Tổng quan về dân tộc Co, đặc điểm kinh tế và văn hoá truyền thống của dân tộc Co.Tài liệu có hình minh hoạ đuợc tổng hợp từ các nguồn thu thập đuợc từ trên internet. Đuợc dung cho mục đích tham khảo và làm tài liệu cho các đề tài. Xin mời xem thêm phần mục lục để thấy rõ cấu trúc của tài liệu.
Trang 1N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 1 | 14
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CO
MỤC LỤC:
1 Vài Nét Về Dân Tộc Co 2
2 Kinh Tế Truyền Thống 2
2.1 Trồng trọt 2
2.2 Chăn nuôi 4
2.3 Khai thác tự nhiên 4
2.4 Ngành nghề thủ công 5
2.5 Trao đỗi, mua bán 5
3 Văn hoá truyền thống 5
3.1 Làng (plây) 5
3.2 Nhà ở 7
3.3 Y phục, trang sức 8
3.4 Ẩm thực 8
3.5 Phương tiện vận chuyển 9
3.6 Ngôn ngữ 10
3.7 Tín ngưỡng tôn giáo 10
3.8 Lễ hội 12
3.9 Tục lệ cưới xin 12
3.10 Tập quán tang ma 12
3.11 Văn học, nghệ thuật 13
Trang 2N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 2 | 14
1 Vài Nét Về Dân Tộc Co
Địa bàn cư trú:
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Co ở Việt Nam có dân số 33.817 người, cư trú tại 25 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Co cư trú tập trung tại các tỉnh: Quảng Ngãi (28.110 người, chiếm 83,1% tổng số người Co), Quảng Nam (5.361 người), Kon Tum (118 người)
2 Kinh Tế Truyền Thống
2.1 Trồng trọt
Sinh sống trên địa bàn miền núi, đất dốc, đồng bào Co lấy nghề trồng trọt trên nương rẫy làm nghề làm ăn chính Cây trồng chính là cây lúa nương Đồng bào có nhiều giống lúa nương khác nhau Mỗi giống lúa có ưu điểm khác nhau: giống lúa
ba kabol gạo trắng, hạt tròn và giống lúa ba kabol hạt dài, cơm dẻo Đó là hai giống lúa ngắn ngày Hai giống lúa này đòi hỏi chất đất tốt và thường cho năng suất không cao, gặp hạn hán lại dễ bị mất mùa Giống lúa được gieo trồng nhiều nhất là giống lúa ba brak Giống lúa này là giống lúa muộn, thường cho năng suất cao hơn cả, gạo đỏ, hạt to, cơm ngon Dân tộc Co có giống lúa nếp ba chiok nhet thường dùng làm bánh cúng trong các dịp lễ tết
Dân số : 33.871 người (2009) Ngôn Ngữ: thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer
Tên gọi khác: Cua, Trầu, Khùa, Bồng Miêu
Nhóm địa phương: Cor, Col, Cùa, Trầu., Bồng Miêu, Mọi Trà Bồng, Thanh Bồng,
La Thụ Địa bàn cư trú: Quảng Nam,Quảng Ngãi, Kon Tum
Trang 3N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 3 | 14
Bên cạnh cây lúa, đồng bào trồng nhiều ngô và sắn Có hai giống ngô là ngô tẻ và ngô nếp Đồng bào thường trồng ngô vào 2 vụ: vụ trồng vào tháng giêng cho thu hoạch vào tháng 4 và vụ trồng vào tháng 5 cho thu hoạch vào tháng 8
Đồng bào Co làm nương trên các sườn đồi, có độ dốc khá lớn, để đất khỏi bị xói mòn nhanh theo những trận mưa, cho nên, kỹ thuật trồng trọt khô n ngoan và thích hợp là phát rừng, đốt, chọc lỗ, tra hạt Mỗi nương đồng bào cũng chỉ gieo trồng
Người Cor đang thu hoạch lúa trên rẫy (Ảnh: sưu tầm)
được một vụ, sau đó lại phải bỏ hóa một vài năm Trên những nương độ dốc không cao, đồng bào canh tác theo phương thức ổn định, định canh Tuy nhiên loại nương này không nhiều Kỳ thuật thu hoạch là dùng tay tuốt Bộ công cụ chủ yếu là rìu - xuôk, rựa - wưk, gậy chọc lỗ - gay da mul, cái nạo cỏ
Ngoài cây lương thực, đồng bào Co có truyền thống trồng quế và trồng trầu Quế cho nguồn thu lớn Mỗi vườn quế là tài sản quan trọng của đồng bào Người Co trồng quế bằng cách ươm hạt, chứ không cuốc lỗ bỏ hạt như cách trồng quế của người miền Bắc Ươm hạt quế rất công phu: làm luống cao khoảng 20cm, làm giàn che mưa, che nắng, nhưng vẫn đảm bảo độ thoáng mát cho cây ươm Gieo thành hàng, thưa đều Khi quế con được 10-12 tháng tuổi, có nơi, chỉ độ 20 - 30 ngày thì nhổ đi trồng Quế trồng vào mùa mưa, vào những tháng cuối năm Việc chăm sóc quế quan trọng nhất là chống sâu bệnh Cây quế trồng từ 10 năm trở lên mới cho chất lượng tốt Thu hoạch quế khá vất vả, phải chặt ngả cây quế xuống, dùng dao sắc tiện vòng tròn quanh thân cây quế, rồi dùng mảnh xương nhỏ tách lấy vỏ que Sau đó phải phơi khô Việc phơi quế cũng đòi hỏi kỹ thuật thì mới
Trang 4N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 4 | 14
đảm bảo quế có chất lượng cao Quế được phơi khô dần dần dưới nắng nhạt Đồng bào Co chia chất lượng quế thành 5 loại, mỗi loại bán với giá tiền khác nhau Chất lượng quế cao nhất, giá bán cao nhất là quế rừng, quế mọc tự nhiên trong rừng, được khai thác khi cây que đã già, trên 20 năm Thứ hai là quế kẹp hay quế chổng, loại quế này được bóc từ thân cây quế, cho nên, quế dầy và to bản Thứ ba là quế nách, lấy từ chỗ chạc cây, chạc cành Thứ tư là quế chát, lột ở phần gốc, chất lượng kém hơn Thứ năm là quế thảo, quế chi, thanh nhỏ, mỏng
vỏ
Trầu của đồng bào Co nhiều và ngon, là mặt hàng được khách miền xuôi ưa thích
Có thể vì thế mà người Co có tên gọi là trầu, mọi trầu
Trong điều kiện canh tác nương rẫy không đủ sống, cây quế có vai tr ò rất quan trọng đối với dân tộc Co Đồng bào ở những nơi có cây quế phát triển thuận lợi nhất đều lấy cây quế làm nguồn sống chủ yếu Những nơi có điều kiện sản xuất lương thực thuận lợi nhất, ý nghĩa kinh tế của cây quế vẫn nối bật Nhờ có quế, đồng bào sắm được trâu, ché, chiêng, công cụ sản xuất, đồ mặc,
2.2 Chăn nuôi
Đồng bào chăn nuôi trâu, lợn, gà Những con vật nuôi này không nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, mà chủ yếu dùng vào việc cúng tế
2.3 Khai thác tự nhiên
Sống trong vùng rừng nhiệt đới có nhiều cây cỏ khác nhau, đồng bào Co đã tận dụng nhiều hoa quả dại, rau rừng để ăn Đặc biệt rau rếch (người Kinh gọi là rau ranh) mọc tự nhiên ở khắp nơi, có thể lấy hạt nướng ăn ngon, hái lấy lá hấp cơm hoặc nấu canh ăn vừa ngọt, vừa mát Rau rừng không chỉ nh iều mà thời vụ của rau rừng kéo dài từ tháng 3 đến tháng 8 Ngoài hái lượm, đồng bào Co còn mò cua, bắt ốc, bắt cá ở các sông suối; săn bắn chim, thú rừng Có thể nói rằng hái lượm đã tham gia vào bữa ăn hàng ngày của dân tộc Co Bên cạnh rau rừng, đồng bào còn thu hái nấm hương, mộc nhĩ, mật ong lấy củi đun, lấy gỗ làm nhà ở, làm chuồng trại gia súc, gia cầm Khai thác tự nhiên luôn có vai trò quan trọng trong đời sống của người nông dân nói chung và của người Co nói riêng
Trang 5N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 5 | 14
2.4 Ngành nghề thủ công
Ngành nghề thủ công ở người Co ít phát triển Đồng bào không làm nghề dệt, cho nên họ phải mua vải và đồ may sẵn chủ yếu của người Xơ Đăng và người Kinh
Đồ trang sức cũng phải mua từ các vùng khác
2.5 Trao đỗi, mua bán
Trong vùng dân tộc Co, ngoài việc mua bán vải, dầu, muối, kim chỉ, đồ trang sức còn xuất hiện hiện tượng mua bán rất đặc thù Đó là mua bán vườn cùng với tài sản trên vườn như bán vườn quế, vườn trầu, vườn chè Do có đặc sản là quế và trầu, cho nên việc buôn bán ở vùng đồng bào Co đã xuất hiện tương đố i sớm Sử sách cũ đã từng nhắc đến chợ Trà Bồng - chợ Man ở Trà My hiện nay Đó là trung tâm giao lưu hàng hóa - quế Quế thu hút khách dồn về nơi này suốt hai mùa thu hoạch hàng năm: mùa tiền và mùa hậu Thương lái đến đậy không chỉ có người dưới xuôi, mà còn có cả người nước ngoài - người Trung Hoa
3 Văn hoá truyền thống
3.1 Làng (plây)
Làng người Co dựng ở lưng chừng núi Mỗi làng có tên gọi riêng Tên làng được đặt theo tên núi, tên sông, tên đất, tên rừng, thậm chí theo tên người đứng đầu làng Tùy thuộc vào chu kỳ quay vòng canh tác đất, đồng bào phải di chuyển làng Trong trường hợp bất thường như: bệnh dịch trầm trọng, nhiều vụ bất đắc kỳ tử, nhất là chết vì sinh đẻ, thì làng cũng buộc phải di chuyển Việc chọn đất dựng làng mới do các ông già đại diện cho từng gia đình xem xét, quyết định, trên nguyên tắc là: gần nguồn nước, có đất đủ rộng để cho sản xuất, độ dốc của đất nhỏ, địa thế cao, thoáng mát Trước đây, làng dân tộc Co thường được rào kín bằng tre, gỗ, có cổng đóng mở theo quy định nghiêm ngặt và hệ thống chông, cạm bẫy để phòng thủ Với ý nghĩa phòng thủ, chống lại cướp phá, trong làng đồng bào Co có tổ chức đội tự vệ Đội tự vệ bao gồm những thanh niên trai tráng khỏe mạnh, có tài bắn nỏ, giỏi phóng lao Đội tự vệ có nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự cho làng Khi có hiện tượng gây xung đột, bị cướp phá thì đội tự vệ là những người xung kích đứng ra dẹp “loạn”
Trang 6N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 6 | 14
Làng là đơn vị xã hội dân gian, nhưng cũng có ranh giới làng rất rõ ràng, cụ thể Mốc xác định ranh giới làng có thể là gốc cây cổ thụ, tảng đá, khe rừng, con đường, đỉnh núi, thậm chí là ngôi nhà ở rìa làng Đất trong làng có hai loại: loại đất riêng của từng gia đình và loại đất chung của cả bản Đất riêng của từng gia đình là đất đã được gia đình đó khai phá thành nương trồng lúa hoặc trồng các loại cây quế, cau, chè; đất làm nhà ở, làm chuồng trại chăn nuôi Loại đất này chỉ gia đình được sử dụng Đất chung của cả làng là đất rừng nằm trong phạm vị của làng nhưng chưa ai khai phá thành nương hay thành vườn trồng cây công nghiệp Đất chung của làng có ý nghĩa rất quan trọng đối với cuộc sống của đồng bào Co sinh sống trong làng đó Hàng ngày trong cuộc sống của mình, người dân làng không chỉ lao động và hưởng sản phẩm làm ra trên mảnh nương, mảnh vườn của mình, mà còn hưởng nhiều sản phẩm thu hái từ rừng để bổ sung vào bừa ăn Những sản phẩm đó là: củi đun, rau rừng, măng rừng, thịt thú rừng Rừng còn là nguồn đất dự trữ cho cuộc sống du canh, luân canh, di cư
Trong làng dân tộc Co quan hệ thân tộc và quan hệ họ hàng cùng tồn tại như làng mọi dân tộc khác Tuy nhiên quan hệ thân tộc vẫn là chủ yếu Người trong làng chủ yếu là có
họ hàng nội ngoại dâu, rể xa gần với nhau; chỉ có số rât ít là những người cộng cư, không
thân thuộc với
ai trong làng
Dân làng Cor (Ảnh minh họa)
Trang 7N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 7 | 14
Làng của dân tộc Co là đơn vị “hành chính” tự quản Đứng đầu làng là một người đàn ông sinh sống lâu đời ở trong làng giỏi xử thế, có kinh nghiệm làm ăn, thông thạo phong tục, tập quán, có uy tín cao trong dân Nhiệm vụ của người đứng đầu làng được quy định
rõ là: đôn đốc sản xuất cũng như bảo vệ làng, tổ chức các nghi lễ cúng tập thể khi di chuyển làng; giải quyết bất hòa nội bộ hoặc xích mích giữa người trong làng với người ngoài làng, chủ trì giải quyết các vi phạm luật tục Trong làng còn có bà đỡ đẻ - khui mo rởp lak Bà đỡ đẻ là người trong làng, có tấm lòng nhân hậu, có nhiều kinh nghiệm đỡ đẻ
3.2 Nhà ở
Nhà ở của người Co là nhà sàn Theo
tập quán xưa, người Co ở nhà dài
(còn gọi là nóc) Dân làng cùng nhau
làm một ngôi nhà, sau đó từng hộ
được chia diện tích riêng Có máng
dẫn nước về đến nhà ở, máng nước
dẫn về phía đầu nhà Ngôi nhà có thể
được kéo dài bằng cách làm thêm
gian nối vào nhà phía có máng nước, khi có thành viên mới xin nhập cư sau Nhà sàn của người Co được làm bàng gỗ, sàn lát bàng tre, nứa, mái lợp cỏ gianh Người ở trên sàn, dưới gầm sàn là nơi để củi, nhốt lợn, gà Ngoài nhà người ở, đồng bào còn làm thêm hai,
ba sàn để tạo mặt bằng thông thoáng phơi lúa, cất đồ đạc, sấy thuốc lá Nhà ở của dân tộc
Co được chia thành ba phần: lối đi ở giữa, một bên được ngăn thành những buồng nhỏ cho các gia đình sinh hoạt riêng, nấu ăn và ngủ, còn một bên dùng làm nơi sinh hoạt chung: tiếp khách, tổ chức lễ hội, ăn uống đông người Xưa kia, dân làng thường tập trung sống trong mấy ngôi nhà dài kiểu này Hiện nay nhà ở của đồng bào Co có sự đổi thay theo hướng làm nhà đất, vì hiện nay cây rừng bị khai thác nhiều, gồ ít đi Ngôi nhà dài (nóc) cũng có xu hướng tách thành nhiều ngôi nhà nhỏ, lợp tôn, lợp ngói
Ngôi nhà nhỏ là nơi sinh sống của một gia đình, ít người, ít phụ thuộc vào nhau, tiện cho việc quản lý sản xuất, sinh hoạt Tuy nhiên tàn dư gia đình lớn còn khá rõ nét Còn tồn tại những căn nhà gồm hai - ba cặp vợ, chồng nhưng kinh tế riêng, bếp nấu ăn riêng
Trang 8N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 8 | 14
Dân tộc Co trước đây không có tên họ, chỉ có tên cá nhân Sau cách mạng tháng 8 - 1945,
do ảnh hưởng của cách mạng, đồng bào khai họ Đinh Từ thời kỳ đồng khởi Trà Bồng, nhất là sau ngày giải phóng miền Nam, hầu hết người Co nhận họ Hồ - họ của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, một số ít nhận họ Trương, họ Lê Con cái sinh ra tất cả đều lấy họ cha, tên đệm phổ biến là con trai đệm Văn, con gái đệm Thị Dân tộc Co có khái niệm về họ nội -
họ bên cha và họ ngoại - họ bên mẹ, nhưng không quá phân biệt như một số dân tộc khác Trong cúng bái, họ khấn gọi những người quá cố theo trật tự khấn ông trước, bà sau, bên dòng cha trước, bên dòng mẹ sau: khấn các cụ bên cha trước, khân các cụ bên mẹ sau; ông bà bên cha trước, ông bà bên mẹ sau
3.3 Y phục, trang sức
Theo truyền thống, nam giới Co đóng khố, ở trần; phụ nữ quấn váy (ateo) đài quá đầu gối Mùa lạnh đồng bào khoác tấm chăn Người Co để tóc dài, búi tóc sau ót (gáy), một
số phụ nữ để tóc lá bài trước trán Ngày nay nam nữ thanh niên có chiều hướng ăn mặc theo kiểu âu phục
3.4 Ẩm thực
Người Co ăn cơm tẻ, muối ớt, rau là chính Đó là những sản vật do chính họ sản xuất ra Rau xanh có nhiều loại: rau trồng và rau rừng Sinh sống ở miền núi, rau rừng tham gia vào bữa ăn hàng ngày của đồng bào Mặc dù chăn nuôi được tiến hành ở từng gia đình, nhưng chăn nuôi chủ yếu nhằm phục vụ cho các nghi lễ cúng bái, do đó, chỉ vào các dịp
Trang phục truyền thống của dân tộc Cor
(Ảnh: sưu tầm)
Trang 9N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 9 | 14
lễ tiết, cúng bái, đồng bào mới hay ăn thịt Trước đây đông bào quen ăn bốc bằng tay Đồ uống là nước lã, rượu cần Tục ăn trầu rất phổ biến trước đây nay chỉ được duy trì ở lớp người lớn tuổi; tục hút thuốc lá vẫn còn phổ biến trong lớp người lớn tuổi cũng như lớp trẻ
“Rau xanh ốc đá là cá nậu nguồn”-những nguyên liệu thứ yếu trong
ẩm thực của dân tộc Cor (Ảnh: sưu tầm)
3.5 Phương tiện vận chuyển
Đồng bảo Co cũng như các dân tộc sinh sống ở miền
núi khác là dùng gùi để làm phương tiện vận chuyển
Chiếc gùi do đồng bào tự đan, gắn với từng người lao
động trong gia đình
Chiếc gùi (Ảnh minh họa)
Trang 10N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 10 | 14
3.6 Ngôn ngữ
Tiếng nói của dân tộc Co thuộc ngữ hệ Nam Á,
nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer Một số nhà nghiên
cứu cho rằng, tiếng nói của dân tộc Co rất gần gũi
với tiếng nói của các dân tộc Xơ Đăng, Ba Na,
Giẻ - Triêng, Hrê và chúng hợp với nhau thành
nhóm ngôn ngữ “Ba Na phía bắc”
Trong lịch sử, dân tộc Co chưa có chữ viết riêng của dân tộc mình Thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhà nước ta xây dựng chữ cho dân tộc Co, nhưng đến khi giải phóng (1975), việc xây dựng chữ cho đồng bào chưa kết thúc
3.7 Tín ngưỡng tôn giáo
Ảnh: Bảng chữ cái của người Môn-Khmer