Tổng quan về dân tộc Chơ Ro, đặc điểm kinh tế và văn hoá truyền thống của dân tộc Chơ Ro.Tài liệu có hình minh hoạ đuợc tổng hợp từ các nguồn thu thập đuợc từ trên internet. Đuợc dung cho mục đích tham khảo và làm tài liệu cho các đề tài. Xin mời xem thêm phần mục lục để thấy rõ cấu trúc của tài liệu.
Trang 1N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 1 | 13
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CHƠ RO
MỤC LỤC:
1 Vài Nét Về Dân Tộc Chơ Ro 2
2 Kinh Tế Truyền Thống 2
2.1 Trồng Trọt 2
2.2 Chăn Nuôi 4
2.3 Khai thác tự nhiên 4
2.4 Ngành nghề thủ công 4
2.5 Trao đổi mua bán 5
3 Văn hoá truyền thống 5
3.1 Làng 5
3.2 Nhà ở 6
3.3 Y phục 7
3.4 Ẩm thực 7
3.5 Phương tiện vận chuyển 8
3.6 Ngôn ngữ 8
3.7 Tín ngưỡng tôn giáo 9
3.8 Lễ hội 9
3.9 Tục lệ cưới xin 11
3.10 Tập quán tang ma 12
3.11 Văn nghệ dân gian 12
Trang 2N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 2 | 13
1 Vài Nét Về Dân Tộc Chơ Ro
Địa bàn cư trú
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Chơ Ro ở Việt Nam có dân
số 26.855 người, cư trú tại 36 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Chơ Ro cư trú tập trung tại các tỉnh: Đồng Nai (15.174 người, chiếm 56,5% tổng số người Chơ Ro tại Việt Nam), Bà Rịa-Vũng Tàu (7.632 người), Bình Thuận (3.375 người), thành phố Hồ Chí Minh (163 người), Bình Dương (134 n gười), Bình Phước (130 người)
2 Kinh Tế Truyền Thống
2.1 Trồng Trọt
Dân tộc Chơ Ro sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt trên nương rẫy và ruộng nước Rẫy, mới phát, canh tác vụ đầu gọi là răm, năm sau đã thành rẫy cũ gọi là
re Nhìn chung, đồng bào gọi rẫy là mir, thường canh tác vài ba năm, rồi bỏ hóa Cây lương thực chính là cây lúa nương, lúa nước, ngô, khoai, sắn Kỹ thuật trồng trọt của dân tộc Chơ Ro có những nét độc đáo Trên nương lúa, ngô, trước đây đồng bào thường trồng thành ba vòng: vòng ngoài cùng quanh nương, trồng các
Dân số : 26.855 người (2009) Ngôn Ngữ: Tiếng nói của dân tộc Chơ
Ro thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer
Tên gọi khác: Dơ-ro, Châu - ro
Nhóm địa phương: Dơ-ro, Châu - ro
Địa bàn cư trú: Đồng Nai, Tp.Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Bình Dương,
Vũng Tàu, Bình Phước
Trang 3N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 3 | 13
loại cây dây leo bầu, bí, các loại đậu ván, đậu rồng để thu hoạch làm thực phẩm;
Phụ nữ Chơ-Ro cấy lúa mới
(Ảnh: sưu tầm)
Vòng giữa thường trồng sắn Đồng bào coi hai vòng ngoài là hàng rào bảo vệ vòng trung tâm của rầy Bên trong vòng trong cùng có diện tích lớn, dành cho trồng cây lúa Đồng bào có tập quán trồng xen canh cây mè (vừng) xuống cùng một hốc với cây lúa, cây ngô về sau, khi xuất hiện mảnh vườn bên cạnh nhà ở, những thứ cây rau xanh được chuyển về trồng ở trong vườn, về sau, người Chơ
Ro dần dần sư dụng rẫy cũ làm nương định canh, trồng lúa hoặc chuyên canh ngô, sắn và một số các loại đậu Một số nương bằng được khai khẩn thành ruộng nước Mùa vụ trồng trọt bẳt đầu từ ngày cúng thần lúa - vang pa, vào khoảng tháng 3
âm lịch Từ tháng 3 trồng ngô và thu hoạch vào tháng 6, còn lúa thì tr ồng từ tháng 4, thu hoạch vào tháng 10
Công cụ sản xuất còn khá thô sơ Đồng bào dùng rìu - xuông để chặt hạ cây to, đốn cành lớn; dùng rựa đê chặt cây nhỏ: tre, nứa, bụi dây leo, làm nương, dùng gậy chọc lỗ Công cụ thu hoạch cỏ là cái hái nhắt; công cụ vận chuyên là chiếc gùi nan tre để đựng thóc, ngô, đậu hạt Đê làm ruộng nước đồng bào dùng cày Dưới thời Pháp thuộc, có một số ít người Chơ Ro làm công nhân trong đồn điền của Pháp Tuy nhiên những công nhân này cũng chỉ làm lao động giản đơn như
Trang 4N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 4 | 13
phát cây, bảo vệ rừng, không phải là công nhân lao động kỹ thuật
2.2 Chăn Nuôi
Dân tộc Chơ Ro chăn nuôi gia súc, gia cầm
trong từng gia đình Những con vật nuôi
phổ biến là trâu, bò, lợn, gà, vịt Lợn, gà
chủ yếu dùng trong lễ hiến sinh, các dịp lễ
tết, vào nhà mới, tiếp khách, còn trâu, bò
dùng vào việc kéo cày, kéo xe
Phương thức chăn nuôi trâu, bò được thực
hiện theo cách chăn thả vào rừng trong
làng Chiều tối, chủ gia súc lùa trâu, bò về nhà
2.3 Khai thác tự nhiên
Sinh sống trong rừng, hiểu biết những giá trị của cây, đồng bào tận dụng khai thác cây rừng phục vụ cho sản xuất và đời sống của mình Phát rừng làm nương là việc làm quan trọng đối với đời sống của đồng bào Chơ Ro Thiếu rừng là thiểu đất làm ăn Rừng cung cấp gỗ cho đồng bào làm nhà ở, làm chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm, rào vườn, rào làng và các nhu cầu dùng gỗ khác Trong rừng có nhiều lâm sản như: nấm hương, mộc nhĩ, măng tươi, song, mây, dầu rái, thảo dược Người Chơ Ro cũng tận dụng nguồn lâm sản này, thu hái chúng về dùng trong đời sống, tăng nguồn thu nhập cho gia đình
Vào mùa nông nhàn, sau khi gieo trồng ngô, lúa, vào tháng 6, tháng 7, đồng bào Chơ Ro thường đi săn thú rừng Cách săn bắt thường là dùng bẫy để bắt chim, suốt cá bằng lá độc
2.4 Ngành nghề thủ công
Ngành nghề thủ công của người Chơ Ro không mấy phát triển Tuy nhiên họ cũng dùng nan lồ ô (tre) để đan các đồ gia dụng như bồ đựng thóc, đựng ngô, đỗ, đan nhiều nhất là đan gùi; đồng bào còn đan những công cụ dùng để bắt cá trên sông suối Họ đan những chiếc gùi lớn nhỏ để đựng thóc, ngô, đỗ; đan gùi mắt thưa để đựng rau xanh, trái cây; đan nhừng đồ đựng và tấm trải bàng lá dứa, lá buông Đồng bào Chơ Ro cũng tự làm nhà cửa, khoét cối giã gạo, v.v
Trang 5N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 5 | 13
Dân tộc Chơ Ro tuy sống ở miền núi, nhưng là thuộc tỉnh Đồng Nai, từ thời Pháp đã có nhiều quan hệ kinh
tể xã hội với đồng bằng, tiếp xúc nhiều với mặt hàng công nghiệp, do vậy họ sử dụng nhiều mặt hàng công nghiệp Vì vậy mà ngành nghề thủ công ít phát triển
Dụng cụ bắt cá của dân tộc Chơ Ro
2.5 Trao đổi mua bán
Hoạt động trao đối buôn bán chỉ xuất hiện trong quá trình giao tiếp với các dân tộc khác Đồng bào Chơ Ro chủ yếu bán các loại lâm sản lấy từ tự nhiên như: mật ong, sáp ong, thịt rừng khô, dầu rái Đồng bào mua các thứ hàng thiết yếu cho đời sống như: muối ăn, kim, chỉ, dầu thắp, mua vải mặc Các gia đình khá giả còn lấy trâu, bò đổi lấy chiêng, ché
3 Văn hoá truyền thống
3.1 Làng
Dân tộc Chơ Ro sinh sống tụ cư
thành làng, mỗi làng thường có
từ 10 đến 15 nóc nhà Các gia
đình trong làng thuộc nhiều
dòng tộc khác nhau, nhưng phần
lớn có quan hệ thân tộc Làng
không chỉ có quan hệ với nhau
trên một dịa giới nhất định, mà
còn có quan hệ văn hóa tâm linh
với nhau Đó là lễ hội cúng thần rừng Tên làng thường được đặt theo đặc điểm địa hình, sông, núi, cây cối Người Chơ Ro ít khi di chuyển làng, tình trạng di chuyển làng chỉ xuất hiện khi có chiến tranh hoặc bệnh dịch hoành hành
Làng là đơn vị xã hội của người Chơ Ro Làng không chỉ được xác định bởi một vùng địa giới nhất định, mà các gia đình sinh sống trong làng còn chịu sự quản lý
Trang 6N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 6 | 13
theo một cơ chế nhất định Làng có người đứng đầu điều hành các công việc chung của làng, tham gia xử lý các tranh chấp giữa các thành viên trong làng Công cụ để điều hành các công việc cũng như các tranh chấp là luật tục
3.2 Nhà ở
Người Chơ Ro trước đây ở nhà sàn Sàn nhà cao, cách mặt đất khoảng 2 m, thang lên nhà bắc ở phía đầu hồi Gầm sàn được sử dụng làm nơi nhốt gia súc, gia cầm
Một việc quan trọng trước khi dựng nhà
là chọn đât, xem hướng nhà Theo quan niệm của người Chơ Ro việc chọn đất làm nhà, chọn hướng dựng nhà có ảnh hưởng lớn cuộc sống làm ăn, đến sức khỏe của gia đình Người đi chọn đất làm nhà thường là nam giới và đất được chọn thường gần suối, có đất rộng để có thể khai phá được nhiều ruộng, nương, tiện cho sản xuất Chọn được đất, đồng bào vạch một đường thẳng nhỏ, xếp 7 hạt gạo trên đường thẳng đó, lấy bát úp lại để qua đêm Sáng hôm sau, chủ nhà ra xem, nểu 7 hạt gạo còn nguyên vẹn thì đó là đất tốt, là điềm báo đồng ý của thần linh Đồng bào Chơ Ro mở cửa nhà ở đầu hồi và đó cùng là hướng của ngôi nhà Người Chơ Ro chọn hướng nhà là hướng bắc hoặc hướng nam Chọn hướng nhà như vậy để hàng ngày mặt trời đi ngang qua nóc nhà Đồng bào kiêng làm nhà hướng mặt trời mọc hay mặt trời lặn, vì như vậy mặt trời sẽ đi dọc theo đòn nóc của nhà, trong nhà sẽ nóng bức, đau ốm Một gia đình riêng, người vợ kiêng không cho nam giới mượn rìu Đồng bào quan niệm người vợ cho nam giới mượn rìu cũng ngầm hiểu là sẵn sàng trao cả thân
Mỗi gia đình làm một nhà kho riêng để chứa lương thực Nhà kho thường làm ngay đằng sau nhà ở, nhưng lại vuông góc với nhà ở Kỹ thuật làm nhà kho cần chống được chuột trèo lên ăn thóc
Ngày nay xu hướng chuyển sang làm nhà trệt, vì thiếu gỗ làm nhà
Trang 7N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 7 | 13
3.3 Y phục
Trước đây người Chơ Ro, nam giới đóng khố,
phụ nữ mặc váy, mùa nóng ở trần, mùa lạnh
mặc áo chui đầu Khi trời rét, choàng thêm tấm
mền chăn Cách ăn mặc này hiện nay không
còn nữa, đồng bào mặc theo âu phục, mua quần
áo may sẵn ở chợ
Trang sức của người Chơ Ro mang bản sắc dân
tộc rõ rệt: nữ giới thường hay đeo trên cổ chuồi
hạt cườm ngũ sắc hoặc vòng đồng, vòng bạc;
trên tay cũng đeo một số vòng tương tự như
vòng đeo trên cổ Các thiếu nữ thường đeo dây
chuyền, đeo cà rá (nhẫn) Đồng bào Chơ Ro
không có tục cà răng như một số dân tộc ở Tây
Nguyên
3.4 Ẩm thực
Trên cơ sở nền sản xuất trồng trọt lúa nước, lúa nương, ngô, khoai, sắn, nguồn lương thực chính của người Chơ Ro là gạo Khi nào mất mùa lúa không đủ gạo ăn mới tìm đến ngô, khoai, sắn Đồng bào thích ăn cơm gạo tẻ; thức ăn thường ngày có rau, đậu các loại, bầu
bí Những ngày lễ tết, các nghi lễ tôn giáo đồng bào
mổ lợn, gà, vịt, ngan ngỗng để cúng, sau đó liên
hoan Ngoài ra thi thoảng có thịt thú rừng Trong dịp
lễ cúng thần lúa hàng năm, đồng bào làm các loại
bánh nếp như: bánh tét, bánh ống - piêng thinh, bánh
giầy trộn vừng
Rượu Cần – thứ không thể thiếu
trong các dịp đặc biệt của dân tộc
Chơ-Ro
(Ảnh: sưu tầm)
Trang 8N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 8 | 13
Cách chế biến thịt chủ yểu là nướng, luộc hoặc ninh nhừ
Đồng bào Chơ Ro uống rượu cần Rượu được ủ kín trong ché, khi uống dùng cần để hút Nam, nữ dân tộc Chơ Ro đều ưa thích hút thuốc lá bằng tẩu và ăn trầu cau
3.5 Phương tiện vận chuyển
Sinh sống ở miền núi, việc vận chuyển thóc lúa, khoai, sắn, các đồ dùng khác hợp lý nhất
là dùng gùi Trong gia đình mồi người có một đến hai, ba gùi để phục vụ vận chuyển mọi
thứ của cải khi cần Những chỗ đất bàng người Chơ Ro cũng dùng xe trâu,
xe bò vào việc vận chuyển
3.6 Ngôn ngữ
Tiếng nói của dân tộc Chơ Ro thuộc hệ ngôn ngữ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer,
thuộc chi miền núi phía nam, gần gũi với tiếng nói của người Xtiêng, người Mạ, người Cơ Ho Lượng từ Khmer trong tiếng Chơ
Ro khá trội Ngày nay trong tiếng nói
Chiếc Gùi đóng vai trò quan trọng trong sinh hoạt hằng ngày của dân tộc Chơ-Ro (Ảnh: sưu tầm)
Chữ KhMer
Trang 9N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 9 | 13
của dân tộc Chơ Ro dùng nhiều thuật ngữ tiếng Kinh, nhất là những thuật ngữ liên quan đến cơ chế xã hội hiện đại và khoa học công nghệ hiện đại đang được ứng dụng ngày càng nhiều vào
sản xuất và đời sổng của người dân Dân tộc Chơ Ro chưa có chữ viết riêng của dân tộc mình trong lịch sử
3.7 Tín ngưỡng tôn giáo
Đồng bào Chơ Ro theo đa thần, tin vào vạn vật hữu linh, tin mọi vật đều có linh hồn và linh hồn đó có tác động đến cuộc sổng con người, do đó phải tôn thờ các linh hồn đó mỗi khi con người làm một việc gì quan trọng như bắt đầu gieo trồng mùa vụ, làm nhà ở, phát rừng làm rầy Tất cả những thần linh đó được đồng bào gọi một tên chung là giàng Vì vậy mọi hành vi cúng bái đều có tên chung là cúng giàng (jang): jang va - thần lúa,jang bri - thần rừng, jang dai - thần suối, jang mơ - thần ruộng
Người nối thế giới thần linh với đời sống con người là bà bóng Với dân tộc Chơ Ro người làm thầy cúng thường là phụ nữ Mỗi dòng tộc thường có một hai bà bóng Bà bóng không phải do cộng đồng, dòng tộc lựa chọn ra, mà do cá tính và những năng lực đặc biệt bẩm sinh sẵn có ở người đó
Ngày nay, một sổ người trong dân tộc Chơ Ro theo các tôn giáo hiện đại thế giới như: Thiên Chúa, Tin Lành, nhưng số này chưa nhiều
3.8 Lễ hội
Dân tộc Chơ Ro có hai lễ hội quan trọng được tổ chức hàng năm Đó là lễ hội cúng thần lúa - ốp jang vo và cúng thần rừng - ốp jang br)
Lễ hội cúng thần lúa Người Chơ Ro sống bằng nghề nông Lúa gạo là nguồn sống chính của đồng bào Đồng bào tổ chức lễ hội thần lúa là để cảm ơn thần lúa và cầu mong thần tiếp tục phù hộ cho mùa màng năm sau được thuận lợi, bội thu Lễ hội thần lúa được tổ chức ngay sau khi vụ mùa thu hoạch xong Lễ hội cúng thần lúa được tổ chức trong từng gia đình trong dòng tộc Đe tránh sự trùng nhau về ngày tổ chức, đồng bào quy định thời gian tổ chức lễ hội từ ngày 15-3 đến đầu tháng 4 âm lịch hàng năm Gia đình nào tổ chức
Trang 10N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 10 | 13
lễ hội thì mời bà con trong dòng tộc đển dự đông vui Người đến dự lễ mang theo quà: rượu, hiện vật tặng cho gia đình lấy may mắn
Lễ hội cúng thần rừng Người Chơ Ro tổ chức cúng thần rừng vào trước mùa mưa, nhưng không ấn định thời gian cụ thể mấy năm thì tổ chức một lần Nếu lễ hội cúng thần lúa được tổ chức trong từng gia đình, thì lễ hội cúng thần rừng được tổ chức tại cộng đồng, ngoài trời, tại khoảng đất rộng dưới gốc cây cổ thụ - linh thiêng của làng Tục cúng thần rừng diễn ra trong nhiều ngày, người tham dự đông, rất tốn kém về tiền của và thì giờ Chủ trì lễ hội là một già làng Tục cúng thần rừng phải cúng thịt sống; dê, lợn phải để nguyên con
Ngoài ra, lễ hội Sayangva ( mừng lúa mới) của dân tộc Chơ Ro cũng khá đặc sắc
(Ảnh: sưu tầm)
Trang 11N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 11 | 13
3.9 Tục lệ cưới xin
Dân tộc Chơ Ro thực hiện chế độ hôn nhân ngoại hôn dòng tộc, một vợ, một chồng, sau hôn nhân
cư trú bên nhà vợ Trước đây, đến tuổi trưởng thành, nam nữ thanh niên ưng nhau, rủ nhau “ngủ mèo” - gái đón trai về nhà mình ngủ với nhau qua đêm Để được đón
về “ngủ mèo” đôi trai gái hò hẹn nhau, cô gái nói rõ nơi mình ngủ, hẹn chàng trai đến
“chọc sàn” Dụng cụ chọc sàn là chiếc roi mây hoặc lá cỏ gianh Roi mây vừa là phương tiện chọc sàn vừa là vũ khí Khi đi đường chàng trai quay roi mây phát ra âm thanh “vun vút” trong không trung nhằm xua đuổi thú dữ Người con trai dùng roi mây hoặc lá cỏ gianh luồn qua khe sàn Khi nhận được tín hiệu chọc sàn người con gái rút roi mây lên rồi nhẹ nhàng xuống đón chàng trai lên nhà tâm sự Cha mẹ biết cũng làm ngơ
Việc “ngủ mèo” chỉ được chấp nhận nhiều nhất là ba đêm Sau đêm thứ ba, chàng trai phải chủ động đến trình diện bố, mẹ cô gái và xin phép được cưới Sau đêm thứ ba, nếu chàng trai không trình diện thì phải để lại một vật gì đó làm tin như: áo, hộp quẹt Cha mẹ
cô gái lấy vật để lại đó làm bằng chứng để báo cáo với trưởng tộc và đi sang nhà trai hỏi bằng lời lẽ bóng bẩy: “Hồi tối không biết con trâu nhà ai bị lạc qua chuồng nhà tôi để lại vật này Ông bà coi thử xem có phải vật của con trâu ông bà không?” Theo phong tục, nghe vậy cha mẹ chàng trai hiểu ý, nhờ họ hàng chuẩn bị lễ vật là rượu và con gà mang sang nhà gái đáp lời Lời thưa đáp như sau “con trâu nhà tôi bị sổng chuồng lạc qua đây, thôi bây giờ gia đình tôi chịu phạt, chúng tôi giao con trâu này cho gia đình ông bà luôn, nhờ ông bà chăm sóc giúp cho gia đình chúng tôi” Rồi hai gia đình bàn bạc các thủ tục cho đôi trai gái cưới nhau
Lễ cưới của dân tộc Chơ – Ro
( Ảnh: minh họa )