Tổng quan về dân tộc Ê Đê, đặc điểm kinh tế và văn hoá truyền thống của dân tộc Ê Đê.Tài liệu có hình minh hoạ đuợc tổng hợp từ các nguồn thu thập đuợc từ trên internet. Đuợc dung cho mục đích tham khảo và làm tài liệu cho các đề tài. Xin mời xem thêm phần mục lục để thấy rõ cấu trúc của tài liệu.
Trang 1N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 1 | 25
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC Ê ĐÊ
MỤC LỤC:
1 Dân Tộc Ê Đê 2
2 Kinh Tế Truyền Thống 2
2.1 Trồng trọt 2
2.2 Chăn nuôi 4
2.3 Khai thác tự nhiên 5
2.4 Ngành nghề thủ công 6
2.5 Trao đổi, mua bán 6
3 Văn hoá truyền thống 7
3.1 Làng (buôn) 7
3.2 Nhà ở 8
3.3 Gia đình 10
3.4 Trang phục 11
3.5 Ẩm thực 12
3.6 Phương tiện vận chuyển 13
3.7 Ngôn ngữ 14
3.8 Tín ngưỡng tôn giáo 14
3.9 Tục lệ cưới xin 16
3.10 Tang ma 18
3.11 Văn học nghệ thuật 22
Trang 2nhóm ngôn ngữ Malayo - Polinesia
Tên gọi khác: Anăk Ea Ðê, Ra Ðê (hay
Rhađê), ê Ðê - êgar, Ðê
Nhóm địa phương: Ra đê, Đê, Kpa, A
dham, Krung, Ktul, Dliê ruê, Blố, Epan, Mthur, Bih
Địa bàn cư trú:Đắk Lắk,Phú Yên, Đắc Nông, Khánh Hòa
Trang 3bào Ê Đê thực hiện
sản xuất trên rẫy
theo hai cách: làm
rẫy luân khoảnh và
để các khoảnh rừng
giữa các rẫy
Rẫy của người Ê Đê (Ảnh minh họa)
Với thói quen canh tác trên rẫy là chính, đồng bào sản xuất tại một đám rẫy trong chu kỳ vài năm, sau đó bỏ hóa rẫy một thời gian đế cỏ cây tự nhiên tự mọc lại, đất tự phục hồi, đồng bào trở lại canh tác theo chu kỳ Chu kỳ luân kh oanh phụ thuộc vào chất đất từng rẫy, có rẫy một chu kỳ sản xuất là 5 - 10 năm, hoặc 10 -
15 năm, cũng có chu kỳ kéo dài từ 15 đến 20, 30 năm Do đất Tây Nguyên màu
mỡ, độ dốc không cao, cho nên chu kỳ sản xuất thường dài Mỗi gia đình thường
có nhiều mảnh đất làm rẫy, cho nên chu kỳ quay vòng rẫy thưòng kéo dà i 20 - 30 năm Ở vùng đồng bào Ê Đê, việc sử dụng giống lúa gieo trồng trên các rẫy mới
và rẫy cũ có khác nhau Rẫy khai phá năm đầu thường gieo trồng các giống mđiê blăng Rẫy đã sử dụng từ 3 đến 5 năm kpuh thì gieo trồng, các loại giông mdiê săn, mdiê kê, còn rẫy đà canh tác lâu hơn thì trông mdiê răng Khi lúa trên rẫy cho năng suất thấp, thì người ta cho hóa (ksor) Các giống lúa khác nhau có thời gian sinh trưởng khác nhau Có giống lúa ngắn ngày, có giống lúa dài ngày Việc gieo trồng các giống lúa khác nhau còn liên quan đến lúc thu hoạch: thu hoạch lúa ngắn ngày xong, lúa dài ngày chín rộ, đồng bào thu hoạch tiếp
Khi phát rẫy ở những vùng đất đai rộng đồng bào thường để lại những khoảnh rừng có cây cối rậm rạp khá rộng, giữ cây kơ nia trên rẫy để có bóng mát, trồng các cây ăn quả nhưng đồng thời cũng là cây đánh dấu quyền sở hữu Đồng bào có
ý thức coi những cây đó là hình thức bảo vệ rừng
Trang 4Bên cạnh việc canh tác trên rẫy, ở vùng ven hồ Lak, ven sông Krông Nô, Krông Ana, đồng bào Ê Đê làm ruộng nước Nhóm người Bih sinh sống ở vùng này làm ruộng vào mùa mưa khi nước dâng lên Mùa cấy lúa từ tháng 4, tháng 5 đến tháng
9, thu hoạch vào tháng 11, tháng 12 Trước kia đồng bào cấy khi mạ được một tháng tuổi và để nguyên cả ngọn Việc làm đất cho ruộng mạ cũng như ruộng cấy đều thực hiện theo phương pháp dùng trâu quần - một phương pháp làm đất xuất hiện trong, nông nghiệp thời cổ đại, gọi là thủy nậu Trâu quần làm nát cỏ, nhuyễn đất tạo thành lớp bùn trên mặt ruộng, khi đó người ta xuống cấy Đồng bào Ê Đê làm ruộng ở vùng này thường cấy mau và nhỏ dảnh, mục đích là hạn chế cỏ dại mọc lên ở ruộng lúa
Mặc dù phương pháp canh tác đơn giản, nông cụ thô sơ, nhưng nhờ đất đai màu
mỡ và có kinh nghiệm chọn đúng thời vụ, nên thu hoạch ở rẫy cũng như ở ruộng thường đạt năng suất từ một đến hai tấn lúa trên một ha
2.2 Chăn nuôi
Trang 5N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 5 | 25
Dân tộc Ê Đê chú ý phát
triển chăn nuôi gia đình,
đồng bào nuôi trâu, bò, dê,
lợn gà, vịt, ngan, ngỗng
Một số nhà giàu còn nuôi
voi Gia đình có voi được
coi là có “số” làm ăn
Thông thường con vật
nuôi được chú ý trong
chăn nuôi gia đình là con
trâu, con bò Bởi con trâu,
con bò là biểu hiện của sự
giàu có, là con vật định giá, có thể đem ra trao đổi lấy cồng, chiêng, ché, nồi đồng và các đồ trang sức quý giá khác, đồng thời là con vật hiến sinh trong nghi
lễ cúng giàng Các loại gia súc, gia cầm khác được đồng bào Ê Đê chăn nuôi để
có nguồn thực phẩm dùng trong các dịp cưới xin, ma chay, cúng bái Theo quan niệm
Chống rét cho vật nuôi vào những ngày rét
truyền thống của đồng bào, trong các dịp cưới xin, ma chay, cúng bái, hiến sinh nhiều gia súc, gia cầm là thể hiện sự giàu sang, quyền uy và địa vị xã hội của người chủ
2.3 Khai thác tự nhiên
Hái lượm và săn bắt luôn có vị trí quan trọng trong đời sống của cư dân với nền kinh tế tự túc, tự cấp Đi làm rẫy, đi vào rừng, đồng bào Ê Đê luôn có ý thức hái lưọm, săn bắt những thứ ăn được mang về Người Ê Đê lấy rau rừng, hoa quả dại măng rừng, nấm hương, mộc nhĩ trên rừng về ăn; lấy tre, gỗ về làm nhà ở, làm dụng cụ gia đình, lấy củi đun hàng ngày Săn bắt muông thú rừng cũng được nam thanh niên chú ý và sản phẩm thu được từ săn bắt trở thành nguồn lợi đáng kể Săn thú rừng được thực hiện ở rừng của làng Khi săn được thú, đồng bào có thói quen chia cho các gia đình, mời bà con ăn uống chung mừng cho cái may đã đến Theo truyền thống, nhiều nơi đồng bào cỏ lâm thổ sản và thịt thú rừng dùng
Trang 6N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 6 | 25
quanh năm Đánh cá cũng là nguồn lợi đáng kể đối với cư dân sinh sổng ở ven hồ, ven sông Có nơi người ta tổ chức đánh cá chung vài ngày Ở vùng này, nhiều gia đình không chỉ có cá ăn thường xuyên, mà còn có cá sấy khô để đổi lấy muối, vải, lụa Săn bắt và đánh bắt cá là những hoạt động có tính phiêu lưu, may rủi, không chỉ được nam thanh niên ưa thích, mà người tài giỏi trong việc này còn được dân làng đánh giá cao về khả năng kiếm sống
phẩm cần thiết cho đời sống
của người Ê Đê: nghề mộc,
nghề rèn, đan lát, nghê gốm,
nghề dệt Với nghề mộc làm
Nghề mộc của người Ê Đê khá phát triển
nhà, tạc tượng gỗ, khẳc phù điêu đã giúp dân tộc Ê Đê làm ra những sản phẩm rất đặc thù: trên ngôi nhà dài, trên cầu thang; lên nhà, quá giang trong nhà có nhiều phù điêu như vú phụ nữ, hình những con vật như con voi, hình n gười, hình quả bầu Nghề mộc còn làm ra các sản phẩm điêu khắc xung quanh nhà mồ Ở n gười
Ê Đê, nghề rèn khá phát triển, đồng bào tự làm lưỡi rìu, lười cuốc, chà gạc, mũi lao dùng trong săn bắt; tự làm những đồ trang sức bằng đồng N ghề đan lát đồ mây tre được từng gia đình quan tâm Những sản phẩm của nghề đan lát gồm có: gùi đeo vai, chiếu Những sản phẩm của nghề gốm là nôi nấu cơm, những chiếc
âu đựng thức ăn; sản phẩm của nghề dệt là vải mặc trong gia đình
2.5 Trao đổi, mua bán
Do nền kinh tế tụ túc nên việc trao đối buôn bán chưa phát triển nhiều, tuy nhiên
có một sô đồ dùng người Ê Đê cần nhưng chưa tự sản xuất được do vậy việc trao
Trang 7N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 7 | 25
đổi hàng là nhu cầu tất yếu Để đổi lấy hàng theo nhu cầu như cồng, chiêng, ché, những đồ trang sức bằng bạc đồng bào Ê Đê thường dùng trâu, bò đê làm vật định giá Thông thường có hai cách tiến hành trao đổi hàng là người Ê Đê đưa trâu, bò đi xuống vùng đồng bằng miền nam Trung Bộ sang Campuchia để đổi lấy hàng, hoặc có những đoàn thương lái người Kinh hoặc người Campuchia chở những hàng mà người Ê Đê cần như công chiêng, ché, đô trang sức bàng bạc đến tận làng Ê Đê sinh sổng để trao đổi lấy trâu, bò, voi, đôi khi thương lái lấy cả lợn Một năm có thể có một đôi lần đồng bào tổ chức đi trao đôi buôn bán như vậy vào mùa nông nhàn, thời tiết khô
Có tư liệu nói đến việc buôn bán nô lệ sang Campuchia, Lào, Thái Lan Tuy nhiên đây vẫn là những hiện tượng rất hi hữu
3 Văn hoá truyền thống
3.1 Làng (buôn)
Buôn là đơn vị xã hội cơ sở của
dân tộc Ê Đê Mồi buôn có một
phạm vi địa vực khá rộng, có
thể là vài kilômét vuông Phạm
vi đó được xác định bằng đường
ranh giới tự nhiên, do dân làng
quy ước với nhau, được dân
làng đó cũng như người làng
khác thừa nhận và tôn trọng
Trong buôn có đất tư và đất
công Đất tư là đất được từng gia
đình khai thác làm nhà ở, nhà kho
lúa, làm rẫy; còn đất công là đẩt chưa được khai phá, là đất để dự trừ cho dân làng khai phá làm rẫy mới, để cho dân làng thả rông trâu, bò; để cho mọi người trong làng có thể khai thác lâm thổ sản: gỗ, lồ ô, măng, nấm hương, mộc nhĩ, các loại rau rừng, săn bắn muông thú
Làng Ê Đê với những ngôi nhà dài gần nhau
Trang 8N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 8 | 25
Dân tộc Ê Đê theo chế độ mẫu hệ (hệ mẹ) Trong một buôn thường chỉ có những người cùng dòng tộc bên mẹ hoặc những người có quan hệ hôn nhân cùng cư trú Họ cùng nhau khai phá đất đai làm ăn Do vậy quan hệ cộng đồng buôn được duy trì khá bền vững Trước đây, trong các buôn, những gia đình cùng dòng tộc thường cư trú bên nhau, có người đứng đầu, có lai lịch dòng họ và đôi khi còn có những tập quán sinh hoạt riêng của buôn
Quản lý truyền thống buôn làng của dân tộc Ê Đê có hai chức danh là Pô lăn (người chủ đất) và Pô pin ea chủ bến nước Với chức danh là người chủ đất, Pô lăn đại diện cho dòng
họ Người Ê Đê cho rằng tất cả các dòng họ đều sinh ra từ hai dòng họ gốc: Niê và Mlô, trong đó dòng họ Niê Kdăm là họ làm chủ đất Pô lăn quản lý đất đai và đồng thời là người đại diện quyền sở hữu đất đai của dòng họ Phạm vi đất đai một Pô lăn quản lý có thể là một hay nhiều làng Ngược lại có khi một làng lại có nhiều Pô lăn Chức danh Pô lăn do một người phụ nữ đảm nhiệm Người phụ nữ này cũng giữ vật thiêng của dòng họ, được coi là do thần ban cho
Chức danh là chủ bển nước, nhưng trên thực tế, Pô pin ea không chỉ trông nom bến nước
mà còn quản lý, điều hành mọi công việc của buôn làng về các mặt dân chính, quân sự,
an ninh, thần quyền và quan hệ với bên ngoài Pô pin ea tồn tại cho đến đầu thế kỉ XX Sau này khi người Pháp lên cai trị trên Tây Nguyên đã đặt ra bộ máy cai trị mới với chức danh khoa buôn
Giúp việc cho Pô lăn về quân sự có K’eng, về toà án có Pô phát kải, về cúng bái có Pô riu yang (người tế tự) và mjào (thầy cúng)
Trong xã hội cổ truyền người Ê Đê có sự phân hóa giàu nghèo: người đi làm thuê, làm mướn, có người làm nô lệ cho chủ gia đình Tuy nhiên chủ gia đình vẫn luôn là người trực tiếp lao động
3.2 Nhà ở
Dân tộc Ê Đê ở nhà sàn, trước đây có nhiều nhà dài Khi nói đến chiều dài ngôi nhà, đồng bào hay nói đến số lượng dầm ngang (đê) tương ứng với một đôi cột Nhà có bao nhiêu dầm ngang là có bấy nhiêu gian Nhà của các dân tộc Tây Nguyên nói chung và nhà của đồng bào Ê Đê nói riêng không có các vì kèo, mà chỉ có cột và dầm ngang (quá giang)
Trang 9N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 9 | 25
Bộ xương mái nhà gồm một lớp kèo giả, những hàng đòn tay, rui, mè Mái được lợp bằng
cỏ gianh Do vậy, khung cột và mái nhà là hai bộ phận tách rời nhau, nhưng được ghép lại với nhau khi dựng nhà
Nhà ở của người Ê Đê được
dựng theo hướng bắc nam, khác
với nhà mồ dựng theo hướng
đông - tây, mái nhô ở hai đầu
hồi Phên dựng ở hai đầu hồi
thẳng đứng, còn phiến dựng dọc
theo chiều dài của nhà thì ngả ra
hai bên Nhìn từ xa, ngôi nhà có
dáng một chiếc thuyền Ngôi
nhà có hai cửa đi lại Cửa phía
trước dành cho nam giới và khách nam; còn cửa phía sau dành cho phụ nừ đi lại Cửa trước thường hướng đông, trước cửa có sàn, cầu thang lên sàn đổi với nhà dân thường là một khúc gỗ tròn đẽo bậc; còn đối với nhà giàu là một tấm ván to cũng đẽo bậc, đầu trên đẽo uốn về phía trước trông có dáng đầu con thuyền với những hình chạm nổi như trăng khuyết, đôi vú đàn bà Có gia đình làm thêm sàn ở cửa phía tây, dành cho trai gái ngồi trò chuyện
Không gian trong nhà theo chiều dọc được bố trí gồm hai phần theo một trật tự ổn định
Từ cửa chính đi vào là một không gian rộng, chiếm khoảng 1/3 hay 2/5 của ngôi nhà Khoảng không gian này được gọi là gah, phần không gian còn lại gọi 1 ôk Gah là nơi tiếp khách, nơi đây có bếp nấu ăn khi có khách, đồng thời đây cũng là nơi sinh hoạt chung của gia đình, nơi cúng thần linh, chỗ ngủ cho con trai chưa vợ, nơi để nhiều đồ vật quý Giữa gah và ôk được ngăn bởi cột kilômeie kpăng Trong gah, có cột phía đông và cột phía tây Cột phía đông là cột chủ, bên cạnh cột kê một phản độc mộc để người đứng đầu gia đình ngồi khi có hội họp Sát vách sau cột phía đông là nơi để một hàng ché Bên cạnh bếp khách còn có một bếp dùng nấu ăn khi có nghi lễ Xưa kia ở gian gah nhiều gia đình còn có bếp cho trai gái trò chuyện Cột phía tây là cột trống, nơi đặt trống Tại đây
có chiếc ghế kpan cao khoảng 0,5m, dài từ 10 - 20m là ghế của nhạc công đánh cồng, chiêng, đánh trống Gầm ghế thường để chiêng, cồng Phần ôk theo chiều dọc phía đông
Trang 10N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 10 | 25
là buồng ngủ của từng cặp vợ chồng, mồi buồng ngủ là một gian trong ngôi nhà dài Giữa các buồng ngủ được ngăn bằng phên tre Các buồng ngủ được sẳp xếp theo thứ tự: buồng thứ nhất từ cửa sau vào là buồng của vợ chồng người đứng đầu gia đình, tiếp đến là buồng để đồ dùng gia đình, cũng là buồng dành cho con gái út - người thừa kể gia đình, khi lấy chồng thì sử dụng Tiếp theo nữa là buồng của các cô con gái cả, con gái thứ Phía trước buồng ngủ mỗi cặp vợ chồng đều có bếp riêng Người Ê Đê chỉ ngủ quay đầu về phía đông
Kho lúa thường dựng cao hơn nhà ở Sau nhà dài là nhà kho chứa lúa Nhà kho lúa được dựng với yêu cầu tuyệt đối là chim muông, chuột không vào ăn lúa được Mặt sàn kho lúa hình vuông, có thể chứa được 2 - 3 tấn thóc trở lên
Người Ê Đê còn dựng nhà cúng cơm (sang êsêi), nhà mô (puk msat) Nhà cúng cơm dựng
ở nghĩa địa, trên cột gỗ có chạm trổ đẹp, vách thượng thu, hạ thách Nhà mồ dựng ngay trên mồ, xung quanh mồ có các cột, trên đó có hình người đội nón duôn bai, hình bầu đựng nước, cối giã gạo, voi, rùa, kỳ đà
3.3 Gia đình
Gia đình người Ê Đê trước đây là gia đình lớn, theo chế độ mẫu hệ, mẫu quyền Trong gia đình có thể có 3 - 4 thế hệ cùng sinh sống trong một ngôi nhà dài hàng chục mét Con cái tính theo dòng mẹ Con gái là người kế thừa tài sản, chăm sóc phần mộ của gia đình, dòng tộc Trong gia đình, mọi người cùng lao động, cùng hưởng thụ theo nguyên tắc dân chủ, bình đẳng, công bằng và nhường nhịn nhau Điều hành gia đình lớn là một bà chủ - đàn bà lớn tuổi, bậc trên {khoa sang) Trong nhà dài tuy có nhiều đôi vợ chồng cùng sinh sổng, nhưng chỉ có một bếp nấu ăn Bà chủ là người duy nhất được vào kho thóc lấy thóc
ra nấu cơm Sau này, tuy có nhiều bếp để các đôi vợ chồng tự nấu ăn riêng trong các căn nhà dài, nhưng bà chủ vẫn có vai trò hướng dẫn con cháu làm ăn và giúp đỡ nhau trong cuộc sổng
Gia đình Ê Đê đã phản ánh sự phân hóa xã hội Đen làng Ê Đê ta có thể nhận biết những nhà giàu có Đó là những ngôi nhà dài, có khi đến 200 mét, sàn hiên rộng, cầu thang to bản, được trang trí hình chạm nổi Phía đầu sàn thấy có hai cột nhô lên là dấu hiệu chỉ gia đình đó nuôi voi Trong nhà người giàu có nhiều hiện vật có giá trị: có ghế dài kpan, ghế pưng độc mộc Ngoài thóc dư thừa, nhà giàu còn có nhiều đồ vật quý như: đồ trang sức,
Trang 11gà, 3 ché rượu, cúng 1 lần; bậc 2, ưn bong, kpiê tlăo, phải hiển sinh 3 con lợn chưa thiến,
3 ché rượu, cúng 3 lần; bậc 3, Un kreo, kpiê êna, phải hiến sinh 1 con lợn thiến và 5 ché rượu, cúng 2 lần; bậc 4, Un keo kpiê ljuh, phải hiến sinh 1 con lợn thiến và 7 ché rượu, cúng 1 lần; bậc 5, Èmô knô, kpỉê êma phải hiến sinh 1 con bò đực và 5 ché rượu, cúng 2 lần; bậc 6, khao knô kpiê êma phải hiến sinh 1 con trâu đực và 5 ché rượu, cúng 2 lân; bậc 7, Khao knô kpiê kjuh, phải hiến sinh 1 con trâu đực và 7 ché rượu, cúng 2 lần
Người giàu trong xã hội Ê Đê vẫn tham gia lao động, nhưng họ cũng có một số hành vi thể hiện là người chủ như sử dụng nô lệ gia đình, nhận của biếu xén, cho vay nặng lãi, thuê mướn nhân công Nô lệ gia đình thường là những tù binh, những kẻ góa bụa, người nghèo không nơi nương tựa hoặc những người mắc tội không có của nộp phạt Tuy là nô
lệ gia đình, nhưng họ có thể có bếp ăn ngay trong gia đình nhà chủ Những người được chủ nhà đánh giá là tốt, có thể được giải phóng, trở thành người tự do (êngiê)
3.4 Trang phục
Tuy hình thành nhiều nhóm địa phương, nhưng y
phục Ê Đê lại tương đối thống nhất Phụ nữ Ê Đê
mặc váy dài và áo chui đầu Nam giới mặc áo
cánh, xẻ trước ngực, chiều dài quá mông và đóng
khố
Váy (myêng lang) của người Ề Đê là váy quấn, cạp
váy và gấu váy dệt hoa văn Căn cứ vào các dải
hoa văn được gia công nhiều hay ít, người ta chia
váy ra làm nhiều loại Loại tốt là myêng đếch, rồi
đến myêng drai, myêng piêk Váy thường ngày
mặc đi làm trên rẫy là bơng Ngày nay thanh niên
thường mặc váy ổng (khâu kín thành hình ống),
Trang 12N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 12 | 25
bàng lụa (myêng mút), nhiều khi không thêu Áo chui đầu của phụ nữ có thêu hoa văn ở vai, nách, cổ tay, gấu áo (ao đếch) Phụ nữ còn có áo lót cộc tay Phụ nữ Ê Đê để tóc dài, búi tó, xưa kia còn đội nón duôn bai Khố của đàn ông Ê Đê có hoa văn ở hai mép vải và hai đầu khố Hai đầu khố còn có nhiều tua vải màu thâm Khố cũng có nhiều loại, được phân loại theo chiều dài và chất lượng các dải hoa văn trên khố Khố đẹp nhất là khổ ktêh, tiếp là drai, kdruêch piêk Khố bong và băl là loại khố thường, dùng đi làm rẫy hàng ngày Áo nam giới có hoa văn dệt dọc hai bên nách, ở
gấu, vai và cổ tay Màu vải may váy, áo truyền thống là
màu chàm Chiếc áo đàn ông có giá trị nhất cua những
người quyền quý còn có dải hoa văn ở dọc hai bên nách
và gấu áo, thân sau có đính hạt cườm Trên ngực áo có
đính những sợi chỉ đỏ làm chân khuyết và khuy tạo
thành một mảng hình thang cân, đáy lớn ở trên giống
như đôi cánh chim, tượng trưng cho “đại bàng dang
cánh” tung bay giữa rừng núi Tây Nguyên bạt ngàn đầy
nắng gió
Trang sức: Nam nữ dân tộc Ê Đê đều mang đồ trang
sức bằng bạc hay đồng Các đồ trang sức như khuyên
tai, vòng tay, chuỗi hạt cườm đeo cổ thường được ưa dùng
3.5 Ẩm thực
Bữa ăn thường ngày của người Ê Đê có cơm tẻ, rau xanh, bát muối ớt Cơm nếp được dùng khi có khách hoặc trong các dịp tết Ngô, khoai, sắn cũng là nguồn lương thực quan trọng, nhất là những lúc giáp hạt, mùa màng thất bát Ngoài cơm nâu, xôi đổ, đồng bào còn làm nhiều loại bánh trong các dịp lễ tết Thức ăn trong các dịp lễ tết thường có thêm
cá, thịt gia súc hay thịt thú rừng Con trâu, con gà, con vịt sau khi bị giết chết, người ta đem thui qua lửa cho cháy cơ bản hết lông rồi mới vặt những lông còn sót lại Cách chế biến thức ăn cũng rất đa dạng Thịt gà thường luộc cả con hoặc chặt nhỏ nấu canh Các loại thịt gia súc thường được chế biến thành nhiều món khác nhau như: thịt nướng (ăm), thịt nướng bằng cặp tre có gia vị (ghangj), thịt luộc (tuk), thịt nấu với rau quả (tnk djam), thịt kho hay ninh nhừ, thịt nhồi trong ống tre có ướp gia vị (chim brông) Riêng món tiết của các con vật cũng được chế biến thành nhiều món: tiết canh lợn được chế biến từ thịt