Các nhà khoa học nghiên cứu về cây lạc đã tập trung tổng kết kinh nghiệm các điển hình tiên tiến trong thực tiễn sản xuất, tiếp cận với thành tựu khoa học về lạc của thế giới, nghiên cứu
Trang 1Người hướng dẫn khoa học:
PGS - TS NGUYỄN NGỌC NÔNG
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2007
Trang 2Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng được bảo vệ một học vị nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này, đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Người viết cam đoan
Vương Thị Thuý Hằng
Trang 3Để hoàn thành tốt luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của thầy giáo, cô giáo hướng dẫn, các tổ chức và cá nhân nơi triển khai đề tài, nhân dịp này tôi xin bày tỏ biết ơn tới:
- Thầy giáo PGS TS Nguyễn Ngọc Nông là người hướng dẫn khoa
học đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo trong suốt quá trình làm đề tài
- Khoa Sau Đại Học trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
- Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô giáo khoa Nông Học trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã góp ý để việc làm đề tài thuận lợi
- Ban lãnh đạo huyện, phòng Nông nghiệp huyện Hưng Nguyên, cán bộ các xã và bà con nhân dân của huyện Hưng Nguyên
- Tất cả bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên giúp đỡ
Một lần nữa tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới mọi sự giúp đỡ đó
Xin chân thành cảm ơn!
Hưng Nguyên, tháng 10 năm 2007
Tác giả
Vương Thị Thuý Hằng
Trang 41 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 2
2.1 Mục đích 2
2.2 Yêu cầu 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.2 Nguồn gốc và phân bố của cây lạc 4
1.2.1 Nguồn gốc 4
1.2.2 Phân loại thực vật của cây lạc trồng (Arachis hypogaea L) 5
1.2.3 Phân nhóm lạc theo thời gian sinh trưởng 6
1.2.4 Ảnh hưởng của điều kiện khí hậu và đất đai đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lạc 6
1.2.5 Giá trị của cây lạc 11
1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc trên thế giới và trong nước 14
1.3.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới 14
1.3.2 Tình hình tiêu thụ lạc trên thế giới 17
1.3.3 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam 18
1.3.4 Tình hình tiêu thụ lạc ở Việt Nam 21
1.4 Tình hình nghiên cứu về cây lạc và nâng cao năng suất lạc trên thế giới và Việt Nam 23
1.4.1 Tình hình nghiên cứu nâng cao năng suất lạc trên thế giới .23
1.4.1.1 Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống lạc trên thế giới 23
1.4.1.2 Một số yếu tố hạn chế chính đến sản xuất lạc trên thế giới 24
1.4.1.3 Một số kết quả nghiên cứu về kỹ thuật trồng lạc trên thế giới 26
1.4.1.4 Trồng lạc với kỹ thuật che phủ nilon (CPNL) 28
Trang 51.4.2.2 Một số yếu tố hạn chế sản xuất lạc ở Việt Nam 32
1.4.2.3 Một số kết quả nghiên cứu về kỹ thuật thâm canh tăng năng suất lạc ở Việt Nam 33
1.4.2.4 Nghiên cứu kỹ thuật che phủ nilon trong thâm canh lạc ở Việt Nam 38
1.4.2.5 Tình hình nghiên cứu phát triển lạc thu đông ở 1 số tỉnh phía Bắc Việt Nam 39
1.4.3 Tình hình sản xuất, nghiên cứu và phát triển lạc ở tỉnh Nghệ An 41
1.4.3.1 Tình hình sản xuất lạc ở tỉnh Nghệ An 41
1.4.3.2 Tình hình nghiên cứu và đưa giống mới vào sản xuất ở Nghệ An 45
1.4.3.3 Một số yếu tố hạn chế sản xuất lạc ở Nghệ An 46
1.4.3.4 Một số yếu tố thuận lợi để phát triển lạc ở tỉnh Nghệ An 48
1.4.3.5 Một số giải pháp khắc phục yếu tố hạn chế sản xuất lạc ở Nghệ An 49
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 50
2.1 Vật liệu nghiên cứu 50
2.2 Nội dung và địa điểm nghiên cứu 52
2.2.1 Nội dung nghiên cứu 52
2.2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 52
2.2.3 Thời gian nghiên cứu 53
2.3 Điều kiện đất đai nơi thí nghiệm 53
2.4 Phương pháp nghiên cứu 54
2.4.1 Phương pháp lấy mẫu đất, phân tích một số chỉ tiêu về đất .54
2.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 54
Trang 62.4.2.2 Xây dựng mô hình thâm canh phát triển giống lạc có triển vọng
được chọn ra từ bộ giống thí nghiệm ở vụ xuân và vụ thu đông năm 2006 57 2.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi .58 2.4.3.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển .58 2.4.3.2 Các chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 59 2.4.3.3 Đánh giá về khả năng chống bệnh 60 2.4.3.4 Các chỉ tiêu theo dõi đối với thử nghiệm sản xuất 60 2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 60 2.4.5 Tổ chức nông dân tham gia đánh giá và lựa chọn giống có triển vọng
đưa vào sản xuất 60
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 61
3.1 Đặc điểm 1 số yếu tố thời tiết khí hậu ở huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ
An có liên quan đến vấn đế nghiên cứu .61 3.2 Kết quả nghiên cứu so sánh các giống lạc có triển vọng 63 3.2.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của các giống lạc thí nghiệm 63 3.2.1.1 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống lạc thí
nghiệm 63 3.2.1.2 Một số đặc điểm sinh trưởng của các giống lạc thí nghiệm 67 3.2.1.3 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính qua các thời kỳ
sinh trưởng phát triển 70 3.2.1.4 Khả năng ra lá của các giống lạc thí nghiệm qua các thời kỳ
phát triển .76 3.2.1.5 Mức độ nhiễm bệnh hại lá của các giống lạc thí nghiệm trong
vụ xuân và vụ thu đông năm 2006 82
Trang 73.2.2.2 Năng suất của các giống lạc tham gia thí nghiệm 89
3.2.2.3 Năng suất thực thu và khối lượng hạt trung bình của các giống lạc thí nghiệm ở các vụ trong năm 2006 93
3.2.3 Một số đặc điểm nổi bật của các giống có triển vọng 95
3.2.3.1 Một số đặc điểm nông học của các giống thâm canh 95
3.2.3.2 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống có triển vọng 96
3.3 Kết quả xây dựng mô hình trình diễn ở vụ Xuân 2007 96
3.3.1 Kết quả xây dựng mô hình trình diễn các giống mới vụ Xuân 2007 96
3.3.2 Đánh giá của người dân đối với các giống tham gia xây dựng mô hình sản xuất trong vụ xuân năm 2007 99
Chương 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 101
4.1 Kết luận 101
4.2 Đề nghị 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
A- Tài liệu tiếng Việt 103
B- Tài liệu tiếng anh 106
Trang 8Chữ được viết tắt Chữ viết tắt
Nhà xuất bản Nông nghiệp NXBNN
Năng suất lý thuyết NSLT
Phân chuồng PC
Thời gian sinh trưởng TGST
Tổ chức lương thực và nông nghiệp liên hợp quốc FAO
Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam VKHKTNNVN
Viện Quốc tế nghiên cứu cây trồng vùng nhiệt đới bán khô hạn ICRISAT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ TRONG LUẬN VĂN
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới (1996 - 2005) 15Bảng 1.2 Sản xuất lạc của một số nước có sản lượng trên 1 triệu
tấn/năm 17Bảng 1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc Việt Nam (1995 - 2005) 20Bảng 1.4 Tình hình xuất khẩu lạc của Việt Nam từ năm 1998 - 2003 22Bảng 1.5 Tình hình sản xuất lạc ở tỉnh Nghệ An 42Bảng 1.6 Hình hình sản xuất lạc ở huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An
từ năm 2000 - 2006 44Bảng 2.1 Lý lịch và một số đặc điểm nổi bật của các giống lạc tham
gia thí nghiệm 51Bảng 2.2 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu trên về đất thí nghiệm trên
2 loại đất 53Bảng 2.3 Lượng phân bón, kỹ thuật bón 56Bảng 3.1 Diễn biến tình hình khí tượng thuỷ văn huyện Hưng Nguyên 61Bảng 3.2 Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của các giống lạc thí
nghiệm vụ xuân và thu đông năm 2006 64Bảng 3.3 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các giống lạc thí
nghiệm trong vụ xuân năm 2006 68Bảng 3.4 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các giống lạc thí
nghiệm trong vụ thu đông năm 2006 69Bảng 3.5 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính qua các thời kỳ
sinh trưởng phát triển của các giống lạc thí nghiệm trong vụ xuân năm 2006 71Bảng 3.6 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính qua các thời kỳ
sinh trưởng phát triển của các giống lạc thí nghiệm trong vụ thu đông năm 2006 74Bảng 3.7 Số lá trên thân chính của các giống lạc thí nghiệm qua các
thời kỳ sinh trưởng phát triển ở vụ xuân năm 2006 77Bảng 3.8 Số lá trên thân chính của các giống lạ thí nghiệm ở vụ thu
đông năm 2006 79
Trang 10Bảng 3.9 Mức độ nhiễm bệnh của các giống lạc thí nghiệm bố trí trong
năm 2006 83Bảng 3.10 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lạc thí nghiệm
trong vụ xuân và vụ thu đông năm 2006 87Bảng 3.11 Năng suất của các giống lạc thí nghiệm ở vụ xuân và vụ thu
đông năm 2006 ( tạ/ha) 90Bảng 3.12 So sánh năng suất thực thu và khối lượng hạt trung bình của các
giống lạc thí nghiệm trong vụ xuân và vụ thu đông năm 2006 93Bảng 3.13 Đặc điểm nông học của một số giống có triển vọng 95Bảng 3.14 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống có
triển vọng 96Bảng 3.15 Kết quả xây dựng mô hình trồng giống mới ở vụ xuân năm 2007 98Bảng 3.16 Kết quả người dân cho điểm về chọn giống lạc mới phục vụ
sản xuất 99
B- Danh mục các biểu đồ trong luận văn
Biểu đồ 3.1 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính qua các thời kỳ
sinh trưởng phát triển của các giống lạc thí nghiệm trong vụ xuân năm 2006 73Biểu đồ 3.2 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính qua các thời kỳ
sinh trưởng phát triển của các giống lạc thí nghiệm trong vụ thu đông năm 2006 75Biểu đồ 3.3 Số lá trên thân chính của các giống lạc thí nghiệm qua các
thời kỳ sinh trưởng phát triển ở vụ xuân năm 2006 78Biểu đồ 3.4 Số lá trên thân chính của các giống lạ thí nghiệm ở vụ thu
đông năm 2006 81Biểu đồ 3.5 Năng suất lý thuyết và năng suất thục thu của các giống lạc
thí nghiệm trong vụ xuân năm 2006 91Biểu đồ 3.6 Năng suất lý thuyết và năng suất thục thu của các giống lạc
thí nghiệm trong vụ thu đông năm 2006 92
C- Sơ đồ trong luận văn
Sơ đồ 1 Phân loại lạc trồng 55
Trang 11MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Lạc (Arachis hypogaea Line) là cây công nghiệp ngắn ngày, là cây thực
phẩm, cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao, có khả năng cải tạo đất tốt Cây lạc chiếm vị trí hàng đầu trong các cây có hạt lấy dầu và chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới, không chỉ do gieo trồng trên diện tích lớn ở hơn 100 nước mà còn vì hạt lạc được sử dụng rộng rãi để làm thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp
Ở Việt Nam lạc là sản phẩm quan trọng để xuất khẩu và sản xuất dầu
ăn mà hiện nay nước ta còn phải nhập khẩu Hơn thế nữa cây lạc đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống nông nghiệp ở vùng nhiệt đới bán khô hạn như ở Việt Nam, nơi mà khí hậu biến động và canh tác đặc biệt khó khăn Trong những năm gần đây cây lạc đã được quan tâm nhiều hơn Các nhà khoa học nghiên cứu về cây lạc đã tập trung tổng kết kinh nghiệm các điển hình tiên tiến trong thực tiễn sản xuất, tiếp cận với thành tựu khoa học về lạc của thế giới, nghiên cứu và đề xuất các kỹ thuật trồng lạc mới phổ biến rộng rãi cho nhân dân góp phần làm tăng năng suất lạc ở Việt Nam rất đáng kể nhưng vẫn còn rất thấp so với một số nước trên thế giới
Tỉnh Nghệ An là một trong những tỉnh có diện tích trồng lạc cao trong cả nước, có điều kiện đất đai thuận lợi cho việc phát triển sản xuất lạc Một số vùng lạc thâm canh của tỉnh đã đạt được năng suất 4,0 tấn/ha trên quy mô 5-50ha (Diễn Châu - Nghệ An) [2] Tuy nhiên những năng suất thu được đó vẫn còn thấp so với các điển hình của các nước như Trung Quốc (11,2 tấn/ha trên quy
mô 0,1 ha; 9,58 tấn/ha quy mô 14 ha; 4,5 tấn/ha trên quy mô hàng ngàn ha) [19], Ấn Độ (7,0 tấn/ha trên quy mô 2,0 ha) Điều đó cho thấy tiềm năng nâng cao năng suất lạc ở nước ta là có triển vọng và phù hợp với yêu cầu của người sản xuất
Trang 12Huyện Hưng Nguyên nằm ở phía Tây Nam tỉnh Nghệ An, có các bãi đất phù sa ven sông và các vùng đất ruộng một vụ lúa, diện tích hai loại đất này tương đối lớn, có khả năng phát triển cây rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày, đặc biệt là lạc Nhưng thực tế lạc ở Hưng Nguyên chưa phát triển mạnh, việc mở rộng diện tích còn chậm, năng suất còn thấp Nhiều giống lạc được các đơn vị đưa vào sản xuất ở địa phương, nhưng cán bộ khuyến nông và nông dân còn rất lúng túng trong việc chọn ra bộ giống thích hợp cho vùng đất địa phương nhằm đạt được năng suất cao, thích ứng với vùng sinh thái của huyện Hưng Nguyên - tỉnh Nghệ An
Xuất phát từ yêu cầu bức xúc của sản xuất như vậy nên chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của
một số giống lạc nhập nội có triển vọng tại huyện Hưng Nguyên - tỉnh Nghệ An”
2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Mục đích
Nghiên cứu, đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và khả năng chống chịu một số sâu bệnh hại của các giống lạc trong điều kiện sinh thái tại huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An nhằm xác định được giống lạc có năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng, góp phần phát triển sản xuất lạc hàng hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất đai ở địa phương
2.2 Yêu cầu
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống lạc có triển vọng, để bước đầu chọn ra được những giống có năng suất cao, thích ứng với điều kiện sinh thái của huyện Hưng Nguyên - tỉnh Nghệ An
- Xây dựng mô hình sản xuất lạc, trên cơ sở giống mới được chọn ra từ thí nghiệm theo phương pháp thâm canh trên đồng ruộng của nông dân
Trang 13Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Nền sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lạc nói riêng, muốn tăng năng suất và chất lượng sản phẩm thì yếu tố quan trọng quyết định hàng đầu đó là giống Có một bộ giống tốt, có khả năng cho năng suất cao, thích ứng với vùng sinh thái của địa phương đó là vấn đề bức thiết đặt ra cho các nhà nghiên cứu chọn tạo giống và các nhà sản xuất Giống là tiền đề để tác động các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng nói chung và cây lạc nói riêng
Khi sử dụng giống tốt, năng suất cây trồng được tăng lên, phẩm chất cây trồng được cải tiến Vì vậy, để phát huy được hiệu quả của giống tốt cần phải sử dụng chúng phù hợp với điều kiện sinh thái, khí hậu đất đai và kinh tế
- xã hội của từng vùng Trong quá trình nghiên cứu và tổ chức sản xuất các nhà khoa học đã tổng kết: Chọn tạo giống lạc có thể làm tăng năng suất lạc khoảng 15 - 30% nhưng nếu biết kết hợp cả giống mới với kỹ thuật canh tác tiến bộ thì năng suất có thể lên khoảng 60 - 62% Trong bối cảnh hiện nay, khí hậu và môi trường sinh thái có nhiều biến đổi, con người phải tiến hành một nền trồng trọt hiện đại Nền sản xuất này dựa trên cơ sở áp dụng một cách khoa học các yếu tố như: giống, nước, phân bón và kỹ thuật chăm sóc…, đồng thời phải bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên, tránh được ô nhiễm môi trường Để đạt được mục đích này trong sản xuất thâm canh, bên cạnh việc chọn được giống có năng suất cao, phẩm chất tốt, có khả năng chống chịu với các điều kiện sinh thái bất lợi và sâu bệnh hại, cần chú ý sử dụng những loại cây trồng có khả năng cải tạo và bảo vệ đất như các cây họ đậu
Trang 14Ở Việt Nam từ năm 1998 đến nay năng suất lạc cũng có sự tăng đáng
kể, có được điều đó phải kể đến sự đóng góp tích cực của các tiến bộ kỹ thuật mới về giống và các biện pháp canh tác tổng hợp Tuy nhiên đây mới chỉ là những kết quả bước đầu, tiềm năng năng suất có thể khai thác tốt nếu như chúng ta chọn ra được những bộ giống lạc có khả năng sinh trưởng phát triển tốt và cho năng suất cao, thích ứng với vùng sinh thái của địa phương Hiện nay ở nước ta đã có hàng chục giống lạc được sử dụng trong sản xuất, mỗi giống có đặc tính di truyền riêng và có những yêu cầu nhất định về điều kiện sinh thái Vì vậy có giống ở vùng sinh thái này thì sinh trưởng thích hợp và cho năng suất cao, ít bị sâu bệnh phá hại nhưng trong điều kiện sinh thái khác thì lại sinh trưởng kém và cho năng suất thấp Để phát triển sản xuất cây lạc một số vùng nhất định thì việc nghiên cứu tính thích ứng của giống lạc, chọn
ra bộ giống sinh trưởng phát triển phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao và là một yêu cầu cần thiết trong công tác nghiên cứu để phát triển sản xuất
1.2 NGUỒN GỐC VÀ PHÂN BỐ CỦA CÂY LẠC
1.2.1 Nguồn gốc
Theo tài liệu của các nhà sử học, tự nhiên học, khảo cổ học và ngôn ngữ, người ta cho rằng lạc có nguồn gốc từ Nam Mỹ Đặc biệt trên những vùng đảo Tây Ấn, Mêhicô, vùng biển đông - Đông bắc Braxin, trên những vùng ấm áp thuộc lòng chảo Rio - plata (Achentina, Paragoay, Bôlivia, cực Tây Nam Braxin, Bêru) Sau đó phổ biến sang Châu Âu, tới vùng bờ biển Châu Phi, Châu Á (Trung Quốc, Inđônêxia, Ấn Độ), tới quần đảo Thái Bình Dương và cuối cùng tới các vùng Đông Nam Hoa Kỳ
Tuy nhiên, trung tâm trồng lạc nguyên thuỷ xa xưa chưa được xác định chính xác Bằng phương pháp phóng xạ các nhà khoa học đã xác định cây lạc được trồng cách đây 3259 - 3500 năm do dân tộc Inca trồng dọc các ven biển
Trang 15Peru Theo tác giả Candoble (1982) [36], Higginis (1951) [47] và một số tác giả khác cho rằng Arachis hypogaea được thuần hoá ở Granchaco Tây Nam Krapovickas (1968) [51], qua những chuyến đi thu thập giống lạc ở khắp Nam Mỹ lại giả thiết rằng vùng Thượng lưu sông Plata Bolivia là trung tâm nguồn gốc của Arachis hypogaea
Nguồn gốc của cây lạc ở Việt Nam cho tới nay chưa được xác minh rõ ràng Theo Lê Song Dự và CS, 1979 [9] thì cây lạc có thể từ Trung Quốc nhập vào nước ta khoảng thế kỷ XVII, XVIII
1.2.2 Phân loại thực vật của cây lạc trồng (Arachis hypogaea L.)
Lạc thuộc họ cánh bướm (Fabaceae), chi Arachis Từ lâu người ta chỉ
biết đến một loài của chi Arachis đó là lạc trồng A hypogaea do Line mô tả
từ năm 1753 Theo Gregory và CS, 1980 [45], hiện có 22 loài được mô tả, phân chia theo nhóm dựa trên cấu trúc hình thái, khả năng tổ hợp và mức hữu dục của con lai Krapovickas (1968) [51] đã tập hợp nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trước và tóm tắt như sơ đồ 1
Arachis hypogaea L
Thứ: Hypogaea Hirsuta Fastigiata Vulgaris
(Nhóm Virginia) (nhóm Valencia) (Nhóm Spanish)
Sơ đồ 1: Phân loại lạc trồng
Kế thừa những quan sát của Rjchte, năm 1980 Gregory [45] đã chứng minh lợi ích của phương pháp phân loại lạc dựa trên hệ thống phân cành, đã chia loài lạc trồng làm 2 nhóm lớn Nhóm phân cành xen kẽ và nhóm phân
Trang 16cành liên tục ứng với nhóm Virginia và nhóm Spanish - valencia Sự khác biệt về một số đặc điểm hình thái của 2 nhóm trên được tóm tắt ở phụ lục 2
1.2.3 Phân nhóm lạc theo thời gian sinh trưởng
Thời gian sinh trưởng (TGST) là một chu kỳ sống của cây có hoa, từ hạt ngủ nghỉ thông qua nẩy mầm, sinh trưởng sinh dưỡng, sinh trưởng sinh sản dẫn đến ra hoa, hình thành quả và kết hạt Quá trình này là bản chất di truyền của giống Tuy nhiên, nó còn chịu tác động của môi trường xung quanh như: yếu tố nhiệt độ, thời gian chiếu sáng, bức xạ mặt trời, độ ẩm đất, độ ẩm không khí và các chế độ canh tác khác Vì vậy, phân nhóm theo thời gian sinh trưởng cũng chỉ là một khái niệm tương đối Lạc là cây trồng nhiệt đới nên yếu tố nhiệt độ
và ẩm độ đất là hai yếu tố quyết định sự biến động về TGST
Theo Trần Đình Long và các cộng sự (1991) [20] TGST của cây lạc được phân làm 9 nhóm với các giống điển hình như sau:
Nhóm 1: Dưới 90 ngày (Lì, Giấy, Tai nan)
Nhóm 9: Trên 160 ngày (I.4510)
1.2.4 Ảnh hưởng của điều kiện khí hậu và đất đai đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lạc
1.2.4.1 Khí hậu
Các yếu tố sinh thái như nhiệt độ, ánh sáng chế độ nước có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của cây lạc cũng vì lẽ
Trang 17đó mà các yếu tố khí hậu đã quyết định đến sự phân bố lạc trên thế giới (Lê Song Dự và CTV, 1979) [9]
- Về nhiệt độ:
Lạc thích ứng với những vùng có nhiệt độ nóng và ẩm (25 - 350C) (Nguyễn Bảo Vệ và CS, 2005) [33] Nhiệt độ đất là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự nảy mầm, mọc và tốc độ sinh trưởng ban đầu của cây con Nhiệt độ đất dưới 180C làm cho cây lạc mọc chậm (Mixon và CTV, 1969) [53] Hạt mất sức nảy mầm khi nhiệt độ đất trên 450C (Dickens J.w and khalsa J.S, 1967) [41] Tuy nhiên cây lạc có khả năng thích ứng với nhiều vùng địa lý vì chu kỳ sinh trưởng ngắn Theo Moreshet và các cộng sự (1996)[54] cho rằng nhiệt độ đất thấp, kết hợp thiếu nước làm cây thấp lá vàng khô, mã quả xấu, năng suất thấp, còn nhiệt độ cao kết hợp hạn làm cây thấp, thân nhỏ yếu, lá nhỏ, quả bé, năng suất thấp Nhiệt độ dưới 130C làm ngừng sinh trưởng của cây lạc Sinh trưởng sinh thực mạnh nhất trong khoảng nhiệt độ từ 240C - 270C Nhiệt độ ở mức 330C trong thời gian dài làm ảnh hưởng đến sức sống của hạt phấn (Mixon và CTV, 1969) [53] Nhiệt độ dưới
200C ảnh hưởng xấu đến ra hoa và tỷ lệ đậu quả (Chand H.H, 1974) [37] Tốc
độ hình thành tia quả tăng từ 190C đến 230C Nhiệt độ tối ưu cho quả phát triển nằm trong khoảng 300C - 340C Nhiệt độ quá cao làm cho hạt teo, lép
-Về ánh sáng:
Lạc là cây quang hợp kiểu C3, ánh sáng ảnh hưởng tới cả quang hợp và
hô hấp Cường độ ánh sáng thấp trong giai đoạn sinh trưởng làm tăng nhanh chiều cao cây nhưng giảm khối lượng lá và số hoa (Hang N and Mc Cloud, 1976) [46] Việc ra hoa không phụ thuộc vào quang chu kỳ, nhưng phân hoá mầm hoa và tổng số hoa hình thành quả phụ thuộc rất nhiều vào ánh sáng (Forrestier E.J, 1957) [43] Theo Hudgens và Mc Coud (1974) [48] thì sự ra hoa rất nhạy cảm khi cường độ ánh sáng giảm và nếu cường độ ánh sáng thấp
Trang 18trước thời kỳ ra hoa sẽ gây nên rụng hoa Tác giả này cũng cho rằng nếu cường độ ánh sáng thấp ở thời kỳ ra tia, hình thành quả thì làm cho số lượng tia giảm đi một cách có ý nghĩa, đồng thời khối lượng quả cũng bị giảm theo
- Về nước và độ ẩm:
Nước là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất lạc, tuy rằng lạc được coi là cây trồng chịu hạn, song thực ra chỉ chịu hạn được ở một giai đoạn nhất định Kết quả thực hiện tưới nước cho lạc ở Diễn Châu, Nghệ
An (1993) vào thời kỳ lạc bắt đầu ra hoa và rộ hoa cho thấy ở công thức có tưới, năng suất đạt 24,2 tạ/ha, cao hơn đối chứng không tưới 40% (Đậu Thị Lương, 1995) [24]
Độ ẩm đất trong suốt TGST của cây lạc yêu cầu từ 70 - 80% độ ẩm giới hạn đồng ruộng, yêu cầu này có cao hơn một chút ở thời kỳ ra hoa, kết quả (80 - 85%) và giảm xuống ở thời kỳ chín của hạt Lúc này thời tiết cần khô ráo để thu hoạch quả được khô, sạch, màu vỏ đẹp, không bị mọc mầm tại ruộng và không bị nấm mốc gây hại [33] Theo Phạm Văn Thiều, 2000 [29], thời kỳ khủng hoảng nước của lạc là thời kỳ ra hoa rộ, đâm tia và làm quả, thời kỳ ra hoa rộ mẫn cảm với nước Lạc được cung cấp nước đầy đủ nhất trong thời kỳ ra hoa đâm tia, làm quả có thể đạt năng suất tương đương với cây được cung cấp đầy đủ trong suốt giai đoạn sinh trưởng [5]
1.2.4.2 Đất đai và dinh dưỡng
- Về đất đai:
Do đặc điểm của cây lạc là hình thành quả dưới đất, bộ rễ có nốt sần cho nên
độ màu mỡ tự nhiên của đất không phải là chỉ tiêu cần chọn đất để trồng lạc, mà điều quan trọng là phải đảm bảo điều kiện thích đáng cho việc tiêu nước, khả năng giữ nước, những yếu tố liên quan đến kết cấu và cấu trúc của đất Trên những loại đất như vậy mới tạo điều kiện tốt cho lạc nảy mầm, dễ dàng ngoi lên mặt đất, tia đâm xuống đất thuận lợi, khi (nhổ lạc) thu hoạch không bị đứt làm sót quả Mặt
Trang 19khác đất có thoáng khí mới dễ dàng cho vi sinh vật ở bộ rễ phát triển Ở đất bí quả lạc hô hấp kém làm cho khối lượng quả bị giảm Đất nhiều nước quá không cung cấp đủ oxy cho rễ hô hấp sẽ làm ức chế sinh trưởng của rễ và trao đổi chất của cả cây chậm lại Cây lạc ưa đất hơi chua và trung tính pH = 6,0 - 6,4 (Nguyễn Văn Bình và CS, 1996) [1], (Lê Văn Diễn và CS, 1991) [8] Đất kiềm không tốt, khi pH = 7,5 - 8,5 lá trở nên vàng và vết đen xuất hiện trên vỏ quả Reid and Cox (1973) [55] lại cho rằng không có thông tin nào cho biết lạc đạt năng suất cao trên đất có độ pH dưới 5
- Về dinh dưỡng:
Hầu hết đất trồng lạc có thành phần cơ giới nhẹ nên nghèo dinh dưỡng,
vì vậy sự sinh trưởng của cây lạc phụ thuộc nhiều vào chế độ dinh dưỡng mà cây được cung cấp trong một vụ canh tác Cũng như các loại cây trồng khác, cây lạc cần dưỡng chất khoáng đa lượng lẫn vi lượng, đặc biệt là P, Ca, Mo
Vì thế trong dân gian có câu "không lân không vôi thì thôi trồng lạc"
* Đạm (N):
Thời kỳ lạc hấp thu đạm nhiều nhất là thời kỳ ra hoa, làm quả và hạt, thời kỳ này chỉ chiếm 25% tổng TGST của cây lạc, nhưng hấp thụ từ 40 - 45% nhu cầu đạm của cả chu kì sinh trưởng (Nguyễn Văn Bình và CS, 1996)[1] Nguồn đạm do vi khuẩn cộng sinh cố định đạm cung cấp có thể đáp ứng được 50 - 70% nhu cầu đạm của cây và sau khi thu hoạch nó để lại trong đất một lượng đạm đáng kể (Trần Văn Điền, 1990) [11]
Tuy nhiên các nốt sần chỉ xuất hiện khi lạc có cành nhánh và phát triển nhiều khi lạc bắt đầu ra hoa Do vậy, ở giai đoạn đầu sinh trưởng của cây còn nhỏ (3-5 lá) cần được bổ sung một lượng đạm hoặc bón một lượng đạm kết hợp với phân chuồng, nhằm tạo điều kiện cho cây sinh trưởng và phát triển mạnh, thúc đẩy sự phát triển của vi khuẩn cộng sinh ở giai đoạn sau (Ưng Định và CS, 1977) [12] Mặc dù yêu cầu về N của cây lạc là rất lớn, song
Trang 20cũng chỉ cần bón một lượng nhỏ (25 - 30 kg N/ha) tuỳ từng giống hay từng loại đất là đủ [4] Nhiều nhà nghiên cứu đã cho thấy năng suất quả lạc chỉ tăng khi có một tỉ lệ thích hợp giữa N và P, không nên chỉ bón đơn lẻ mỗi loại yếu tố đó Bón N có thể bón vào đất và bón qua lá Hiệu lực 1kg đạm nguyên chất tăng từ 5 đến 8,6kg lạc vỏ (Trần Văn lài và CS, 1993) [19]
* Lân (P2O5):
Lân là yếu tố dinh dưỡng chủ đạo của cây lạc Lân có tác dụng kích thích sự sinh trưởng của cây lạc, làm cho lạc chín sớm, lân thúc đẩy sự phát triển của nốt sần, tăng sức sống của hạt (Phạm Văn Thiều, 2000) [29] Bón lân cho lạc làm tăng khả năng tích luỹ chất khô của cây, kéo dài thời gian ra hoa và tăng tỷ lệ đậu quả (Lê Song Dự và CS, 1979) [9] Tuy nhiên khi nghiên cứu nhu cầu về lân của cây lạc, rất nhiều tác giả cho rằng, lạc hút một lượng lân tương đối nhỏ Bởi trong thực tế cây lạc có thể mọc bình thường dù trong đất rất ít lân dễ tiêu, điều này có thể được là nhờ sự hình thành liên kết
rễ - nấm, hay vi khuẩn photphobacteria sống ở vùng rễ và làm lân khó tiêu chuyển thành lân dễ tiêu
Lạc hấp thụ lân nhiều nhất ở thời kỳ ra hoa, hình thành quả Trong thời gian này, lạc hấp thu tới 45% lượng hấp thụ lân của cả chu kỳ sinh trưởng Sự hấp thu lân giảm rõ rệt ở giữa thời kỳ quả chín (Nguyễn Văn Bình và CS, 1996) [1] Theo kết quả nghiên cứu về lân đối với lạc cho thấy rằng đất càng nghèo thì hiệu lực của phân lân càng cao Mặc dù cây lạc chỉ cần một lượng lân nhỏ dễ tiêu để sản xuất ra lượng lạc quả lớn song đối với cây lạc vẫn phải bón một một lượng phân lân lớn vì hiệu quả hấp thụ lân từ phân bón rất thấp
* Kali (K2O):
Kali có vai trò quan trọng trong sự quang hợp của lá và sự phát triển của quả, tăng khả năng giữ nước của tế bào, làm cho thành tế bào vững chắc, tăng thêm tính chịu hạn và chống xuất hiện nhiều quả 1 hạt [4] Thiếu kali
Trang 21cũng sẽ làm cho cây sinh trưởng chậm lại, các lá bị chết khô và chuyển màu (Phạm Văn Thiều, 2000) [29] Ở những lá già khi bị thiếu kali thì phần mép lá xuất hiện các đốm vàng nhạt, phần còn lại vẫn có màu xanh đặc trưng Còn trên các lá non thì hiện tượng chuyển màu lại tương đối đều hơn, có khi còn
có những chấm nhỏ màu nâu hoặc vàng lá chét sẽ uốn cong như hình thìa
Bón kali cho lạc trên đất có độ phì trung bình và giàu đã làm tăng khả năng hấp thu N và P Nếu thừa K sẽ cản trở sự hấp thụ Ca, Mg, đặc biệt ở vùng quả, làm thối quả, quả không mẩy [4]
1.2.5 Giá trị của cây lạc
1.2.5.1.Giá trị dinh dưỡng của cây lạc
Bộ phận sử dụng chủ yếu của lạc là hạt Hạt lạc từ lâu đã được sử đụng làm thực phẩm cho người Nói chung, lạc là nguồn thức ăn có hàm lượng dầu (40 -60) và protein cao (25-34%) [9], [12]
Ngoài ra trong lạc còn chứa 9-12% Gluxit, 2-4,5% xenlulô, 1,8-4,6% tro, 6,0-22,05 hyđratcacbon và nhiều loại vitamin (A, B1, B2, B6, PP, E ) Những thành phần sinh hoá này có thể thay đổi phụ thuộc vào giống, sự biến
Trang 22động các điều kiện khí hậu giữa các năm, vị trí hạt ở quả và các yếu tố không bình thường như sâu bệnh hại và phương pháp phân tích khác nhau cùng ảnh hưởng tới, thành phần sinh hoá của hạt (Trần Văn Điền, 1990) [11]
Do hạt lạc có hàm lượng dầu cao nên năng lượng cung cấp lớn Dầu lạc
là hỗn hợp glixerit bao gồm 80% axit béo không no và 20% axit béo no, do đó dầu lạc rất thích hợp để làm dầu ăn thay mỡ động vật, làm giảm colextêron trong máu Protein của lạc có nhiều axit amin không thay thế quan trọng như Lizin, triptofan, fenillanin, metionin, treonin, lơxin, izolơxin, valin Ngoài ra trong lạc còn có Cacbuahyđro thơm Như vậy lạc là một loại thức ăn giàu lipit, protein, nhiều vitamin và lạc rang có hương thơm, mùi vị đặc biệt không loại thực phẩm nào có [1] Từ lạc có thể chế biến nhiều loại thức ăn có giá trị cho con người như: Lạc rang, lạc luộc, lạc muối, lạc chao dầu, bơ lạc, bột lạc, kẹo lạc, sữa lạc, fomat lạc
Ngoài giá trị dinh dưỡng cho con người, lạc còn là nguồn thức ăn tốt cho gia súc Trong thân lá lạc có tỉ lệ đường và đạm khá cao (đường>24%, protein > 10%), vỏ quả lạc có 4,2% protein, đường 18,5%, đặc biệt là khô dầu lạc có chứa 50,8% protein, do đó nó có thể cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho gia súc [1]
1.2.5.2 Giá trị của cây lạc trong công nghiệp chế biến
Cây lạc là nguồn nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp thực phẩm như các ngành công nghiệp sản xuất dược phẩm, ép dầu, làm bánh kẹo, làm fomat, bơ lạc, sữa lạc, làm nước chấm, đậu phụ lạc, xà phòng, chế biến thức ăn gia súc Từ các ngành công nghiệp chế biến lạc, đã tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng, góp phần tích cực vào việc nâng cao hiệu quả
sử dụng các sản phẩm của cây lạc và khả năng sử dụng lao động trong sản xuất Trong số các cây đậu đỗ thực phẩm thì lạc là cây quan trọng bậc nhất trong công nghiệp chế biến
Trang 23Trong nhiều nước kém và đang phát triển, công nghiệp chế biến sản phẩm cây đậu đỗ thường tồn tại ở mức sản xuất nhỏ, mang tính địa phương Tuy nhiên do nhu cầu về protein và dầu thực vật tăng lên, nên công nghiệp chế biến sản phẩm cây đậu đỗ ở các cơ sở sản xuất nhỏ vẫn phải hoạt động và
đã đem lại một lượng sản phẩm đáng kể cho xã hội Các sản phẩm từ chế biến đậu đỗ là dầu được tinh chế, bột protein và các sản phẩm phụ như khô dầu Sản phẩm dầu tinh chế được cung cấp trực tiếp cho người tiêu dùng làm đồ
ăn, hoặc tiếp tục làm nguyên liệu chế biến cho các ngành công nghiệp khác Bột protein được sử dụng cho chế biến ăn chay, hay bổ sung thành phần trong sản xuất xúc xích, batê và nhiều loại thực phẩm khác cho người Bột protein
và khô lạc được sử dụng nhiều trong chế biến thức ăn cho gia súc với hàm lượng dinh dưỡng cao
1.2.5.3 Giá trị của cây lạc trong hệ thống trồng trọt
Lạc không những có khả năng cung cấp dinh dưỡng cho con người và gia súc, mà nó còn có khả năng cải tạo đất nhờ hệ thống vi khuẩn cộng sinh
cố định đạm và các bộ phận thân lá rễ của cây lạc
Cây lạc thuộc họ đậu, có khả năng đặc biệt là khi cộng sinh với loài vi khuẩn Rhizobium virgna có khả năng sử dụng nitơ phân tử ở khí trời Chính nhờ khả năng này mà trồng lạc không cần bón phân đạm nhiều như các loại cây trồng khác nhưng vẫn đảm bảo năng suất, đồng thời nó còn cung cấp trở lại cho đất một lượng đạm đáng kể (Mayer R.J.K and wood I M, 1987) [52]
Theo Lê Văn Diễn và CS (1991) [8] việc luân canh giữa cây họ đậu với cây trồng khác đã góp phần cải thiện chế độ dinh dưỡng khoáng đối với các cây trồng này Mặt khác với bộ tán cây dày, có khả năng che phủ tốt, nên cây lạc làm giảm mức độ xói mòn của đất, nó góp phần bảo vệ, nâng cao độ phì của đất, đặc biệt vào mùa mưa
Trang 241.3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ LẠC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1.3.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Trên thế giới hiện nay nhu cầu sử dụng và tiêu thụ lạc ngày càng tăng
đã và đang khuyến khích nhiều nước đầu tư phát triển sản xuất lạc với quy mô ngày càng mở rộng
Tổng hợp từ các nguồn số liệu của Florkowski (1994) [44], Cerar (2002) [38], thống kê của FAO [42], USDA (2002 - 2006) [56] cho thấy diện tích trồng lạc trên toàn thế giới trong 35 năm qua tăng 14,1% Những năm 70 (ở phụ lục 4) diện tích lạc trung bình hàng năm là 17,965 triệu ha, sang những năm thập kỷ 90 là 20,624 triệu ha Diện tích bình quân hàng năm của sáu năm gần đây (2000 - 2005) trên thế giới là 22,41 triệu ha, tăng so với những năm
70 là 24,5%, tăng so với những năm 90 là 10,4%
Về năng suất lạc trên thế giới, nhờ áp dụng tiến bộ kỹ thuật và sử dụng giống lạc mới nên năng suất tăng không ngừng Trong những năm 70 trung bình năng suất lạc thế giới là 9,3 tạ/ha, những năm 80 là 11,0 tạ/ha, những năm 90 là 12,8 tạ/ha [38], sáu năm gần đây (2000 - 2005) trung bình năng suất lạc thế giới là 14,4 tạ/ha [42], [56], tăng so với những năm 70 là 5,1 tạ/ha (+54,8%) [38], [42], [44] Năng suất lạc trung bình toàn thế giới tăng, song không đều giữa các vùng lãnh thổ, thậm chí có nhiều nơi giảm Cụ thể: Ở Châu Á tăng từ 9,1 tạ/ha (1970 - 1979) lên 16,4 tạ/ha năm 2004 [56] Các nước Châu Phi năng suất lạc rất thấp dưới 10,0 tạ/ha Còn các nước khu vực Châu Mĩ có năng suất lạc rất cao, như năm 2004 khu vực Bắc Mĩ năng suất 37,5 tạ/ha [56], ở Nam Mĩ đạt 21,5 tạ/ha [38] Các nước Châu Âu năng suất tăng từ 16,1 tạ/ha (1970 - 1979) lên 25,5 tạ/ha (1990 - 1999) [38]
Về sản lượng lạc trung bình thế giới những năm 90 là 26,399 triệu tấn/năm, tăng 58,01% so với những năm 70 (16,707 triệu tấn/năm), trong đó:
Trang 25Châu Á sản lượng tăng mạnh nhất là 104,69% (từ 9,548 triệu tấn/năm lên 19,543 triệu tấn/năm), điển hình tính riêng khu vực Đông Á, sản lượng lạc trung bình những năm 90 tăng so với những năm 70 gần 300% [38], [51] Châu Phi tăng 4,6% còn Châu Mĩ sản lượng giảm 4,9% Sản lượng lạc trung bình sáu năm gần đây (2000 - 2005) của thế giới là 32,261 triệu tấn/năm, tăng
so với những năm 70 là 93,1%, tăng so với những năm 90 là 23,5% [38], [56]
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới (1996 - 2005)
Năm Diện tích (1000 ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (1000 tấn)
kê của FAO [42] và USDA (2000 - 2006) [56] thì 5 năm gần đây (2000 - 2004) diện tích trồng lạc trung bình hàng năm ở Ấn Độ là 8 triệu ha, năng suất là 8,6 tạ/ha giảm so với những năm 90 là 8,5%
Trang 26Trung Quốc là nước đứng thứ 2 về diện tích lạc, năng suất lạc bình quân ở Trung Quốc cao và tăng nhanh trong những thập kỷ qua Theo Duan Shufen (1998) [40] những năm 90 nhờ có những bước nhảy vọt về chọn tạo giống và kỹ thuật trồng trọt, năng suất lạc ở Trung Quốc đã tăng rất nhanh so với những thập kỷ trước, trung bình đạt 26,9 tạ/ha (1994) Theo thống kê của USDA (2000 - 2006) [56] những năm gần đây trung bình diện tích trồng lạc hàng năm của Trung Quốc là 5,035 triệu hécta, chiếm trên 20% tổng diện tích lạc toàn thế giới Năng suất lạc trung bình là 28,2 tạ/ha, cao gần gấp đôi năng suất lạc trung bình của thế giới (+98,6%) Sản lượng lạc hàng năm của Trung Quốc là 14,160 triệu tấn, luôn cao nhất thế giới, chiếm gần 40% tổng sản lượng trên toàn thế giới Đặc biệt ở Trung Quốc trên diện tích hàng chục hécta, năng suất lạc có thể đạt 90,6 tạ/ha, điển hình có thí nghiệm năng suất lạc đạt tới 120,0 tạ/ha, gấp 9 lần so với năng suất bình quân thế giới [39] Đây thực sự là bước đột phá của nhân dân Trung Quốc về chọn tạo giống và nghiên cứu áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lạc
Nước Mỹ có diện tích, năng suất lạc khá ổn định trong 3 thập kỷ qua Sản lượng của Mỹ đứng thứ ba sau Trung Quốc và Ấn Độ Năm năm gần đây (2000 - 2004) diện tích trồng lạc trung bình hàng năm của Mỹ là 0,578 triệu hécta, năng suất trung bình hàng năm là 31,7 tạ/ha [56], cao hơn những năm
90 là 13,6%, đây là năng suất trung bình cả nước cao nhất thế giới
Nigiênia là nước có sản lượng lạc đứng vị trí thứ tư trên thế giới Những năm 90 diện tích trồng lạc của Nigiêria trên 1 triệu hécta [38], [44] đứng ở vị trí thứ 3 trên thế giới (Sau Ấn Độ và Trung Quốc) Năng suất lạc hàng năm ở những năm 90 là 8,6 tạ/ha, tăng so với thập kỷ 80 không đáng kể [38] Năm năm gần đây (2000 - 2004) diện tích và năng suất lạc của Nigiênia tăng so với những năm 80, 90 và giữ ổn định [56]
Trang 27Inđônêsia, từ 1995 đến 2001 có diện tích ổn định là 0,650 triệu hécta [38] Năm 2003, 2004 diện tích tăng lên 0,700 triệu hécta [56] Năng suất của Inđônêsia tăng chậm, những năm 90 là 15,0 tạ/ha, tăng so với những năm 70
là 1,1 tạ/ha [44] Trong 5 năm gần đây (2000 - 2004) năng suất lạc trung bình hàng năm là 15,9 tạ/ha Sản lượng mỗi năm trên 1,130 triệu tấn [56]
Bảng 1.2 Sản xuất lạc của một số nước có sản lượng trên 1 triệu tấn/năm
Tên nước
Diện tích (triệu ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Diện tích (triệu ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Diện tích (triệu ha)
Sản lượng (triệu tấn)
1.3.2 Tình hình tiêu thụ lạc trên thế giới
Đã từ lâu thị trường lạc trên thế giới đã hình thành và việc mua bán lạc luôn sôi động, bởi sản phẩm của cây lạc ngoài việc làm thực phẩm trực tiếp,
nó còn là nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp chế biến như ép dầu, bánh kẹo và thực phẩm Các nước xuất khẩu lạc nhiều trên thế giới là Trung Quốc,
Mỹ, Achentina, Việt Nam, Hà Lan, Ấn Độ, Inđônêsia, Nam Phi Các nước nhập
khẩu lạc chủ yếu là Canada, Đức, Nhật Bản, Pháp [56]
Trong hai thập kỷ trở lại đây, Trung Quốc có vai trò ngày càng quan trọng trên thị trường lạc nhân thế giới, từ chỗ có 1% thị trường dầu ăn thế giới năm 1976, đến nay đã lên tới 32% (2001), trong khi đó Mỹ thị phần giảm từ
Trang 2832% (1976) xuống 19% (2001) Trung Quốc luôn là nước dẫn đầu về xuất khẩu lạc trên thế giới, chiếm khoảng 40% tổng sản lượng toàn cầu Tiếp đến
là Ấn Độ khoảng 23% Trong 3 sản phẩm lạc chính được giao dịch trên thế giới (hạt lạc, dầu lạc và khô lạc), lạc nhân được giao dịch nhiều nhất, đạt 1,2 triệu tấn mỗi năm (Tình hình xuất khẩu lạc trên thế giới từ năm 1991 đến năm 2000 được trình bày cụ thể ở phụ lục 5)
Trong 10 năm từ 1991 đến năm 2000, nước sản xuất lạc nhiều nhất là Trung Quốc, hàng năm bình quân xuất khẩu gần 78 nghìn tấn, chiếm trên 26,45% tổng lượng lạc xuất khẩu của thế giới Lượng lạc xuất khẩu của Trung Quốc tăng dần qua các năm, như 5 năm (1991 - 1995) là 381 nghìn tấn và từ năm 1996 đến năm 2000 tăng lên là 398 nghìn tấn Mỹ là nước xuất khẩu lạc thứ hai, 5 năm đầu thập kỷ 90 xuất khẩu 379 nghìn tấn, chiếm 25,9% lượng lạc xuất khẩu của thế giới, nửa cuối thập kỷ 90 lượng lạc xuất khẩu giảm xuống 294 nghìn tấn, chiếm 19,8% tổng lượng lạc xuất khẩu thế giới Đứng thứ ba là Achentina, lượng lạc xuất khẩu là 150 nghìn tấn ở 5 năm đầu thập
kỷ 90, chiếm 10,2% tổng lượng lạc xuất khẩu thế giới, 5 năm tiếp theo lượng xuất khẩu tăng lên 212 nghìn tấn chiếm 14,3% lượng lạc xuất khẩu của thế giới [38], [44], [56]
Thị trường nhập lạc từ 1991 - 2000 tương đối ổn định Từ năm 2001 - 2005,
EU là thị trường nhập khẩu lạc lớn nhất thế giới, chiếm 60% tổng lượng nhập khẩu toàn cầu, với khoảng 460 nghìn tấn lạc mỗi năm Tiếp đến là thị trường Nhật Bản, nhập khẩu 130 nghìn tấn lạc mỗi năm, Canađa nhập 120 nghìn tấn mỗi năm, Hàn Quốc nhập 30 nghìn tấn mỗi năm [56]
1.3.3 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam
Việt Nam những năm trước đây do thiếu lương thực, đời sống còn nhiều khó khăn, nên nước ta tập trung sản xuất cây lương thực là chính Lạc được trồng chủ yếu nhằm mục đích tự cung, tự cấp để cải thiện bữa ăn hàng ngày là chính, nên năng suất thấp và diện tích còn ít Mười năm gần đây, nhờ
Trang 29sự quan tâm của Nhà nước, việc sản xuất hàng hoá mang lại nhiều lợi ích cho nhân dân Cũng từ đó sản xuất lạc có xu hướng tăng nhanh về diện tích, năng suất và sản lượng Theo thống kê của USDA (11/2004) [56], Việt Nam là nước đứng 12 về diện tích trồng lạc trên thế giới Trong 12 nước có diện tích lớn này Việt Nam là nước đứng thứ 4, về năng suất bình quân sau Mỹ, Trung quốc và Inđônesia Việt Nam là nước đứng ở vị trí thứ 9 về sản lượng lạc trên thế giới [57]
Theo Ngô Thế Dân và cộng sự (2000) [5], sự biến động về diện tích, năng suất và sản lượng lạc Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1998 được chia làm các giai đoạn: Giai đoạn từ 1975 đến 1979 diện tích lạc giảm 5,5% (từ 97,1 nghìn hécta xuống còn 91,8 nghìn hécta), năng suất giảm 14,6% (10,3 tạ/ha xuống 8,8 tạ/ha) Nguyên nhân chính là thực trạng phong trào hợp tác xã
bị sa sút, do yêu cầu đủ lương thực được đặt lên hàng đầu, nên sản xuất lạc không được chú trọng đầu tư phát triển Giai đoạn từ 1980 đến 1987 diện tích trồng lạc tăng nhanh từ 91,8 nghìn ha (năm 1979) lên 237,8 nghìn ha (năm 1987), tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 5,6% đến 24,8%/năm Diện tích năm
1987 tăng gấp 2 lần so với năm 1980 và sản lượng tăng 2,3 lần Năng suất không tăng dao động từ 8,8 - 9,7 tạ/ha, sản xuất lạc chủ yếu mang tính quảng canh Từ 1988 đến 1993 diện tích trồng lạc giảm 15,3% Nguyên nhân chủ yếu là do mất thị trường tiêu thụ truyền thống, thị trường mới chưa được tiếp cận Giai đoạn 1994 đến 1998, diện tích trồng lạc năm 1998 tăng 8%, năng suất tăng 20% và sản lượng tăng 25% so với năm 1994 Giai đoạn này Việt Nam đã tiếp cận được với thị trường quốc tế mới và nhu cầu cho chế biến trong nước cũng tăng
Theo Nguyễn Thị Chinh (2005) [4] trong vòng 10 năm trở lại đây (1995 - 2004), sản xuất lạc ở Việt Nam đã có những bước chuyển biến tích cực, đặc biệt việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến như: Giống mới, bón phân, che phủ nylon nên năng suất, sản lượng lạc liên tục tăng qua các
Trang 30năm từ 335,1 nghìn tấn năm 1995 lên 485,5 nghìn tấn năm 2005 Tình hình
sản xuất lạc của nước ta trong mấy năm gần đây được thể hiện qua bảng 1.3
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc Việt Nam (1995 - 2005)
(1000 ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam - 2006), [31]
Qua số liệu bảng 1.3 cho thấy: Diện tích lạc Việt Nam không ổn định,
thấp nhất vào năm 2001 là 241,4 nghìn hécta, giảm 7,1% so với năm 1995
Năm 1998 là năm có diện tích cao nhất là 269,4 nghìn hécta Những năm gần
đây diện tích trồng lạc có xu thế tăng, năm 2003 là 250,0 nghìn hécta, năm
2005 là 269,9 nghìn hécta tăng gần 12% so với năm 2001 Mặc dù diện tích
giảm song nhờ năng suất tăng (12,9 tạ/ha năm 1995 lên 17,9 tạ/ha năm 2005)
nên sản lượng lạc vẫn tăng nhanh Sản lượng năm 1995 chỉ đạt 335,1 nghìn
tấn, đến năm 2001 (diện tích ít) sản lượng đạt 352,4 nghìn tấn, cao hơn năm
1995 là 17,6 nghìn tấn, năm 2005 đạt 485,5 nghìn tấn, cao hơn năm 1995 là
150,4 nghìn tấn (tăng 44,9%) [4], [58]
Trang 31Hiện nay ở Việt Nam lạc được trồng hầu hết các vùng sinh thái nông nghiệp Diện tích trồng lạc chiếm 28% tổng diện tích cây công nghiệp hàng năm, và được chia theo 2 miền Bắc, Nam Tình hình sản xuất lạc ở các vùng sinh thái cũng rất khác nhau về diện tích, năng suất và sản lượng [4]
Ở nước ta cây lạc được trồng ở 59/61 tỉnh thành Theo Tổng cục thống
kê Việt Nam (2006) [58], lạc Việt Nam được trồng theo 8 vùng chính (cụ thể
ở phụ lục 6), năng suất lạc giữa các vùng rất khác nhau, vùng Đồng bằng sông Hồng năm 2002 có năng suất bình quân là 18,7 tạ/ha, cao hơn năng suất bình quân cả nước (16,1 tạ/ha) là 18,5% Vùng đồng bằng Sông Mê Công và vùng Đông Nam Bộ có năng suất bình quân là 18,7 tạ/ha, cao hơn năng suất bình quân cả nước là 23,0 - 30,0% Vùng Đông Bắc và Tây Nguyên có năng suất rất thấp là 10,4 - 12,0 tạ/ha, thấp hơn năng suất bình quân cả nước là 25,0 - 36,0% So giữ hai miền Bắc Nam, miền Bắc có diện tích lạc nhiều hơn, nhưng năng suất lạc thấp hơn ở miền nam [4] Diện tích trồng lạc ở miền Bắc cao hơn nhiều so miền Nam nên sản lượng lạc của miền Bắc lớn hơn sản lượng lạc của miền Nam
Một vài năm gần đây ở miền Bắc có một số tỉnh bắt đầu có năng suất lạc khá cao như: Nam Định đạt 38,0 tạ/ha, Hưng Yên đạt 28 tạ/ha, Điển hình trên diện tích vài chục hécta có nhiều địa phương như Hà Tây, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Nam Định, Hà Tĩnh, Nghệ An [17], sử dụng giống mới, kỹ thuật mới năng suất đạt 35,0 - 45,0 tạ/ha Đây là khởi đầu đầy khả quan trong khai thác tiềm năng năng suất cây lạc ở Việt Nam
1.3.4 Tình hình tiêu thụ lạc ở Việt Nam
Trong 10 năm (1991 - 2000), Việt Nam là nước đứng thứ tư về xuất khẩu lạc, lượng lạc xuất khẩu là 127 nghìn tấn ở 5 năm đầu thập kỷ 90, chiếm 8,7% thị phần, 5 năm cuối thập kỷ 90 tăng lên 173 nghìn tấn (chiếm 11,6% thị phần) Những năm gần đây, bình quân kim ngạch xuất khẩu lạc của Việt Nam
Trang 32đạt khá cao trên 50 triệu đôla Mỹ Thị trường xuất khẩu lạc những năm gần
đây chưa thực sự ổn định và lượng lạc xuất khẩu tăng, giảm tuỳ theo từng
năm Năm 2000 xuất khẩu 76 nghìn tấn, năm 2002 là 105 nghìn tấn, năm
2003 là 90 nghìn tấn Giá lạc nhân xuất khẩu ở Việt Nam tăng qua các năm
Giá lạc nhân xuất khẩu năm 1998 là 483 đô la/tấn, năm 2000 là 540 đôla/tấn,
năm 2003 giá lạc xuất khẩu tăng lên là 578 đôla/tấn [57], năm 2005 trung
bình là 645 đôla/tấn [49].Tuy nhiên giá lạc nhân xuất khẩu của Việt Nam so
với các nước trong khu vực và các nước trên thế giới vẫn còn thấp
Bảng 1.4 Tình hình xuất khẩu lạc của Việt Nam từ năm 1998 - 2003
(1000 tấn)
Giá trị (triệu đôla)
Giá trung bình (đôla/tấn)
Việt Nam lượng lạc xuất khẩu còn thấp so với tiềm năng, lý do chủ yếu là
chất lượng hạt lạc thấp, cùng với thị trường lạc trên thế giới chưa ổn định nên xuất
khẩu lạc mấy năm gần đây giảm liên tục Giá trị xuất khẩu lạc của Việt Nam năm
2005 chỉ đạt khoảng 30 triệu đôla, giảm 22 triệu đôla so với năm 2003 [57]
Trang 331.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÂY LẠC VÀ NÂNG CAO NĂNG SUẤT LẠC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.4.1 Tình hình nghiên cứu nâng cao năng suất lạc trên thế giới
1.4.1.1 Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống lạc trên thế giới
Trong công tác chọn tạo các giống lạc mới, các nước đã xác định nghiên cứu chọn tạo giống là một quá trình thực tế đáp ứng với những thay đổi của sản xuất, điều kiện sinh thái và yêu cầu thị trường Trên thế giới, công tác chọn tạo giống đã và đang tập trung vào các mục tiêu: Năng suất cao thích hợp với từng vùng sinh thái, thời gian sinh trưởng phù hợp với các công thức luân canh tăng vụ, trồng xen, trồng gối Chọn các giống có khả năng kháng sâu, bệnh hay có khả năng chịu hạn cho vùng sử dụng nước trời, khan hiếm nước tưới Chọn giống có hàm lượng dầu cao phục vụ ép dầu và xuất khẩu Hay chọn tạo giống phù hợp với điều kiện cơ khí hoá đã đảm bảo năng suất lạc luôn tăng và đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị trường
Ở Trung Quốc, các nhà khoa học đã chọn tạo được nhiều giống mới bằng phương pháp khác nhau như đột biến trực tiếp, đột biến sau khi lai, lai đơn, lai tích luỹ, lai kết hợp Theo Duan Shufen (1998) [40] tính đến năm
1991, Trung Quốc có hơn 200 giống lạc năng suất cao được phát triển và mở rộng với tổng diện tích 36,76 triệu ha Trong số đó có 50 giống được trồng phổ biến, chiếm 95% tổng diện tích của các giống tiến bộ và làm tăng năng suất lạc 5 - 10% Những giống có năng suất cao điển hình là Haihua 1, Xuzhou 68 - 4, Luhua 9, 11, 14 và 8130 tiềm năng mỗi giống có thể đạt tới 7,5 tấn/ha Các giống có chất lượng hạt tốt như Baisha 1016, Hua 11, Hua 17, Luhua 10 và 8013 đã chủ yếu sản xuất để xuất khẩu
Ấn Độ cũng là một nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công tác chọn giống Theo ICRISAT (2005) [50], năm 2004 tại KrishiVigyan Kendra Ấn Độ đã sử dụng các giống lạc mới ICGV91114, ICGS76, Smuruti,
Trang 34Dh86, K134Fe (ESG) 41, JL220, ICGV86590 năng suất đạt 18 - 38 tạ/ha Từ việc chọn lọc các giống của ICRISAT, các nước đã chọn được các giống kháng được nhiều loại sâu bệnh hại như: Giống ICGV - SM86715, ICGV87165 kháng các bệnh đốm đen, gỉ sắt, đốm muối tiêu, héo xanh vi khuẩn và cho năng suất cao (24 - 47 tạ/ha) ở Mô Dăm Bích, Gambia và Nam Phi Giống ICVG86699 kháng các bệnh thối trắng thân, gỉ sắt,đốm đen, đốm nâu, đồng thời giảm lượng sâu khoang và rầy xanh so với đối chứng ở Myanma và Ấn Độ
Mỹ là nước có năng suất lạc bình quân cao nhất thế giới (gần 34 tạ/ha) [56] Để đạt được thành tựu về sản xuất lạc như trên Mỹ đã không ngừng cải tiến kỹ thuật, cơ cấu và đã chọn tạo được nhiều giống cho năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng kháng sâu bệnh Cụ thể là: Giống Florigant được trồng rộng rãi ở các bang Florida, Texas, Georgia, Noth Carolina, có năng suất cao đạt 56 - 88 tạ/ha vào năm 1989 và 33 - 113 tạ/ha vào năm 1994 (Florkowski W.J, 1994) [44]
1.4.1.2 Một số yếu tố hạn chế chính đến sản xuất lạc trên thế giới
Lạc là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao Trong điều kiện nghiên cứu, lạc là cây trồng có tiềm năng cho năng suất rất cao, tuy nhiên trong thực tế sản xuất nhiều nơi con người chưa khai thác được tiềm năng này Nhiều nước trên thế giới diện tích trồng lạc vẫn giảm năng suất lạc thấp Để giải quyết vấn đề này, việc xác định các yếu tố hạn chế đến sản xuất lạc là cần thiết Qua nhiều năm điều tra và nghiên cứu các nhà khoa học trên thế giới đã xác định được ba nhóm yếu tố hạn chế chính là: Phi sinh học, sinh học và kinh tế xã hội
Về các yếu tố phi sinh học như đất đai, dinh dưỡng, khí hậu thời tiết Đất chua nghèo dinh dưỡng, khô hạn chính là yếu tố hạn chế lớn đến sản xuất lạc trên thế giới Ở hầu hết khu vực Châu Á các yếu tố khí hậu, điều kiện đất
Trang 35đai, chế độ mưa là những yếu tố hạn chế năng suất của các cây đậu đỗ Ngoài
ra dinh dưỡng đất là nguyên nhân chính gây ra năng suất thấp Theo Duan Shufen (1998) [40], hơn 2 triệu ha đất trồng lạc ở Trung Quốc có tầng đất nông, kết cấu kém, nghèo dinh dưỡng và chặt, năng suất lạc không thể tăng nếu không bón dư phân và áp dụng các biện pháp cải tạo đất
Theo Vũ Công Hậu và CS (dịch, 1995) [14] cho biết lạc được trồng trên đất có độ mặn 4.900 miCromhos/cm thì sản lượng giảm 50%, nếu độ mặn là 6.500 miCromhos/cm thì không có sản lượng Cũng theo tác giả này đất trồng lạc thiếu Bo đã làm cho quả không có hạt Đất chua (pH thấp), hàm lượng P, Ca, Mg, Mo thấp, Al và Mn cao nên ức chế sự hình thành và hoạt động của nốt sần ở cây lạc Mà nguyên nhân dẫn đến đất chua, nghèo dinh dưỡng chủ yếu là do đất bị rửa trôi, xói mòn, từ đó làm năng suất lạc thấp Cây lạc chậm phát triển khi nồng độ Al là 3 micro M Đất trồng lạc thiếu Ca, đất chua là yếu tố ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng và xâm nhập của vi khuẩn nốt sần cộng sinh với cây lạc, từ đó hạn chế quá trình cố định đạm sinh học ở rễ lạc Sự mất cân đối các chất dinh dưỡng ở trong đất là nguyên nhân dẫn đến năng suất lạc thấp Ngoài ra, nhiều khu vực trồng lạc trên thế giới, gặp trở ngại trong việc phát triển diện tích và tăng năng suất lạc là yếu tố nước Do vậy khô hạn luôn là yếu tố hạn chế đối với cây lạc
Hudgens và Mc Cloud (1974) [48] cho biết cường độ ánh sáng thấp vào thời kỳ ra hoa làm cho lạc sinh trưởng chậm, cành sinh sản bị ức chế, hoa rụng Vào thời kỳ đâm tia, hình thành quả thì làm cho số lượng tia và quả giảm Nhiệt độ đất dưới 200C hoặc lớn hơn 350C đều là yếu tố hạn chế, làm quả lạc chậm hay ngừng phát triển dẫn đến năng suất lạc thấp Vậy để khắc phục yếu tố hạn chế về ánh sáng và nhiệt độ, việc bố trí thời vụ trồng lạc sao cho các thời kỳ mẫn cảm tránh được nhiệt độ thấp và ánh sáng ngày ngắn, đảm bảo cây lạc cho năng suất cao nhất
Trang 36Các yếu tố sinh học như sâu bệnh hại, thiếu giống có khả năng chống chịu sâu bệnh cũng là yếu tố hạn chế lớn đến sản xuất lạc trên thế giới Theo
Vũ Công Hậu và CS (dịch 1995) [14] ở Ấn Độ thiệt hại do sâu, bệnh hại lạc năm 1987 lên tới 150 triệu đô la, tại Nigiêria năm 1975 thiệt hại ở lạc do Virus đã lên tới 250 triệu đô la Ngoài ra sâu hại lạc còn làm giảm năng suất
từ 15 - 20% Duan Shufen (1988) [40] cho biết ở Trung Quốc, những năm ở thập kỷ 60, 70 do thiếu giống tốt, giống kháng bệnh, chịu hạn năng suất lạc đạt rất thấp 11,0 - 12,0 tạ/ha
Về các yếu tố kinh tế xã hội, nhiều nơi con người chủ yếu chú trọng phát triển cây lương thực, coi cây đậu đỗ (trong đó có lạc) là cây trồng phụ Theo Hudgens và Mc Cloud (1974) [48] nhiều nước nông dân nghèo không
có cơ hội tiếp cận với tiến bộ kỹ thuật trồng lạc mới, để hạn chế yếu tố này Chính phủ và các nhà khoa học của nhiều nước đã tìm cách chia sẻ với nông dân trồng lạc Tuy nhiên việc này chưa được phổ biến Như vậy các yếu tố quan trọng nhất hạn chế sản xuất đậu đỗ là thiếu sự quan tâm chú ý ưu tiên phát triển cây đậu đỗ kể cả phía nhà nước và nông dân Ngoài ra, thị trường tiêu thụ lạc không ổn định cũng là yếu tố hạn chế đến sản xuất lạc đối với các nước trồng nhiều lạc [49]
1.4.1.3 Một số kết quả nghiên cứu về kỹ thuật trồng lạc trên thế giới
Để khắc phục các yếu tố hạn chế, nâng cao năng suất, sản lượng lạc trên thế giới trong những thập kỷ qua, nhiều công trình nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật trồng lạc đã được thực hiện và đạt được kết quả tốt Sau đây là một số kết quả nghiên cứu về các kỹ thuật trồng lạc như làm đất, bón phân, tưới nước, mật độ trồng và kỹ thuật thâm canh lạc có che phủ nilon Theo Vũ Công Hậu, Ngô Thế Dân (biên dịch, 1995) [14] cây lạc thích hợp với loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, thoát nước, thoáng khí, đất cày sâu
15 - 20cm, trồng luống rộng 0,7 - 1,2m, có rãnh, năng suất tăng 10 - 15% so với cày nông 7 - 8cm Theo Duan Shufen (1998) [40], ở Trung Quốc, đất có
Trang 37tầng canh tác nông, cày sâu 25 - 30cm năng suất cao hơn 20 - 30% so với cày nông 10 - 12 cm, cải thiện kết cấu của đất nặng bằng bón cát với lượng 150 - 300m3/ha làm năng suất lạc tăng 18% Phơi đất trồng lạc sau khi cày làm năng suất tăng 52% so với đất không phơi Việc bổ sung dinh dưỡng khoáng hợp lý cho đất trồng lạc là biện pháp hữu hiệu khắc phục hạn chế về độ chua
và dinh dưỡng
Ở Ấn Độ có nhiều nghiên cứu về hiệu quả của bón đạm cho lạc, cho biết bón 30kgN/ha năng suất lạc tăng 29% so với không bón Khi bón 11kg N/ha, năng suất lạc tăng 43% so với không bón Tuy nhiên, theo Reid và Cox (1973) [55] thì bón N cho lạc chỉ có hiệu quả đối với đất xấu, vi khuẩn nốt sần hoạt động kém
Đối với dinh dưỡng lân, Kết quả tổng hợp từ 200 thí nghiệm, trên nhiều loại đất ở Ấn Độ đã kết luận rằng: bón 14,52kg P205/ha cho lạc nhờ nước trời, năng suất lạc tăng 14,7% [14] Và chỉ cần bón 400 - 500mg P205/ha đã kích thích được sự hoạt động của vi khuẩn Rhizobium Virgna sống cộng sinh, làm tăng số lượng và khối lượng nốt sần hữu hiệu ở cây lạc Như vậy bón lân là biện pháp cơ bản nâng cao năng suất lạc
Đối với dinh dưỡng kali, Duan Shufen (1988) [40] cho biết bón phân kali cho đất từ trung bình đến giàu ở Trung Quốc, đã làm tăng khả năng hấp thu N và P của cây lạc Tuy nhiên để việc bón phân khoáng có hiệu quả cao cần phải bón cân đối giữa các dinh dưỡng N, P, K, Ca, S và các phân vi lượng khác Cụ thể: bón phối hợp (30 kg N + 17 kg P)/ha tăng năng suất gấp đôi so với chỉ bón 30kg N/ha Trên đất nhẹ hoặc trung bình bón phối hợp (11,0 kg N + 10,0 kg P + 19,0 kg K)/ha đã làm tăng năng suất lạc nước trời 100 - 154%
so với bón đơn độc N, P, K hoặc khi bón 2 trong 3 loại phân trên [14] Tỷ lệ bón kết hợp N, P, K tối ưu theo khuyến cáo là 1,0 : 1,5 : 2,0 (Duan Shufen, 1988) [40]
Trang 38Đối với dinh dưỡng Ca, cũng rất quan trọng, bởi bón vôi cho lạc sẽ làm giảm tốc độ Al, Mn làm tăng các nguyên tố P, Ca, Mg, Mo và cải thiện sự hình thành nốt sần Tuy nhiên bón Ca chỉ có hiệu quả cao đối với đất có hàm lượng Ca dễ tiêu nhỏ hơn 158mg/kg đất, và năng suất lạc tăng theo tỷ lệ thuận với mức Ca tăng từ 0, 4, 6, 8 tấn/ha Ngoài các nguyên tố đa và trung lượng ra thì các nguyên tố vi lượng cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lạc Những kết quả nghiên cứu ở Chiềng Mai Thái Lan cho thấy đất không được bón Bo
có tỷ lệ quả lép tăng 50% so với đất có bón Bo và năng suất lạc giảm 45% Ngoài ra bón Co và Mo cũng làm tăng năng suất lạc
Mật độ khoảng cách trồng lạc quá cao làm tỷ lệ bệnh hại lá và môi giới truyền bệnh tăng, năng suất không tăng so với trồng ở mật độ trung bình Theo Duan Shufen (1998) [40] cho biết ở miền Bắc Trung Quốc với giống đứng cây mật độ thích hợp là 360.000 - 421.000 cây/ha ở điều kiện nhờ nước trời và mật độ 300.000 - 380.000 cây/ha ở điều kiện chủ động nước Miền Nam Trung Quốc, với giống đứng cây mật độ trồng thích hợp là 170.000 - 300.000 cây/ha, ở vụ lạc xuân vùng đất đồi hoặc vụ lạc thu ở đất lúa Ở Mỹ, lạc có năng suất cao nhất khi trồng với khoảng cách (45 - 68cm) x (10 - 15 cm) Ở Ấn Độ trồng lạc với khoảng cách 30cm x 7,5 cm là tốt nhất trong điều kiện nhờ nước trời, khi tăng cây trên hàng lên 15cm hay 30cm thì năng suất giảm [14]
1.4.1.4 Trồng lạc với kỹ thuật che phủ nilon (CPNL)
Năm 1987 kỹ thuật này được du nhập từ Nhật Bản vào Trung Quốc Việc áp dụng kỹ thuật CPNL để trồng lạc vụ xuân sớm ở các tỉnh phía Bắc Trung Quốc đã tạo ra tiềm năng cho việc cải thiện năng suất lạc khi nhiệt độ ở đầu vụ còn thấp Các kết quả điều tra cho thấy việc ứng dụng kỹ thuật CPNL làm tăng năng suất lạc 36,6% ở tỉnh Sơn Đông Trung Quốc Theo Ngô Thế Dân, Phạm Thị Vượng (1999) [6] cho biết năm 1984 với việc áp dụng tấm
Trang 39phủ plactic cực mỏng nên chi phí cho kỹ thuật này đã giảm 50% và rất phù hợp cho việc sử dụng của nông dân Đến năm 1989 đã có 260.000 ha lạc (chiếm 82% diện tích cả nước) đã áp dụng kỹ thuật này Biện pháp CPNL trong sản xuất đã thực sự tạo ra cuộc cách mạng trắng trong sản xuất lạc ở Trung Quốc
Tổng diện tích sử dụng kỹ thuật CPNL trong trồng lạc ở Trung Quốc tăng từ 130 ha (năm 1980) lên 92.000 ha (năm 1984) và đến năm 1999 đã đạt 2.730 nghìn ha, chiếm 10,2% tổng diện tích trồng lạc và là biện pháp kỹ thuật
có hiệu quả nhất trong việc cải thiện năng suất lạc Biện pháp này được coi là công nghệ cao trong sản xuất lạc ở Trung Quốc [6]
Ở Ấn Độ áp dụng kỹ thuật CPNL cũng đã thu được nhiều kết quả tốt Trong điều kiện thử nghiệm ở trang trại có tưới cho năng suất lạc dao động từ
54 - 95 tạ/ha, so với năng suất trung bình 26 tạ/ha ở điều kiện không che phủ nilon (KCPNL)
1.4.2 Tình hình nghiên cứu và nâng cao năng suất của cây lạc ở Việt Nam
1.4.2.1 Một số kết quả nghiên cứu chọn tạo giống lạc ở Việt Nam
Để công tác chọn tạo giống lạc phát triển tốt thì việc thu thập và bảo quản nguồn gen lạc ở Việt Nam đã được các nhà khoa học quan tâm, thực hiện Hơn hai thập kỷ (1980 - 2005), Việt Nam đã nhập nội nhiều mẫu giống lạc từ nhiều nguồn khác nhau trên thế giới Thập kỷ 80 nhập 1.271 mẫu giống, thập kỷ 90 nhập 1.894 mẫu giống Từ năm 2002 - 2005 nhập 428 mẫu giống Trên cơ sở các nguồn gen lạc đã thu nhập, Ngô Thế Dân và CS (2000)[5] cho biết các nhà chọn tạo giống Việt Nam đã tập trung chọn tạo giống hướng theo các mục tiêu: Giống lạc năng suất cao, thích hợp cho từng vùng sinh thái, thời gian sinh trưởng ngắn, có khả năng kháng sâu bệnh hại, tỷ
lệ nhân và hàm lượng dầu cao dùng cho xuất khẩu
Từ năm 1974 Bộ môn Cây công nghiệp, trường Đại học Nông nghiệp I
Hà Nội đã bắt đầu nghiên cứu chọn tạo giống lạc bằng phương pháp lai hữu
Trang 40tính và phương pháp phóng xạ Kết quả bằng phương pháp gây đột biến phóng xạ giống Bạch Sa đã tạo ra giống lạc B5000 có hạt to, vỏ lụa màu hồng, năng suất cao và ổn định
Từ năm 1983 - 1996, Viện Khoa học kỹ thuật miền Nam phối hợp với Trung tâm Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, sau nhiều vụ nghiên cứu tập đoàn giống mới nhập nội đã tuyển chọn được một số giống lạc có triển vọng, nổi bật hơn cả là giống Bạch Sa 77 (Phan Hữu Trinh, 1986) [30] Giống này
có nguồn gốc từ Trung Quốc với ưu điểm là khối lượng 100 hạt cao, tỷ lệ hạt xuất khẩu lớn, ít bị đổ ngã, năng suất vụ đông xuân đạt 24 tạ/ha
Theo Nguyễn Thị Chinh (2005) [4] cho biết, từ năm 1995 - 2005 Việt Nam đã chọn tạo được 14 giống lạc mới, trong đó có 5 giống quốc gia được chọn tạo bằng lai hữu tính và gây đột biến, 9 giống tiến bộ kỹ thuật được chọn lọc từ các tập đoàn lạc nhập nội Hiện chúng đã được trồng phổ biến ở các tỉnh thành trong cả nước
Các giống được chọn tạo từ gây đột biến có giống 4329 được chọn tạo
từ xử lý đột biến trên giống Hoa 17 bằng tia 5.000r, chín trung bình, năng suất đạt 25 tạ/ha, khối lượng 100 hạt 55 - 60g, tỷ lệ nhân đạt 70 - 72% (Trần Đình Long, 2005) [23]
Giống V79 được chọn tạo từ gây đột biến bằng tia Rơnghen trên giống lạc Bạch Sa, có năng suất trung bình 25 tạ/ha, tỷ lệ nhân cao 73 - 76%, khối lượng 100 hạt 48 - 52g, chịu hạn khá, song dễ mẫn cảm với các bệnh đốm lá,
gỉ sắt và héo xanh vi khuẩn (Nguyễn Bảo Vệ và CS, 2005) [33]
Các giống được chọn tạo bằng lai hữu tính là: Giống lạc Sen lai 75/23 được chọn tạo từ tổ hợp lai giữa Trạm Xuyên và Mộc Châu trắng, có khối lượng 100 hạt là 50 -55g, năng suất trung bình là 28tạ/ha, được trồng phổ biến
ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ (Lê Song Dự và CS, 1991) [10], (Nguyễn Thị Chinh, 2005) [4] Giống L12 được chọn từ tổ hợp lai giữa V79 và ICGV