1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Tổng quan dân tộc BruVân Kiều (PDF,Word)

16 487 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 1,05 MB
File đính kèm Tổng Quan Dân Tộc Bru-Vân Kiều.zip (2 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan về dân tộc Bru Vân Kiều, đặc điểm kinh tế và văn hoá truyền thống của dân tộc Bru Vân Kiều.Tài liệu có hình minh hoạ đuợc tổng hợp từ các nguồn thu thập đuợc từ trên internet. Đuợc dung cho mục đích tham khảo và làm tài liệu cho các đề tài. Xin mời xem thêm phần mục lục để thấy rõ cấu trúc của tài liệu.

Trang 1

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 1 | 16

TỔNG QUAN VÊ DÂN TỘC BRU-VÂN KIỀU

MỤC LỤC:

1 Vài Nét Về Dân Tộc Bru – Vân Kiều 2

2 Kinh Tế Truyền Thống 2

2.1 Trồng Trọt 2

2.2 Chăn Nuôi 3

2.3 Khai thác tự nhiên 4

2.4 Ngành nghề thủ công 4

2.5 Trao đổi mua bán 5

3 Văn hoá truyền thống 5

3.1 Làng 5

3.2 Nhà ở 6

3.3 Y phục 8

3.4 Ẩm thực 9

3.5 Phương tiện vận chuyển 9

3.6 Ngôn ngữ 10

3.7 Tín ngưỡng tôn giáo 11

3.8 Lễ hội 12

3.9 Tục lệ cưới xin 13

3.10 Tập quán sinh đẻ và nuôi con 15

3.11 Tập quán tang ma 15

3.12 Văn nghệ dân gian 16

Trang 2

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 2 | 16

1 Vài Nét Về Dân Tộc Bru – Vân Kiều

Địa bàn cư trú

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Bru -Vân Kiều ở Việt Nam

có dân số 227.716 người, cư trú tại 39 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Bru-Vân Kiều cư trú tập trung tại các tỉnh: Quảng Trị (55.079 người, chiếm 73,9% tổng số người Bru-Vân Kiều tại Việt Nam), Quảng Bình (14.631 người, chiếm 19,6% tổng số người Bru-Vân Kiều tại Việt Nam), Đắk Lắk (3.348 người), Thừa Thiên-Huế (1.114 người), Thanh Hóa (38 người)

2 Kinh Tế Truyền Thống

2.1 Trồng Trọt

Dân tộc Bru - Vân Kiều vổn là cư dân nông nghiệp có trình độ tương đối phát triển Xưa kia họ đã từng sinh sống ở miền Trung Lào Từ khi di cư sang Việt Nam, sinh sống ở miền tây tỉnh Quảng Trị, nơi có đất đai khá màu mỡ, đồng bào sống bằng nghề nương rẫy và làm ruộng nước Làm nương rẫy nhiều hơn làm

Dân số : 227.716 người (2009) Ngôn Ngữ: thuộc hệ ngôn ngữ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer

Tên gọi khác: người Bru, người Vân Kiều, người Mang Cong, người Trì hay người Khùa

Nhóm địa phương: Bru, Vân Kiều, Ma Cong, Trì, Khùa

Địa bàn cư trú: Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Đắk Lắk, Thanh Hóa

Trang 3

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 3 | 16

Dân tộc Bru – Vân Kiều đang cấy lúa mới (Ảnh sưu tầm)

ruộng Cây trồng chính của đồng bào là cây lúa: lúa nương và lúa ruộng Công cụ sản xuất của đồng bào khá thô sơ, gồm có dao phát, rìu, gậy chọc lỗ Khi chọn rừng làm rẫy mới, đồng bào có tục, phát một khoảnh nhỏ làm dấu, qua đêm ngủ, nếu báo mộng thấy điềm lành thì tiếp tục phát rộng ra làm rẫy; nếu báo mộng thấy điềm gở, đồng bào bỏ đi tìm nơi rừng khác Dân tộc Bru - Vân Kiều có nông lịch riêng Nông lịch của họ được tính theo chu kỳ mặt trăng mọc và lặn Một năm chia thành 12 tháng (có năm nhuận), mỗi tháng có 30 ngày (có tháng đủ, tháng thiếu) Nông lịch được thực hiện như sau: phát rẫy vào tháng hai, tháng ba, tháng

tư đốt rẫy, tháng năm tra hạt; tháng chín, tháng mười là mùa thu hoạch - tuốt lúa Cây lương thực chính là cây lúa Song bên cạnh cây lúa, đồng bào còn trồng ngô, khoai, sắn

2.2 Chăn Nuôi

Dân tộc Bru - Vân Kiều chăn nuôi gia súc, gia cầm như các dân tộc khác Những con vật được nuôi thông thường là: trâu, bò, lợn, gà Nuôi gia súc, gia cầm vừa

Trang 4

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 4 | 16

phục vụ cúng bái, vừa góp phần cải thiện đời sống

2.3 Khai thác tự nhiên

Sinh sống ở rừng, sống nhờ rừng, rừng càng tốt càng mang lại nhiều nguồn lợi cho dân làng Đồng bào Bru - Vân Kiều khai phá rừng thành nương, rẫy để sản xuất; sử dụng cây rừng để làm nhà ở, rào làng, rào vườn, làm công cụ sản xuất Trên rừng có nhiều lâm sản: măng tươi, mộc nhĩ, nấm hương, mật ong, các loại rau củ hoa quả có thể ăn được Những thứ này được đồng bào khai thác triệt để mang về phục vụ cho đời sống

Săn bắt ở đồng bào Bru - Vân Kiều cũng mang lại cho người dân nguồn thức ăn động vật quan trọng Theo tập quán, từ khi đốt rẫy cho đến khi thu hoach xong mùa màng, đồng bào cấm đốt lửa ở bờ sông ven suối; cấm bắt cá, tép, tôm, cua Sau khi thu hoạch vụ mùa xong, cả làng kéo nhau ra sông, suối bắt cá đem về cúng cơm mới

2.4 Ngành nghề thủ công

Ngành nghề thủ công của dân tộc Bru - Vân Kiêu không mấy phát triển Ở đây đồng bào không dệt vải, mà chỉ có nghề đan lát Đồng bào đan gùi, đan mâm, đan chiếu lá phục vụ nhu cầu gia đình

Đan lát- nghề thủ công hiếm hoi còn sót lại của dân tộc Vân Kiều (Ảnh:sưu tầm)

Trang 5

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 5 | 16

2.5 Trao đổi mua bán

Ở vùng đồng bào Bru - Vân Kiều không có chợ búa Tuy nhiên đồng bào vẫn thực hiện trao đổi hàng hóa với người Lào và người Kinh Họ lấy mật ong, nấm hương, mộc nhĩ xuống đồng bằng, sang Lào đổi lấy vải mặc, lấy muối, cá mắm

3 Văn hoá truyền thống

3.1 Làng

Làng của dân tộc Bru - Vân

Kiều tương đối biệt lập

nhau Họ làm nhà trên các

quả đồi, dọc theo ven suối,

hay dựng làng theo kiểu

hình tròn Làng dựng theo

bờ sông, bờ suối thường kéo

dài theo bờ sông bờ suối;

còn làng hình tròn thường

được dựng ở một bãi đất

bằng Trung tâm làng

thường dựng nhà gươl (nhà rông)

Chọn đất dựng làng là việc được đồng bào coi trọng Người chủ đất hoặc tộc trưởng mới được đi chọn đất dựng làng Cũng như chọn đất làm nương, đồng bào tin vào báo mộng Nếu mảnh đất đã chọn được coi là tốt, nhưng qua đêm ngủ, báo mộng thấy ăn uống, người bồng con, kẻ bế cháu hoặc thấy lắm người tàn tật, thì đó là điềm gở, hôm sau lại phải đi tìm chồ đất khác

Trong một làng, việc dựng từng ngôi nhà riêng cũng theo một trật tự nghiêm ngặt, nghĩa

là các cây đòn nóc của các ngôi nhà lân cận trong làng không được đâm vào nhau

Làng (vil) Bru - Vân Kiều có nhiều dòng họ (mu) cùng cư trú Người Bru - Vân Kiều có tục kết bạn, kết nghĩa (cà lơ) Những người kết bạn có thể là cùng dân tộc, nhưng cũng có thể là khác dân tộc Thủ tục kết bạn là làm lễ ăn thề Họ cắt tiết gà vào rượu cùng uống và cùng thề: đói no, vui buồn, hoạn nạn, sinh tử có nhau Sau kết nghĩa, đôi bạn gọi nhau

Trang 6

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 6 | 16

bàng Cà lơ, chứ không gọi nhau bằng tên thật nữa Đôi bạn cà lơ coi nhau như anh em ruột thịt

Đơn vị xã hội của dân tộc Bru - Vân Kiều là làng (vil) Đứng đầu làng là già làng Già làng là người có tuổi, có đạo đức chuẩn mực, giỏi lao động sản xuất, thông thạo phong tục tập quán dân tộc, có thái độ ứng xử tốt, hòa hợp với dân làng Ngoài già làng - người trông coi việc đời thường, trong làng còn có thầy cúng lo việc liên quan đến tâm linh cho dân làng

Già làng xử lý mọi bất đồng tranh chấp theo luật tục Mọi chế tài liên quan đến luật tục

đã được định sẵn

Già làng về cơ bản có tính cha truyền con nối, nhưng cũng có kết hợp sự tín nhiệm của người dân trong làng Dân tộc Bru - Vân Kiều có tục cấm người lạ vào nhà khi trong nhà đang có cúng bái; khách cũng không được vào làng khi trong làng có cúng bái chung, hoặc có dịch tễ

3.2 Nhà ở

Nhà ở của dân tộc Bru - Vân Kiều là nhà sàn

có hai mái, lợp bằng lá mây hoặc lá cọ, có hai cửa đi lại: một cửa dành cho nam giới và khách, một cửa dành cho phụ nữ Đầu hồi hai mái đều được đồng bào buộc chéo những thanh gỗ nẹp giữ cho mái khỏi bị tốc khi có mưa bão Những thanh gỗ này đuợc chạm khắc hoa văn trang trí đẹp Đòn nóc các nhà trong làng không được đâm vào nhau Bên trong ngôi nhà được bố trí theo một trật tự nhất định Nhìn theo hướng ngôi nhà, kể từ phải sang trái: buồng đầu tiên là chỗ tiếp khách, góc trong có cột thờ ma, tiếp đến là các buồng ngủ của các thành viên trong gia đình, theo thứ tự: người già, vợ chồng, con cái và gian cuối cùng là gian để đồ đạc Mồi buồng cách nhau bởi những tấm liếp tre đan; mỗi buồng đều có cửa ra vào, nhưng đều không có cánh cửa Trong nhà thường xuyên có một bếp để nấu nướng, về mùa đông, đồng bào tạo thêm một bếp phụ ở gian khách để cho

Trang 7

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 7 | 16

nam giới và khách nam giới sưởi Mỗi gia đình đều làm thêm nhà nhỏ (kho) để chứa thóc Ông cậu thường đảm nhiệm việc dựng nhà cho cháu ngoại

Tục lệ khi dựng nhà bao giờ cũng dựng cột ma trước Đồng bào chọn gỗ tốt nhất để làm cột ma, vì cột này không bào giờ được thay Khi đào hố dựng cột, người ta lấy nước ngâm các loại rễ thơm đổ vào đó Dựng nhà xong trên mỗi chiếc cột treo một cây đèn sáp (đăng) to Ông tộc trưởng

lên nhà trước, đem theo một ống nước có ngâm trầm kết Sau khi khấn vái tổ tiên xong, ông ta đổ ổng nước đó vào cột thờ ma, rồi đốt lửa, nhóm bếp Ngọn lửa vào nhà mới này phải giữ cho cháy liên tục trong ba ngày, ba đêm để “của cải trong nhà sau này mới luôn được dư dã” Vào lúc chạng vạng tối của đêm đầu tiên, tộc trưởng còn lấy một cây nứa con đốt cho héo, đập vào cột nhà tạo thành tiếng nổ to, mục đích là để xua đuổi ma dữ” Khi dọn vào nhà để ở, người con trai trưởng trải chiếu gian buồng khách, người vợ của chủ nhà trải chiếu ở buồng chủ Chiếu ở gian khách được giải thường xuyên

Gia đình dân tộc Bru - Vân Kiều là gia đình nhỏ phụ hệ Con cái sinh ra thuộc dòng cha Khi còn nhỏ, chưa lập gia đình các con trai, gái đều được đối xử bình đẳng, cùng lao động, cùng hưởng thụ Khi lớn lên, xây dựng gia đình, con trai có quyền thừa kế tài sản

và thờ cúng tổ tiên, con gái không được chia tài sản, nhưng được của hồi môn khi đi lấy chồng Khi một gia đình trong mu - dòng họ có công việc như ma chay, cưới xin các gia đình khác có nghĩa vụ mang gạo, thịt và sức lao động đến giúp Trước đây, nếu người trong mu có kiện cáo với người mu khác, mà thắng cuộc, được tiền phạt thì cả mu được hưởng; nhưng nếu thua cuộc thì cả mu cùng chung góp Trường hợp một gia đình trong

mu có khách, những gia đình khác đều có nghĩa vụ mang cơm, thịt, rượu đến nuôi khách Tập quán cả mu tiếp khách, có thời kỳ được mở rộng ra cả vil (làng) Thời đó cứ đến bữa

ăn, mỗi gia đình thường để dư một phần cơm đợi khách Đồng bào quan niệm rằng gia đình nào có khách ăn, ngủ lại, thì gia đình đó trong năm gặp nhiều may mắn, làm ăn thuận lợi, phát đạt

Gia đình dân tộc Bru - Vân Kiều còn là gia đình phụ quyền Người bố có quyền quyết định mọi việc lớn nhỏ trong gia đình từ việc làm nhà ở, sản xuất, cưới xin của con cái, cúng bái trong gia đình

Trang 8

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 8 | 16

Đồng bào Bru - Vân Kiều quan niệm có ba dòng họ (mu) có quan hệ thường xuyên với nhau Đó là họ nội (họ cha), họ ngoại (họ mẹ) và họ nhà chồng các chị em gái Ba dòng

họ này có quan hệ với nhau trong đời thường và trong các nghi lễ tâm linh

Dân tộc Bru - Vân Kiều không có tên họ, sau cách mạng tháng 8 - 1945, đồng bào lấy họ

Hồ - họ của Bác Hồ - Chủ tịch Hồ Chí Minh làm họ của dân tộc mình

3.3 Y phục

Trang phục của dân tộc Bru - Vân Kiều tương tự như trang phục của ngưòi Lào Đồng bào không trồng bông dệt vải, mà thường lấy sản vật địa phương sang Lào đổi lấy vải, trang phục về mặc

Xưa kia đồng bào nam cũng như nữ đều búi tóc Con gái khi chưa chồng búi tóc bên trái, sau khi lấy chồng búi tóc trên đỉnh đầu Người Bru - Vân Kiều trước đây có tục cà răng căng tai, xăm mặt khi nam nữ đến tuổi trưởng thành

Thiếu nữ Bru- Vân Kiều trong trang phục truyền thống (Ảnh: sưu tầm )

Trang 9

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 9 | 16

3.4 Ẩm thực

Người Bru - Vân Kiều ăn cơm rau Trong bữa ăn của đồng bào thường hiện diện nhiều sản vật trên rừng như rau rừng, thịt thú rừng, tôm, cá và thịt các loại gia súc, gia cầm như như thịt lợn, gà, trâu, bò Thịt gia súc, gia cầm thưòng được ăn kết hợp với cúng bái các

vị thần linh, trong các dịp lễ hội, tết nhất, v.v Đồng bào thường hay chế biến món ăn theo cách nướng

Rượu Cần – một thứ không thể thiếu trong các lễ hội của người Vân Kiều

( ảnh : sưu tầm)

3.5 Phương tiện vận chuyển

Phương tiện vận chuyển của người Bru - Vân Kiêu là chiếc gùi nan tre Mỗi người ít nhất

có một chiêc gùi để sử dụng khi đi làm Hàng ngày đi ra nương rẫy, mỗi người đeo một

Trang 10

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 10 | 16

chiếc gùi trên lưng Gùi là phương

tiện vận chuyên phổ biển đối với cư

dân sinh sống ở miền núi

Chiếc gùi – phương tiện vận

chuyển chủ yếu của người Vân

Kiều (Ảnh: sưu tầm)

3.6 Ngôn ngữ

Tiếng nói của người Bru - Vân Kiều thuộc hệ ngôn ngữ Nam Á, nhóm Môn - Khmer, nhưng do cư trú lâu đời ở bên Lào, cho nên trong tiếng nói của người Bru - Vân Kiều có một số thuật ngữ Lào

Chữ viết Người Bru - Vân Kiều chưa có chữ viết từ thời xa xưa trong lịch sử Chữ viết của đồng bào là dạng chữ Ấn Độ cổ

Chữ Môn – Khmer ( Ảnh: Sưu Tầm)

Trang 11

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 11 | 16

3.7 Tín ngưỡng tôn giáo

Dân tộc Bru - Vân Kiều thờ cúng tổ tiên Tổ tiên được hiểu bao gồm ông bà, cha mẹ và những người chết từ 16 tuổi trở lên Sau khi người chết được ba năm, người ta làm chay -

tơ ra pứp ta may để đưa linh hồn người chết vào nhà thờ nhỏ - dông sok ku mui (hay còn gọi là ra bo ku mui) Nhà thờ nhỏ là một ngôi nhà sàn nhở mái cao chừng l,5m, hai mái, sàn cách mặt đất chừng 0,6m Nhà có hai mái, một mái ngắn, một mái dài, xung quanhkhông vách liếp gì Người ta đặt vào ngôi nhà nhỏ đó hai đoạn gỗ con, đẽo thành bậc tượng trưng cho thang lên xuống của mái Mỗi người chết - dàng ku mui, được thờ tượng trưng bằng một bộ đồ thờ gồm: một mảnh bát, một mảnh nồi vỡ, một ống gạo, một ổng nước và một gói cơm Đông sok ku mui thường được dựng ở những nơi cao ráo, hẻo lánh, ít người và thú rừng qua lại Những người thuộc bậc cha ông, sau khi chết vài chục năm, họ hàng, con cháu làm một lễ ta tư pứp tia, chuyển từ dàng ku mui lên dàng ka ne Thường là hai, ba đời, người ta mới làm ta tưpứp tia một lần Trong những ngày làm lễ

đó, đồng bào mở hội đâm trâu, uống rượu cần, v.v Ngoài đông sok ku mui, trong mỗi gia đình người Bru - Vân Kiều còn có bàn thờ riêng, thờ cúng những người trong gia đình

Một buổi lễ “cúng tạ” thần linh của dân tộc Vân Kiều

(Ảnh: sưu tầm)

Trang 12

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 12 | 16

Bên cạnh tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, dân tộc Bru - Vân Kiều tín ngưỡng tô tem Xưa kia, mỗi mu - dòng họ cùng thờ một tô tem Họ tin rằng, mỗi mu cùng một ông tổ sinh ra Ông tổ có thể là một loài sinh vật nào đó, mà ngày này trong cuộc sống họ kiêng không được ăn thịt, không được động chạm tới như: con sóc, con mèo, con cá, củ nâu, bắp chuối Người Bru -Vân Kiều có tục thờ lửa thiêng thể hiện ở những việc cụ thể sau: không cho người lạ mặt vào bếp lấy lửa từ trong bếp ra, người con rể lúc còn ở nhà vợ không được tự lấy lửa ở trong bếp ra hút thuốc, khi vào nhà mới tộc trưởng mang lửa lên nhà nhóm bếp và giữ ngọn lửa cháy liên tục trong ba ngày đêm Trong hôn nhân nhà gái làm lễ dập bếp, còn nhà trai lại làm lễ bắc bếp (cho cô dâu) Đồng bào có tục thờ ma bên

vợ - dang kyna

Với quan niệm vạn vật hữu linh, người Bru - Vân Kiều còn thờ thần núi, thần sông, thần cây lúa; thờ những vật thiêng như: thanh kiếm, chiếc áo, mảnh bát Đồng bào có tục kiêng nằm ngang nhà Không cho người ngoài chết trong nhà mình, Người Bru - Vân Kiều có một số kiêng kỵ, đặc biệt là kiêng kỵ liên quan đến bàn thờ ma (ở bên trong gian khách): phụ nữ và người lạ không được đến phòng khách; đồ gia dụng và dụng cụ sản xuất không được để gần phòng thờ ma; người con dâu không được vào gian khách; nằm ngủ không được nằm ngang nhà, lúc chập tối, không được cầm đân ra vào cửa chính Không để người ngoài nằm chết ở nhà mình

Tôn giáo thế giới có đạo Phật Nhóm người Khùa di cư từ nước Lào sang cách đây khoảng hơn trăm năm đã du nhập Phật giáo vào dân tộc này

3.8 Lễ hội

Là dân tộc thiếu số cư trú ở dọc Trường Sơn, đồng bào có lễ hội đâm trâu cúng giàng

nhân các ngày lễ tiết cúng giàng lúa, ngày làm

lễ ta tưpứp tia (lễ làm chay?)

Lễ hội “trỉa hạt” đầu mùa của dân tộc Vân Kiều (Ảnh: sưu tầm)

Ngày đăng: 04/05/2016, 12:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  tròn.  Làng  dựng  theo - Tổng quan dân tộc BruVân Kiều (PDF,Word)
nh tròn. Làng dựng theo (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN