tỉnh rằng, sự khinh miệt phépbiện chứng, tư duy lý lụân sẽ dẫn đến dị đoan, sa v o thà ần linh học Theo Ph.Ăngghen:
“một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tưduy lý luận” [65, tr.489] Đây l mà ột luận điểm h m súc, khái quát và ề vai trò của tưduy lý luận
Nh trià ết học Bungari Assen Côgiarốpđã phân tích vai trò tích cực của tư duy lý
luận thể hiện ở các khía cạnh: một là s, khả năng khám phá hoặc phát hiện, thông qua
các chức năng n y tà ư duy con người mới khám phá ra được cấu trúc những thuộctính và những qui luật chung về thế giới xung quanh Hai là s, khả năng tiên đoán hoặc
dự kiến của tư duy, chức năng n y cho phép thà ấy trước được sự phát triển tất yếuhay có thể xảy ra của chúng trong tương lai v cho phép con ngà ười hiểu biết trước về
chúng Ba là s, khả năng sáng tạo hay còn gọi l sà ự phát minh với sự hỗ trợ, kết hợpcủa những thuộc tính đã biết nhằm tạo ra những biến đổi nhất định theo ý muốn chủquan của con người [104, tr.393-394]
Vai trò của tư duy lý luận có thể hiện trong mối quan hệ với lý luận Như chúng ta
đã biết, lý luận l mà ột hệ thống quan niệm, quan điểm dựa trên sự tổng hợp, khái quátcác tri thức về tự nhiên v xã hà ội trong quá trình hoạt động của con người hướng đến
sự giải thích, l m sáng tà ỏ những mối liên hệ phổ biến v các quy luà ật phát triển củahiện thực khách quan Lý luận l hình thà ức phát triển cao nhất, phức tạp nhất của tri
Trang 30thức khoa học v nó chà ỉ được hình th nh thông qua tà ư duy lý luận Chúng ta khôngthể có được lý luận, hệ thống lý luận về sự vật, hiện tượng nếu không có, không trảiqua quá trình tư duy lý luận Hay nói cụ thể hơn, tư duy lý luận l công cà ụ sản sinh ra
lý luận; lý luận l s à s ản phẩm của tư duy lý luận, l sà ản phẩm của quá trình nhận thứckhoa học
1.2 Tính tất yếu của việc đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội
1.2.1 Quan niệm về đổi mới tư duy lý luận v à đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội
Trong những năm gần đây, khái niệm đổi mới v cùng và ới nó là đổi mới tư duy, đổi
mới tư duy lý luận có tần suất xuất hiện nhiều trên các phương tiện truyền thông,
trong các văn kiện, sách báo v cà ả trong ngôn ngữ thường ng y Khái nià ệm đổi mớiphản ánh xu hướng vận động, phát triển khách quan của các sự vật, hiện tượng và
h mà chứa cả nguyện vọng chủ quan của chủ thể tư duy, chủ thể hoạt động Tuỳ thuộc
v o nhà ững điều kiện cụ thể, đổi mới có thể được hiểu v có nà ội h m khácà nhau,nhưng nghĩa chung nhất được hiểu, đó là sự thay cái cũ bằng cái mới tốt hơn Theo
Từ điển tiếng Việt (xuất bản năm 1992) thì đổi mới l thayà đổi cho khác hẳn vớitrước, tiến bộ hơn, khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ v à đáp ứng yêu cầu của sự
phát triển [112, tr.343] Cuốn Đại từ điển tiếng Việt ( xuất bản năm 1998) định nghĩa đổi mới l thay à s đổi hoặc l m cho à s thay đổi tốt hơn, tiến bộ hơn so vớí trước [5, tr.657].
Như vậy, đổi mới không phải l bà ất kỳ sự vận động, thay đổi n o, m à à đó l sà ự thayđổi theo hướng tốt hơn, tiến bộ hơn, nó cho phép khắc phục được tình trạng lạc hậu,trì trệ và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển Đổi mới l mà ột trạng thái hoạt động củacon người, v có nhià ều loại hình khác nhau Tựu trung, có thể phân th nhà hai loại
Trang 31chính: đó l , à đổi mới dưới dạng hoạt động nhận thức, tinh thần như đổi mới tư duy,phương thức ứng xử, phương pháp nghiên cứu, phương pháp giảng dạy , và đổimới dưới dạng hoạt động thực tiễn thể hiện trên các lĩnh vực của đời sống xã hộinhư chính trị, kinh tế, văn hoá, cơ chế tổ chức, quản lý, công nghệ sản xuất
Cùng với khái niệm đổi mới, khái niệm cải cách, cải tổ cũng l nhà ững khái niệm
xuất hiện nhiều trong những năm vừa qua Khái niệm cải cách được hiểu đó l sà ựsửa đổi cho hợp lý, cho phù hợp với tình hình mới, đáp ứng yêu cầu của tình hình
khách quan Cuốn Từ điển bách khoa Việt Nam - tập 1 định nghĩa, cải cách l sà ự sửađổi, cải thiện, đổi mới một số mặt của sự vật, của đời sống xã hội m không l m thayà à đổi sự căn bản, không l m thay à đổi nền tảng của chế độ xã hiện h nh [45,à tr.335]
Còn khái niệm cải tổ, theo Từ điển tiếng Việt có hai nghĩa: một là s, tổ chức lại cho khác hẳn trước; hai là s, thay đổi căn bản v to n dià à ện về tổ chức, thể chế, cơ chếtrong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, nhằm khắc phục hiệu quả sai lầm trong
quá khứ, đưa xã hội tiến lên [112, tr.117] Cuốn Đại từ điển tiếng Việt cũng giải nghĩa
tương tự như vậy v xác à định rõ hơn bối cảch trong đó khái niệm cải tổ thường được
đề cập thường l nói à đến việc sắp xếp tổ chức, cơ cấu chính quyền [5, tr.241]
Ở đây, không thể không đề cập khái niệm cách mạng Khái niệm cách mạng được
hiểu l sà ự thay đổi căn bản, sự nhảy vọt về chất lượng trong quá trình phát triển của
tự nhiên, xã hội hoặc nhận thức Trong lĩnh vực xã hội, cách mạng xã hội l nhà ữngcuộc biến đổi xã hội - chính trị lớn v cà ăn bản, được thực hiện bằng việc lật đổ mộtchế độ lỗi thời, lập nên một chế độ xã hội mới mới, tiến bộ Cách mạng xã hội chỉxảy ra khi những mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt dẫn đến khủng hoảng xã hội đòihỏi phải giải quyết bằng đấu tranh quân sự, bằng bạo lực cách mạng Cách mạng xã
Trang 32hội l bà ước ngoặt căn bản trong đời sống xã hội, kết quả của nó dẫn đến sự ra đờimột phương thức sản xuất mới, một hình thái kinh tế - xã hội tiến bộ hơn.
Có thể nói, các khái niệm cách mạng, cải tổ, đổi mới đã được dùng từ lâu, lẽ dĩnhiên, cách hiểu, nội h m cà ủa chúng qua mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử ng yà
c ng phongà phú hơn Điểm giống nhau l à ở chỗ đều có nguyên nhân xuất phát từ yêucầu giải quyết những bế tắc, những khủng hoảng trong xã hội v mà ục đích, bản chấtcủa nó đều nhằm cải tạo xã hội theo hướng tốt đẹp hơn, tiến bộ hơn
Trong lịch sử nhân loại, tiến trình phát triển của mỗi nước có những biểu hình đặcthù, không phải nước n o cà ũng trải qua những cuộc cải biến cách mạng, cải cách, cải
tổ, đổi mới giống nhau Chính điều n y à đã tạo nên sự phong phú, đa dạng trên conđường phát triển của mỗi nước
Như đã trình b y à ở trên, đổi mới không những được dùng để chỉ những thay đổitrong họat động của đời sống xã hội m còn chà ỉ những thay đổi trong hoạt động nhậnthức, tinh thần, tư duy của con người Đổi mới trong hoạt động thực tiễn xã hội và đổi mới trong tư duy có mối quan hệ biện chứng với nhau, đổi mới nhận thức, tư duycủa con người sâu sắc v à đúng đắn l à điều kiện để những đổi mới trong hoạt động
xã hội diễn ra một cách tích cực, đúng hướng v có kà ết quả Chính trên những ýnghĩa ấy, m khi khà ởi xướng đường lối đổi mới, Đảng ta nhấn mạnh ý nghĩa quantrọng và xác định điểm khởi đầu của đổi mới l à đổi mới tư duy Chúng ta không thểđổi mới phong cách, công tác tổ chức v cán bà ộ cũng như tất cả các vấn đề, lĩnh vựckhác nếu không đổi mới tư duy, nếu không có tư duy mới về lĩnh vực đó
Tư duy l quá à trình suy nghĩ, vận dụng các khái niệm, phạm trù theo những nguyêntắc lôgích chặt chẽ nhằm đạt đến chân lý, l quá trình tái tà ạo lại hiện thực dưới dạng
Trang 33tinh thần, l sà ự suy nghĩ của con người nhằm nhận thức bản chất sự vật Do vậy, đổi
mới tư duy, trước hết l à đổi mới quá trình suy nghĩ, quá trình vận dụng các kháiniệm, phạm trù để phản ánh hiện thực khách quan Quá trình n y khôngà phải l thayà đổi các quy luật, các thao tác lôgích của tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp, quynạp, khái quát, trìu tượng, m chính l sà à ự vận dụng tốt các quy luật, các thao tác đó
theo phương pháp biện chứng duy vật Hai là s, đổi mới tư duy còn l sà ự thay đổi quanniệm, nội dung sự hiểu biết, nội dung tri thức của con người về sự vật, về hiện thựckhách quan Đổi mới tư duy lý luận cũng gồm hai khía cạnh trên Nhưng với tư cách
l hình thà ức phản ánh cao nhất hiện thực khách quan bởi con người, đổi mới tư duy
lý luận l sà ự đổi mới một cách căn bản, sâu sắc hơn, hệ thống, to n dià ện hơn về sựvật, hiện tượng Đổi mới tư duy lý luận đó l vià ệc thay đổi các suy nghĩ v phà ươngpháp tiếp cận trong việc nghiên cứu đối tượng Quá trình đổi mới tư duy lý luậnchính l quáà trình l m cho tà ư duy bắt kịp v có phà ần dự đoán trước được sự pháttriển của sự vật, nâng cao tính khoa học, tính cách mạng v cà ả khả năng cải tạo thựctiễn của nó Sự đổi mới n y có ý nghà ĩa định hướng, chỉ đạo để tạo ra một sự pháttriển có tính bước ngoặt
Ở đây, luận án chủ yếu chỉ xem xét, phân tích khía cạnh thứ hai v cà ụ thể hơn đó
l à đổi mới tư duy lý luận về chủ nghịa xã hội của Đảng ta Trong những năm qua,
trong các văn kiện, báo cáo của Đảng, các chuyên luận nghiên cứu khi đề cập đổi mới
tư duy, đổi mới tư duy lý luận chính l à đề cập đến đổi mới tư duy lý luận về chủnghĩa xã hội, bao gồm những đổi mới về quan niệm, nhận thức của chúng ta về chủnghĩa xã hội v con à đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta
Trang 34Đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội l à đổi mới phương pháp tư duy, khắcphục lối tư duy kinh nghiệm, giáo điều, chủ quan, siêu hình về chủ nghĩa xã hội; là loại bỏ những quan điểm, nhận thức sai trái, khắc phục những quan niệm, nhận thứckhông đúng, lạc hậu, lỗi thời; đó còn l sà ự đổi mới những kiến thức, tri thức củachúng ta về chủ nghĩa xã hội v con à đường đi lên chủ nghĩa ở nước ta Đổi mới tưduy lý luận về chủ nghĩa xã hội không phải l phà ủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, thayđổi những nguyên lý cơ bản về chủ nghĩa xã hội, m l nhà à ận thức lại sâu sắc hơn,đúng đắn hơn, để trở về với tư duy khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin Và do đó,đổi mới tư lý luận về chủ nghĩa xã hội không phải l thay à đổi mục tiêu xã hội chủnghĩa, không phải l ho i nghi tính à à ưu việt của chủ nghĩa xã hội, m là à l m cho mà ụctiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn, bằng nhữngbước đi thích hợp Đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội còn là sự phát triển,
bổ sung chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những th nhà tựu lý luận củaĐảng ta trong điều kiện đổi mới
1.2.2 Tính tất yếu của việc đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội
Từ cuối những năm 1970, nền kinh tế nước ta đứng trước những mất cân đốinghiêm trọng đã đẫn đến một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo d i Bià ểu hiện rõnhất l sà ản xuất xã hội trì trệ, lạm phát tăng nhanh, lòng tin của nhân dân đối với sựlãnh đạo của Đảng v sà ự điều h nh quà ản lý của Nh nà ước giảm sút Cuộc khủnghoảng n y thà ật sự l mà ột thách thức lớn đối với cả dân tộc ta
Nguyên nhân sâu xa, cơ bản dẫn đến khủng hoảng do chúng ta đã nhận thức sai, vậndụng không đúng chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất l lý luà ận về chủ nghĩa xã hội, về thời
kỳ quá độ, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cũng như quá trình xây dựng chủ
Trang 35nghĩa xã hội ở nước ta Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin như họcthuyết về hình thái kinh tế - xã hội, về đấu tranh giai cấp, về quy luật quan hệ sảnxuất phải phù hợp với tính chất v trình à độ phát triển của lực lượng sản xuất, quyluật kiến trúc thượng tầng phải phù hợp với hạ tầng cơ sở, những quy luật của thời
kỳ quá độ bị hiểu v già ải thích sai lệch Những sai lầm n y à đã dẫn đến sai lầm lớnnhất trong việc xác lập, xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội - đó là mô hình chủ nghĩa
xã hội nh nà ước
Trong nhiều thập kỷ, quan niệm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội còn đơn giản và chưa rõ r ng,à chúng ta chưa hình dung được một xã hội xã hội chủ nghĩa phù hợp vớiđặc điểm của nước ta Đối với chủ nghĩa tư bản, chúng ta cũng chưa có sự nghiên cứuđầy đủ v to n dià à ện, khách quan với tư cách l mà ột hình thái kinh tế - xã hội, chưathấy rõ những mặt tiêu cực cần phủ định v nhà ững mặt tích cực cần phải chọn lọc để
kế thừa Do đó, khi đề ra quan điểm bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, chúng ta chưaxác định rõ l bà ỏ qua cái gì, cái gì l quá trình phát trià ển lịch sử - tự nhiên không thể
bỏ qua Chúng ta đã chủ quan duy ý chí, nóng vội muốn tiến nhanh, tiến mạnh lên chủnghĩa xã hội, vi phạm quá trình phát triển lịch sử - tự nhiên Chúng ta đề ra quan điểm
về thời kỳ quá độ, nhưng chưa hình dung rõ nội dung phong phú, đa dạng của nó,chưa phân biệt rõ kiểu quá độ trực tiếp v kià ểu quá độ gián tiếp Đại hội lần thứ IVđưa ra thời gian thực hiện thời kỳ quá độ l 20 nà ăm m không tính hà ết những khókhăn của một nước nông nghiệp lạc hậu lại bị chiến tranh t n phá à đi lên chủ nghĩa xãhội, đòi hỏi phải trải qua một thời gian d i, bao gà ồm nhiều bước quá độ trung gian Do
đó, đã dẫn đến nhiều sai lầm trong cải tạo xã hội chủ nghĩa đôí với nông nghiệp, côngthương nghiệp tư bản tư doanh Chúng ta đã đồng nhất hợp tác hoá với tập thể hóa
Trang 36ruộng đất, nên đã nhanh chóng xoá bỏ ngay kinh tế hộ nông dân, đưa ruộng đất v oà hợp tác xã, điều n yà l m cho trong quan hà ệ sở hữu v quà ản lý, người nông dân khônggắn bó với ruộng đất, không gắn bó với hợp tác xã, do đó tính ưu việt của tập thể hoá
ng y c ngà à giảm sút Trong các lĩnh vực công nghệp, thương nghiệp, dịch vụ cũng đãtồn tại nhận thức cho rằng, c ng có nhià ều th nh phà ần quốc doanh, tập thể thì c ng cóà nhiều chủ nghĩa xã hội, nên chúng ta đã áp dụng nhiều biện pháp cải tạo chủ quan, duy
ý chí Từ những nhận thức mơ hồ ấy dẫn đến phủ nhận kinh tế h ng hoáà v rà ơi v oà
ảo tưởng về khả năng xuất hiện một thứ chủ nghĩa xã hội thuần khiết, nhanh chóng rađời, một chế độ sở hữu thuần nhất chỉ với kinh tế quốc doanh và tập thể Sai lầm đó
l m mai mà ột nhiều tiềm năng kinh tế cuả xã hội, gạt bỏ một cách trái tự nhiên sự tồntại của nhiều th nh phà ần kinh tế, trói buộc v kìm hãmà sự phát triển của lực lượngsản xuất, kéo d i sà ự non yếu, tính hình thức của quan hệ sản xuất
Về vấn đề công nghiệp hoá, chúng ta cũng có những quan niệm chưa đúng như,chưa xác định đươc đặc điểm công nghiệp hóa, chưa nhận thức đúng đắn xuất phátđiểm của quá trình công nghiệp hoá ở nước ta, trong văn kiện có nói kết hợp côngnghiệp với nông nghiệp, nhưng trên thực tế chưa kết hợp ngay từ đầu công nghiệpvới nông nghiệp, chúng ta đã đồng nhất công nghiệp hoá với việc xây dựng những xínghiệp công nghiệp có quy mô lớn, hiện đại, thiên về phát triển công nghiệp nặng,chưa gắn công nghiệp hóa với quá trình hiện đại hoá, thị trường hoá, nhằm tạo điềukiện đồng bộ cho công nghiệp phát triển
Về cơ chế quản lý, đã kéo dài quá lâu cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp Với
mô hình kinh tế hiện vật, với phương thức quản lý tập trung và kế hoạch bị áp đặt từ bêntrên đã dẫn đến sự phát triển chủ nghĩa quan liêu trong bộ máy Nhà nước và trong các tổ
Trang 37chức kinh tế Nền sản xuất xã hội và hoạt động kinh tế vừa cứng nhắc vừa thụ động, hiệuquả kinh tế giảm, lợi ích cá nhân của người lao động và lợi ích xã hội bị tổn hại Phươngthức quản lý tập trung quan liêu, hành chính mệnh lệnh với cơ chế bao cấp và bình quân
đã làm biến dạng các quan hệ xã hội, làm triệt tiêu các động lực phát triển xã hội Về hệthống trính trị, chưa xác định rõ vị trí, vai trò của các bộ phận trong hệ thống chính trị,trong đó có mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý, lý luận về xây dựngnhà nước trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội
Điều đáng tiếc là những quan niệm, nhận thức không đúng trên đây lại chậm đượcđổi mới, chậm khắc phục sửa chữa dẫn đến những khủng hoảng kinh tế - xã hội gaygắt ở nước ta từ cuối những năm 1970
Với tinh thần tự phê bình và đổi mới, Đại hội lần thứ VI của Đảng đã chỉ rõ: “Nhữngsai lầm và khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế, xã hội, bắt nguồn từ những khuyết diểm
trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng Đây là nguyên nhân của
mọi nguyên nhân” [19, tr.27] Những khuyết điểm trong lĩnh vực tư tưởng chính là sự lạchậu về tư duy, sự bất cập về nhận thức, và dó là lý do phải đặt ra yêu cầu về đổi mới tưduy Đổi mới tư duy thực chất là xây dựng cơ sở lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xãhội và quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, là trang bị vũ khí lý luận và tưtưởng cho sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta Chính trên ý nghĩa đó mà một trong nhữngbài học quan trọng nhất mà Đại hội lần thứ VI đã tổng kết là “Đảng phải luôn luôn xuấtphát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Năng lực nhận thức vàhành động theo quy luật là điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng.” [19,tr.30]
Trang 38Thực trạng nước ta từ cuối những năm 1970 đã bước v o mà ột cuộc khủng hoảngkinh tế - xã hội trầm trọng v kéo d i, à à đó l thách thà ức lớn nhất đối với cả dân tộc ta
v cà ũng là nguyên nhân quan trọng nhất đòi hỏi Đảng ta phải nhận thức, đổi mới tưduy lý luận trong xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, trong tổ chức thựchiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Một nguyên nhân quan trọng cũng cần đề cập ở đây, đó l thà ực trạng của “chủ thể
tư duy” Đảng ta đã thừa nhận những lạc hậu, yếu kém về tư duy lý luận của cán bộ,đảng viên Điều n y thà ể hiện ở sự hạn chế về trình độ, ở năng lực phân tích, tổnghợp, khái quát, tổng kết thực tiễn, ở khả năng dự báo khoa học Sự hạn chế, yếu kém
n y à đã dẫn đến tình hình chung l , à đối với cán bộ lãnh đạo l bà ệnh chủ quan, duy ýchí; đối với cán bộ l m công tác thà ực tiễn l mà ắc bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, giảnđơn; đối với cán bộ nghiên cứu lý luận l bà ệnh giáo điều, kinh viện, sao chép sách vở,
ít sáng tạo Thực trạng tư duy lý luận như vậy đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoạchđịnh, xây dựng v tà ổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và
Nh nà ước Đây cũng l nguyên nhân dà ẫn đến thực trạng kinh tế - xã hội nước ta đãtrình b y à ở trên Do đó, Đảng ta đã xác định, đổi mới nhận thức, đổi mới tư duy là yêu cầu đầu tiên khi bước v o công tác à đổi mới
Mặt khác, từ cuối những năm 1970 - đầu những năm 1980, xu thế đổi mới, cải cách
đã diễn ra khá mạnh mẽ trên thế giới Đó cũng l nhân tà ố tác động đến quá trình đổimới tư duy lý luận ở nước ta v à đòi hỏi chúng ta phải đổi mới kịp thời Những nhân
tố tác động ấy l :à
- Tình hình đổi mới, cải cách, cải tổ của các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới
Có thể nói chủ nghĩa xã hội thực hiện đã trải qua một chặng đường d i khai phá, thà ử
Trang 39nghiệm v à đã có những cống hiến có ý nghĩa lịch sử đối với sự tồn tại v phát trià ểncủa lo i ngà ười tiến bộ Nhưng bên cạnh những th nh tà ựu, những ưu việt, chủ nghĩa
xã hội thực hiện đã bộc lộ những yếu kém, hạn chế, không theo kịp yêu cầu phát triển.Những hạn chế của các nước xã hội chủ nghĩa đều bắt nguồn từ những sai lầm trongnhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội Đó l sai là ầm muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội,chủ nghĩa cộng sản một cách nhanh chóng, không cần những bước trung gian, nhữnggiai đoạn quá độ; muốn xây dựng một kiểu chủ nghĩa xã hội với một hệ thống chínhtrị tập trung, quan liêu Tình hình trên đây đã đặt chủ nghĩa xã hội trước thử thách hếtsức gay gắt v các à đảng cộng sản ở hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa với các mức
độ khác nhau đã nhận thức được sự tất yếu phải đổi mới, cải cách, cải tổ chủ nghĩa
xã hội Có thể nói, những tư tưởng, chủ trương của quá trình cải tổ, cải cách ở cácnước xã hội chủ nghĩa thời gian đầu những năm 1980 đã có tác động tích cực đối vớicông cuộc đổi mới ở nước ta, trong đó những cải cách ở Trung Quốc đã gợi mở nhiềuvấn đề có ý nghĩa tham khảo tốt cho chúng ta
- V o thà ời gian đó, cuộc cách mạng khoa học v công nghà ệ đã v à đang diễn ramạnh mẽ v à đạt được nhiều th nh tà ựu kỳ diệu trong mọi lĩnh vực Những th nh tà ựucủa cuộc cách mạng khoa học v công nghà ệ đã l m cho là ực lượng sản xuất có bướcphát triển mới, l mà thay đổi cơ cấu kinh tế thế giới Những th nh tà ựu v sà ự pháttriển mạnh mẽ và khoa học v công nghà ệ không chỉ đem lại sự đổi mới v nâng caoà nhận thức về nhiều vấn đề, về nhiều lĩnh vực m à đã tác động sâu sắc đến tư duychính trị, tư duy triết học, tư duy kinh tế Nó đã thực sự trở th nh mà ột nhân tố mới,một động lực mới tác động đến sự phát triển của tất cả các lĩnh vực, trong đó có nhậnthức tư duy của chúng ta Cuộc cách mạng khoa học v công nghà ệ cũng đã thức đẩy
Trang 40xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới, l m gia tà ăng mối quan hệ, sự tuỳ thuộcvới nhau giữa các nền kinh tế trên thế giới Những vấn đề trên đây đã tác động mạnh
mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, đòi hỏi chúng ta phải có những đổimới căn bản về tư duy lý luận để phát định rõ chiến lược phát triển đất nước v già ảiđáp câu hỏi: nước ta có khả năng đi lên chủ nghĩa xã hội bằng con đường phát triển
bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa hay không?
Cuối cùng, chủ nghĩa xã hội với tư cách l mà ột khoa học cần phải được đối xử nhưmột khoa học Các nh sáng là ập chủ nghĩa xã hội khoa học cho rằng học thuyết của cácông chỉ l nhà ững điểm xuất phát, l phà ương pháp của sự tìm tòi, l kim chà ỉ nam của
h nhà động Các nh kinh à điển mới chỉ dựa ra mô hình lý luận chung của những xuhưởng phát triển xã hội l m à định hướng để nhận thức v cà ải tạo xã hội, còn về cấutrúc của xã hội mới, các ông chỉ mới đề cập đến những nguyên tắc cơ bản của nó Sứcsống, sự bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin l sáng tà ạo, l phát trià ển không ngừng.Tinh thần sáng tạo đòi hỏi phải bám sát thực tiễn, từ thực tiễn mới mà khái quát, bổsung chủ nghĩa Mác - Lênin bằng những kết luận mới Trước những đổi mới phongphú, đa dạng v nhanh chónà g trên nhiều phương diện, chủ nghĩa xã hội khoa học, vớibản chất khoa học v sáng tà ạo cần phải được tiếp tục bổ sung v nâng cao khôngà ngừng bằng kiến thức mới, kinh nghiệm mới v nhà ững kết luận mới được rút ra từchính thực tiễn Điều đó cũng có ý nghĩa l chúng ta cà ần nhận thức lại chủ nghĩa xãhội khoa học, chống chủ nghĩa giáo điều, kinh viện, chống lối tư duy xơ cứng, rậpkhuôn
Yêu cầu nhận thức lại để trên cơ sở đó bảo vệ v phát trià ển chủ nghĩa xã hội khoahọc, chủ nghĩa Mác - Lênin trở th nh mà ột yêu cầu cấp bách của cuộc sống Muốn vậy,