Tổng quan về dân tộc Giáy, đặc điểm kinh tế và văn hoá truyền thống của dân tộc Giáy.Tài liệu có hình minh hoạ đuợc tổng hợp từ các nguồn thu thập đuợc từ trên internet. Đuợc dung cho mục đích tham khảo và làm tài liệu cho các đề tài. Xin mời xem thêm phần mục lục để thấy rõ cấu trúc của tài liệu.
Trang 1N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 1 | 15
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC GIÁY
MỤC LỤC:
1 Vài Nét Về Dân Tộc Giáy 2
2 Kinh Tế Truyền Thống 2
2.1 Trồng trọt 2
2.2 Chăn nuôi 3
2.3 Khai thác tự nhiên 4
2.4 Ngành nghề thủ công 4
2.5 Trao đổi, mua bán 4
3 Văn hoá truyền thống 5
3.1 Làng 5
3.2 Nhà ở 6
3.3 Trang phục 7
3.4 Trang sức 7
3.5 Ẩm thực 8
3.6 Phương tiện vận chuyển 8
3.7 Ngôn ngữ 8
3.8 Tín ngưỡng tôn giáo 9
3.9 Lễ hội 10
3.10 Tục lệ cưới xin 12
3.11 Tập quán sinh đẻ, nuôi con nhỏ 13
3.12 Tập quản tang ma 13
3.13 Văn nghệ dân gian 14
Trang 2N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 2 | 15
1 Vài Nét Về Dân Tộc Giáy
Địa bàn cư trú
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Giáy ở Việt Nam có dân số 58.617 người, cư trú tại 39 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Giáy cư trú tập trung tại các tỉnh: Lào Cai (28.606 người, chiếm 48,8% tổng số người Giáy tại Việt Nam), Hà Giang (15.157 người, chiếm 25,9% tổng số người Giáy tại Việt Nam), Lai Châu (11.334 người), Yên Bái (2.329 người)[2]
2 Kinh Tế Truyền Thống
2.1 Trồng trọt
Dân tộc Giáy sống chủ yếu bằng
nghề cấy lúa nước Đồng bào cây
lúa tẻ nhiều hơn lúa nếp, cấy một
vụ là vụ hè thu Mùa sản xuất nói
chung của đồng bào được khởi đầu
từ sau tết âm lịch, tuy nhiên đó là
thời kỳ bắt đầu chuẩn bị dọn nương,
đốt cỏ trên nương; là thời kỳ chuẩn
Dân số : 58.617 người (2009) Ngôn Ngữ: thuộc hệ ngôn ngữ Thái, nhóm Thái phía Tây
Tên gọi khác: Nhắng, Dẳng, Pâu Thìn, Pu Nà, Cùi Chu, Xạ
Nhóm địa phương: Nhắng, Dẳng, Pâu thin, Pu nà, Cùi chu, Xạ
Địa bàn cư trú: Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Yên Bái
Trang 3N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 3 | 15
bị cày ải ruộng Người Giáy có câu nói: “vái hăn roong phẳng vái hảy, vái hăn roong pẻng vái nêu” (nghĩa là: trâu thấy lá bánh chưng trâu khóc, trâu thấy lá bánh mật trâu cười) Lá bánh chưng là biểu tượng chỉ tết âm lịch; còn lá bánh mật
là biếu tượng chỉ tết rằm tháng 7 âm Tuy nhiên thời vụ nhộn nhịp chính thức từ sau tiếng sấm đầu mùa và kèm theo những cơn mưa rào, ếch, nhái ngoài đồng bắt đầu kêu tìm bạn Công việc nhà nông rất phụ thuộc vào thời vụ.Mọi việc của người dân cày từ khâu làm đất gieo mạ, đến cày, cấy phải được kết thúc trước ngày 14 tháng 7 hàng năm Mùa thu hoạch vào tháng 10 Khi thu hoạch, đồng bào gặt lúa, xếp đống trên mảnh ruộng khô ráo, độ vài ngày sau đạp lúa lấy thóc về nhà, còn rơm, rạ đế ngoài đồng Ngoài cấy lúa ruộng, người Giáy còn trồng ngô trên nương Ngô được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi Tuy nhiên những khi mất mùa, ngô cũng đưọc sử dụng như là nguồn lương thực.Bên cạnh cây lương thực, người Giáy trồng thêm khoai, sắn; trồng các loại đậu đỗ, bầu, bí, rau xanh các loại
2.2 Chăn nuôi
Đồng bào Giáy nuôi nhiều trâu,
ngựa, lợn, gà, vịt.Nuôi trâu đế kéo
cày phục vụ cho sản xuất trên
đồng ruộng, trên nương Các con
lợn, gà, vịt dược nuôi để phục vụ
cún Si bái và ăn thịt Con ngựa
nuôi để cưỡi và thô hàng Con
ngựa được đánh giá cao trong các
con vật nuôi gia đình, do đó nó
được chăn dắt chu đáo, được cắt
cỏ về nhà cho ăn, được sống trong chuồng trại có lót ván sạch sẽ Lợn, gà, vịt chỉ cho ăn bữa sáng, khi thả chúng ra đi tự kiếm ăn suốt ngày và bữa tối khi chúng về chuồng Người Giáy có tập quán làm lều ở trên nương để nuôi gà Con gà nuôi ở đây, một mặt được gần với thiên nhiên hơn, có nhiều thức ăn tự nhiên hơn, mặt khác người ta đào những hố khá sâu và cho lá cây guột vào đó ủ cho mục làm tổ,
độ 10 - 15 ngày, rỡ guột lên có nhiều mục cho gà ăn Gà ăn mục rất mau lớn và
Trang 4N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 4 | 15
béo Làm lều ở trên nương còn là giải pháp trông nom nương khỏi bị muông thú phá hại Vùng đồng bào Giáy cư trú, xưa kia đất rộng, cho nên có nơi thả rong trâu Ở mỗi làng người ta để một khu rừng rộng, khu rừng được rào kín, chỉ để một cửa đi lại, cả làng lùa trâu vào đó.Khu rừng đó được gọi là “lùng vái” - thung lũng trâu.Vài ba ngày dân làng rủ nhau vào “lùng vái” thăm trâu một lần Khi cần kéo cày, kéo gỗ, người ta bắt riêng những con trâu đó về kéo và nuôi theo cách chăn dắt Xong việc lại thả trâu vào “lùng vái” theo đàn
2.3 Khai thác tự nhiên
Là cư dân nông nghiệp vốn được “lớn” lên từ khai thác tự nhiên, cho nên trong kinh tế truyền thống của đồng bào, kinh tế chiểm đoạt tự nhiên còn giữ vai trò quan trọng trong đời sống Người Giáy tận dụng khai thác nguồn lâm sản: măng rừng, rau rừng, nấm hương, mộc nhĩ, mật ong, sa nhân; khai thác cây rừng làm nhà ở, làm đồ dùng trong gia đình (giường ngủ, ghế ngồi); làm chuồng trại gia súc, gia cầm; làm dược liệu, làm củi đun hàng ngày Ngoài hái lượm, đồng bào còn săn bắt thú rừng: cày, cáo, khỉ, vượn, hoẵng Đôi khi đồng bào còn tổ chức săn bắn những con thú hung dữ như: hổ, báo, gấu, lợn rừng Săn thú vừa để bảo
vệ mùa màng, vừa để lấy thịt ăn.Việc khai thác tự nhiên hái lượm lâm thổ sản và săn bắt làm nông nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào mùa thời tiết
2.4 Ngành nghề thủ công
Người Giáy có ít nghề thủ công.Một vài nơi có người biết nghề đan trần để đập lúa.Họ cũng thường đem trần đi bán hoặc đổi lấy thóc.Tuy nhiên đây thường là nghề của những người già, yếu và không thành nghề truyền thống chính thức Thanh niên khỏe mạnh không ai kiếm ăn bằng nghề này Các nghề rèn, đúc; nghề kim hoàn trước đây cũng thấy xuất hiện ở một số địa phương Họ đúc lưỡi cày, rèn dao, cuốc, làm một số đồ trang sức bằng bạc.Tuy nhiên sau này không phát triển được.Phụ nữ Giáy cũng biết dệt thổ cẩm để làm mặt chăn, mặt địu, nhưng không phổ biến lắm
2.5 Traô đổi, mua bán
Người Giáy sinh sống tương đối phân tán, xen kẽ với các dân tộc khác, nền kinh
tế mang tính tự cấp, tự túc cao, cho nên việc trao đổi buôn bán ít phát triển Vùng người Giáy ngụ cư ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai có hình thành chợ, nhưng cơ
Trang 5N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 5 | 15
bản đây vẫn là chợ nông thôn, hàng hóa bán ra chủ yếu là nông lâm sản: măng rừng, mộc nhĩ, mật ong, thịt lợn, gà ; đồng bào địa phương mua muối ă n, dầu thắp, kim khâu Chợ họp theo phiên, 5 ngày một phiên Mỗi phiên họp khoảng 3 tiếng vào buổi sáng
3 Văn hoá truyền thống
3.1 Làng
Là cư dân nông nghiệp,
đồng bào Giáy thường
dựng làng ở nơi thuận
tiện cho sản xuất: làm
ruộng và làm nương
Thế đất được chọn dựng
làng thường ở chân núi,
có mặt bằng để khai phá
thành ruộng, có đất sườn
đồi để làm nương, gần
nguồn nước cho sản xuất
và sinh hoạt
Với cuộc sống định canh, định cư lâu đời, làng của người Giáy nhìn chung ổn định, do đó
có những làng tập trung hàng trăm nóc nhà như làng Pẳn, Quang Kim, Bản Qua (huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai)
Mồi làng có một vùng đất nhất định Đất làng chia thành đất công (hai loại) và đất tư Mỗi làng đều có ruộng công - ruộng thờ cúng.Sản phẩm ruộng công được sử dụng vào việc thờ cúng.Vì vậy, ruộng này có tên gọi là ná xỉa, ná cáu, tức là ruộng thần, ruộng cầu Phần ruộng này mỗi năm thu hoạch khoảng 300 - 400 kilôgam thóc Người nhận làm ruộng này phải thắp hương rừng thần (đoong xía) vào ngày 29 tháng giêng hàng năm, phải chịu một gà, một vịt để sửa lễ cúng thần Người làm ruộng thần không phải đi phu; ruộng thần không phải nộp thuế.Trong làng còn có loại ruộng công có tên là ná tú tí (ruộng thổ thần).Ruộng thổ thần từ một đển hai “co ná” Lúa thu hoạch được từ ruộng thổ
Buôn Làng dân trộc Giáy
Trang 6N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 6 | 15
thần cũng dùng vào việc cầu cúng cho làng Người làm ruộng này, đầu năm phải chịu cho làng nửa con trâu cúng.Năm đầu làm ruộng thổ thần không phải đóng thuế và đi phu.Từ năm sau đóng thuế và đi phu như mọi người trong làng.Ruộng công gồm ruộng chức dịch, ruộng lính, ruộng phu thuế, ruộng cầu cúng Nguồn của ruộng công là ruộng không
có người thừa kế, ruộng của người bỏ làng đi làm ăn ở nơi khác, ruộng của các dân tộc khác đến cư trú trước
Ruộng tư - ná tí là ruộng người dân tự khai phá những nơi đất hoang thành ruộng.Loại ruộng này không nhiều lắm và thường ít màu mỡ.Những người làm rẫy không phải đi phu, không phải đóng thuế, vì xã hội coi họ là những người có địa vị thấp kém hơn người làm ruộng
3.2 Nhà ở
Người Giáy cư trú trên một
diện rộng từ tỉnh Lai Châu
qua Lào Cai, Hà Giang đến
tỉnh Cao Bằng Nhóm Giáy
ở tỉnh Hà Giang, Cao Bằng
ở nhà sàn, còn nhóm Giáy ở
tỉnh Lai Châu, Lào Cai lại
làm nhà đất để ở Tuy nhiên
theo văn học dân gian thì
người Giáy vốn ở nhà sàn
Dù ở nhà sàn hay nhà đất,
thì gian giữa nhà là nơi
trang nghiêm, nơi đặt bàn thờ tổ tiên và tiếp khách Phụ nữ không nằm ở gian giữa
nhà.Chỗ ngủ của các cặp vợ chồng trong gia đình thường là trong các buồng ngủ, ngăn ở gian bên cạnh.Bếp được đặt ở gian bên cạnh khác.Theo phong tục, dù là người nhà, nhưng bố chồng và anh chồng không vào buồng ngủ của con dâu, em dâu.Ngược lại, con dâu, em dâu cũng không được đến chỗ ngủ của bố chồng và anh chồng
Trang 7N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 7 | 15
3.3 Trang phục
Trang phục truyền thống của người Giáy vào loại
đơn giản, ít thêu thùa diêm dúa Nam giới mặc áo
xẻ nách, dài chấm gối; mặc quần lá toạ Ống tay áo
và ống quần đều rộng Một số nơi, đàn ông để tóc
dài rồi búi tó ra sau gáy.Phụ nữ Giáy cũng mặc áo
xẻ nách, chiều dài áo đủ che kín mông Ở hò và cổ
tay áo chị em đắp những miếng vải khác màu Chị
em phụ nữ mặc váy.Váy che kín gối, xoè tương đối
rộng Nhóm Giáy ở vùng Lai Châu, Lào Cai mặc
quần, nhưng nhiều tài liệu văn học dân gian lại nói
họ cũng mặc váy Phải chăng từ thời xa xưa, tất cả
phụ nữ Giáy đều mặc váy Cách phổ biến làm đẹp
của các thiếu nữ là dùng sợi len hoặc chỉ màu đỏ,
màu hồng độn với tóc vấn, gọi là piêm máo và đeo
chiếc túi vải hình chữ nhật rộng 25 - 30cm, dài 35 - 40cm Dây túi dệt bằng chỉ màu luồn vào miệng túi theo kiểu dây rút Hai đáy được thêu hình răng chó (hẻo ma) uốn trên đường chỉ màu xoè ra như hai cái quạt hoa nhỏ Đây là loại hoa văn phổ biển trong nghệ thuật trang trí người Giáy.Mô típ hoa văn này không chỉ được trang trí ở túi đeo, mà còn được thêu ở hai đầu chiếc gối, ở trên rèm vải cửa buồng đôi tân hôn, trên mũ trẻ em
3.4 Trang sức
Trang sức của người Giáy khá đơn giản, bao gồm những chiếc kiềng và bông tai đều bằng bạc trắng
Trang 8N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 8 | 15
3.5 Ẩm thực
Đồng bào Giáy cấy nhiều lúa tẻ, cho nên đồng
bào ăn cơm tẻ là chính Cách chế biến từ gạo
thành cơm ở người Giáy có nét khác biệt.Đồng
bào cho gạo vào chảo luộc, gạo chín gần hết,
chỉ còn một lõi nhỏ chưa chín, vớt ra bỏ vào
chõ để tiếp tục đồ chín hết cả hạt gạo.Sau khi
vớt hết gạo trong chảo, nước luộc gạo như
cháo loãng dùng để uống cả ngày.Nét độc đáo
trong chế biến gạo thành cơm này đã trở thành
phong tục đặc trưng cho dân tộc Giáy Chính vì vậy, trong đám cưới, sau lễ tơ hồng, cô dâu bưng chõ xôi màu (hoặc chõ cơm tẻ) ra đổ vào cái mẹt trước bàn thờ tổ tiên nhà chồng, tỏ ý phục tùng nhà chồng, làm cho nhà chồng cơm đầy chõ, sung túc Bữa ăn hàng ngày có cơm rau xanh, thỉnh thoảng có thịt, cá do săn bẳt được hoặc nhân cúng bái, lễ tiết, cưới xin, ma chay Trong bữa ăn, bố chồng, anh chồng không ngồi chung mâm với con dâu, em dâu
3.6 Phương tiện vận chuyển
Khi cần vận chuyển thóc từ ngoài đồng về nhà, người Giáy hay gánh, còn khi vận chuyển vật nặng người ta dùng trâu kéo hoặc ngựa thồ
3.7 Ngôn ngữ
Tiếng nói: Tiếng nói của dân tộc Giáy
thuộc ngữ hệ Tày - Thái Thuộc hệ
ngôn ngữ này có một số dân tộc chung
sống xen kẽ với dân tộc Giáy như: Tày,
Nùng, Thái
Chữ viết: Dân tộc Giáy chưa có chữ
viết riêng của mình Trước đây đồng
bào dùng chữ Hán để ghi chép gia phả,
các văn tự liên quan đến ruộng đất,
Cơm được chế biến từ gạo tẻ
Chữ Hán của dân tộc trước đây
Trang 9N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 9 | 15
cưới xin, sinh đẻ, ma chay Nội dung
chủ yếu trong các văn tự trên là ghi ngày tháng xảy ra sự việc, người làm chứng Chữ Hán được sử dụng nhiều trong sách cúng, ghi chép các bài cúng, bài bói toán, xem tướng
sổ, tử vi, phong thủy Chữ Hán là chữ tượng hình, khó viết, khó nhớ mặt chữ, vì vậy người biết chữ Hán trong dân tộc Gỉáy không nhiều lắm.Phần nhiều người học và biết chữ Hán là những người làm thầy cúng.Họ học chừ Hán để đọc sách cúng và họ cũng chỉ thành thạo những thuật ngữ liên quan đến cúng bái.Ngoài ra một số những người tham gia làm việc trong bộ máy thống trị cũng biết chữ Hán ở mức độ nhất định để soạn thảo các văn bản liên quan đến công việc mà họ phụ trách
3.8 Tín ngưỡng tôn giáo
Dân tộc Giáy quan niệm thế giới có ba tầng: tầng trên trời, tầng trên mặt đất và tầng dưới đất Tầng trên trời là nơi trú ngụ của ma tổ tiên và một số thần linh; tầng trên mặt đất là nơi sinh sống làm ăn của loài người; tầng dưới đất là nơi ở của những “người” nhỏ bé và
“người” lùn “Người sinh sống ở dưới mặt đất khác với người trên mặt đất là họ đeo dao
ở cổ chân, địu con ở bắp chân.Xuất phát từ quan niệm, tổ tiên sống ở trên trời, cho nên mỗi khi người chết, người ta cần làm đầy đủ lễ nghi để đưa hồn người chết về với tổ tiên
ở trên trời.Nếu không được cúng lễ đầy đủ, hồn người chết không những không về được với tổ tiên mà còn bị đẩy xuống âm ty, hoặc biến thành con vật, hồn sống đau khổ, lởn vởn xung quanh người sống
Đồng bào Giáy gọi con ma là “pháng” Họ quan niệm có hai loại ma: pháng rán (ma nhà)
và pháng roọc (ma ngoài) Ma nhà là linh hồn của những người họ hàng thân thiết, có thể chết trong nhà nhau được Ma nhà thường phù hộ cho con cháu khỏe mạnh, làm ăn tốt lành, nhưng ma nhà có thể gây ốm đau, bệnh tật hoặc chết Ma nhà được cúng bái định kỳ vào những ngày lễ tiết trong năm và những dịp cần “mời”, cần “báo”.Ma ngoài là linh hồn của những người không thuộc họ hàng, là ma người dưng nước lã, là ma những người không thể chết trong nhà nhau được Ma ngoài thường đòi ăn, cho nên, mỗi khi có người ốm đau, bói thấy ma này đòi ăn thì mới cúng
Người Giáy thờ tổ tiên ở nơi trang nghiêm nhất trong nhà.Ở phía sau gian giữa là nơi đặt bàn thờ.Theo tên gọi, bàn thờ là nơi thờ ông bà “tứ pảu dà”, nhưng trên bàn thờ còn thờ một số thần linh khác.Thông thường trên bàn thờ dân tộc Giáy có ba bát hương Kể từ trái
Trang 10N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 10 | 15
sang phải, bát hương thứ nhất thờ “chảo vàng” - vua bếp; bát hương thứ hai thờ “then tỉ”
- thiện địa, bát hương thứ ba thờ tổ tiên “Chảo vàng” được cúng vào ngày 23 tháng chạp hàng năm “Then tỉ” được cúng vào ngày 2 tết (tháng giêng) khi trời chưa sáng rõ Không nhất thiết gia đình nào cũng phải thờ “then tỉ”, nhưng đã thờ thì phải thờ truyền đời từ đời này qua đời khác Thờ tổ tiên - “tứ pảu dà” không biết bao nhiêu đời, vì vậy khi khấn, người Giáy thường khấn chung chung “pảu quang láng dà” hay “pảu tà dà úm” (ông nội
bà ngoại, ông mang bà bế) Nếu chủ nhà là con nuôi hoặc con rể thừa tự, muốn thờ họ cha mẹ đẻ thì đặt thêm bát hương nữa ở bên trái, phía ngoài bát hương thờ tổ tiên.Nhà nào không đặt bàn thờ mụ ở trong buồng ngủ thì lập thêm một bát hương đặt ngoài bát hương thờ vua bếp.Chủ nhà có thể lập một bàn thờ nhỏ cạnh bàn thờ lớn để thờ họ bên
vợ Phía dưới bàn thờ, chính giữa, dưới bát hương thờ “then tỉ”, thờ “tỉ chú” - thần giữ đất nền nhà đang ở Hai bên cửa chính có hai ống hương nhỏ và thẳng cửa chính ra phía ngoài sân cũng có ống hương Những ống hương này thờ linh hồn những người đã khuất
từ lâu để những linh hồn đó giữ cửa cho chủ nhà
3.9 Lễ hội
Đối với người Giáy, trong
12 tháng của năm thời tiết,
chỉ tháng 11 (tính theo âm
lịch) là không có ngày ăn
tết 11 tháng còn lại tháng
nào cũng có ngày ăn tết
Nhưng ăn tết kết họp với
vui chơi (hội) thì chỉ có hội
“róng poọc” Ở tỉnh Lào
Cai, nơi có người Giáy sinh
sống tập trung, làng nào cũng
có hội “róng poọc” Hội “róng
poọc” được đồng bào tổ chức vào ngày thin trong tháng giêng, trên cánh đồng rộng trước làng Cánh đồng nơi tổ chức lễ hội “róng poọc” thường còn gọi là Ná róng poọc, được chuẩn bị sẵn.Chủ cánh đồng đó không để nước vào cánh đồng hoặc làm bất cứ việc gì có thể cản trở đến việc tổ chức lễ hội Ngày tổ chức lễ hội “róng poọc” thường được chọn là
Lễ hội “róng poọc” của người Giáy