1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai trong vụ xuân và đông năm 2005 tại thái nguyên

100 291 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 3,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là nguồn thu ngoại tệ lớn ở các nước như Mỹ, Achentina, Pháp… Chính nhờ vai trò quan trọng đó của cây ngô trong nền kinh tế thế giới mà trong những năm gần đây diện tích, năng suất v

Trang 1

Đại học Thái nguyên Trường đại học nông lâm

Người hướng dẫn khoa học:

1 TS Nguyễn Hữu Hồng

2 TS Mai Xuân Triệu

Thái Nguyên, 2007

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành đ6 được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ6 được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Trần Thị Lan Hương

Trang 3

ơ

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn, trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của thầy Nguyễn Hữu Hồng và thầy Mai Xuân Triệu đã chỉ bảo tận tình về phương hướng và phương pháp nghiên cứu cũng như hoàn thiện luận văn

Sự hợp tác và giúp đỡ về địa bàn nghiên cứu của xóm Việt Cường - Hoá Thượng - Đồng Hỷ - Thái Nguyên

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Trần Thị Lan Hương

Trang 4

Mục lục

Phần mở đầu 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục đích và yêu cầu 3

2.1 Mục đích 3

2.2 Yêu cầu 3

Chương 1: Tổng quan tài liệu 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.2 Giá trị kinh tế của ngô trên thế giới và Việt Nam 4

1.2.1 Ngô làm lương thực cho người 5

1.2.2 Ngô làm thức ăn cho chăn nuôi 5

1.2.3 Ngô làm thực phẩm và thuốc chữa bệnh 6

1.2.4 Ngô dùng cho mục đích khác 7

1.3 Các loại giống ngô 7

1.3.1 Giống ngô thụ phấn tự do (Open pollinated variety - OPV) 7

1.3.2 Giống ngô lai (Hybrid maize) 9

1.4 Tình hình sử dụng giống ngô 12

1.5 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và trong nước 13

1.5.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 13

1.5.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam 20

1.6 Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên 26

1.7 Tình hình nghiên cứu giống ngô lai ở Việt nam 27

1.8 Khảo nghiệm và đánh giá giống ngô mới 31

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu 37

2.1 Vật liệu thí nghiệm 37

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 37

2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 38

2.3.1 Nội dung nghiên cứu 38

2.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 38

2.3.3 Quy trình kĩ thuật áp dụng trong thí nghiệm 39

2.3.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi 39

2.4 Thu nhập số liệu khí tượng 43

2.5 Phân tích sử lý số liệu 43

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 44

3.1 Đặc điểm thời tiết khí hậu trong vụ Xuân và vụ Đông năm 2005 tại Thái Nguyên 44

3.1.1 Nhiệt độ 45

Trang 5

3.1.2 ẩm độ 46

3.1.3 Lượng mưa 46

3.2 Khả năng sinh trưởng và phát triển của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và đông năm 2005 tại Thái Nguyên 48

3.2.1 Đặc điểm sinh trưởng - phát triển của các giống ngô thí nghiệm 48

3.2.1.1 Giai đoạn từ gieo đến mọc 49

3.2.1.2 Giai đoạn trỗ cờ, tung phấn, phun râu 50

3.2.1.3 Giai đoạn từ gieo đến chín sinh lý (thời gian sinh trưởng) 52

3.2.2 Đặc điểm hình thái của các giống ngô thí nghiệm trong vụ Xuân và vụ Đông năm 2005 tại Thái Nguyên 53

3.2.2.1 Chiều cao cây 54

3.2.2.2 Chiều cao đóng bắp 55

3.2.2.3 Số lá trên cây 58

3.2.2.4 Chỉ số diện tích lá 59

3.2.3 Khả năng chống chịu của các giống ngô thí nghiệm trong vụ Xuân và vụ Đông năm 2005 60

3.2.3.1 Khả năng chống chịu sâu bệnh 60

3.2.3.2 Khả năng chống đổ của các giống ngô thí nghiệm 65

3.2.4 Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và Đông năm 2005 67

3.2.4.1 Trạng thái cây 68

3.2.4.2 Trạng thái bắp 69

3.2.4.3 Độ bao bắp 69

3.2.5 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và Đông năm 2005 70

3.2.5.1 Số bắp trên cây 71

3.2.5.2 Chiều dài bắp 71

3.2.5.3 Đường kính bắp 72

3.2.5.4 Số hàng hạt trên bắp 72

3.2.5.5 Số hạt trên hàng 73

3.2.5.6 Khối lượng 1000 hạt 74

3.2.5.7 Năng suất lý thuyết 74

3.2.5.8 Năng suất thực thu 75

Trang 6

3.2.6 Nhận xét và đánh giá về dạng bắp, dạng hạt, màu sắc hạt 77

3.3 Kết quả trình diễn giống ngô SX2017 vụ Xuân năm 2006 78

3.3.1 Thời gian sinh trưởng và năng suất của SX2017 và giống đại trà 79

3.3.2 Một số đặc điểm hình thái, khả năng chống chịu của giống SX2017 và giống đại trà 79

Bảng 3.13 Trạng thái và khả năng chống chịu của giống SX2017 và giống CP888 vụ Xuân năm 2006 79

3.3.3 Kết quả năng suất của giống ngô trình diễn vụ Xuân năm 2006 80

Phần kết luận và đề nghị 82

I Kết luận 82

1 Thời gian sinh trưởng 82

2 Khả năng chống chịu sâu bệnh 82

3 Năng suất thực thu 82

4 Kết quả mô hình trình diễn 82

II Đề nghị 82

Tài liệu tham khảo 84

Trang 7

Danh mục các bảng biểu

Bảng 1.1 Thành phần hoá học của hạt ngô và gạo (Phân tích trên 100g) 5

Bảng 1.2 Giá trị dinh dưỡng của ngô rau và một số rau khác 6

Bảng 1.3 Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến 2020 14

Bảng 1.4 Tình hình sản xuất ngô thế giới 1985 - 2005 15

Bảng 1.5 Đầu tư hàng năm vào tạo giống ngô trong những thập kỷ gần đây ở cả khu vực nhà nước lẫn tư nhân ở Mỹ 16

Bảng 1.6 Diện tích cây trồng chuyển gen trên thế giới năm 2005 17

Bảng 1.7 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới qua các nông vụ 18

Bảng 1.8: Tình hình sản xuất ngô của một số quốc gia trên thế giới năm 2005 19

Bảng 1.9 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 1975 - 2006 21

Bảng 1.10 Tình hình sản xuất ngô ở các tỉnh Miền Núi ở phía Bắc giai đoạn năm 2002 - 2005 Error! Bookmark not defined. Bảng 1.11 Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên giai đoạn 2000 - 2005 26

Bảng 2.1 Tên và nguồn gốc các giống ngô thí nghiệm 37

Bảng 3.1 Một số đặc điểm thời tiết khí hậu vụ Xuân và vụ Đông năm 2005 44

Bảng 3.2 Các giai đoạn sinh trưởng - phát triển của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và Đông năm 2005 49

Bảng 3.3 Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và Đông năm 2005 54

Bảng 3.4 Chỉ tiêu số lá trên cây và chỉ số diện tích lá của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và Đông năm 2005 58

Bảng 3.5 Khả năng chống chịu sâu bệnh hại của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và Đông năm 2005 62

Bảng 3.6 Khả năng chống đổ của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân năm 2005 66

Bảng 3.7 Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và vụ Đông năm 2005 68

Bảng 3.8 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất vụ Xuân năm 2005 70

Bảng 3.9 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất vụ Đông năm 2005 71

Bảng 3.10 Năng suất thực thu của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và Đông năm 2005 76

Trang 8

B¶ng 3.11 D¹ng b¾p, d¹ng h¹t, mµu s¾c h¹t cña c¸c gièng ng« tham gia thÝ nghiÖm

trong vô §«ng vµ vô Xu©n n¨m 2005 77B¶ng 3.12 Thêi gian sinh tr−ëng vµ n¨ng suÊt cña gièng ng« tr×nh diÔn vô Xu©n

n¨m 2006 79B¶ng 3.13 Tr¹ng th¸i vµ kh¶ n¨ng chèng chÞu cña gièng SX2017 vµ gièng CP888

vô Xu©n n¨m 2006 79B¶ng 3.14 KÕt qu¶ n¨ng suÊt tr×nh diÔn mét sè n«ng hé vô Xu©n n¨m 2006 80

Trang 9

Danh mục các đồ thị và biểu đồ

Đồ thị 1: Sản xuất ngô của Việt Nam từ 1975 - 2005 22Biểu đồ 3.1: Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của các giống ngô thí nghiệm vụ

Xuân 2005 57Biểu đồ 3.2: Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của các giống ngô thí nghiệm vụ

Đông 2005 57Biểu đồ 3.3 Khả năng chống đổ vụ Xuân 2005 66Biểu đồ 3.4 NSTT của các giống ngô thí nghiệm trong vụ Đông và vụ Xuân 77

Trang 10

Phần mở đầu

1 Đặt vấn đề

Cây ngô cùng với lúa mỳ và lúa nước là ba cây ngũ cốc quan trọng nhất trong nền sản xuất nông nghiệp thế giới nuôi sống loài người trên hành tinh chúng ta Với vai trò làm lương thực cho người (17% tổng sản lượng), thức ăn chăn nuôi (66%), nguyên liệu công nghiệp (5%) và xuất khẩu (hơn 10%), ngô

đ6 trở thành cây trồng đảm bảo an ninh lương thực, góp phần chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng từ trồng trọt sang chăn nuôi, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và sản phẩm hàng hoá cho xuất khẩu ở nhiều nước trên phạm vi thế giới (Ngô Hữu Tình, 2003) [15]

Trong những năm gần đây, ngô còn được dùng làm cây thực phẩm có giá trị kinh tế cao Người ta đ6 sử dụng bắp ngô non (ngô bao tử) làm rau ăn cao cấp Nghề trồng ngô rau đóng hộp xuất khẩu phát triển mạnh đem lại hiệu quả kinh tế cao ở nhiều nước ngô còn là hàng hoá xuất khẩu thu ngoại tệ, trên thế giới hàng năm lượng ngô xuất khẩu khoảng 70 triệu tấn Đó là nguồn thu ngoại tệ lớn ở các nước như Mỹ, Achentina, Pháp…

Chính nhờ vai trò quan trọng đó của cây ngô trong nền kinh tế thế giới

mà trong những năm gần đây diện tích, năng suất và sản lượng ngô tăng lên không ngừng Sở dĩ có sự phát triển như vậy là do cây ngô có khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái rộng, có thể áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật về mặt

di truyền chọn giống, về kỹ thuật canh tác, về cơ giới hoá và bảo vệ thực vật…vào sản xuất, đặc biệt là những ứng dụng về ưu thế lai trong quá trình chọn tạo giống ngô Ngô lai là một thành tựu nông nghiệp cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp thế giới

ở Việt nam, ngô chỉ chiếm 8% diện tích cây lương thực nhưng nó có vai trò quan trọng Hiện nay ngô là cây lương thực quan trọng ở cả đồng bằng, trung du và miền núi về cả hai mặt: làm lương thực cho người và thức

ăn cho chăn nuôi Trong thời gian qua cùng với xu hướng chung của thế giới, diện tích, năng suất và sản lượng ngô ở nước ta cũng tăng lên đáng kể ở nước

ta hiện nay phần lớn ngô được sử dụng làm thức ăn cho chăn nuôi chiếm khoảng 80% sản lượng ngô Một phần ngô được dùng làm lương thực và là

Trang 11

lương thực chính cho một số đồng bào dân tộc thiểu số miền núi, đặc biệt ở những vùng khó khăn, không có điều kiện trông lúa nước hoặc những vùng có tập quán sử dụng ngô lâu đời Nhu cầu sử dụng ngô ở nước ta rất lớn và ngày càng tăng, theo tính toán của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn lượng ngô cần trong tương lai là 6 - 8 triệu tấn vào năm 2010 Do vậy Nhà nước ta đ6

có chiến lược phát triển ngô trên phạm vi cả nước Đối với vùng có điều kiện thâm canh thì phát triển sản xuất ngô lai có tiềm năng năng suất cao Đối với vùng khó khăn thì phát triển sản xuất ngô thụ phấn tự do vừa đạt năng suất cao vừa đem lại hiệu quả kinh tế

Ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa của nông dân vùng Trung du và Miền núi phía Bắc nói chung và là cây lương thực chính của

đồng bào dân tộc miền núi cao nói riêng ở một số tỉnh như Hà Giang, Cao Bằng, Sơn La, Lai Châu thì ngô dường như là cây trồng truyền thống số một Ngô dùng làm lương thực chủ yếu cho đồng bào các dân tộc H'Mông, Dao, Tày, Nùng mặc dù sản lượng lúa ở vùng này cũng tăng lên đáng kể nhưng một lượng lớn ngô ở đây vẫn được sử dụng làm lương thực cho đồng bào dân tộc và sử dụng trong chăn nuôi Tuy nhiên sản xuất ngô ở vùng này còn gặp nhiều khó khăn do điều kiện tự nhiên, kinh tế - x6 hội khó khăn Sản xuất ngô chủ yếu trên đất đồi, b6i vừa cao vừa dốc, đất nghèo dinh dưỡng không chủ

động được nước tưới, chủ yếu nhờ nước trời nên canh tác gặp nhiều khó khăn,

đồng thời người dân không có điều kiện đầu tư cao về giống, phân bón thuốc trừ sâu Nông dân vùng núi cao trồng ngô theo kiểu quảng canh, đầu tư phân bón và dựa vào chính phủ trợ giá hoặc cho vay, hơn nữa sản xuất ngô ở đây còn gặp nhiều khó khăn trong việc bảo quản, chế biến ngô thương phẩm Vì vậy muốn đưa được nghề sản xuất ngô kịp các nước trong khu vực và đạt năng suất bình quân của thế giới, chúng ta cần không ngừng mở rộng diện tích ngô lai một cách hợp lý và tăng cường đầu tư thâm canh Do đó cần có những giống ngô năng suất cao, có khả năng chống chịu tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng Quá trình khảo sát sẽ loại bỏ được những tổ hợp

Trang 12

không phù hợp với điều kiện bất thuận của ngoại cảnh, từ đó giúp cho quá trình đánh giá và chọn tạo giống hiệu quả hơn

Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên chúng tôi đ6 tiến hành nghiên cứu đề

tài "Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số

2 Mục đích và yêu cầu

2.1 Mục đích

Xác định một số giống ngô lai có triển vọng để giới thiệu cho sản xuất

đại trà tại Thái Nguyên làm cơ sở cho quá trình chọn tạo giống cho các tỉnh Trung du và Miền núi phía Bắc

2.2 Yêu cầu

Theo dõi tình hình sinh trưởng, phát triển của các giống ngô lai trong

điều kiện vụ Xuân và vụ Đông năm 2005 tại trường ĐHNL Thái Nguyên

- Theo dõi một số đặc tính chống chịu của các giống ngô lai (chống chịu sâu bệnh, chống đổ, gẫy…)

- Theo dõi về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống tham gia thí nghiệm

Trang 13

Chương 1 Tổng quan tài liệu

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Trong sản xuất nông nghiệp, giống đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng nói chung và cây ngô nói riêng Tuy nhiên với mỗi vùng sinh thái khác nhau thì khả năng phản ứng của cây trồng cũng khác nhau Do đó để phát huy hiệu quả của mỗi giống cần

sử dụng một cách hợp lý, phù hợp với điều kiện sinh thái, khí hậu, đất đai, kinh tế - x6 hội của từng vùng Muốn có những giống ngô mới có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh nhanh chóng và hiệu quả cần nghiên cứu lai tạo, chọn lọc một cách kỹ lưỡng, xác

định vùng thích nghi của các giống mới trước khi đưa vào sản xuất đại trà Vì thế các giống cây trồng nói chung cũng như các giống ngô mới nói riêng cần phải đựơc đưa vào khảo nghiệm ở các vùng sinh thái khác nhau, để đánh giá khách quan, chính xác, kịp thời nhằm đưa ra các giống ngô mới thích hợp cho từng vùng, từng địa phương và hệ thống luân canh mới

Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đ6 kéo theo sự phát triển của các vùng sản xuất Mục đích sản xuất ngô hàng hoá với sản lượng cao quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường cần phải có những biện pháp hữu hiệu như đưa ra các giống ngô mới có nhiều ưu thế vào sản xuất thay thế các giống ngô cũ năng suất thấp Cho nên cần phải đánh giá một cách khách quan, kịp thời có cơ sở khoa học về những giống mới ở các vùng khác nhau nhằm đánh giá tính khác biệt, độ đồng nhất, độ ổn định, khả năng thích ứng, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận cũng như chất lượng và hiệu quả kinh tế của giống mới

1.2 Giá trị kinh tế của ngô trên thế giới và Việt Nam

Trên bình diện cả thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng ngô chủ yếu được sử dụng cho các mục đích sau:

Trang 14

1.2.1 Ngô làm lương thực cho người

Ngô là cây lương thực quan trọng góp phần nuôi sống gần 1/3 dân số trên thế giới Tất cả các nước trồng ngô đều ăn ngô ở các mức độ khác nhau, 21% sản lượng ngô thế giới (hơn 100 triệu tấn) được sử dụng làm lương thực cho người Các nước Trung Mỹ, Nam á và Châu Phi sử dụng ngô làm lương thực chính Các nứơc Đông Nam Phi sử dụng 85 % sản lượng ngô làm lương thực cho người, Tây Trung Phi 80%, Bắc Phi 42 %, Tây á 27%, Đông Nam á

và Thái Bình Dương 39%, Đông á 30%, Trung Mỹ và Caribe 61% ở Việt Nam tỷ lệ ngô sử dụng làm lương thực chiếm 15 - 20% Sở dĩ ngô vẫn là cây lương thực quan trọng vì nó có thành phần dinh dưỡng cao hơn gạo (Ngô Hữu Tình, 1997; Trần Hồng Uy, 1999) [12] [22]

Bảng 1.1 Thành phần hoá học của hạt ngô và gạo (Phân tích trên 100g)

Ngoài việc cung cấp chất tinh, cây ngô còn đựơc dùng làm thức ăn xanh

và ủ chua lý tưởng cho đại gia súc, đặc biệt là cho bò sữa ở Việt Nam hơn 70% sản lượng ngô được dùng cho mục đích chăn nuôi

Trang 15

1.2.3 Ngô làm thực phẩm và thuốc chữa bệnh

Những năm gần đây ngô còn được dùng như một cây thực phẩm, người

ta dùng bắp ngô bao tử như một loại rau cao cấp Sở dĩ ngô rau được ưa dùng vì có hàm lượng chất dinh dưỡng cao và có thể coi như một loại rau sạch (bảng 1.2) Ngoài ra các loại ngô nếp, ngô đường được dùng làm thức ăn tươi hoặc đóng hộp làm thực phẩm xuất khẩu

Bên cạnh đó còn có thể chế biến thành các món ăn và bài thuốc có tác dụng tốt cho sức khoẻ Chống suy dinh dưỡng và trị bệnh Theo Đông y các

bộ phận của cây ngô đều được dùng làm thuốc với công dụng chính là lợi thuỷ, tiêu thũng, trừ thấp, góp phần trừ một số bệnh như: biếu cổ, sốt rét Theo Tây y, ngô chứa nhiều Kali, có tác dụng tăng bài tiết mật, giảm Bililubin trong máu Nhiều tài liệu cho thấy ngô có lợi cho hệ tiêu hoá, tim mạch, tiết liệu, sinh dục, chống ôxy hoá, l6o hoá, ung thư (BS Phó Đức Thuần, 2003) [20]

Bảng 1.2 Giá trị dinh dưỡng của ngô rau và một số rau khác

Trang 16

1.2.4 Ngô dùng cho mục đích khác

Ngoài các mục đích trên, ngô còn được dùng làm nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất rượu, cồn, tinh bột, dầu ngô, bánh kẹo…từ ngô, người ta đ6 sản xuất ra khoảng 670 mặt hàng khác nhau của các ngành công nghiệp, lương thực thực phẩm, công nghiệp dược, làm đệm hay đồ trang trí mỹ nghệ

ở Việt Nam, tỷ lệ ngô sử dụng cho mục đích này khoảng 5 - 10%, (Ngô Hữu Tình, 1997) [13]

1.3 Các loại giống ngô

Giống đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của ngành trồng ngô trên thế giới Nhờ những thành tựu trong công tác giống mà năng suất và sản lượng ngô trên thế giới tăng lên liên tục trong vòng mấy chục năm qua Giống ngô được chia làm 2 nhóm chính: nhóm ngô thụ phấn tự do và nhóm ngô lai (FAO/ UNDP/ 80/ 004/ 1988) [34]

1.3.1 Giống ngô thụ phấn tự do (Open pollinated variety - OPV)

Giống ngô thụ phấn tự do là danh từ chung để chỉ loại giống mà trong quá trình sản xuất hạt giống, con người không cần can thiệp vào quá trình thụ phấn (Dương Văn Sơn, 1996) Đây là những khái niệm tương đối nhằm phân biệt với loại giống lai Theo G.F.Sprague, Etal, 1975; SK.Val; CA Ortega,

1982, giống ngô thụ phấn tự do gồm hai dạng chính:

- Giống ngô địa phương (Local Vaviety)

- Giống ngô thụ phấn tự do cải tiến (Improvel Vaviety)

Giống ngô địa phương là những giống ngô được trồng từ lâu đời ở một

vùng sản xuất với tác động chọn lọc của người địa phương, chúng có các đặc

điểm sau:

Thích ứng với điều kiện khí hậu của vùng

Thích ứng với điều kiện canh tác và tập quán sản xuất địa phương

Phẩm chất phù hợp với thị hiếu và cách thức chế biến của dân địa phương

Dễ để giống, dễ bảo quản

Chống chịu tốt với điều kiện bất thuận của vùng

Trang 17

Với các đặc điểm trên, giống ngô địa phương đang được dùng làm nguồn vật liệu để lai với nguồn nhập nội nhằm tạo ra các giống lai có năng suất cao hơn mà vẫn giữ được đặc tính tốt (Trần Như Luyện, Luyện Hữu Chỉ, 1982) [8]

Phần lớn các dòng ngô được tạo ra từ vật liệu địa phương có tính chịu hạn cao, cấu trúc rất tốt, chống chịu sâu đục thân khá, do đó dòng ngô địa phương là nguồn quan trọng cho công tác tạo giống ngô trên cơ sở ưu thế lai (Tomov, 1990) [37]

Giống thụ phấn tự do cải tiến

Giống thụ phấn tự do cải tiến bao gồm các giống tổng hợp và hỗn hợp

có một số đặc điểm chính như hiệu ứng gen cộng được khai thác trong chọn tạo, có nền di truyền rộng nên thích ứng rộng, có tiềm năng năng suất khá hơn các giống địa phương, độ đồng đều chấp nhận được, dễ sản xuất, giá giống rẻ, giống sử dụng được hai ba đời (Mai xuân triệu, 1998) [16]

Giống thụ phấn tự do cải tiến gồm giống tổng hợp và giống hỗn hợp

+ Giống tổng hợp (Synthetie variety):

Là giống lai nhiều dòng qua con đường đánh giá khả năng kết hợp chung của các dòng, thường là trên 6 dòng (Sprague,1977)[36] Giống tổng hợp được sử dụng đầu tiên trong sản xuất nhờ đề xuất của Hayes và Garbernin

1919 (Ngô Hữu Tình,1997) [13], hai tác giả này cho rằng sản xuất hạt giống ngô cải tiến bằng cách tái hợp nhiều dòng tự phối có ưu điểm hơn so với lai

đơn, lai kép thời bấy giờ vì nông dân có thể giữ được giống từ 2-3 vụ

Để tạo giống tổng hợp các bước cần tiến hành như sau:

- Tạo các dòng (thường là dòng đời thấp)

Trang 18

của chúng Giống tổng hợp còn được coi là nguồn vật liệu tốt để rút dòng và

nó được coi là giống của thời kỳ quá độ trước khi sử dụng giống lai

+ Giống hỗn hợp (Composite variety):

Giống hỗn hợp là thế hệ tiến triển của tổ hợp các nguồn vật liệu ưu tú

có nền di truyền khác nhau Nguồn vật liệu này bao gồm các giống thụ phấn

tự do, giống tổng hợp, giống lai kép…được chọn theo một số chỉ tiêu như năng suất, thời gian sinh trưởng, dạng màu hạt, tính chống chịu với điều kiện ngoại cảnh…những giống ngô thụ phấn tự do cải tiến đầu tiên ra đời vào những năm 70 của thế kỷ XIX, khi các nhà tạo giống tiến hành lai giữa các quần thể với nhau và áp dụng phương pháp chọn lọc với quần thể mới (C.O Gardner, 1978) Quá trình tạo giống hỗn hợp bao gồm các bước sau:

- Chọn vật liệu ban đầu, điều này phụ thuộc vào ý định cuả nhà chọn giống và các chỉ tiêu, hình thái, sinh lý và năng suất

- Xác định phản ứng qua lai thử

- Tạo lập giống hỗn hợp bằng cách tái tổ hợp cân bằng các tổ hợp lai tốt

- áp dụng phương pháp chọn lọc thích hợp để cải tiến quần thể theo ý muốn

Theo Mai Xuân Triệu (1998) [16] giống hỗn hợp khác giống tổng hợp ở chỗ có nền di truyền rộng và nhà chọn giống không thể kiểm soát được chặt chẽ khả năng kết hợp của các vật liệu tạo giống

1.3.2 Giống ngô lai (Hybrid maize)

Ngô lai là kết quả ứng dụng ưu thế lai trong tạo giống hay là kết quả của tác động gen trội (Ngô Hữu Tình, 1997) [13] giống ngô lai có một số đặc

điểm sau:

- Hiệu ứng trội và siêu trội được sử dụng trong quá trình chọn tạo giống

- Giống có nền di truyền hẹp, thường thích ứng hẹp

- Năng suất cao

- Độ đồng đều cao

- Cần có hệ thống sản xuất hạt giống hoàn thiện nhưng hạt giống chỉ sử dụng được một đời F1, giá thành giống đắt

Trang 19

Có thể nói ngô lai là một thành tựu khoa học nông nghiệp cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thế giới Nó đ6 làm thay đổi những bức tranh cây ngô trong qúa khứ, mà cả quan điểm của các nhà chiến lược, các nhà quản lý, các nhà kỹ thuật và người nông dân Ngô lai là cuộc "cách mạng xanh" của nửa thế kỉ XX Hiện tượng ưu thế lai lần đầu tiên được quan sát năm 1871 bởi Charles Darwwir (Ngô Hữu Tình, 1997) [13]

Hiện nay ngô lai được chia thành hai nhóm: giống lai không quy ước (Nonconventional hybrid) và giống lai quy ước (Conventional hybrid) (Viện nghiên cứu ngô, 1996) [27]

+ Giống lai không quy ước

Đây là giống ngô lai được tạo ra khi có ít nhất một thành phần bố hoặc

mẹ không phải là dòng thuần

Các giống lai không quy ước có thể là:

- Giống x giống: lai giữa các giống thường cho năng suất cao hơn 15 - 18% so với giống thụ phấn tự do có cùng thời gian sinh trưởng

- Dòng x giống (lai đỉnh): các tổ hợp lai đỉnh cao cho năng suất cao hơn

25 - 30% so với giống thụ phấn tự do có cùng thời gian sinh trưởng

- Lai đơn x giống (lai đỉnh kép): con lai cho năng suất cao hơn 20 -30%

so với giống thụ phấn tự do có cùng thời gian sinh trưởng

- Gia đình x gia đình Giống ngô lai không quy ước có một số ưu điểm sau: + Để tạo giống và cho năng suất cao hơn và giống OPV do lợi dụng

được ưu thế lai các giống lai ưu tú cho năng suất cao và ổn định, ưu thế lai có thể duy trì 1-2 thế hệ

+ Giá hạt giống thấp

+ ở mức độ thâm canh vừa phải các giống ngô loại này cho năng suất khá, hiệu quả kinh tế cao hơn so với dùng giống thụ phấn tự do, hạt giống chọn lọc tốt,

Trang 20

lai không quy ước sẽ thu hẹp và thay thế dần bằng các giống ngô lai quy ước (Ngô Hữu Tình, 1997) [13]

ở nước ta nhóm ngô lai không quy ước được sử dụng chủ yếu giai đoạn

từ 1993 đến 1997 vì chương trình ngô lai Việt Nam lúc đó mới bắt đầu Đó là những giống như: LS-3; LS-4; LS-7; LS-8 với tiềm năng năng suất đạt 3-7 tấn/ha Hiện nay một số nơi vùng núi vẫn sử dụng giống LS-7; LS-8

+ Các giống ngô lai quy ước:

Là giống ngô tạo ra bằng cách lai các dòng thuần với nhau, loại giống lai phụ thuộc số dòng thuần tham gia

Việc tạo ra các giống ngô lai quy ước được coi là thành tựu lớn nhất của khoa học nông nghiệp thế giới mấy chục năm qua (ĐHNN1, 1997) [26] Đây

là phương thức sử dụng có hiệu quả nhất của hiện tượng ưu thế lai do sử dụng hiệu ứng trội và siêu trội khi lai các dòng tự phối đời cao với nhau Các giống ngô lai quy ước có thể là:

- Lai đơn: (A x B) trong đó A,B là dòng thuần

- Lai đơn cải tiến: (AxA)x B hoặc (A x A') x (B x B') với A, B là dòng thuần; A’, B’ là các dòng chị em với A, B

- Việc lai các dòng chị em nhằm nâng cao sức sống của dòng về một tính trạng nào đó

- Lai ba (A x B) x C với A, B, C là dòng thuần

- Lai ba cải tiến F1 = (A x B) x (C x C') với A, B, C, C' là dòng thuần,

C và C' là dòng chị em

- Lai kép: F1 = (A x B) x (C x D) với A B, C, D là dòng thuần

Lai ba và lai kép có độ đều thấp hơn lai đơn, do nền di truyền rộng nên thường có khả năng thích nghi rộng hơn Mẹ của lai ba và lai kép là một giống lai đơn nên năng suất hạt lai cao, giá thành hạt giống thấp

Các giống lai quy ước có những đặc điểm sau:

- Cho năng suất cao, độ đồng đều cao, cây sinh trưởng mạnh, có ưu thế lai cao

- Yêu cầu thâm canh cao mới phát huy được ưu thế lai và cho năng suất cao, đặc biệt là đạm phải bón tăng 30 - 40% so với giống OPV có cùng thời gian sinh trưởng

Trang 21

- Thời vụ chặt chẽ cho từng vùng sinh thái, cần có quy trình riêng cho từng vùng và từng thời vụ

- Giá hạt giống rất cao từ 2 - 4 USD/kg hạt

- Đất trồng ngô thâm canh cần chủ động tưới tiêu nước

1.4 Tình hình sử dụng giống ngô

Việc sử dụng giống ngô của các nước trên thế giới phản ánh khá rõ trình

độ sản xuất, mức đầu tư thâm canh và hiệu quả kinh tế của việc trồng ngô Có thể chia các nước trồng ngô thành 3 nhóm chính

ở các nước phát triển tỷ lệ sử dụng giống ngô lai trong sản xuất đạt 99% diện tích trồng ngô, một số nước đ6 đạt năng suất bình quân rất cao như

Hi Lạp 9,9 tấn/ha; Thuỵ Sỹ 8,6 tấn/ha; áo 8,2 tấn/ha ở Mỹ từ những năm

1960 hầu như toàn bộ diện tích trồng ngô được trồng bằng những giống ngô lai với năng suất bình quân 65 - 74 tạ/ha Trong thí nghiệm ở Mỹ, bằng những giống lai đơn người ta đ6 đạt năng suất 25 tấn/ha/vụ Trong sản xuất diện tích rộng ở các nước tiên tiến người ta đ6 đạt 15 - 18 tấn/ha Các nhà khoa học cho rằng: vào thế kỷ XXI, với các giống ngô lai con người có thể đạt năng suất ngô hạt đạt 30 tấn/ha trong thí nghiệm và sản xuất (Quách Ngọc Ân, 1997; Trần Hồng Uy, 1999) [1] [22]

Hiện nay, ở một số nước phát triển, thành công của công nghệ sinh học người ta đang triển khai rộng r6i các giống ngô lai cấy truyền gen BT kháng sâu đục thân vào sản xuất Vào ngày 17/6/1999 các nhà nghiên cứu Đại học IOWA và Bộ nông nghiệp Mỹ đ6 khẳng định rằng cây ngô cấy truyền gen BT

(Ngô BT gen được cấy truyền từ vi khuẩn Bacilluss thuringensis) có tác dụng

làm giảm hai loại dịch hại đối với ngô là sâu đục thân và nấm hại ngô Các giống BT đang được các công ty quảng cáo tiếp thị mạnh tại Mỹ là Monsanto

810 BT10 DBT481 (Lê Quý Kha 1999) [7]

Các nước đang phát triển với những cố gắng tập trung nhiều vào công tác phát triển giống và thâm canh trong 10 năm gần đây đ6 đạt được những thành tựu khá nổi bật Tỷ lệ sử dụng giống ngô lai ở các nước này chiếm từ 30 - 90% diện tích và năng suất trung bình đạt khá cao từ 3 - 5 tấn/ha Các nước này tập trung đa số ở Châu á như: Trung Quốc, Đài Loan, Bắc Triều Tiên… và Châu

Trang 22

Mỹ như: Brasil, Mêhicô ở Trung Quốc 90% diện tích trồng ngô được trồng bằng các giống lai đ6 đưa năng suất bình quân của 21 triệu ha ngô lên 4,9 tấn/

ha, đạt tổng sản lượng 107 triệu tấn (Cheng - Zong - Long, 1998) [30] Một số nước khác ở khu vực Nam á cũng có chương trình ngô lai phát triển như ấn

độ, Thái Lan Theo Vasal (1998) [42] ấn độ đ6 sử dụng 30.000 tấn hạt giống ngô lai, Thái Lan là 17.500 tấn trong năm 1997

ở các nước kém phát triển, tỷ lệ sử dụng giống ngô lai trong sản suất chỉ chiếm 10 - 20%, các giống ngô cải tiến (OPV) chiếm 30 - 50%, còn lại là

sử dụng giống ngô địa phương Năng suất ngô ở các nước này rất thấp, chỉ khoảng 1,3 - 3 tấn/ha Các nước này tập trung chủ yếu ở Châu á: Lào, Philippin, Mianma, các nước Trung Mỹ và Châu Phi

ở Việt Nam cuộc cách mạng về ngô lai đ6 và đang làm thay đổi tận gốc rễ những tập quán canh tác lạc hậu trước đây, góp phần đưa Việt Nam

đứng vào hàng ngũ những nước sản xuất ngô tiên tiến của vùng Châu á (Trần Hồng uy, 1999) [21] Nếu như năm 1991 diện tích trồng ngô lai ở Việt Nam chiếm 1% thì năm 1996 là 42% và năm 2006 là 80% (Trần Hồng Uy, 1999) [21]

1.5 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và trong nước 1.5.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới

Ngô là cây ngũ cốc có vị trí quan trọng thứ 3 sau lúa gạo và lúa mì, cho

đến giữa những năm 90 của thế kỷ XX ngô còn xếp thứ 3 về diện tích và sản lượng những năm gần đây ngô vượt lên đứng đầu về năng suất và sản lượng Năm 2004, sản lượng ngô toàn thế giới đạt 721 triệu tấn trong khi sản lượng lúa mì là 627 triệu tấn và lúa nước là 606 triệu tấn Năm 1995 các số liệu tương ứng là: ngô 517 triệu tấn, lúa mì 542,7 triệu tấn, lúa nước là 547,2 triệu tấn (FAO STAT, 2004) [35] Theo dự báo của Viện nghiên cứu chương trình lương thực thế giới (IPRI, 2003) [33], vào năm 2020 tổng nhu cầu ngô thế giới

là 852 triệu tấn, trong đó 15% dùng làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16% làm nguyên liệu cho công nghiệp ở các nước phát triển chỉ dùng 5% ngô làm lương thực nhưng ở các nước đang phát triển sử dụng 22% ngô làm lương thực (IPRI, 2003) [33]

Trang 23

Đến năm 2020 nhu cầu ngô thế giới tăng 45% so với nhu cầu năm

1997, chủ yếu tăng cao ở các nước đang phát triển (72%), riêng Đông Nam á nhu cầu tăng 70% so với năm 1997 (Bảng 1.3) sở dĩ nhu cầu ngô tăng mạnh là

do dân số thế giới tăng, thu nhập bình quân đầu người tăng nên nhu cầu thịt, cá, trứng, sữa tăng mạnh, dẫn đến đòi hỏi lượng ngô dùng cho chăn nuôi tăng Nhưng thách thức lớn nhất là 80% nhu cầu ngô thế giới tăng (266 triệu tấn), lại tập trung ở các nước đang phát triển Hơn nữa chỉ khoảng 10% sản lượng ngô từ các nước công nghiệp có thể xuất sang các nước đang phát triển Vì vậy các nước đang phát triển phải tự đáp ứng nhu cầu của mình nên diện tích ngô hầu như không tăng (IPRI, 2003) [33]

Bảng 1.3 Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến 2020

Vùng 1997 (triệu tấn) 2020 (triệu tấn) % thay đổi

để xuất khẩu (Oxfarm, 2004)

Hiện đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về sử dụng sản phẩm nông nghiệp chế biến ethanol Vào ngày 31/1/2007 EU vừa tỏ rõ quan điểm không

Trang 24

dùng sản phẩm nông nghiệp vào chế biến ethanol vì e ngại nếu xu hướng đẩy mạnh sử dụng ngô, sắn, cọ dầu vào công nghiệp này sẽ kéo theo phá huỷ môi trường (phá rừng trồng ngô, sắn…) Mặt khác theo tính toán để sản xuất nhiên liệu ethanol từ ngô, đòi hỏi nhiên liệu (xăng dầu) nhiều hơn 29% so với năng lượng do ngô sinh ra Vì vậy chưa có dự báo chính xác sản lượng ngô dùng chế biến ethanol

Hơn 40 năm qua, diện tích ngô thế giới tăng không đáng kể (< 1%/năm) (bảng 1.4) Sản lượng ngô thế giới tăng lên 3,4%/năm trong giai đoạn 1965 -

1985 và 3,15% vào thời kỳ 1985 - 2005 chủ yếu do năng suất tăng 2%/năm Hai thập kỷ gần đây (1985 - 2005), tăng trưởng năng suất ngô ở các nước

đang phát triển (2,55%/năm) kể cả Trung Quốc (1,9%/năm) chậm hơn 2 thập

kỷ trước đó (2,8% và 4,8%/năm) Riêng ở Mỹ năng suất ngô vẫn tăng liên tục 2,8%/năm ở thời kỳ 1985 - 2005 so với 2,2%/năm ở thời kỳ 1965 - 1985

Bảng 1.4 Tình hình sản xuất ngô thế giới 1985 - 2005

Chỉ tiêu Năm Thế giới Các nước đang

phát triển Mỹ

Trung Quốc

Diện tích

(000 ha)

1985 126706 79.071 26.767 18.403

2005 147.576 98.136 30.395 26.221 Năng suất

Trang 25

Theo số liệu của Đại học Tổng hợp Nebraska (2005) lý do năng suất ngô ở Mỹ tăng lên trong 50 năm qua là:

- 50% do cải tạo nền di truyền của các giống lai;

- Khoảng 50% do cải thiện canh tác bao gồm:

+ Bón N hợp lý (tăng hiệu quả sử dụng đạm, giảm bốc bay đạm, không làm ô nhiễm đạm vào nguồn nước) và cân bằng dinh dưỡng với P và K

+ Mật độ gieo trồng cao hơn

+ Làm đất tối thiểu (cải thiện khả năng giữ ẩm của đất)

+ Giảm mức độ rửa trôi đất canh tác ngô

+ Mở rộng diện tích ngô có tưới và cải thiện phương pháp tưới

Về mặt di truyền chọn giống, năng suất ngô ở Mỹ tăng lên là do tăng cường đầu tư cho nghiên cứu, được thể hiện qua bảng 1.5

Bảng 1.5 Đầu tư hàng năm vào tạo giống ngô trong những thập kỷ

Số ô thí nghiệm khảo nghiệm

Nguồn: Đại học Tổng hợp Nebraska (2005)

Chiến lược tương lai về nghiên cứu ngô ở Mỹ là:

- Tiếp tục nâng cao năng suất ngô một cách ổn định

- Cải thiện tính bền vững trong việc tăng hiệu quả sử dụng đạm, nước và giảm chi phí nhiên liệu, giảm lượng thuốc trừ sâu

Một trong những lý do năng suất ngô ở Mỹ vẫn đang tăng cao là nhờ việc áp dụng ngô chuyển gen

Qua bảng 1.6 diện tích cây trồng chuyển gen trên thế giới tăng mạnh trong những năm gần đây, từ hơn 40 triệu ha vào năm 2000 lên hơn 100 triệu

ha vào năm 2006 trong đó diện tích ngô chuyển gen BT chiếm 25% (Clive James, 2006) Mỹ có diện tích áp dụng nhiều nhất (54,5 triệu ha) đối với các cây đậu tương, ngô, bông, cải dầu, bầu bí, đu đủ, tiếp đến là Achentina (18 triệu ha), Canada (6,1 triệu ha)… Braxin, Trung Quốc, ấn Độ, úc, Mêhicô

Trang 26

chưa áp dụng ngô chuyển gen, một số nước khác áp dụng ngô chuyển gen ở quy mô nhỏ (< 0,1 triệu ha)

Xu hướng áp dụng cây trồng chuyển gen còn tăng mạnh hơn nữa Chỉ trong 1 năm từ 2005 - 2006, diện tích cây trồng chuyển gen trên thế giới đ6 tăng thêm 12 triệu ha (Clive James, 2006) [31]

Tóm lại để đáp ứng nhu cầu ngô tăng mạnh trên thế giới, không chỉ dựa vào cải thiện nền di truyền (giống mới) mà còn vào kỹ thuật canh tác, nhất là cho vùng khó khăn

Bảng 1.6 Diện tích cây trồng chuyển gen trên thế giới năm 2005

Thứ tự Quốc gia Diện tích

(triệu ha) Cây trồng chuyển gen

1 Mỹ 54,5 Đậu tương, ngô, bông, cải dầu, bầu bí, đu đủ, cỏ alfalfa

Trang 27

Ngô QPM hiện nay vẫn đang được CIMMYT quan tâm phát triển vì giá trị dinh dưỡng hơn hẳn ngô thường Tuy nhiên diện tích ngô QPM hiện nay tập trung ở các nước dùng ngô làm lương thực cho người như Châu Phi, những vùng xa, vùng sâu của Trung Quốc… Lý do chưa phát triển mạnh là nền di truyền hạn hẹp, tính kháng sâu, bệnh còn phải khắc phục thêm (Viện nghiên cứu ngô, 2005) Hiện nay có 25 nước trên thế giới đang áp dụng ngô QPM với diện tích 650.000 ha, chiếm 0,5% tổng diện tích ngô thế giới (CGIAR và World bank, 2006)

Bảng 1.7 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới qua các nông vụ

Nông vụ Diện tích

(Triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (Triệu tấn)

Nguồn: FAO Database tháng 5/ 2006

Qua bảng 1.7 cho thấy diện tích ngô trong giai đoạn 1994 - 1997 tăng nhanh, năm 1994 có diện tích là 134,3 triệu ha đến năm 1997 tăng lên tới 139,5 triệu ha, diện tích ngô đ6 tăng lên 5,2 triệu ha Giai đoạn 1997 - 2002 diện tích ngô trên thế giới có xu hướng tăng lên ít và ổn định Trong giai đoạn

2000 - 2002 trung bình một năm trên thế giới trồng 138,3 triệu ha ngô, năng

Trang 28

suất trung bình 43,5 ta/ha và tổng sản lượng trung bình 602,7 triệu tấn Trong

đó năm 2001 diện tích ngô thế giới lại giảm còn 138,9 triệu ha Tuy nhiên đến năm 2005 diện tích ngô trên toàn thế giới tăng cao nhất đạt 147 triệu ha

Năng suất ngô trên thế giới luôn tăng do xu hướng mở rộng diện tích trồng các giống ngô lai có năng suất cao Thành tựu trong nghiên cứu, chọn tạo và sản xuất giống ngô lai đ6 đưa năng suất ngô đứng ở vị trí hàng đầu trong các cây lương thực chính Nông vụ 1994/1995 năng suất ngô đạt 41,7 tạ/

ha, đến nông vụ 2003 /2004 đ6 lên tới 48,6 tạ/ha tăng 6,9 tạ /ha Tuy nhiên

đến năm 2005, năng suất ngô của thế giới lại giảm xuống còn 47,1 ta/ha giảm hơn so với năm 2004 là 1,5 ta/ha

Sản lượng ngô trên thế giới thường không ổn định qua các nông vụ Năm 2001 sản lượng ngô đạt lớn nhất 614,2 triệu tấn tăng 21,7 triệu tấn so với năm 2000 tuy nhiên sang năm 2002 lại giảm xuống còn 602 triệu tấn Năm

2004 sản lượng ngô toàn thế giới đạt mức cao nhất 705,3 triệu tấn nhưng sang năm 2005 sản lượng ngô lại giảm xuống chỉ còn 692,0 triệu tấn

Nhín chung diện tích, năng suất, sản lượng ngô trên thế giới trong giai

đoạn 2000 - 2005 có tỷ lệ tăng trưởng chậm Tình hình sản xuất ngô của một

số quốc gia trên thế giới được thể hiện rõ qua bảng 1.8

Bảng 1.8: Tình hình sản xuất ngô của một số quốc gia trên thế giới năm 2005

Tên nước Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn)

Nguồn: FAO Start - tháng 5/2006

Qua bảng 1.8 cho ta thấy, Mỹ là nước có diện tích, năng suất, sản lượng lớn nhất đạt 30,08 triệu ha, với tổng sản lượng đạt 282,56 triệu tấn, năng suất

Trang 29

bình quân đạt 100 tạ/ha Thành tựu trong sản xuất ngô của nước Mỹ đạt được chủ yếu do công nghệ giống đem lại, 100% diện tích trồng ngô ở nước Mỹ là

sử dụng giống ngô lai mà phần lớn là giống lai đơn ở Châu á, Trung Quốc là cường quốc ngô lai với diện tích 26,22 triệu ha, trong đó 96% diện tích trồng ngô lai, năng suất bình quân đạt 50,01 tạ/ha và sản lượng 131,5 triệu tấn

Có thể nói, Mỹ và Trung Quốc là hai cường quốc có diện tích trồng ngô lớn nhất và cao gấp nhiều lần so với các quốc gia khác Theo số liệu của tổ chức nông nghiệp và lương thực Liên Hợp Quốc (FAO) việc sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới đang có sự mất cân đối giữa cung và cầu dẫn đến tình trạng các nước nhập khẩu ngô tăng dần còn các nước xuất khẩu ngô giảm dần

từ nay đến những năm đầu thế kỷ 21 Những nước có lượng xuất khẩu ngô lớn trên thế giới là Mỹ, Achentina, Pháp, Trung Quốc, Braxin Các nước nhập khẩu ngô chính là: Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Malayxia

1.5.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam

Thành công trong việc nghiên cứu và sử dụng ngô lai trong hơn mười năm qua được coi là cuộc cách mạng thật sự trong nghề trồng ngô ở Việt Nam Thành công này đ6 thay đổi một cách sâu sắc diện mạo nghề trồng ngô

ở nước ta vốn tồn tại nhiều yếu kém đ6 nhiều năm Năng suất ngô ở nước ta, trước đây thuộc loại rất thấp so với năng suất ngô thế giới Phải tới năm 1991 cây ngô lai mới bắt đầu được đưa vào sản xuất ở nước ta, một sự bắt đầu có lẽ quá muộn, nhưng tiếp sau đó thì lại rất vững chắc được đánh giá là với tốc độ nhanh hiếm thấy Tỷ lệ trồng giống lai ở nước ta từ 0,1 % năm 1990 đ6 tăng lên khoảng 70% diện tích trồng ngô năm 2001 đ6 đưa Việt Nam vào một trong những nước sử dụng giống lai cao và có năng suất cao của khu vực

Đông Nam á Cùng với việc tăng cường sử dụng giống lai, diện tích năng suất

và sản lượng ngô của Việt Nam tăng lên nhanh chóng trong 20 năm qua

Trang 30

Bảng 1.9 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 1975 - 2006

(1000 ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (1.000 tấn)

Nguồn: Tổng cục thống kê 2006 và Báo cáo tổng kết 2006 Cục Trồng trọt Bộ

NN và PTNT tháng 2/2007

Qua bảng 1.9 và đồ thị 1 chúng ta thấy trong suốt 20 năm qua diện tích, năng suất và sản lượng ngô Việt Nam tăng liên tục với tốc độ cao Tỷ lệ tăng trưởng bình quân hàng năm trong suốt giai đoạn về diện tích là 7,9%/năm, về

Trang 31

năng suất là 6,7%/năm và sản lượng là 25,8%/năm, cao hơn nhiều giai đoạn

1975 - 1985 (4,2%, 3,9% và 10%) Nếu chúng ta lấy số liệu tuyệt đối của 2 năm đầu và cuối giai đoạn thấy rằng về diện tích năm 2005 cao hơn năm 1985

là 2,7 lần, năng suất 2,4 lần và sản lượng 6,4 lần Tuy nhiên đến giai đoạn hiện nay diện tích ngô khó tăng tiếp trong khi đó năng suất ngô của Việt Nam tăng chậm Năm 2005 chúng ta đặt bình quân 36,0 tạ/ha, vẫn còn thấp hơn năng suất trung bình của thế giới (48,5 tạ/ha), thấp hơn nhiều so với Mỹ (100,0 tạ/ha) và Trung Quốc (50,0 tạ/ha) tuy đ6 vượt năng suất bình quân khối các nước đang phát triển (31,3 tạ/ha) So với năm 2005, năm 2006 diện tích ngô của Việt Nam đạt 1.033 nghìn ha (giảm 0,96% so với 2005) nhưng sản lượng vẫn vượt 1,4% (3.810 nghìn tấn) do năng suất vượt 2,5% (3,69 tạ/ha)

Đồ thị 1: Sản xuất ngô của Việt Nam từ 1975 - 2005

Lý do năng suất ngô Việt Nam còn thấp so với năng suất bình quân thế giới đ6 được nêu trong nhiều hội nghị trong nước và quốc tế là:

Năng suất (tạ/ha)

DT (1000 ha)

SL (1000 tấn)

NS (tạ/ha)

Trang 32

+ Giá thành sản xuất ngô ở Việt Nam 2005 là 120 USD/tấn, cao hơn ở Thái Lan (84,35 USD/tấn), Philippin (116,1 USD/tấn) ngoài ra còn bị mất mát sau thu hoạch và độ ẩm cao đ6 tăng giá ngô ở Việt Nam lên 144 USD/tấn trong khi nhập từ Trung Quốc chỉ mất 128 USD/tấn

Trang 33

B¶ng 1.10 T×nh h×nh s¶n xuÊt ng« ë c¸c tØnh MiÒn Nói ë phÝa B¾c

giai ®o¹n n¨m 2002 - 2005

ChØ tiªu N¨m

TØnh

DiÖn tÝch (1000 ha) N¨ng suÊt (t¹/ha) S¶n l−îng (1000 tÊn)

2002 2003 2004 2005 2002 2003 2004 2005 2002 2003 2004 2005

Hµ Giang 43,8 45,1 43,7 43,7 19,5 19,5 20,5 20,8 85,6 88,0 89,5 90,7 Cao B»ng 32,3 33,2 34,4 35,3 24,9 26,0 25,8 26,9 80,5 86,2 88,9 94,8 Lµo Cai 24,3 24,6 23,9 24,7 21,4 23,3 25,5 26,2 51,9 57,3 61,0 64,6 B¾c C¹n 11,1 13,1 13,6 14,5 24,8 26,5 26,6 27,0 27,5 35,0 36,2 39,2 L¹ng S¬n 13,9 15,0 17,6 17,9 41,3 41,1 42,1 42,8 57,4 61,7 74,1 76,7 Tuyªn Quang 14,2 14,1 14,3 14,7 35,1 37,6 39,2 40,7 49,9 53,0 56,1 59,9 Yªn B¸i 10,5 11,5 13,0 14,1 21,6 22,9 23,3 23,7 22,7 26,3 33,3 33,4 Th¸i Nguyªn 11,6 13,4 15,9 15,9 32,8 32,6 34,3 34,5 38,0 43,7 54,6 54,8 Phó Thä 16,2 19,3 20,1 20,3 34,0 34,5 35,7 37,0 55,0 66,5 71,7 75,1 B¾c Giang 6,9 10,3 13,8 13,3 28,0 28,2 33,1 32,9 19,8 29,0 45,7 43,8 Qu¶ng Ninh 4,8 5,2 5,8 6,4 29,6 31,3 33,3 34,5 14,2 16,3 19,3 22,1 Lai Ch©u 33,8 36,4 24,6 25,5 16,3 16,6 34,6 35,0 55,0 61,1 70,5 74,6 S¬n La 64,9 64,7 68,2 80,9 30,2 31,0 31,9 28,1 196,1 200,9 217,8 227,6 Hoµ B×nh 23,8 27,9 30,3 33,8 25,2 26,6 31,5 29,3 60,0 74,3 95,5 99,1

Nguån: Tæng côc thèng kª th¸ng 11 n¨m 2006

Trang 34

Qua bảng 1.10 cho chúng ta thấy Hà Giang, Sơn La, Cao Bằng, Lào Cai, Phú Thọ, Hoà Bình có diện tích trồng ngô lớn Trong đó, Sơn La có diện tích tăng nhanh từ 64,9 nghìn ha năm 2002 và đến năm 2005 là 80,9 nghìn

ha tăng 16,0 nghìn ha Tiếp theo là Hà Giang có diện tích trồng ngô lớn tuy nhiên diện tích ngô tăng chậm qua các năm từ 43,8 nghìn ha năm 2002, tới năm 2003 là 45,1 nghìn ha nhưng đến năm 2005 lại giảm xuống còn 43,7 nghìn ha Tỉnh trồng ngô ít nhất là Quảng Ninh năm 2002 có diện tích trồng ngô là 4,8 nghìn ha, năm 2005 là 6,4 nghìn ha Nhìn chung diện tích ngô không đồng đều giữa các tỉnh miền núi và qua các năm đều tăng, tuy nhiên tốc độ tăng không đồng đều Về năng suất, mặc dù Hà Giang, Sơn

La, Lào Cai có diện tích trồng ngô lớn nhưng năng suất ngô lại chưa cao Năng suất ngô năm 2005 ở Lạng Sơn cao nhất (42,8 tạ/ha), tiếp theo là tỉnh Tuyên Quang đạt 40,7 tạ/ha thấp nhất là Lai Châu - Sơn La chỉ đạt 19,3 tạ/ha Một số tỉnh có sản lượng ngô lớn năm 2005 như Sơn La (227,6 nghìn tấn), Hoà Bình (99,1 nghìn tấn), Cao Bằng (94,8 nghìn tấn) và thấp nhất là

Yên Bái chỉ đạt 33,4 nghìn tấn

Về giống ngô: Hiện nay các giống ngô được sử dụng chủ yếu trong sản suất ở các tỉnh Miền núi là những giống ngô ở địa phương, giống thụ phấn tự

do, giống lai Tuy nhiên diện tích giống ngô lai còn rất ít và đang dần được

mở rộng nhờ các chính sách quan tâm, ưu đ6i của Nhà nước với các tỉnh trong vùng Định hướng để phát triển ngô ở các tỉnh miền núi phía Bắc trong thời gian tới là quy hoạch vùng ngô lai, vùng trồng giống ngô thụ phấn tự do cải tiến phù hợp với từng điều kiện, từng địa phương

Mặc dù có sự phát triển không đồng đều giữa các vùng sản xuất ngô của Việt nam nhưng từ những kết quả đ6 đạt được chúng ta vẫn có thể khẳng

định rằng ngành sản xuất ngô của Việt nam trong giai đoạn đổi mới (1985 - 2006) đ6 có sự phát triển vượt bậc đáng trân trọng Sở dĩ chúng ta đạt được những thành quả to lớn trong phát triển sản xuất ngô là do Đảng, Nhà nước và

Bộ nông nghiệp đ6 thấy được vai trò của cây ngô trong nền kinh tế và kịp thời

đưa ra những chính sách, biện pháp phù hợp nhằm khuyến khích sản xuất Các nhà khoa học đ6 nhạy bén đưa những tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt về giống mới vào sản xuất Từng thế hệ giống tốt thay thế nhau qua từng giai

Trang 35

đoạn lịch sử: giống thụ phấn tự do tốt thay cho các giống địa phương năng suất thấp, giống lai quy ước, thay cho giống lai không quy ước, lai đơn thay dần cho lai kép, lai ba Và không thể không kể đến vai trò của những người nông dân với trình độ dân trí cao đ6 tiếp thu và đáp ứng dụng nhanh chóng những tiến độ khoa học kỹ thuật với những cải tiến rất hiệu quả, phù hợp với

địa phương và điều kiện cụ thể của mình làm tăng thêm sự ưu việt của tiến độ khoa học kỹ thuật Những người quản lý từ cấp Trung ương đến có sở, những cán bộ khuyến nông đ6 góp phần không nhỏ trong thành quả đạt được của sự nghiệp phát triển cây ngô

1.6 Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên

Cùng với sự phát triển cây ngô trong cả nước, ở Thái Nguyên trong những năm qua cơ chế thị trường thực sự ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống kinh

tế của các hộ nông dân, người dân tự do lựa chọn cây trồng và làm giầu trên mảnh đất của mình Do nhận thức được tầm quan trọng của cây ngô trong cơ cấu cây trồng Đảng và Nhà nước ta đ6 có những chính sách khuyến khích phát triển cây ngô trên toàn quốc nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng Chính vì vậy cây ngô đ6 giữ được một vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng của các nông hộ Ngày càng có nhiều hộ nông dân điển hình, nhậy bén nắm bắt những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật, họ biết đầu tư sản xuất một cách đồng bộ như: vốn, giống, phân bón… để đưa năng suất cây trồng ngày càng nâng cao Vì vậy, cùng với sự phát triển của cây ngô trong cả nước thì những năm qua, diện tích, năng suất, sản lượng ngô ở Thái Nguyên tăng nhanh, góp phần ổn định đời sống kinh tế x6 hội của các đồng bào dân tộc trong tỉnh

Bảng 1.11 Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên giai đoạn 2000 - 2005

Năm Chỉ tiêu 2000 2001 2002 2003 2004 2005

DT (1000 ha) 10,7 9,7 11,6 13,4 15,9 15,9

NS (tạ/ha) 28,8 30,6 32,8 32,6 34,3 34,5

SL (1000 tấn) 30,8 29,7 38,0 43,7 54,6 54,8

Trang 36

(Nguồn: Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Thái Nguyên)

Qua bảng 1.11 ta thấy cả ba chỉ tiêu về diện tích, năng suất, sản lượng ngô của Thái Nguyên đều tăng qua các năm Năm 2005 diện tích ngô tăng 1,5 lần, năng suất tăng 1,1 lần và sản lượng tăng gần 1,8 lần so với năm 2000 Nguyên nhân là do Thái Nguyên đ6 sử dụng các giống ngô lai vào sản xuất từ nhiều năm nay Đến năm 2005, diện tích trồng ngô lai đ6 chiếm đến 95% Mặt khác Thái Nguyên là tỉnh có trường ĐHNL đóng trên địa bàn nên những tiến

bộ về khoa học kỹ thuật nhanh chóng được chuyển giao Đặc biệt trong trường hàng năm triển khai nhiều các thí nghiệm khảo nghiệm các giống ngô mới, giống có triển vọng được đưa ra sản xuất lớn ngay ở đây Thái Nguyên cũng là tỉnh có thể trồng được nhiều vụ ngô trong năm như vụ Xuân, vụ Hè Thu, vụ

Đông trong đó trồng ngô bầu ở vụ Đông đem lại hiệu quả kinh tế rất cao Với

sự nhạy bén của người dân, việc trồng ngô đ6 được tận dụng trên nhiều diện tích đất bỏ trống, đất gò đồi, đất ven sông suối…dưới nhiều hình thức như luân canh, xen canh, gối vụ… nhờ đó mà sản lượng liên tục tăng lên, đời sống của người dân ngày một khá hơn

Tuy nhiên sản xuất ngô ở Thái Nguyên vẫn chưa trở thành hàng hoá Một số đồng bào dân tộc ở các huyện miền núi vẫn giữ tập quán canh tác lạc hậu Vì thế Thái Nguyên cần nhanh chóng triển khai khoa học kỹ thuật đến các huyện vùng sâu, vùng xa để sản xuất ngô ở Thái Nguyên đồng đều hơn, nâng cao sản lượng và trở thành vùng sản xuất ngô hàng hoá lớn

1.7 Tình hình nghiên cứu giống ngô lai ở Việt nam

ở Việt Nam chương trình chọn lọc giống ngô lai đ6 được bắt đầu từ những năm đầu của thập kỷ 60 [21] Tuy nhiên, các nghiên cứu thử nghiệm đ6 không đạt được kết quả mong muốn do nguồn vật liệu và các giống lai có nguồn gốc ôn đới ngày dài nên không thích hợp trong điều kiện nhiệt đới ẩm, ngày ngắn của Việt Nam

Từ những bài học chưa thành công trên, những định hướng của chương trình phát triển ngô lai giai đoạn này rất rõ ràng

- Nhanh chóng xây dựng một quỹ gen về ngô lai của Việt Nam gồm:

Trang 37

* Thu thập bảo tồn, phát triển nguồn nguyên liệu ngô trong nước, đặc biệt là những nguồn nguyên nhiên liệu quý về tính chống chịu, chín sớm, chất lượng cao làm lương thực, ngô nếp

* Nhập nội những nguồn nguyên liệu ngô nhiệt đới, quan tâm hơn đến những nguồn nguyên liệu từ những nước có vĩ độ như Việt Nam Đặc biệt quan tâm đến tính chống hạn và chịu nóng, một số sâu bệnh chính như: Bạch tạng, đốm lá nhỏ, khô vằn, thối thân, sâu đục thân Các nguồn nguyên liệu chín sớm, ngô thực phẩm: ngô nếp, ngô đường, ngô rau, ngô có hàm lượng Prôtêin cao (Trần Hồng Uy, 1999) [21]

- Chương trình chọn tạo giống ngô được tiến hành với hai chương trình song song

* Chương trình chọn tạo giống thụ phấn tự do: Là chương trình được ưu

tiên trong vòng 10 - 15 năm đầu khi điều kiện kinh tế, dân trí còn thấp Chương trình này sẽ làm bước đệm, tạo tiền đề để phát triển chương trình ngô lai

* Chương trình tạo giống ngô lai:

Thực hiện chương trình xây dựng quỹ gen cây ngô Việt Nam, đến nay đ6 thu thập được nhiều quần thể địa phương Tuy nhiên, nguồn gen cây ngô ở Việt Nam khá nghèo nàn (Ngô Hữu Tình, 1999) [14] do đó ta rất quan tâm

đến việc nhập các vật liệu ngô từ các nước, các cơ quan nghiên cứu quốc tế như VIR, CIMMYT chủ yếu dưới dạng vốn gen (gene pools), quần thể (populations), giống (Varieties) và giống lai (Hybrids) Trong đó, nhiều năm quần thể đ6 được sử dụng trong chương trình tạo giống như: POP-17, POP-18, POP-26, POP- 8, POP-31, POP-36, POP-49, POP-63 và các nguồn khác như: Tuxpeno, Swan 1, Swan 2, Swan 5… (Trần Hồng Uy, 1999)[21]

Trong tập đoàn giống của Viện nghiên cứu ngô đang bảo tồn hơn 3.000 dòng tự phối từ đời S6 trở lên, 470 mẫu giống thụ phấn tự do, trong

số mẫu thụ phấn tự do thì nguồn nhập nội là chính (293) nguồn địa phương

là 150 và các quần thể tự tạo theo các chương trình chọn giống, số lượng các quần thể tự tạo đang được khai thác là 27 (Ngô Hữu Tình, 1999) [14] Chương trình chọn tạo giống trong giai đoạn này cũng đạt được nhiều thành công rực rỡ Sau khi Việt Nam có quan hệ với CIMMYT thì định hướng

Trang 38

phát triển giống ngô thụ phấn tự do được đặc biệt trú trọng và thực tế đ6 mang lại những tiến bộ đáng kể Giai đoạn này Việt Nam cũng đ6 tham gia tích cực vào chương trình khảo nghiệm giống quốc tế Trong chương trình hợp tác này, Việt Nam đ6 cùng CIMMYT tạo ra các giống thí nghiệm như: Đan Phượng

8749, Hà Nội 8749, TP Hồ Chí Minh 8949, Hưng Lộc 8926… những giống này đ6 tham gia vào mạng lưới quốc tế thử nghiệm giống thí nghiệm ở nhiều nước thuộc Châu á, Phi, Mỹ La Tinh (Ngô Hữu Tình, 1997) [12]

Thông qua các bố trí thí nghiệm được thực hiện tại những vùng trồng ngô khác nhau trong cả nước, chúng ta đ6 xác định được từ CIMMYT bằng các phương pháp cải thiện quần thể như chọn lọc bắp trên hàng cải tiến, chọn lọc đám cải tiến, ta đ6 chọn và đưa vào được hàng loạt giống tốt phục vụ sản xuất như: TH-2A, TH-2B (1978); VM1, MSB-49, TSB2 (1980-1988); TSB1; Q2; HL-36 (1988-1991); VN-1, MSB-49B (1991-1996) Nhóm ngô này có tiềm năng năng suất từ 4 - 7 tấn/ha [18]

Một lợi ích khác của chương trình tạo giống thụ phấn tự do là ngoài tác dụng trực tiếp và phục vụ cho sản xuất thì các giống thụ phấn tự do còn là vật liệu quý phục vụ cho chương trình chọn tạo giống lai

Cùng với những tiến bộ trong sản xuất nông nghiệp, những năm gần

đây, nhu cầu sản xuất đòi hỏi giống ngô phải có năng suất và chất lượng tốt hơn giống thụ phấn tự do Từ những năm 1998, chúng ta có những giống ngô lai đầu tiên của Việt Nam đưa vào thử nghiệm như LDSB-1, LDSB-2, LDSB-3 Tuy nhiên phải chờ đến năm 1998, khi đất nước đổi mới và mở cửa, các Công

ty hạt giống ngô lai nước ngoài đưa các giống vào Việt Nam thì cây ngô ở Việt Nam mới thực sự phát triển

Trong giai đoạn này, việc xâm nhập thị trường hạt giống ngô Việt Nam của các công ty nước ngoài có một ý nghĩa rất lớn Họ đ6 đặt giá cho hạt giống ngô lai, họ là đối tác để nông dân Việt Nam lựa chọn, hướng hoạt động, nghiên cứu, sản xuất và mua bán hạt giống lai theo giá thị trường Tạo sức ép cạnh tranh đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh trong nước Dưới sức ép của kinh tế thị trường đòi hỏi các đơn vị nghiên cứu sản xuất, cung ứng giống Việt Nam, muốn tồn tại phải nhanh chóng, hoà nhập thúc đẩy nhanh quá trình nghiên cứu và sản xuất của mình

Trang 39

Trong giai đoạn 1990 đến nay các Công ty nước ngoài đ6 đưa rất nhiều giống ngô lai vào Việt Nam với nguồn gốc chủ yếu xuất phát rất gần với Việt Nam như: ấn Độ, Thái Lan: Công ty Pacific Seeds Thái Lan với các giống P11, 9901, Công ty Bioseed của ấn Độ với B9670, 9681,9698 Công ty Uniseed với U90, U38, Cargill với C919, 922, Công ty Pioneer, Công ty Novatis, hiện nay các công ty này tiếp tục đưa nhiều giống và thử nghiệm ở Việt Nam

Các nghiên cứu phát triển giống ngô của Việt Nam trong giai đoạn này diễn ra khá sôi động và đạt được kết quả rất khả quan Chương trình Ngô quốc gia mà nòng cốt là Viện nghiên cứu ngô với sự chủ động trong việc chọn tạo dòng thuần và giống lai song song với giai đoạn giống thụ phấn tự do nên

đ6 kịp thời có những giống tốt đưa vào sản xuất như:

- Giống lai không quy ước: LS-3; LS-4; LS-5; LS-6; LS-7; LS8; có tiềm năng suất 3 - 7 tấn/ha

- Giống ngô lai quy ước gồm:

+ Giống chín sớm: LVN1(SC), LVN5(DC), LVN20(SC), LVN23(SC)

có tiềm năng năng suất 4 - 6 tấn/ha

+ Giống chín trung bình: LVN4(SC), LVN6(SC), LVN9(TC), LVN17 (TC), LVN18… có tiềm năng năng suất 5 - 9 tấn/ha

+ Giống chín muộn có: LVN10(SC),LVN11(TC), LVN12(TC), LVN16 (SC) có tiềm năng năng suất 7 - 10 tấn/ha

Hiện nay mỗi năm, Viện nghiên cứu ngô còn đưa ra khảo nghiệm thử hàng chục giống qua mạng lưới khảo nghiệm giống Quốc gia

Một thành công lớn khác trong chương trình phát triển giống ngô lai ở Việt Nam chúng ta đ6 xây dựng được một quy trình sản xuất chế biến hạt giống ngô lai khá hoàn chỉnh tại Viện nghiên cứu ngô và một số công ty cổ phần giống cây trồng

Quy trình này khá linh hoạt, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất kĩ thuật của nước ta hiện nay Với thành tựu này chúng ta đ6 hoàn toàn chủ động với giá bán chỉ bằng 65 - 70% giá giống nước ngoài, tiết kiệm chi phí giống cho người trồng ngô Các giống ngô Việt Nam chiếm 60% thị phần ngô lai

Trang 40

của cả nước Mỗi năm diện tích sản xuất hạt giống ngô lai của Việt Nam 3000

- 3500 ha, mỗi ha người dân có thu nhập cao hơn so với trồng lúa và ngô thương phẩm 11.000.000đ/ha

1.8 Khảo nghiệm và đánh giá giống ngô mới

Đánh giá giống ngô mới tạo ra là khâu hết sức quan trọng, việc đánh giá biểu hiện của một giống thường bắt đầu từ việc đánh giá các đặc tính sinh học, đánh giá sự sinh trưởng, phát triển, tiềm năng năng suất, khả năng chống chịu sâu bệnh và các điều kiện bất lợi Mối tương quan giữa một số chỉ tiêu

đến năng suất cây trồng sâu bệnh và các điều kiện bất lợi

Romahenco (1968) thấy rằng thời gian sinh trưởng tương quan với chiều cao cây, độ cao đóng bắp và độ dài thời gian từ mọc đến ra hoa Các tính trạng này biến động phụ thuộc vào điều kiện khí hậu và thời tiết (Phạm Thị Tài, 1993) [11]

Kuleshov (1995), Baliura (1960), kết luận rằng số lá tương quan chặt chẽ với thời gian sinh trưởng và ít biến động Mỗi giống có một số lá nhất

định ít thay đổi dưới ảnh hưởng của điều kiện môi trường [11]

Kozubenko (1965) thấy tương quan giữa các đặc tính của cây và năng suất thay đổi tuỳ theo nhóm giống và điều kiện môi trường Phần lớn các giống ngô răng ngựa và các giống ngô lai thuộc nhóm ngô chín trung bình và chín muộn Trong những năm khô hạn có tương quan thuận và chặt chẽ giữa năng suất và tính trạng của cây có hai bắp trong điều kiện hạn cũng như đủ

ẩm, năng suất hạt tương quan thuận, chặt với khối lượng bắp, chiều dài bắp,

số ngày từ nảy mầm đến phun râu và chín [15]

Robinson (1949), Kable (1946), Elakang, Susall (1971) nhận xét rằng: các yếu tố tạo thành năng suất và năng suất ngô có tương quan với nhau khi cải tiến thành phần này sẽ dẫn đến sự thay đổi thành phần kia Nếu số lượng bắp/cây tăng lên thì số hạt và khối lượng hạt sẽ giảm xuống Chiều dài bắp và

số hạt trên hàng có tương quan chặt chẽ với nhau và đều có tương quan thuận với năng suất Các tác giả còn nhận thấy giữa các yếu tố số bắp, số hạt, khối lượng 1000 hạt có chiều hướng bù trừ lẫn nhau Tuy nhiên trong một số

Ngày đăng: 29/04/2016, 21:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3. Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến 2020 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai trong vụ xuân và đông năm 2005 tại thái nguyên
Bảng 1.3. Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến 2020 (Trang 23)
Bảng 1.4. Tình hình sản xuất ngô thế giới 1985 - 2005 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai trong vụ xuân và đông năm 2005 tại thái nguyên
Bảng 1.4. Tình hình sản xuất ngô thế giới 1985 - 2005 (Trang 24)
Bảng 1.9. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 1975 - 2006 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai trong vụ xuân và đông năm 2005 tại thái nguyên
Bảng 1.9. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 1975 - 2006 (Trang 30)
Đồ thị 1: Sản xuất ngô của Việt Nam từ 1975 - 2005 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai trong vụ xuân và đông năm 2005 tại thái nguyên
th ị 1: Sản xuất ngô của Việt Nam từ 1975 - 2005 (Trang 31)
Bảng 1.10. Tình hình sản xuất ngô ở các tỉnh Miền Núi ở phía Bắc - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai trong vụ xuân và đông năm 2005 tại thái nguyên
Bảng 1.10. Tình hình sản xuất ngô ở các tỉnh Miền Núi ở phía Bắc (Trang 33)
Bảng 2.1. Tên và nguồn gốc các giống  ngô thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai trong vụ xuân và đông năm 2005 tại thái nguyên
Bảng 2.1. Tên và nguồn gốc các giống ngô thí nghiệm (Trang 46)
Bảng 3.1. Một số đặc điểm thời tiết khí hậu vụ Xuân và vụ Đông năm 2005 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai trong vụ xuân và đông năm 2005 tại thái nguyên
Bảng 3.1. Một số đặc điểm thời tiết khí hậu vụ Xuân và vụ Đông năm 2005 (Trang 53)
Bảng 3.2. Các giai đoạn sinh tr−ởng - phát triển của các giống ngô thí - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai trong vụ xuân và đông năm 2005 tại thái nguyên
Bảng 3.2. Các giai đoạn sinh tr−ởng - phát triển của các giống ngô thí (Trang 58)
Bảng 3.3. Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của các giống ngô thí - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai trong vụ xuân và đông năm 2005 tại thái nguyên
Bảng 3.3. Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của các giống ngô thí (Trang 63)
Bảng 3.5. Khả năng chống chịu sâu bệnh hại của các giống ngô thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai trong vụ xuân và đông năm 2005 tại thái nguyên
Bảng 3.5. Khả năng chống chịu sâu bệnh hại của các giống ngô thí nghiệm (Trang 71)
Bảng 3.6. Khả năng chống đổ của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân năm 2005 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai trong vụ xuân và đông năm 2005 tại thái nguyên
Bảng 3.6. Khả năng chống đổ của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân năm 2005 (Trang 75)
Bảng 3.7. Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của các giống ngô thí - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai trong vụ xuân và đông năm 2005 tại thái nguyên
Bảng 3.7. Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của các giống ngô thí (Trang 77)
Bảng 3.9. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất vụ Đông năm 2005 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai trong vụ xuân và đông năm 2005 tại thái nguyên
Bảng 3.9. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất vụ Đông năm 2005 (Trang 80)
Bảng 3.10. Năng suất thực thu của các giống ngô thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai trong vụ xuân và đông năm 2005 tại thái nguyên
Bảng 3.10. Năng suất thực thu của các giống ngô thí nghiệm (Trang 85)
Bảng 3.14. Kết quả năng suất trình diễn một số nông hộ vụ Xuân năm 2006 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai trong vụ xuân và đông năm 2005 tại thái nguyên
Bảng 3.14. Kết quả năng suất trình diễn một số nông hộ vụ Xuân năm 2006 (Trang 89)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w