Tổng quan về dân tộc Khơ Mú, đặc điểm kinh tế và văn hoá truyền thống của dân tộc Khơ Mú.Tài liệu có hình minh hoạ đuợc tổng hợp từ các nguồn thu thập đuợc từ trên internet. Đuợc dung cho mục đích tham khảo và làm tài liệu cho các đề tài. Xin mời xem thêm phần mục lục để thấy rõ cấu trúc của tài liệu.
Trang 1N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 1 | 18
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC KHƠ MÚ
MỤC LỤC:
1 Vài Nét Về Dân Tộc Khơ Mú 2
2 Kinh Tế Truyền Thống 2
2.1 Trồng trọt 2
2.2 Chăn nuôi 3
2.3 Khai thác tự nhiên 4
2.4 Ngành nghề thủ công 5
2.5 Trao đổi, mua bán 5
3 Văn hóa truyền thống 6
3.1 Làng 6
3.2 Nhà ở 7
3.3 Gia đình 8
3.4 Trang phục 9
3.5 Trang sức 9
3.6 Ẩm thực 10
3.7 Phương tiện vận chuyển 10
3.8 Ngôn ngữ 11
3.9 Tín ngưỡng tôn giáo 11
3.10 Lễ hội 12
3.11 Tục lệ cưới xin 13
3.12 Tập quán sinh đẻ nuôi con nhỏ 16
3.13 Tập quản tang ma 17
3.14 Văn nghệ dân gian 18
Trang 2N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 2 | 18
1 Vài Nét Về Dân Tộc Khơ Mú
Địa bàn cư trú:
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Khơ Mú ở Việt Nam có dân
số 72.929 người, cư trú tại 44 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Khơ Mú cư trú tập trung tại các tỉnh: Nghệ An (35.670 người, chiếm 48,9% tổng số người Khơ Mú tại Việt Nam), Điện Biên (16.200 người), Sơn La (12.576 người), Lai Châu (6.102 người), Yên Bái (1.303 người), Thanh Hóa (781 người)
2 Kinh Tế Truyền Thống
2.1 Trồng trọt
Người Khơ Mú chủ yếu sinh sống bằng nghề trồng trọt trên nương rẫy Phương thức canh tác chính là phát nương, đốt nương làm rẫy Người Thái có câu: “Xá ăn theo lửa, Thái ăn theo nước” là để chỉ hình thức canh tác này Với hình thức canh tác này, gậy chọc lỗ có vai trò quan trọng Trong truyền thống người Khơ Mú có hai loại gậy chọc lỗ: một loại làm bằng gỗ thường, một loại làm bằng gỗ rất cứng, dùng được lâu Loại làm bằng gỗ thường để dùng tạm thời một lần Dùng xong vứt, khi cần lại chặt cây gỗ khác, vót nhọn
là thành cây gậy chọc lỗ mới Loại làm bằng gỗ rất cứng, chỉ mọc trên núi đá, mà tiếng Thái gọi là “mạy cu”, hoặc bằng gỗ lim, gỗ táu Gậy được đẽo, gọt, vát đều hình móng chân hươu, đôi khi còn bịt sắt Loại gậy chọc lỗ này dùng được lâu dài, từ vụ này sang vụ khác, thông thường dùng được vài năm Loại gậy chọc lỗ này chắc, bền, dùng tiện lợi, năng suất cao Ngoài gậy chọc lỗ, người Khơ Mú còn dùng rìu, dao, cuốc
Dân số : 72.929 người (2009) Ngôn Ngữ: thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me, ngữ hệ Nam Á
Tên gọi khác: Xà, Tày Hạy, Thềnh, Mứn Xen
Nhóm địa phương: Xá cẩu, Mứn Xen, Pu Thênh, Tềnh, Tày Hạy
Địa bàn cư trú:
Trang 3N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 3 | 18
Cây trồng chính là lúa nương, ngô,
khoai, sắn, thuốc lá; các loại đậu đỗ, bầu
bí và các loại cây khác
Để trồng trọt đạt năng suất cao và hiệu
quả, đồng bào Khơ Mú có nông lịch
riêng phù hợp với khí hậu vùng đồng bào
cư trú và các loại cây trồng khác nhau
So với hệ thống lịch âm thì lịch của
người Khơ Mú sớm hơn hai tháng Quy
trình trồng trọt: chặt cây, đốt cây, tra hạt,
làm cỏ, thu hoạch được quy định
theo lịch rất cụ thể, rõ ràng
2.2 Chăn nuôi
Dân tộc Khơ Mú cũng như các dân tộc khác sinh sống ở Tây Bắc và miền Tây Nghệ An
ít chăn nuôi gia súc, gia cầm Phương thức chăn nuôi chủ yếu là chăn thả, cho ăn hai bữa, bữa sáng lúc mới thả ra và bữa tối trước khi vào chuồng ngủ, ban ngày tự đi kiếm ăn Chăn nuôi lợn, gà, vịt chủ yếu phục vụ cúng bái trong các dịp lễ tết, cúng ma khi có người ốm đau, hoặc làm thịt đãi khách khi có khách đến chơi nhà
Đồng bào Khơ Mú có kinh nghiệm chọn giống gia súc lớn Trâu, bò có chân to và cao, cổ
to và ngắn là giống tốt, dễ nuôi Đồng bào chưa có tập quán làm chuồng trại gia súc riêng, mà nhốt ngay gầm sàn nhà người ở Đồng bào có kinh nghiệm cho trâu, bò ăn cỏ có muối vào các buổi chiều tối, một mặt để gia súc có đủ chất, có sức khỏe, mặt khác luôn nhớ về nhà vào buổi tối Trâu, bò vào mùa cày kéo và ngựa (sau chuyển thồ hàng thường) được cho ăn thêm ngô xay nấu chín
Thuốc lá sau khi người Khơ mú thu hoạch và phơi khô (Ảnh sưu tầm)
Chăn nuôi gia
minh họa)
Trang 4N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 4 | 18
Gia súc nhỏ: Con lợn được nuôi phổ biến trong từng gia đình Giống lợn tốt là loại lợn lưng thẳng (không võng), chân to, đuôi mập, lông thưa và ngắn Đồng bào ưa thích giống lợn đen tuyền Con dê được nuôi ít hơn Chỉ một số gia đình và một số vùng nuôi dê Con chó được nuôi trong từng gia đình nhằm mục đích giữ nhà, đuổi cáo đến gần nhà rình bắt
gà Mỗi khi đi rừng người Khơ Mú thường gọi chó đi cùng
Gia cầm được nuôi nhiều trong từng hộ Mỗi hộ nuôi hàng chục con gia cầm lớn nhỏ khác nhau Nuôi gia cầm chủ yếu làm vật hiến sinh trong các dịp lễ tết Trong các nghi lễ gieo trỉa, lễ cơm mới, tiết gà được vẩy vào lúa mới, vào hạt giống
2.3 Khai thác tự nhiên
Với nền kinh tế tự túc, tự cấp, sản xuất không bao giờ đáp ứng được mọi nhu cầu về ăn Nếu sản xuất nông nghiệp: trồng trọt, chăn nuôi đáp ứng cơ bản nhu cầu lương thực, thì khai thác tự nhiên: hái lượm, săn bắt chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu rau xanh, thịt - thực phẩm cho đồng bào
Hái lượm: Đồng bào hái măng rừng, măng có hai loại măng đắng và măng ngọt Măng đắng mọc vào tháng 2, tháng 3; còn măng ngọt mọc vào khoảng tháng 5 đến tháng 7 hàng năm Măng có thể ăn tươi hoặc có thể làm măng chua hoặc thái mỏng, phơi khô để dành
ăn dần Rau rừng có nhiều loại khác nhau Có loại mọc trong hang các dãy núi đá vôi, thường ít gặp, gọi là sù lạ, hái về đồ lên ăn chấm muối; lạ chin (mọc trong rừng già, nơi
có nhiều cây cao); lạ xương nếch hái về nấu canh hoặc xào mỡ ăn có vị ngọt Nhiều loại rau rừng khác, tiếng Thái gọi là: phác triệu, phác ban, phác ngoa, phác đúa, phác ma mùa nào thức ấy cũng được đồng bào hái về làm thực phẩm ăn thường ngày trong mùa Các loại nấm rừng, củ rừng, quả rừng được đồng bào quan tâm thu hái về ăn sau mỗi ngày đi nương về Rừng còn là nơi cung cấp một số loại thuốc chữa bệnh cho đồng bào
Săn bắn: Săn bắn là hoạt động vừa bảo vệ mùa màng, bảo vệ làng bản và cũng là bổ sung nguồn thực phẩm cho bữa ăn Có ba hình thức săn bắn chủ yếu là: săn bẫy, săn cá nhân
và săn tập thể Săn bẫy là hình thức săn phổ biến ở mọi vùng Đồng bào làm ra nhiều loại bẫy khác nhau: bẫy thòng lọng, bẫy hầm, bẫy phóng lao, bẫy cũi Săn cá nhân - săn rình thường được tiến hành vào ban đêm, có dùng đèn Cách săn này chỉ săn được những con thú: hoẵng, nai, lợn rừng, sóc, nhím Săn tập thể là cách săn dùng chó và tiếng mõ hò reo làm con thú hoảng sợ từ trong rừng ra, các thợ săn đón đường dùng súng, nỏ bắn hạ con thú Ngoài săn thú, đồng bào Khơ Mú còn đánh cá vào mùa mưa, khi các con suối đầy ắp nước Khi đó đồng bào dùng chài, lưới để đánh bắt cá Đồng bào còn khai thác nguồn sản vật quý khác như củ mài, thân cây báng
Trang 5N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 5 | 18
2.4 Ngành nghề thủ công
Nghề thủ công chính của người Khơ
Mú là nghề đan lát Bên cạnh đó còn
có nghề dệt và nghề mộc Nghề đan
lát là nghề thủ công truyền thống của
người Khơ Mú Đồng bào làm ra
nhiều sản phẩm như: gùi để đeo sau
lưng, mbung để gánh, các loại “ếp”
để đeo vai như chiếc giỏ; các loại đồ
đan sử dụng như đồ gỗ gia đình của
các dân tộc khác như: bàn ăn, ghế
ngồi, mâm ăn, hòm đựng quần áo
Gùi của người Khơ Mú có nét giống với chiếc gùi của một số dân tộc nói ngôn ngữ Môn
- Khmer ở Tây Nguyên như Ba Na, Xơ Đăng, Mạ về hình thức, bởi chúng có đáy vuông, nhưng điểm khác là gùi ở Tây Nguyên có đáy bằng gỗ, còn đáy gùi của người Khơ Mú được đan bàng tre Tính phổ biến của đồ đan người Khơ Mú là ở chỗ nhiều đồ gia dụng
có giá trị, quà tặng, đồ sính lễ đều có mặt của sản phẩm đan lát và một số đồ đan lát của người Khơ Mú được nhiều dân tộc trong vùng như: Thái, Mông, Dao ưa thích
Nghề dệt, nghề mộc ở người Khơ Mú không mấy phát triển Họ tự dệt vải, tuy nhiên kỹ thuật và sản phẩm dệt của họ chưa đạt chất lượng cao như sản phẩm dệt của người Thái trong vùng Nhiều sản phẩm quan trọng như: váy, áo, chăn, đệm, gối thường phải mua của người Thái về dùng Nghề mộc của người Khơ Mú chỉ phục vụ cho nhu cầu của đồng bào tại chỗ Những sản phẩm có thể kể là: chõ đồ xôi, chiếc cối giã các loại hạt, củ, cầu thang gỗ, nhà sàn để ở với kỹ thuật lắp mộng
2.5 Trao đỏi, mua bán
Vùng người Khơ Mú cư trú vốn chưa phát triển về kinh tế, cho nên việc mua bán hầu như vắng bóng trong cuộc sống của họ Tuy nhiên việc trao đổi hàng theo hình thức vật đổi vật đã xuất hiện trong đồng bào, đồng bào thường lấy nông sản, đồ đan lát, gia súc để đổi với người Thái lấy vải mặc, đổi với người Mông lấy công cụ rèn Việc đổi vật lấy vật
do hai bên thỏa thuận Ở Điện Biên, sông Mã, muốn đổi chiếc váy cũ, phải mất số thóc đổ đầy chiếc váy đó dựng đứng; ở Mai Sơn (Sơn La) lấy con lợn ba gang (đo theo vòng bụng) đổi lấy khẩu súng kíp, con lợn hai gang đổi được một lưỡi cày; Ở Tuần Giáo một
“ếp” nho đổi được một gối nhồi bông
Nghề đan lát của người Khơ Mú (Ảnh sưu tầm)
Trang 6N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 6 | 18
Trong vùng người Khơ Mú có tồn tại một số vỏ ốc có tên khoa học là: Cauris Moneta - một loại ốc ở bờ biển Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Người Khơ Mú dùng loại
vỏ ốc này làm đồ trang sức, làm vật kỵ ma, làm đồ sính lễ của nhà trai đối với nhà trong các đám cưới Trong lịch sử, vỏ ốc Cauris Moneta từng được sử dụng như một loại tiền cổ ở nhiều dân tộc từ Nam Á xuống Nam Trung Quốc đến Bắc Đông Dương Sách Đại nam chính biên liệt truyện có ghi đến đời Minh Mệnh, tiền vỏ ốc còn phổ biển ở Luông Pra Băng Thời đó, một trăm vỏ ốc có giá trị ngang một tiền, một ngàn vỏ ốc có giá trị ngang một quan
3 Văn hóa truyền thống
3.1 Làng
Làng, tiếng Khơ Mú là cung là
đơn vị cư trú của một số gia đình
cùng chung sống trên một phạm
vi đất đai nhất định Mỗi làng đều
có tên Nhưng do cuộc sống du
canh, du cư nên việc di chuyển
làng thường xảy ra Mỗi khi di
chuyển làng đến nơi ở mới lại đặt
tên làng mới dựa vào điều kiện
địa lý tự nhiên Do cư trú xen kẽ
cùng người Thái, chịu ảnh hưởng
của văn hóa Thái, cho nên tên
làng của người Khơ Mú thường
đặt theo tên Thái Có làng định canh, định cư, nhưng cũng có làng du canh, du cư
Mỗi làng thường có vài đến vài chục ngôi nhà cư trú theo địa hình tự nhiên Xung quanh làng và từng ngôi nhà không có vườn cây ăn quả, không có vườn rau xanh Điều này thể hiện tính tạm bợ của người sinh sống trong bản Theo nguyên tắc chung, mỗi làng đều có vùng đất riêng cho từng gia đình sản xuất và đất rừng chung chưa khai phá Khi sinh sống trong làng thì mọi thành viên đều có quyền sử dụng đất và rừng cùng nguồn tài nguyên thuộc phạm vi làng Nhưng khi di chuyển làng đến chỗ mới thì họ mất quyền sử dụng tài nguvên làng cũ và thiết lập quyền sử dụng tài nguyên ở làng mới
Trong một làng Khơ Mú thường có nhiều dòng họ khác nhau cùng sinh sống Có thể có 3
- 4 dòng họ cùng cư trú trong một làng Với những làng định canh, định cư có thể có tới chục dòng họ cùng cư trú trong làng Trong những làng lớn như vậy thường có một hai dòng họ lớn đến ở trước, có công khai phá lập làng đầu tiên
Trang 7N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 7 | 18
Làng người Khơ Mú là một đơn vị xã hội, có bộ máy quản lý theo chế độ tự quản dân gian Bộ máy tự quản dân gian gồm hai nhân vật là: già làng và thầy cúng Già làng là người đứng đầu làng, thường là người của dòng họ có đông thành viên và là người có tuổi, có uy tín nhất trong làng Già làng điều hành các công việc đời thường của làng: duy trì sự hòa thuận giữa các thành viên trong làng, giải quyêt các xích mích, tranh chấp đất đai Công cụ điều hành là luật tục Già làng còn có quyền quyết định trong việc dời làng khi làng xảy ra hoả hoạn, bệnh dịch, mất mùa nhiều năm liền Thầy cúng là người phụ trách công việc liên quan đến đời sống tâm linh của dân làng Ông là người thay mặt dân làng giao tiếp với thần linh cứu giúp những người lâm bệnh qua cơn hiểm nghèo thông qua việc cúng chữa bệnh cho người ốm bằng cách bói toán, đuổi ma, trừ tà
3.2 Nhà ở
Dân tộc Khơ Mú ở nhà sàn là
chính, nhưng cũng có nơi làm
nhà nửa sàn, nửa đất Vật liệu
làm nhà là gỗ, tre, nứa, song
mây, lá mây và cỏ gianh Đây là
những nguyên vật liệu sẵn có tại
địa phương nơi đồng bào cư trú
Về kỹ thuật làm nhà, chủ yếu là
làm nhà cột ngoãm, buộc lạt,
một số rất ít nhà làm theo kỹ
thuật ghép mộng Nhà thường có
một gian hai chái, hoặc hai gian
hai chái, lợp cỏ gianh hay lá mây rừng, vách đan bằng nứa, mặt sàn lát tre bổ banh Nhà hầu như không có cửa sổ, chỉ một cầu thang lên xuống cho cả gia đình và khách Trong nhà có hai bếp, một bếp là bếp thiêng chỉ để đồ cơm, không được đun nấu thức ăn, còn bếp kia nấu nướng ăn uống cho cả gia đình Có “cửa ma” ở vách đầu hồi Cửa này chỉ mở khi chủ nhà qua đời Ở Tây Bắc đôi khi nhìn từ bên ngoài, ta không phân biệt được ngôi nhà Thái đen hay ngôi nhà người Khơ Mú, vì đều là nhà sàn, chái nhà lợp uốn vòng tròn hình mai rùa Nhưng khi vào trong nhà nhìn vào bếp nấu ăn, nếu trên bếp có đường dây nối lên mái để làm đường cho ma đi lại, thì đó là nhà người Khơ Mú
Trang 8N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 8 | 18
3.3 Gia đình
Gia đình ngưòi Khơ Mú là loại gia đình nhỏ, phụ quyền Trong gia đình thường có vợ, chồng cùng các con cái chưa lấy vợ, lấy chồng Ngoài ra, ta cũng gặp những gia đình nhỏ phụ quyền có thêm ông bà cùng ở chung và thậm chí ở Nghệ An tồn tại hiện tượng đại gia đình theo hình thức “tam, tứ đại đồng đường” Tuy nhiên loại gia đình gồm cặp vợ chồng và các con chưa lập gia đình chiếm vị trí chủ đạo
Tính chất phụ quyền trong gia đình người Khơ Mú thể hiện rõ ở quyền quyết định các việc quan trọng trong gia đình thuộc về ông chủ gia đình Trong gia đình chỉ con trai mới được kế thừa tài sản do bố mẹ để lại Tuy nhiên trong gia đình người Khơ Mú con gái lớn được quyền tích luỹ một số tài sản riêng khi lấy chồng Những tài sản riêng đó thường là quần áo, chăn đệm Quan hệ ứng xử con gái, con trai trong gia đình Khơ Mú tương đối bình đẳng, thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống ít thấy người trong nhà chửi bới lẫn nhau hoặc đánh đập trẻ em
Tiểu gia đình phụ hệ người Khơ Mú là một đơn vị kinh tế độc lập Các thành viên trong gia đình cùng lao động chung, hưởng thụ chung thành quả lao động đó Sự phân công lao động trong gia đình theo giới tính là rõ ràng Nam giới khỏe mạnh là người đảm đương những công việc nặng nhọc như: tìm đất, chọn đất làm nương, chặt cây lớn khi phát nương, đốt dọn các cây lớn chưa cháy hết, chọc lỗ khi gieo trồng, dựng lều nương, canh giữ nương khi mùa màng vào vụ thu hoạch Tài sản của mỗi gia đình thường có: ngôi nhà
ở, nương rẫy, công cụ sản xuất, lúa gạo đã thu hoạch về, các loại gia súc, gia cầm; đồ gia dụng, chăn đệm ngủ, quần áo
Quan hệ dòng họ: Dân tộc Khơ Mú có nhiều dòng họ như: họ Tmoong, họ Soong, họ Rvai, họ Lo, họ Seo, họ Chon, họ Cút, họ Chích, họ Ven, họ Hung, họ Oôc Do cư trú xen kẽ lâu đời với người Thái và chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Thái cho nên ở vùng Tây Bắc các tên họ của người Khơ Mú có chiều hướng chuyển sang lấy tên họ của người Thái Họ Rvai đổi thành họ Quàng; họ Om ở Điện Biên đổi thành họ Vi; họ Tmoong ở Tuần Giáo đối thành họ Lù, họ Lường
Họ của người Khơ Mú có thể lấy tên con thú, con chim hoặc tên thực vật như họ Rvai - con hổ, họ Tmoong - con chồn (cầy); họ Chưn đre - chim bìm bịp, họ Ric - chim cú, họ Pit - chim sẻ, họ Thrang - đại bàng; họ mang tên thực vật như họ Tvạ - dương xỉ Thông thường các dòng họ đều có truyền thuyết về dòng họ của mình và từ đó họ kiêng ăn thịt một số con vật: họ Tmoong kiêng ăn thịt cầy hương, họ Rvai kiêng săn bắn và ăn thịt hổ
Trang 9N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 9 | 18
Quan hệ giữa các dòng họ của người Khơ Mú cũng tương tự như người Thái Có ba mối quan hệ liên quan chặt chẽ với nhau Đó là tai hem - họ nội, dông êm, mạ êm - họ ngoại,
mạ cưn, dông quynh - họ nhà chồng các chị em gái
3.4 Trang phục
Do không có truyền thống trồng
bông dệt vải người Khơ Mú dùng
đồ đan lát, lâm thổ sản đổi với
người Lào, người Thái lấy trang
phục, rồi thêm bớt một số chi tiết
nào đó cho vừa ý người dùng Do
vậy, một số nơi phụ nữ Khơ Mú
mặc giống như người Lào, một số
nơi khác lại mặc trang phục giống
như người Thái đen cùng nơi cư
trú Bộ trang phục nữ thường có
khăn đội đầu, áo ngắn, yếm, dây lưng, váy và xà cạp Phụ nữ Khơ Mủ sinh sống ở Nghệ
An có hai loại khăn đội đầu: khăn thường dùng hàng ngày và khăn diện trong các dịp lễ tiết, hội hè Khăn đội đầu hàng ngày là chiếc khăn màu chàm do người Thái dệt; còn loại khăn thứ hai gồm hai nửa nối với nhau: một nửa là vải thô nhuộm chàm, còn nữa kia là vải dệt hoa văn Chị em phụ nữ Khơ Mú ở Tây Bắc đội khăn piêu mà người Thái đen hay đội Áo ngắn của phụ nữ Khơ Mú là áo màu chàm, xẻ ngực, nẹp cổ liền nẹp ngực Ở Nghệ An, hai đầu của nẹp ngực được nối thêm những dải vải khác màu; còn ở Tây Bắc cũng có nẹp cổ liền ngực Ở hai thân trước bên trong nẹp ngực còn đáp thêm một băng vải màu trắng, cũng to bằng nẹp ngực Trên băng vải đó có đính nhiều mảnh thiếc hình tròn - đồng tiền bạc Dưới gấu lại khâu thêm một băng vải hóa Do đó khi mặc phải chui đầu Tay áo đấu thăng vào thân áo, không khoét nách Yếm của phụ nữ Khơ Mú được thêu hoa văn ở đầu yếm, khâu hai dải vải đế khi mặc buộc sau cổ Dây lưng thường bằng lụa nhuộm màu vàng hay xanh Váy của
phụ nữ Khơ Mú ở Nghệ An là váy Lào;
còn phụ nữ ở Tây Bắc mặc váy cùng kiểu
với váy của người Thái đen; xà cạp làm
bằng vải màu chàm
3.5 Trang sức
Trang sức của người Khơ mú khá đơn
giản, chỉ gồm khuyên tai và vòng cổ, tất
Trang 10N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 10 | 18
cả đều làm từ bạc
3.6 Ẩm thực
Nguồn lương thực chính của người
Khơ Mú là lúa nương, giống nếp
nương Ngoài ra đồng bào còn có các
loại lương thực khác như: ngô, khoai,
sắn Ở những nơi có vườn, đồng bào
trồng một số loại cây thực phẩm như:
đậu đỗ, bầu bí, rau cải, dưa, ớt, cà
Nguồn thực phẩm khai thác từ tự
nhiên như: củ mài, thân cây báng
dùng để nấu rượu
Cách chế biến thức ăn của người Khơ
Mú có nét riêng Đồng bào hay ăn
cơm nếp, đồ bằng chõ Cơm tẻ được
nấu bằng nồi, nhưng ít khi ăn Gặp khi
đói kém đồng bào thường ăn cơm độn ngô, độn khoai, sắn Ngoài nấu cơm, người Khơ
Mú còn làm cơm lam như nhiều dân tộc khác Đồng bào Khơ Mú có nhiều cách chế biến thức ăn: đồ rau rừng, nấu canh, luộc, xào, tiết canh gà, lợn, dê, các món ăn tái, nướng, nộm, nặm brịa (nặm pịa) Món ăn đặc trưng của người Khơ Mú là món unr Món unr được chế biến bằng cách lấy các loại rau cho vào nồi nấu nhừ rồi giã nhuyễn, sau đó đun lại với các gia vị như tỏi, ớt Món này càng được ưa thích nếu có thêm ả chặn - thịt trâu thái miếng mỏng, để khoảng hai ngày cho
lên men rồi dùng xiên tre treo lên gác bếp
3.7 Phương tiện vận chuyển
Cũng như những đồng bào dân tộc ít
người khác, người Khơ mú sử dụng những
chiếc gùi làm vật mang vác trong cả sinh
hoạt lẫn sản xuất canh tác, nó không chỉ
tiện lợi mà còn tạo nên nét đặc sắc riêng
cho dân tộc
Mâm cổ của người Khơ mú (Ảnh sưu tầm)
Chiếc gùi trong đời sống của người Khơ
mú (Ảnh sưu tầm)