1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai có triển vọng tại thái nguyên

93 131 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, để sản xuất ngô phát triển trong điều kiện ngoại cảnh có nhiều biến động như hiện nay cần có bộ giống ngô mới có năng suất cao, khả năng chống chịu tốt với điều kiện thời tiết, sâ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ––––––––––––––––––––––––

ĐẶNG ĐÌNH THẮNG

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP NGÔ LAI CÓ TRIỂN VỌNG

TẠI THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ––––––––––––––––––––––––

ĐẶNG ĐÌNH THẮNG

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP NGÔ LAI CÓ TRIỂN VỌNG

TẠI THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Mã số: 60.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Người hướng dẫn khoa học: TS Phan Thị Vân

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là đề tài nghiên cứu khoa học do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Phan Thị Vân Số liệu và kết quả nghiên trong luận văn này là trung thực, chưa từng sử dụng trong một luận văn nào ở trong và ngoài nước

Các thông tin trích dẫn, tài liệu tham khảo sử dụng để hoàn thành luận văn này được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2016

Tác giả luận văn

Đặng Đình Thắng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi luôn nhận

được sự giúp đỡ, quan tâm tận tình của cô giáo hướng dẫn, sự hợp tác của các

cơ quan, tổ chức và các cá nhân

Nhân dịp này tôi xin trân thành bày tỏ sự cảm ơn tới: Cô giáo hướng dẫn: Tiến sỹ Phan Thị Vân, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, người tận tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng Đào tạo, Khoa Nông học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và các cán bộ Viện nghiên cứu ngô đã cung cấp vật liệu nghiên cứu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Trân trọng cảm ơn lãnh đạo và cán bộ Ban Tổ chức Thị uỷ Đông Triều,

Đảng uỷ phường Đông Triều, phòng Kinh tế thị xã Đông Triều đã tạo điều

kiện và giúp đỡ tôi được tham gia học tập để nâng cao trình độ chuyên môn

Cảm ơn các em sinh viên đã hợp tác cùng tôi trong việc thu thập các số liệu của đề tài

Cảm ơn gia đình đã làm điểm tựa về tinh thần và tạo điều kiện về vật chất cho tôi trong suốt thời gian học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp và bạn bè, những người luôn quan tâm, động viên tôi trong suốt thời gian qua

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2016

Tác giả luận văn

Đặng Đình Thắng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.2 Tình hình sản xuất ngô và tiêu thụ ngô trên thế giới 4

1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới 4

1.2.2 Tình hình tiêu thụ ngô trên thế giới 8

1.3 Tình hình sản xuất ngô và tiêu thụ ngô ở Việt Nam 8

1.3.1 Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam 8

1.3.2 Tình hình tiêu thụ ngô ở Việt Nam 10

1.4 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai 11

1.4.1 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai trên thế giới 11

1.4.2 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai ở Việt Nam 13

1.5 Điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất ngô tỉnh Thái Nguyên 16

1.5.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên 16

1.5.2 Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên 17

1.5.3 Kết quả thử nghiệm các giống ngô lai mới tại Thái Nguyên 19

1.6 Kết quả nghiên cứu đặc điểm nông học của cây ngô 22

Chương 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

Trang 6

2.1 Vật liệu nghiên cứu 25

2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 25

2.3 Nội dung nghiên cứu 25

2.4 Phương pháp nghiên cứu 26

2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 26

24.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi 26

2.5 Quy trình kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm 31

2.6 Phương pháp xử lý số liệu 31

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Nghiên cứu các giai đoạn sinh trưởng, đặc điểm hình thái và năng suất của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm 32

3.1.1 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp lai thí nghiệm Xuân và Thu Đông năm 2015 tại Thái Nguyên 32

3.1.2 Đặc điểm phát triển thân, lá của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm 35

3.1.3 Đặc điểm hình thái, sinh lý của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm 40

3.1.4 Đặc điểm hình thái bắp của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm 45

3.1.5 Trạng thái cây, trạng thái bắp và độ bao bắp của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm 47

3.2 Nghiên cứu khả năng chống chịu của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm 49

3.2.1 Khả năng chống chịu sâu bệnh của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm 50

3.2.2 Khả năng chống đổ của các tổ hợp lai thí nghiệm 53

3.1.6 Các yếu tố cấu thành năng suất các tổ hợp lai thí nghiệm 56

3.1.7 Năng suất của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm 58

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62

1 Kết luận 62

2 Đề nghị 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2004- 2014 5

Bảng 1.2: Tình hình sản xuất ngô ở một số châu lục năm 2014 6

Bảng 1.3: Sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2014 7

Bảng 1.4: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2004 - 2014 9

Bảng 1.5: Diện tích, năng suất và sản lượng ngô của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2003 - 2015 17

Bảng 1.6: Cơ cấu giống ngô của tỉnh Thái Nguyên năm 2014 18

Bảng 2.1: Nguồn gốc vật liệu thí nghiệm 25

Bảng 3.1: Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm vụ Xuân và Thu Đông 2015 tại Thái Nguyên 33

Bảng 3.2: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai thí nghiệm 36

Bảng 3.3: Tốc độ ra lá của các tổ hợp lai thí nghiệm 38

Bảng 3.4: Chiều cao cây, cao đóng bắp của các tổ hợp lai thí nghiệm 41

Bảng 3.5: Số lá/cây, chỉ số diện tích lá của các tổ hợp lai thí nghiệm 44

Bảng 3.6: Đặc điểm hình thái bắp của các tổ hợp lai thí nghiệm vụ Xuân và Thu Đông 2015 46

Bảng 3.7: Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm vụ Xuân và Thu Đông 2015 tại Thái Nguyên 48

Bảng 3.8: Mức độ nhiễm sâu, bệnh của các tổ hợp lai thí nghiệmvụ Xuân và Thu Đông 2015 51

Bảng 3.9: Đường kính gốc thân và số rễ chân kiềng của các tổ hợp lai thí nghiệm vụ Xuân và Thu Đông 2015 53

Bảng 3.10: Đánh giá khả năng chống đổ của các tổ hợp lai thí nghiệm vụ Xuân và Thu Đông 2015 55

Bảng 3.11: Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai thí nghiệm 56

Bảng 3.12: Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các tổ hợp lai thí nghiệm vụ Xuân và Đông 2015 59

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Tỷ lệ chiều cao đóng bắp trên chiều cao câycủa các tổ hợp ngô

lai thí nghiệm vụ Xuân và Thu Đông 2015 43 Hình 3.2: Năng suất lý thuyết của các tổ hợp ngô lai thí nghiệmvụ Xuân

và Thu Đông 2015 60 Hình 3.3: Năng suất thực thu của các tổ hợp ngô lai thí nghiệmvụ Xuân

và Thu Đông 2015 61

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây ngô (Zea mays L.) là một trong những cây lương thực quan trọng của

nhiều nước trên thế giới, là nguồn thức ăn chính trong chăn nuôi và là nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến

Do có tầm quan trọng trong nền kinh tế, nên sản xuất ngô trên thế giới không ngừng phát triển để đáp ứng cho nhu cầu ngày một tăng của xã hội Năm 1980, diện tích trồng ngô chỉ khoảng 125,8 triệu ha, năng suất đạt 31,5 tạ/ha Tổng sản lượng 396,96 triệu tấn Tính đến năm 2014, diện tích trồng ngô tăng lên đáng kể đạt 183,32 triệu ha, năng suất trung bình đạt 55,7 tạ/ha, tổng sản lượng đạt 1021,62 triệu tấn (FAO, 2016 ) [46]

Ở nước ta những năm gần đây, sản xuất ngô đã có nhiều thay đổi Việc

sử dụng nhiều giống ngô lai trong sản xuất, cùng với việc đưa nhanh các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến vào sản xuất, đã góp phần nâng cao năng suất

và tăng sản lượng một cách đáng kể Tuy nhiên năng suất ngô trung bình ở nước ta vẫn còn thấp so với trung bình trên thế giới và trong khu vực Năm

2014, năng suất ngô của Việt Nam đạt 44,1 tạ/ha (Tổng cục thống kê, 2015) [33] chỉ bằng 79,2 % năng suất trung bình của thế giới và bằng 43,78 % năng suất ngô của Mỹ và (FAO, 2016)[46]

Hiện nay, nhu cầu sử dụng ngô ở nước ta rất lớn Việt Nam đã chính thức trở thành nước nhập khẩu ngô trên thế giới với lượng ngô nhập khẩu ngày càng gia tăng Năm 2015, lượng ngô nhập khẩu tăng 2,76 triệu tấn so với năm 2014 (Tổng cục Hải Quan, 2015) [31], (Báo điện tử VTV, 2015)[1] Theo chiến lược của Bộ Nông nghiệp & PTNT, đến năm 2020 sản lượng ngô của Việt Nam cần đạt từ 8 - 9 triệu tấn/năm, để đảm bảo cung cấp đầy đủ cho nhu cầu sử dụng trong nước và từng bước tham gia xuất khẩu Tuy nhiên sản xuất ngô của nước ta đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn do sự biến

Trang 10

đổi của thời tiết, khí hậu Đặc biệt ở các tỉnh miền núi là khu vực có diện tích

ngô tương đối lớn chiếm khoảng 34,8% diện tích ngô cả nước, nhưng thời tiết khắc nghiệt, hạn hán, rét kéo dài, hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện với tần suất ngày càng cao đã ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và sản lượng ngô

Do đó, để sản xuất ngô phát triển trong điều kiện ngoại cảnh có nhiều biến động như hiện nay cần có bộ giống ngô mới có năng suất cao, khả năng chống chịu tốt với điều kiện thời tiết, sâu bệnh để thay thế dần các giống cũ khả năng chống chịu kém Chính vì vậy, các nhà chọn tạo giống ngô luôn nỗ lực để tạo ra các giống ngô mới phục vụ cho sản xuất Trong quá trình chọn tạo giống ngô, việc đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu của các tổ hợp lai có triển vọng trước khi đưa ra sản xuất đại trà là giai

2.2 Yêu cầu của đề tài

- Theo dõi các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp ngô lai trong thí nghiệm

- Nghiên cứu các đặc điểm hình thái và sinh lý của các tổ hợp ngô lai trong thí nghiệm

- Nghiên cứu một số đặc tính chống chịu của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm (chống chịu sâu, bệnh, chống đổ gãy…)

Trang 11

- Xác định các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các tổ hợp ngô lai tham gia thí nghiệm

- Tuyển chọn được một số tổ hợp ngô lai có triển vọng

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Trong sản xuất ngô, giống là yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất, sản lượng Những năm gần đây, Việt Nam đã tạo ra một số giống ngô lai năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với nhiều vùng sinh thái Các giống ngô lai của Việt Nam có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận tốt hơn và giá thành rẻ hơn so với các giống được sản xuất bởi các công ty nước ngoài Hiện nay, nhu cầu ngô ngày càng lớn để phát triển ngành chăn nuôi

Do đó, mở rộng diện tích và nâng cao năng suất là mục tiêu quan trọng để tăng sản lượng phục vụ nhu cầu thị trường

Sản xuất ngô của nước ta, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi phía Bắc có

điều kiện sinh thái khác nhau, trình độ canh tác không đồng đều giữa các

vùng, chính vì vậy cần có bộ giống khác nhau Để xác định được giống phù hợp với mỗi vùng sinh thái phải thông qua quá trình đánh giá chọn lọc từ những tổ hợp ngô lai có triển vọng

Qua quá trình đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, tiềm năng năng suất, khả năng chống chịu sâu bệnh, chống chịu với các điều kiện ngoại cảnh bất thuận, sẽ chọn được những tổ hợp ngô ưu tú phát triển thành giống phục

vụ cho sản xuất Tuy nhiên, để chọn được các tổ hợp lai tốt làm giống phải tiến hành đánh giá ở nhiều vụ, nhiều vùng sinh thái khác nhau

1.2 Tình hình sản xuất ngô và tiêu thụ ngô trên thế giới

1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới

Trong các cây ngũ cốc, ngô còn là cây điển hình được ứng dụng nhiều thành tựu khoa học về các lĩnh vực di truyền học, chọn giống, công nghệ sinh học, cơ giới hoá, điện khí hoá và tin học vào công tác nghiên cứu và sản xuất, do vậy diện tích, năng suất ngô liên tục tăng trong những năm gần đây

Trang 13

Bảng 1.1: Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2004- 2014

đạt 1.178 triệu tấn, diện tích thu hoạch đạt 194 triệu ha và năng suất là 61

tạ/ha (IGC, 2014)[50]

Ngô là cây trồng có khả năng thích ứng rộng nên được trồng khắp nơi trên thế giới, nhưng do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, khí hậu và kỹ thuật canh tác nên sản xuất ngô giữa các vùng rất khác nhau

Trang 14

Bảng 1.2: Tình hình sản xuất ngô ở một số châu lục năm 2014

Khu vực

Diện tích (triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Châu Á là châu lục có diện tích trồng ngô lớn thứ hai trên thế giới đạt 59,1 triệu ha (năm 2014), chỉ ít hơn Châu Mỹ 9,3 triệu ha, nhưng năng suất chỉ bằng 66,9% năng suất ngô của Châu Mỹ nên sản lượng ngô ít hơn Châu

Mỹ 222,3 triệu tấn

Do trình độ canh tác còn hạn chế, không có khả năng đầu tư thâm canh nên năng suất ngô của Châu Phi thấp nhất thế giới đạt 21,0 tạ/ha (năm 2014), bằng 37,6% năng suất trung bình của thế giới và bằng 27,3% năng suất trung bình của Châu Mỹ

Trang 15

Bảng 1.3: Sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2014

Nước Diện tích

(triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

So với Mỹ, diện tích trồng ngô của Trung Quốc nhiều hơn 3 triệu ha nhưng năng suất ngô chỉ bằng 55,9% năng suất trung bình của Mỹ nên sản lượng vẫn thấp hơn 145,3 triệu tấn

Brazil là nước đứng thứ 3 trên thế giới về sản xuất ngô với diện tích gieo trồng năm 2014 đạt 15,4 triệu ha, sản lượng 79 triệu tấn Sản phẩm ngô của Brazil chủ yếu đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa, được chế biến làm thức ăn chăn nuôi

Mặc dù có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, diện tích trồng ngô nhỏ (0,05 triệu ha) nhưng với trình độ khoa học cao, đầu tư lớn nên Isarel có năng suất ngô cao nhất thế giới đạt 341 tạ /ha cao hơn gấp 6,1 lần so với bình quân năng

suất ngô thế giới (năm 2014)

Trang 16

Mexico va Peru là trung tâm khởi nguyên của cây ngô nhưng do trình độ canh tác ngô còn hạn chế nên năng suất thấp chỉ đạt 33,0 và 31,6 tạ/ha

1.2.2 Tình hình tiêu thụ ngô trên thế giới

Trên thế giới nhu cầu sử dụng ngô rất lớn, theo USDA (2014)[35] niên

vụ 2014 -2015, nhu cầu tiêu thụ ngô nội địa là 967,52 triệu tấn, Mỹ là nước có nhu cầu tiêu thụ nội địa lớn nhất (296,81 triệu tấn) chiếm 30,68% nhu cầu tiêu thụ nội địa toàn thế giới

Hơn chục năm gần đây Brazil là một trong số các nước hàng đầu về sản xuất và xuất khẩu ngô Thị trường xuất khẩu ngô chủ yếu của Brazil là Iran (chiếm 26,5%), Việt Nam, Hàn Quốc, Ai Cập, Indonexia, Đài Loan, Malaixia, Nhật Bản, Maroc, Tiểu Vương quốc Ả Rập Năm 2014, lượng ngô xuất khẩu của Brazil sang Việt Nam là 2,96 triệu tấn với giá trị 725,5 triệu USD Dự báo vào năm 2019-2020, tiêu dùng nội địa của Brazil khoảng 56,20 triệu tấn, xuất khẩu đạt khoảng từ 12,6 tới 19 triệu tấn/năm (Bộ Công thương, 2015)[5]

Nhu cầu tiêu thụ ngô trên thế giới ngày càng gia tăng, đặc biệt là những năm gần đây khi ngô được sử dụng làm nguyên liệu sản xuất ethanol và si-rô Si-rô ngô có hàm lượng fructose (HFCS) cao, có chứa hàm lượng calorie lớn,

được sử dụng trong các thực phẩm chế biến sẵn (Bloomberg, 2012) [3]

Theo dự báo của Công ty Monsanto, đến năm 2030 nhu cầu ngô thế giới tăng 81 % so với năm 2000 (từ 608 triệu tấn lên 1.098 triệu tấn (Monsanto, 2007)[52] Chính vì vậy, các nhà khoa học không ngừng nỗ lực trong chọn tạo giống để tạo ra các giống mới năng suất cao, chống chịu tốt tăng sản lượng ngô đáp ứng nhu cầu trên thế giới

1.3 Tình hình sản xuất ngô và tiêu thụ ngô ở Việt Nam

1.3.1 Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam

Ở Việt Nam cây ngô được trồng ở khắp các vùng sinh thái trên cả nước Cây

ngô đã góp phần đáng kể trong việc giải quyết lương thực cho người dân và là nguồn thức ăn chính để phát triển chăn nuôi

Trang 17

Hiện nay, nhu cầu sử dụng ngô ở nước ta ngày càng tăng, nên đã thúc

đẩy sản xuất ngô phát triển

Giai đoạn 2004 - 2014 sản xuất ngô của nước ta tăng nhanh cả về diện tích, năng suất và sản lượng Năm 2004, cả nước trồng được 991,1 nghìn ha ngô, năng suất đạt 34,6 tạ/ha, sản lượng 3.430,9 nghìn tấn, đến năm 2014 diện tích ngô đã đạt 1.178,6 nghìn ha, tăng hơn 187,5 nghìn ha so với năm 2004 Việc tăng cường sử dụng giống lai kết hợp với các biện pháp kỹ thuật canh tác đã cải thiện đáng kể năng suất ngô Năm 2014, năng suất ngô đạt 44,1 tạ/ha tăng 9,5 tạ/ha so với năm 2004 Do diện tích và năng suất đều tăng nên sản lượng ngô năm 2014 đã đạt 5.205,5 nghìn tấn

Bảng 1.4: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2004 - 2014

Nguồn: FAOSTAT, 2016 [46]

Tuy nhiên, sản xuất ngô ở Việt Nam phát triển còn chậm chưa tương xứng với tiểm năng lợi thế và điều kiện tự nhiên Nguyên nhân do trên 70% diện tích trồng ngô tập trung ở vùng núi, sản xuất phụ thuộc chủ yếu vào nước

Trang 18

trời Ngoài ra, thời tiết nhiệt đới của Việt Nam biến động lớn về nhiệt độ, mưa, gió bão ảnh hưởng đến tất cả các vụ trồng ngô, dẫn đến khả năng kết hạt của ngô kém

Ngày nay biến đổi khí hậu còn làm gia tăng tần suất hạn, úng, gió bão, lũ lụt, nhiệt độ cao, đây là những biến đổi bất lợi cho quá trình sinh trưởng của cây ngô Trình độ dân trí không đồng đều giữa các vùng trồng ngô, có sự chênh lệch lớn giữa trình độ canh tác và khả năng đầu tư thâm canh ngô của nông dân giữa các vùng miền dẫn đến tổn thất sau thu hoạch còn lớn

1.3.2 Tình hình tiêu thụ ngô ở Việt Nam

Hiện nay, sản lượng ngô của Việt Nam mới đáp ứng khoảng 75% nhu cầu chăn nuôi Lượng thức ăn cần cho phát triển chăn nuôi ở nước ta khoảng 14 triệu tấn/năm và sẽ còn tiếp tục tăng Để đảm bảo cung cấp đủ nguyên liệu cho việc chế biến thức ăn chăn nuôi nước ta phải nhập khẩu một lượng ngô rất lớn Năm 2013, giá trị nhập khẩu ngô là 0,67 tỷ USD đạt 0,5% trong tỷ trọng nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam, tăng 34,4% so với năm 2012 Năm

2014, lượng ngô nhập khẩu là 4,79 triệu tấn, tổng giá trị nhập khẩu là 1,22 tỉ USD, tăng 80,8% so với năm 2013 (Tổng cục Hải Quan, 2014, 2015) [30][31] Lượng ngô nhập khẩu năm 2015 là 7,55 triệu tấn, tăng 71,2% so với năm 2014 (Báo điện tử VTV, 2015)[1]

Năm 2016 là năm thứ tư liên tiếp khối lượng ngô nhập khẩu của nước ta liên tục tăng Nguyên nhân lượng ngô nhập khẩu tăng kỷ lục là do giá ngô thế giới giảm rất mạnh thấp hơn giá ngô sản xuất trong nước Năm 2014, giá ngô nhập khẩu là 255 USD/tấn, năm 2015 chỉ còn 217 USD/tấn Đây là mức giá thấp kỷ lục kể từ năm 2007 trở lại đây Tại các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi, ngô nhập khẩu có giá khoảng 5.000 đồng/kg, thấp hơn nhiều so với giá ngô trong nước nhưng chất lượng lại tốt hơn (Báo điện tử VTV, 2015)[1]

Trang 19

Chỉ tính đến giữa tháng 5 năm 2016, nhập khẩu ngô ở nước ta đã là 2.719,42 tấn với giá trị 535,57 triệu USD (Tổng cục hải quan, 2016)[32] Chính vì vậy, để phát triển sản xuất ngô ở Việt Nam, các nhà khoa học

đang nỗ lực tìm kiếm những giải pháp mới trong nghiên cứu chọn tạo giống

và xác định biện pháp kỹ thuật canh tác để cải thiện năng suất

1.4 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai

1.4.1 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai trên thế giới

Ngô lai là một thành tựu khoa học cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thế giới Các nhà khoa học của Mỹ đã sớm thành công trong việc chọn lọc và lai tạo giống ngô Cuối thế kỷ 19, Mỹ đã có 770 giống ngô chọn lọc, cải lương Theo E.Rinke (1979) [53] việc sử dụng giống ngô lai ở Mỹ đã được bắt đầu từ năm 1930, giống lai ba và lai kép được sử dụng đến năm 1957, sau đó là giống lai đơn cải tiến và lai đơn

Kết quả của việc thay đổi cơ cấu giống đã đóng góp rất lớn cho sự thay

đổi năng suất ngô ở Mỹ Theo Duvic (1990) [44] mức tăng năng suất ngô của

Mỹ giai đoạn 1930-1986 là 103kg/ha/năm, trong đó đóng góp do cải tiến giống là 63 kg/ha/năm Hiện nay, 100% diện tích trồng ngô của Mỹ là trồng các giống ngô lai trong đó hơn 90% diện tích là giống ngô lai đơn

Việc nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai ở Châu Âu bắt đầu muộn hơn ở

Mỹ 20 năm nhưng đã đạt được những thành tựu to lớn Công tác tạo dòng thuần bắt đầu ở Bungari từ năm 1951, năm 1956 đã tạo được giống lai kép

đầu tiên là VIR-42 và giống lai đơn đầu tiên là SK-4 (Tomov, 1979)[55]

Thập kỷ 60, một số nước như Achentina, Brazil, Ấn Độ, Mexico đã nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai nhưng số lượng giống lai tạo ra còn hạn chế, số lượng giống lai quy ước chỉ chiếm 27% cơ cấu giống, giống không quy ước là 10% (Vasal et al , 1999)[56]

Ở Ấn Độ, nhiều giống ngô lai mới được tạo ra đáp ứng yêu cầu của các

vùng sinh thái khác nhau của đất nước Trường Đại học Nông nghiệp Punjab,

Trang 20

Ludhiana đã chọn tạo được giống JC1441 cho vùng Andhra Pradesh, Tamil Nadu, Karnataka và Maharashtra với năng suất trung bình đạt 58,5 tạ/ha Andhra Pradesh, Tamil Nadu, Karnataka và Maharashtra là vùng điều kiện kinh tế còn khó khăn, giống hỗn hợp như JC1441 có thể được sử dụng trong nhiều năm, giảm gánh nặng tài chính cho người nông dân Đối với vùng đồi núi như Andhra Pradesh, Maharashtra, Tamil Nadu và Karnataka, các nhà khoa học khuyến cáo sử dụng giống ngắn ngày JKMH-1701 có khả năng chống chịu tốt, năng suất đạt 65,4 tạ/ha (ICAR, 2006)[49]

Các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu khắc phục những hạn chế

ở ngô và đã thành công khi tạo giống ngô chất lượng đạm cao được gọi là

giống QPM, ưu điểm của giống QPM là hàm lượng Triptophan đạt 0,11%, Lysine (0,48%) và Protein (11%) cao hơn rất nhiều so với ngô thường (tỷ lệ này ở ngô thường là 0,05; 0,23 và 9,0%) Ngô QPM được đưa vào sản xuất đã

đem lại hiệu quả vô cùng to lớn khi làm lương thực cho con người và thức ăn

chăn nuôi Ở Châu Á, ba nước có chương trình phát triển ngô QPM là Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam (Trần Hồng Uy và cs, 2002)[38]

Tại Ấn Độ, FQH-4567 là giống ngô lai QPM đầu tiên có hàm lượng tryptophan là 0,83%, lysine tăng gấp đôi, với năng suất đạt 61,2 tạ/ha, đảm bảo an ninh dinh dưỡng cho người dân ở khu vực NEH, Andhra Pradesh, Maharashtra, Tamil Nadu (ICAR, 2006)[49]

Sự phát triển của cây ngô ngày càng mạnh mẽ, chính vì vậy để đáp ứng yêu cầu của sản xuất, Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mì Quốc tế (CIMMYT) đã xây dựng, cải thiện và phát triển khối lượng lớn nguồn nguyên liệu, vốn gen, các giống thí nghiệm, cung cấp cho khoảng hơn 80 nước trên thế giới thông qua mạng lưới khảo nghiệm giống Quốc tế

Từ nguồn vật liệu của CIMMYT, Viện nghiên cứu Nông nghiệp Quốc gia Bolivia đã tạo ra hai giống ngô lai mới, INIAF H1 và INIAF HQ2 có tiềm năng năng suất cao cho những vùng bị hạn hán Đây là hai giống ngô lai đơn,

Trang 21

INIAF H1 dạng đá, màu vàng có khả năng kháng bệnh tốt và có lá bi dài che kín bắp, INIAF HQ2 dạng bán răng ngựa, có hàm lượng protein cao và khả năng chịu hạn khá Cả hai đã được thử nghiệm tại Villa Montes, năng suất đạt

7 tấn/ha trong vụ có lượng mưa thấp (352 mm) (CIMMYT, 2013) [43]

Samuel Doudu (2015)[54] cho biết Viện nghiên cứu Nông nghiệp Savanna (SARI) đã tạo ra năm giống ngô lai mới cho sản xuất ngô ở các khu vực phía Bắc Các giống ngô mới là Kunjor-Wari, Zaayura, Warikamana, Kpari-faako và Aburo-sika có hai màu vàng và trắng, thời gian sinh trưởng từ

90 đến 115 ngày, năng suất đạt 5,7 tấn đến 6,7 tấn/ha Đây là những giống ngô chịu hạn phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng, góp phần đảm bảo an ninh lương thực Quốc gia

Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, công tác chọn tạo giống cây trồng ngày nay đã được trợ giúp bởi nhiều kỹ thuật mới Bằng việc ứng dụng công nghệ sinh học các gen kháng sâu bệnh, chịu hạn, chịu lạnh, chịu mặn được chuyển cho các giống ngô, như giống ngô BT kháng sâu đục thân của Công ty MonSanto Ngô biến đổi gen được đưa vào canh tác đại trà từ năm

1996, mang lại lợi ích ổn định, đã đóng góp một lượng ngô đáng kể làm nhiên liệu sinh học và thức ăn gia súc ở Mỹ Năm 2014, diện tích ngô biến đổi gen thế giới đã đạt 54,3 triệu ha (Nam Phương, 2015) [22]

Hiện nay công tác nghiên cứu và chọn tạo giống ngô trên thế giới, vẫn

đang được chú ý phát triển để tạo ra những giống ngô mới có những đặc điểm

mong muốn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người

1.4.2 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai ở Việt Nam

Chương trình chọn tạo giống ngô lai ở nước ta được bắt đầu từ những năm

đầu của thập kỷ 60, tuy nhiên các nghiên cứu thử nghiệm giống ngô lai đã

không đạt kết quả mong muốn do nguồn vật liệu không thích hợp trong điều kiện nhiệt đới ẩm, ngày ngắn của Việt Nam (Trần Hồng Uy, 1999) [37]

Trang 22

Vì vậy, để chương trình ngô lai phát triển các nhà khoa học Việt Nam đã thu thập, bảo tồn và phát triển nguồn nguyên liệu ngô trong nước, đặc biệt là những nguồn nguyên nhiên liệu quý về tính chống chịu, chín sớm, chất lượng cao làm lương thực Giai đoạn 1955-1970, các nhà khoa học Việt Nam đã bắt

đầu điều tra về thành phần loài và giống địa phương để thu thập nguồn gen

cho chọn tạo giống (Cao Đắc Điểm, 1988) [9]

Ngoài ra để phong phú nguồn vật liệu tạo giống, chương trình chọn tạo giống ngô Việt Nam còn nhập nội những nguồn nguyên liệu ngô nhiệt đới, có khả năng chống chịu tốt, chín sớm Ngoài ra nguồn vật liệu ngô thực phẩm như: ngô nếp, ngô đường, ngô rau, ngô có hàm lượng protein cao cũng được các nhà khoa học quan tâm (Trần Hồng Uy, 1999) [37]

Từ năm 1990 đến nay, các nhà khoa học nghiên cứu ngô đã chú trọng

hơn vào việc phát triển các dòng thuần để tạo giống ngô lai Mai Xuân Triệu

và cs (2000)[34] bằng phương pháp lai đỉnh, đã chọn được dòng IL78 và IL68

có khả năng kết hợp chung cao để làm vật liệu tạo giống ngô lai

Ngô Hữu Tình và Phan Thị Vân (2004)[27], từ các giống ngô lai nhập nội

đã tạo ra các dòng thuần và chọn được 2 dòng là vật liệu tạo giống LVN99 có

khả năng chịu hạn phục vụ sản xuất cho các tỉnh miền núi phía Bắc

Đánh dấu cho sự khởi đầu của giống ngô lai Việt Nam là LVN10, đây là

giống ngô lai đơn có khả năng thích ứng rộng với nhiều vùng sinh thái trong

cả nước (Trần Hồng Uy và cs, 1994) [36]

Từ 1996 đến 2002 các nhà chọn tạo giống ngô Việt Nam đã chọn tạo

được nhiều giống ngô lai có thời gian sinh trưởng khác nhau phục vụ cho các

vùng và mùa vụ trong cả nước

Hiện nay, Viện Nghiên cứu Ngô đã nghiên cứu thành công nhiều giống ngô lai mới có năng suất 10-12 tấn/ha, khả năng chống chịu sâu bệnh, thích nghi được với những điều kiện khí hậu khắc nghiệt như VN8960, LVN14, LVN61, LVN145, LVN885, LVN66, LVN25, SB09-9, các giống ngô nếp

Trang 23

VN6, nếp LSB4, nếp lai số, đường lai 10, đường lai 20 Giống ngô lai đơn VN8960, có khả năng chịu hạn tốt, bắp to, hạt màu vàng đẹp, năng suất có thể

đạt 10 tấn ở vùng thâm canh, 5-6 tấn ở vùng khô hạn Giống ngô này không

chỉ được trồng thử nghiệm ở nhiều nơi trong nước như Cao Bằng, Lạng Sơn,

Hà Giang, Lai Châu, Sơn La mà còn được ưa chuộng ở Lào, Campuchia Giống ngô lai đơn LVN66, có thể trồng được ở cả 3 vụ xuân hè, xuân, thu

đông, thời gian sinh trưởng vụ xuân: 110-115 ngày, vụ thu đông: 95-100

ngày, năng suất có thể đạt 12 tấn hạt/ha Đặc biệt, giống ngô đường lai 10 có khả năng chống chịu tốt trong cả 2 điều kiện nóng và lạnh, năng suất đạt 18-

20 tấn/ha (Quỳnh Nga, 2013) [20]

Theo Viện Nghiên cứu Ngô, các giống ngô lai được nghiên cứu và sản xuất thành công trong nước, không thua kém so các giống lai đơn và lai kép của nước ngoài, giá bán lại rẻ hơn, bằng khoảng 60% so với giống ngô nhập khẩu Hiện mỗi năm Viện Nghiên cứu Ngô cung ứng khoảng 4.000 tấn hạt giống, thị phần giống ngô lai của Viện luôn chiếm trên 40% diện tích trồng ngô của cả nước (Quỳnh Nga, 2013) [20]

Xuất phát từ yêu cầu phát triển đa dạng các giống ngô lai trong sản xuất, Viện nghiên cứu Ngô hàng năm đã tiến hành khảo nghiệm tập đoàn giống ngô lai mới nhằm tạo ra các giống ngô lai tốt, tham gia vào mạng lưới khảo nghiệm ngô Quốc gia, qua đó tìm ra những giống ngô có đặc tính nông học tốt như chín sớm, chịu hạn, chống chịu sâu bệnh, thích hợp việc trồng dầy và các đặc tính khác như: thích ứng rộng, năng suất cao và ổn định nhằm đáp

ứng nhu cầu tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và hạn chế thiệt hại do

thiên tai gây ra Kết quả khảo nghiệm trong 3 năm (2009 - 2011) đã xác định

được giống VS36 đáp ứng được mục tiêu trên là giống có khả năng thích ứng

rộng, năng suất cao, ổn định, chống chịu sâu bệnh khá tại các vùng và các mùa vụ khác nhau (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 2014)[42]

Trang 24

Ngoài ra các nhà khoa học nghiên cứu về ngô của Việt Nam còn thành công trong việc chuyển đổi dòng ngô thường thành dòng ngô QPM bằng phương pháp nuôi cấy bao phấn Theo phương pháp backcross việc chuyển hệ thống gen O2O2 từ dòng QPM sang ngô thường phải mất 4-5 năm, nhưng ứng dụng công nghệ sinh học thời gian này được rút ngắn đáng kể chỉ còn 2-3 năm (Bùi Mạnh Cường và cs, 2012) [8]

Như vậy, chương trình chọn tạo giống ngô Việt Nam đã từng bước phát triển từ giống lai không quy ước đến lai kép, lai ba, lai đơn cải tiến và lai đơn Những thành tích đó đã đưa sản xuất ngô Việt Nam đứng trong hàng ngũ các nước tiên tiến ở Châu Á

1.5 Điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất ngô tỉnh Thái Nguyên

1.5.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi phía Bắc có tổng diện tích là 356.282 ha Đất đai của Thái Nguyên chủ yếu là đồi núi (chiếm

đến 85,8% tổng diện tích tự nhiên) Diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất

nhỏ 12,4 % Diện tích đất phân bố dọc theo các con suối, rải rác, không tập trung, chịu sự tác động lớn của chế độ thủy văn khắc nghiệt (lũ đột ngột, hạn hán ) khó khăn cho việc canh tác [14]

Khí hậu Thái Nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 Chính vì vậy đầu vụ Xuân và cuối vụ Đông sản xuất nông nghiệp thường gặp khó khăn vì hạn và rét

Nhiệt độ trung bình của Thái Nguyên là 25 °C; chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9°C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2°C) là 13,7°C Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm

Thái Nguyên là tỉnh có dân số trẻ với nhóm tuổi lao động từ 15 đến 60 là 779.261 người, chiếm 69,38% tổng dân số Nhóm tuổi dưới 15 có 249.001

Trang 25

người, chiếm 22,17% tổng dân số còn nhóm người trên 60 tuổi có 94.854 người, chiếm 8,45% [14] Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 46 dân tộc anh

em cùng chung sống trong đó đa số dân cư là người Kinh (73,1%) Đây cũng

là thuận lợi rất lớn để chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp trong đó có cây ngô

Địa hình của Thái Nguyên không phức tạp so với các tỉnh trung du, miền

núi khác, đây là một thuận lợi của Thái Nguyên cho canh tác nông, lâm nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội Chính vì vậy, Thái Nguyên được chọn là một trong những điểm khảo nghiệm trong quá trình chọn tạo giống ngô

1.5.2 Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên

Ở Thái Nguyên ngô là cây lương thực luôn được quan tâm phát triển, các

thành tựu khoa học kỹ thuật mới được ứng dụng trong sản xuất nên năng suất

và sản lượng ngô tăng nhanh trong những năm gần đây

Bảng 1.5: Diện tích, năng suất và sản lượng ngô của tỉnh Thái Nguyên

giai đoạn 2003 - 2015

(1000 ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (1000 tấn)

Trang 26

Số liệu bảng 1.5 cho thấy: Diện tích ngô của tỉnh tăng từ năm 2003 đến

2008, năm 2008 đạt 20,6 nghìn ha, nhưng sau đó diện tích giảm dần Từ năm

2013, nhu cầu sử dụng ngô tăng nên vì vậy sản xuất ngô được mở rộng diện

tích, năm 2015 diện tích đạt 21,0 nghìn ha

Năng suất ngô của tỉnh tăng đều từ năm 2003 đến năm 2011 (32,6 - 43,3 tạ/ha) Từ năm 2012 đến nay năng suất ngô của tỉnh có sự biến động nhất

định, do ảnh hưởng của thời tiết khí hậu Điều đó chứng tỏ Thái Nguyên cũng

là một tỉnh chịu sự tác động của biến đổi khí hậu hạn, rét là hai yếu tố chính

ảnh hưởng rất lớn đến năng suất ngô của vụ Xuân và Thu Đông

Chính vì vậy, thay đổi cơ cấu giống là một trong những giải pháp cải thiện năng suất Các tiến bộ về giống ngô lai mới được người dân tiếp nhận và

áp dụng vào sản xuất rất nhanh, giai đoạn 2013-2016 đã có rất nhiều giống ngô lai mới có năng suất cao, chống chịu tốt được đưa vào sản xuất

Bảng 1.6: Cơ cấu giống ngô của tỉnh Thái Nguyên năm 2014

TT Cơ quan phân phối giống Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)

Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên, 2016[24]

Cơ cấu giống ngô của tỉnh năm 2016 gồm các giống ngô Việt Nam và

giống nhập nội như: LVN4, LVN99, LVN25, SB099, NK4300, NK66,

NK6654, NK6326, GS9989, P4199, 30Y87, CP999, CP888, CP111, CP333, CP501, B21, B06, B265, MB69, DK8868, DK6818, DK6919, DK9955,

Trang 27

NK67, NK7328, PAC 339, SSC 131, HN88… Các giống này có thể bố trí ở tất cả các khung thời vụ của các địa phương

Các giống ngô Việt Nam đang trồng ở Thái Nguyên chiếm 29,2% diện tích, trong đó nhóm giống ngô lai chiếm 16,2% còn lại là các giống ngô nếp Các giống ngô lai đang trồng tại tỉnh Thái Nguyên chỉ có LVN4, LVN99 và LVN25, tổng diện tích trồng của 3 giống này là 3.151 ha chỉ tương đương với diện tích trồng giống NK4300

Các giống ngô do Việt Nam chọn tạo được trồng ở Thái Nguyên còn hạn chế, mà chủ yếu là giống của các công ty nước ngoài, phổ biến là các giống của Syngenta Trong thực tế các giống sản xuất trong nước có khá nhiều ưu thế so với giống nhập nội như giá giống rẻ, khả năng chống chịu tốt, chính vì vậy, phát triển các giống ngô chọn tạo trong nước là mục tiêu quan trọng đối với sản xuất ngô của tỉnh Thái Nguyên

1.5.3 Kết quả thử nghiệm các giống ngô lai mới tại Thái Nguyên

Sản xuất ngô ở Thái Nguyên được đánh giá là tương đối phát triển, nhưng vẫn chưa phát huy hết tiềm năng thế mạnh của tỉnh, năng suất và sản lượng còn ở mức thấp, vì vậy để cải thiện năng suất, việc phát triển các giống ngô mới luôn được quan tâm

Trong những năm gần đây, nhiều tiến bộ kỹ thuật được đưa vào sản xuất bước đầu mang lại hiệu quả, nâng cao đời sống cho nông dân Viện Nghiên cứu ngô Trung ương đã phối hợp với tỉnh Thái Nguyên tiến hành nhiều mô hình thử nghiệm các giống ngô lai mới để xác định giống thích nghi với điều kiện sinh thái của vùng

Vụ Xuân và Hè Thu 2009, giống ngô lai LVN61 của Viện nghiên cứu ngô đã được trồng thử nghiệm tại huyện Võ Nhai, với điều kiện chăm sóc như nhau nhưng ở cả hai vụ, LVN61 đạt năng suất cao hơn 22,7% so với giống ngô CP 888 (năng suất trung bình trên mỗi sào của giống ngô LVN 61 đạt 2,7

tạ trong khi giống ngô CP 888 chỉ đạt trên 2,2 tạ) Ngoài ra, LVN 61 còn có

Trang 28

khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, tỷ lệ nhiễm bệnh khô vằn thấp hơn giống

CP 888 (Hoàng Hưng, 2010) [13]

Tại huyện Võ Nhai, vụ Xuân 2013 Trung tâm Giống cây trồng tỉnh đã thử nghiệm giống ngô lai mới VS36 do Viện nghiên cứu ngô lai tạo Kết quả cho thấy: VS36 có nhiều ưu điểm như khả năng sinh trưởng khỏe, khả năng chống đổ tốt Năng suất trung bình của VS36 đạt trên 80 tạ/ha, VS36 có khả năng chống chịu khá tốt trong điều kiện canh tác ngô chủ yếu nhờ nước ở huyện Võ Nhai (Trần Thị Giang Hảo, 2013)[11]

Được sự hỗ trợ của Trung tâm Giống cây trồng Thái Nguyên, vụ Xuân

2014 giống ngô lai đơn HT119 và HT818 được nông dân xã vùng cao Tràng

Xá, huyện Võ Nhai đưa vào trồng khảo nghiệm và đã đạt năng suất trên 80 tạ/ha, cao hơn các giống ngô trồng trước đây tại địa phương khoảng 10 đến 11 tạ/ha (Hoàng Thảo Nguyên, 2014) [21]

Võ Nhai là huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên, có 8 dân tộc cùng sinh sống, tập trung chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, trồng rừng Võ Nhai

là huyện có điều kiện tự nhiên khí hậu gặp nhiều bất thuận nên rất cần những giống có khả năng chịu hạn, rét tốt Vụ Xuân 2014, giống ngô lai chịu hạn VN8960 đã được thử nghiệm tại đây Kết quả cho thấy giống VN8960 có khả năng thích ứng tốt, chống chịu được sâu bệnh hại Thân cây to, cứng bộ rễ chân kiềng phát triển khỏe nên khả năng chống hạn, chống đổ rất tốt Đặc biệt trong giai đoạn cây trỗ cờ phun râu gặp điều kiện thời tiết khô hanh, độ ẩm không khí dưới 55% nhưng giống ngô lai VN8960 vẫn cho tỷ lệ kết hạt rất cao Năng suất của giống VN8960 đạt 68,9 tạ/ha, cao hơn các giống trồng phổ biến trong vùng (Vân Đình, 2014)[10]

Với mục tiêu chọn giống phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh để phục vụ sản xuất, ngoài các giống được chọn tạo trong nước, Thái Nguyên còn thử nghiệm các giống ngô nhập nội để làm phong phú cơ cấu giống ngô tại tỉnh

Trang 29

Tại huyện Võ Nhai, vụ Xuân 2013, Công ty Syngenta Việt Nam đã thử nghiệm giống ngô lai NK6654, năng suất của giống NK6654 đạt 74,4 tạ/ha và

có ưu điểm nổi bật là khả năng chịu hạn và chống đổ tốt (Trần Quyền, 2013)[23]

Vụ Xuân 2014, thời tiết có nhiều biến động, giữa vụ có đợt hạn kéo dài nên đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất ngô của tỉnh, nhiều giống ngô năng suất giảm đáng kể, nhưng giống ngô lai DK8868 trồng tại Võ Nhai vẫn có tỷ lệ kết hạt cao, tỷ lệ bắp hữu hiệu đạt 100%, năng suất 78 tạ/ha (Dương Trung Kiên, 2014)[15]

Năm 2014-2015, Trạm Khuyến nông Võ Nhai thực hiện dự án nhân rộng mô hình thâm canh giống ngô lai DK9901 và DK9955 trên địa bàn huyện DK9901 và DK9955 là những giống ngô lai đơn, có thời gian sinh trưởng trung ngày (từ 100-121 ngày) do Công ty Monsanto Thái Lan tại Việt Nam nhập khẩu từ Mỹ Giống DK9901 có độ đồng đều cao, cây sinh trưởng khoẻ, bộ lá gọn; khả năng chịu hạn tốt; bắp to, dài, năng suất trung đạt trên 65 tạ/ha Giống ngô DK9955 có dạng cây gọn, tán lá đứng, chiều cao cây và chiều cao đóng bắp trung bình, trạng thái cây và bắp khá tốt Đặc biệt, giống ngô DK9955 có bộ rễ chân kiềng phát triển nên khả năng chống đổ khá; năng suất khá cao và ổn định khoảng 50-60 tạ/ha Việc nhân rộng mô hình thâm canh 2 giống ngô này sẽ góp phần bổ sung cho huyện những giống ngô lai năng suất cao, chống chịu tốt phù hợp với điều kiện của địa phương (Tùng Lâm, 2014) [17]

Vụ đông năm 2015, Công ty Advanta Việt Nam phối hợp với Trung tâm Giống cây trồng tỉnh Thái Nguyên xây dựng mô hình trình diễn 2 giống ngô lai PAC669 và PAC558 PAC669 sinh trưởng và phát triển mạnh, thân cây to, cao có bẹ lá gọn, đặc điểm này có thể giúp tăng mật độ gieo trồng trên một đơn vị diện tích PAC669 có hạt đẹp, màu vàng cam phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Sử dụng giống PAC669 chi phí đầu tư thấp, nhưng năng suất

Trang 30

vẫn cao, đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân Qua hạch toán, giống PAC669 đã cho số lãi đạt 14,2 triệu đồng/ha, cao hơn giống đối chứng NK4300 là 9 triệu đồng/ha Giống PAC558 có khả năng chống chịu sâu bệnh

và ngoại cảnh đặc biệt tốt, lãi 13,7 triệu đồng/ha, cao hơn giống đối chứng là 8,1 triệu đồng/ha Từ kết quả khảo nghiệm trên, hai giống PAC669 và PAC558 đã được đề nghị đưa vào cơ cấu giống của tỉnh (Báo Nông nghiệp Việt Nam, 2016) [2]

Việc thử nghiệm những giống ngô lai mới đã góp phần làm phong phú

cơ cấu giống ngô lai của tỉnh, giúp nông dân có cơ hội tiếp cận với giống mới năng suất cao, chống chịu tốt

1.6 Kết quả nghiên cứu đặc điểm nông học của cây ngô

Đặc điểm nông học là đặc trưng riêng của mỗi giống ngô Những đặc điểm được quyết định bởi yếu tố di truyền như màu sắc thân, màu sắc hoa,

góc lá, số hàng/bắp sẽ ít biến động trước tác động của yếu tố ngoại cảnh Một số đặc điểm biến động tuỳ thuộc vào điều kiện khí hậu và thời tiết như thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, số hạt trên hàng Trong các đặc điểm nông học, thời gian sinh trưởng là chỉ tiêu được nhiều nhà khoa học quan tâm vì đây là chỉ tiêu tương quan với chiều cao cây, chiều cao đóng bắp và năng suất (Phạm Thị Tài, 1993) [25]

Thời gian sinh trưởng của cây ngô thường biến động theo điều kiện sống Trong điều kiện thuận lợi cây ngô sinh trưởng, phát triển nhanh hơn Khi so sánh các tổ hợp ngô lai mới trong điều kiện vụ Xuân và Thu Đông

2014, Phan Thị Vân (2016) [41] cho thấy, các tổ hợp ngô lai thí nghiệm có thời gian trỗ cờ, tung phấn, phun râu và thời gian sinh trưởng ở vụ Xuân (gieo tháng 2) dài hơn so với vụ Thu Đông (gieo tháng 8) vì vụ Xuân đầu vụ thường gặp nhiệt độ thấp và lượng mưa ít hơn vụ Thu Đông

Trong các đặc điểm hình thái, chiều cao cây và chiều cao đóng bắp cũng

dễ bị biến động ở các điều kiện sống khác nhau Trần Trung Kiên và cs

Trang 31

(2013) [16] khi khảo nghiệm các giống ngô nhập nội từ Trung Quốc ở vụ Xuân và Đông 2011 cho thấy vụ Đông do điều kiện thời tiết không thuận lợi nên chiều cao cây thấp hơn so với vụ Xuân

Nghiên cứu mối tương quan giữa chiều cao cây, chiều cao đóng bắp với năng suất, Phan Thị Vân và và Bùi Huy Phương (2015) [40] cho thấy: Giữa chiều cao cây và năng suất có tương quan thuận (r=0,52-0,56) Chiều cao

đóng bắp là chỉ tiêu thể hiện sự tương quan rất chặt với năng suất ở mức tin

cậy 95% (r=0,67- vụ Xuân 2014 và 0,69 - vụ Thu Đông 2014) Tuy nhiên, chiều cao cây và chiều cao đóng bắp chỉ tương quan thuận với năng suất trong một giới hạn nhất định, vượt qua giới hạn đó mối tương quan này sẽ thay đổi Năng suất là chỉ tiêu được quan tâm nhiều nhất trong chọn tạo giống

Có thể đánh giá được tiềm năng năng suất của giống thông qua cấu trúc của

bộ lá Sự sắp xếp bộ lá và khả năng tiếp nhận ánh sáng có liên quan chặt chẽ với chỉ số diện tích lá (LAI) Vì vậy việc nghiên cứu LAI, góc độ lá và mối quan hệ của chúng với năng suất để sử dụng trong việc cải tạo nâng cao năng suất ngô là vấn đề rất cần thiết (Fakored và Mock, 1978)[45]

Bùi Mạnh Cường (1994) [7] cho biết các giống ngô lai, chỉ số diện tích

lá tương quan với năng suất kinh tế với r=0,58 Vì vậy, muốn nâng cao năng suất kinh tế của quần thể cần tác động theo hướng đảm bảo chỉ số diện tích lá tối ưu

Lá là cơ quan chính thực hiện chức năng quang hợp tổng hợp nên hợp chất hữu cơ, do đó số lá trên cây, hiệu suất quang hợp của bộ lá ảnh hưởng rất lớn đến năng suất Mối quan hệ giữa số lá với năng suất thay đổi tùy thuộc vào giống và mùa vụ Phan Thị Vân và Bùi Huy Phương (2015) [40] nghiên cứu mối tương quan giữa số lá trên cây với năng suất ở hai vụ Xuân và Thu

Đông 2014 cho thấy: Vụ Xuân do nhiệt độ thấp, lượng mưa ít ở giai đoạn đầu

nên ảnh hưởng đến quá trình phát triển kích thước lá, vì vậy số lá có ý nghĩa rất lớn tương quan thuận chặt với năng suất (r=0,71) Còn vụ Thu Đông giai

Trang 32

đoạn hình thành lá rất thuận lợi kích thước lá phát triển tối đa nên số lá tương

quan thuận nhưng không chặt (r=0,58) với năng suất

Các đặc điểm nông học được quyết định bởi yếu tố di truyền và thay đổi tùy thuộc vào điều kiện sống Vì vậy, cần căn cứ vào điều kiện cụ thể để lựa chọn các chỉ tiêu cho phù hợp Ở điều kiện khô hạn năng suất hạt có tương quan thuận và chặt chẽ với tỷ lệ bắp/cây, khối lượng bắp, số ngày từ nảy mầm

đến phun râu và chín sinh lý (Phạm Thị Tài, 1993) [25]

Qua nghiên cứu phản ứng của các con lai luân giao trong điều kiện tưới

và không tưới Ngô Hữu Tình và cs (2005) [29] đã cho rằng để chọn giống ngô chịu hạn nên bắt đầu với một vài đặc tính quan trọng như: Khoảng cách tung phấn phun râu, chiều cao cây, số hạt/hàng, khối lượng 1000 hạt

Phan Thị Vân và cs (2005)[39] đã chứng minh được sự hình thành, phát triển của mầm, rễ, đặc điểm hình thái của lá là cơ sở khoa học để chọn giống ngô chịu hạn

Trong các đặc điểm nông học của cây ngô, các yếu tố cấu thành năng suất như chiều dài bắp, khối lượng bắp, số hạt/hàng và số bắp/cây là những chỉ tiêu tương quan với năng suất hạt, nhưng mức độ khác nhau tùy mùa vụ Nghiên cứu mối tương quan giữa các yếu tố cấu thành năng suất với năng suất của các tổ hợp ngô lai vụ Đông 2012 và Xuân 2013, Vi Hữu Cầu, Phan Thị Vân (2013)[6] cho biết ở vụ Đông 2012, đường kính bắp, khối lượng 1000 hạt tương quan thuận chặt với năng suất (r = 0,87 và 0,62) nhưng vụ Xuân 2013 yếu tố tương quan thuận chặt với năng suất là số hạt trên hàng (r = 0,67)

Như vậy, để xác định được một giống tốt phù hợp với từng vùng cần đánh giá giống dựa vào các chỉ tiêu sinh học, đặc tính thích nghi, năng suất Những

đặc điểm tương quan chặt với năng suất được quan tâm hơn trong quá trình

chọn tạo giống

Trang 33

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

Đề tài tiến hành đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của 7 tổ hợp

ngô lai do Viện nghiên cứu ngô lai tạo và giống NK7328 được chọn làm giống đối chứng

Giống NK7328 (đối chứng) do Công ty Sygenta Việt Nam nhập từ Thái Lan, NK7328 có thời gian sinh trưởng 90-110 ngày, có khả năng chịu hạn và chống đổ khá, năng suất trung bình 50-60 tạ/ha Giống NK7328 là một trong những giống của Công ty Syngenta được trồng phổ biến tại Thái Nguyên

Bảng 2.1: Nguồn gốc vật liệu thí nghiệm

8 NK 7328 (đ/c) Công ty Sygenta Việt Nam

2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu

- Địa điểm thí nghiệm: Tại phường Quang Vinh - Thành phố Thái Nguyên

- Thời gian nghiên cứu: Vụ Xuân và Thu Đông 2015

+ Vụ Xuân gieo ngày: 26/2/2015

+ Vụ Thu Đông gieo: 25/8/2015

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu các giai đoạn sinh trưởng, đặc điểm hình thái và năng suất của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm

Trang 34

- Đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh, chống đổ của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm gồm 8 công thức được bố trí 3 lần nhắc lại theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD-Randomized Complete Block Design) với diện tích ô thí nghiệm 14 m2 (dài 5 m x rộng 2,8 m) (vụ Xuân)

24.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi

Các chỉ tiêu theo dõi thí nghiệm được tiến hành theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô (QCVN 01-56 - 2011) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn [4]

Mỗi ô thí nghiệm trồng 4 hàng, tất cả các chỉ tiêu theo dõi trên 2 hàng giữa Mỗi ô thí nghiệm theo dõi 10 cây

* Chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển

+ Ngày trỗ cờ: Được tính từ gieo đến khi có trên 50% số cây trong ô thí

nghiệm xuất hiện nhánh cuối cùng của bông cờ

Trang 35

+ Ngày tung phấn: Được tính từ gieo đến khi trên 50% số cây trong ô thí nghiệm có hoa nở ở 1/3 trục chính

+ Ngày phun râu: Được tính từ gieo đến khi trên 50% số cây trong ô thí nghiệm có râu dài 2-3 cm ngoài lá bi

+ Ngày chín sinh lý: Được tính từ gieo đến khi có trên 75% số cây ô thí nghiệm có chấm đen ở chân hạt

* Chỉ tiêu về hình thái

- Chiều cao cây (cm): Được đo sau trỗ 15 ngày, đo từ mặt đất đến điểm phân nhánh bông cờ đầu tiên Đo 10 cây ở 2 hàng giữa mỗi ô thí nghiệm

- Chiều cao đóng bắp (cm): Được đo sau trỗ 15 ngày, đo từ mặt đất đến

đốt mang bắp trên cùng Đo 10 cây ở 2 hàng giữa mỗi ô thí nghiệm

- Số lá: Đếm tổng số lá trên cây, để xác định chính xác đánh dấu trên lá thứ 3, 6, 10

- Đường kính gốc (cm): Đo sau trỗ 15 ngày, đo sát gốc thân của 10 cây theo dõi trên ô thí nghiệm

- Rễ chân kiềng (cái/cây): Đếm số rễ trên các đốt ở trên mặt đất của 10 cây theo dõi trên ô thí nghiệm, đếm ở thời kỳ trỗ cờ

- Chỉ số diện tích lá: Theo dõi 5 cây trên ô thí nghiệm, tiến hành đo ở thời kỳ chín sữa Đo chiều dài từ gốc lá đến đỉnh lá, chiều rộng đo ở phần rộng nhất của phiến lá Đo tất cả các lá còn xanh trên cây sau đó áp dụng công thức tính diện tích lá:

Diện tích lá (m2) = Chiều dài x chiều rộng x 0,75

Chỉ số diện tích lá (m2lá/m2 đất) = DTL/Cây x số cây/m2

- Tốc độ tăng trưởng của cây

+ Tiến hành đo chiều cao cây sau trồng 20 ngày, đo 5 lần, khoảng cách giữa các lần đo là 10 ngày

+ Cách đo: Đo từ mặt đất đến mút lá (đo 10 cây trên ô)

Trang 36

Tốc độ tăng trưởng sau trồng 20 ngày =

1

1

th

h1: Chiều cao cây sau trồng 20 ngày

t1: Thời gian gieo đến đo lần 1 (20 ngày)

Tốc độ tăng trưởng sau trồng 30 ngày =

1 2

1 2

tt

hh

h2: Chiều cao cây sau trồng 30 ngày

t2: Thời gian gieo đến đo lần 2 (30 ngày)

Tốc độ tăng trưởng sau trồng 40, 50, 60 ngày tính tương tự như sau trồng

30 ngày

- Tốc độ ra lá

+ Tiến hành đếm số lá sau trồng 20 ngày, chỉ đếm lá đã xuất hiện cổ lá,

đếm 5 lần, khoảng cách giữa các lần đếm lá là 10 ngày

Tốc độ ra lá sau trồng 20 ngày =

1

1

t l

l1: Số lá sau trồng 20 ngày

t1: Thời gian gieo đến đếm lá lần 1 (20 ngày)

Tốc độ ra lá sau trồng 30 ngày =

1 2

1 2

t t

l l

l2: Số lá sau trồng 30 ngày

t2: Thời gian gieo đến đếm lá lần 2 (30 ngày)

Tốc độ ra lá sau trồng 40, 50, 60 ngày tính tương tự như sau trồng 30 ngày

- Trạng thái cây: Theo dõi ở thời kỳ chín sáp căn cứ vào độ đồng đều

về chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, kích thước bắp, sâu bệnh Đánh giá theo thang điểm 1 - 5: Điểm 1: tốt; Điểm 2: Khá; Điểm 3: Trung bình; Điểm 4: Kém; Điểm 5: Rất kém

- Độ che kín bắp: Quan sát đánh giá 10 bắp của cây trên 2 hàng giữa ô

Đánh giá theo thang điểm

Điểm 1: Rất kín: Lá bi kín đầu bắp và vượt khỏi bắp

Trang 37

Điểm 2: Kín: Lá bi bao kín đầu bắp

Điểm 3: Hơi hở: Lá bi bao không chặt đầu bắp

Điểm 4: Hở: Lá bi không che kín bắp để hở đầu bắp

Điểm 5: Rất hở: Bao bắp rất kém đầu bắp hở nhiều

- Trạng thái bắp: Sau khi thu hoạch, trước khi lấy mẫu tiến hành đánh giá căn cứ vào hình dạng bắp, kích thước bắp, tình trạng sâu bệnh của bắp theo thang điểm: 1-5 ( điểm 1 bắp đồng đều - điểm 5 bắp kém )

* Khả năng chống đổ: Quan sát và đánh giá toàn bộ cây trên 2 hàng giữa

ô thí nghiệm vào giai đoạn chín sáp hoặc sau các đợt gió to

- Đổ rễ (%): Đếm các cây bị nghiêng một góc bằng hoặc lớn hơn 30 độ

so với chiều thẳng đứng của cây và tính tỷ lệ cây bị đổ

- Gẫy thân: Đếm các cây bị gẫy ở dưới bắp

* Chỉ tiêu chống chịu sâu bệnh

- Sâu đục thân (Chilo partellus) Đánh giá vào giai đoạn chín sáp trên 2

hàng giữa của ô, thực hiện ở ba lần nhắc lại Đánh giá theo thang điểm 1-5

Điểm 1: < 5% số cây bị sâu

Điểm 2: 5-<15% số cây bị sâu

Điểm 3: 15-<25% số cây bị sâu

Điểm 4: 25-<35% số cây bị sâu

Điểm 5: 35-<50% số cây bị sâu

- Bệnh gỉ sắt (Puccinia maydis): Bệnh gỉ sắt (%): Đánh giá vào giai đoạn

chín sáp trên toàn bộ số cây ở 2 hàng giữa của ô, thực hiện ở ba lần nhắc lại

Tỷ lệ bệnh (%) = (Số cây bị bệnh/tổng số cây điều tra) x 100

Trang 38

* Chỉ tiêu về các yếu tố cấu thành năng suất

- Chiều dài bắp (cm): Đo từ đáy bắp đến mút bắp, đo trên bắp thứ nhất của 30 cây mẫu

- Đường kính bắp (cm): Đo ở giữa bắp, đo trên bắp thứ nhất của 30 cây mẫu

- Số bắp/cây: Tổng số bắp hữu hiệu/tổng số cây hữu hiệu trên ô Đếm số bắp và số cây trong ô lúc thu hoạch

- Số hàng/bắp: Một hàng được tính khi > 5 hạt Chỉ đếm bắp thứ nhất của cây mẫu

- Hạt/hàng: Được đếm trên hàng hạt có chiều dài trung bình trên bắp Chỉ đếm bắp thứ nhất của cây mẫu

- Khối lượng 1000 hạt (g): Đếm 2 mẫu, mỗi mẫu 500 hạt Nếu khối lượng của mẫu nặng trừ đi khối lượng của mẫu nhẹ <5% so với khối lượng trung bình của 2 mẫu thì khối lượng 1000 hạt bằng tổng khối lượng của 2 mẫu

- Khối lượng 1000 hạt ở độ ẩm bảo quản (14%)

Tỷ lệ hạt/bắp = khối lượng hạt/khối lượng bắp x 100

- Năng suất lý thuyết

Trang 39

Tỉ lệ hạt/bắp(%) = Mhạt 10 bắp x 100

A0 : Ẩm độ khi thu hoạch

14%: Ẩm độ khi bảo quản

M1000: Khối lượng 1000 hạt ở ẩm độ 14%

Sô: Diện tích ô thí nghiệm

2.5 Quy trình kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm

- Quy trình trồng trọt được tiến hành theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia

về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô (QCVN 01-56 - 2011) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn [4]

- Mật độ trồng: 5,7 vạn cây/ha Khoảng cách: 70 cm x 25 cm

- Phân bón: 2 tấn/ha phân vi sinh +150N + 90P2O5 + 90K2O

+ Bón lót: 100% Phân vi sinh + 100% Phân lân supe +1/4 đạm U rê + Bón thúc:

Lần 1: Bón 1/4 Đạm +1/2 Ka li khi cây có 3-5 lá, kết hợp xới xáo lần 1 Lần 2: Bón 1/2 Đạm+1/2 Ka li và bón khi cây 7-9 lá, kết hợp vun cao

- Khi ngô có 3 -5 lá: Tiến hành tỉa định cây kết hợp với xới phá váng, nhổ cỏ đồng thời bón thúc lần 1

- Khi cây ngô 7- 9 lá: Bón thúc lần 2 kết hợp vun cao gốc chống đổ

- Tưới nước: Đảm bảo đủ độ ẩm cho ngô

- Theo dõi, tiến hành diệt trừ khi sâu bệnh phát triển rộ trên đồng ruộng

- Thu hoạch: Khi ngô chín sinh lý

Trang 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Nghiên cứu các giai đoạn sinh trưởng, đặc điểm hình thái và năng suất của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm

Đánh giá tổ hợp lai là giai đoạn quan trọng trong quá trình chọn tạo giống

ngô Thông qua quá trình đánh giá tổ hợp lai sẽ xác định được các tổ hợp lai có tiềm năng năng suất cao, khả năng chống chịu phục vụ cho sản xuất

Để có cơ sở chọn được giống mới bổ sung vào cơ cấu giống ngô lai của

tỉnh Thái Nguyên đề tài đã khảo nghiệm các tổ hợp lai qua hai vụ Xuân và Thu Đông 2015

3.1.1 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp lai thí nghiệm Xuân và Thu Đông năm 2015 tại Thái Nguyên

Quá trình sinh trưởng, phát triển của cây ngô trên đồng ruộng được chia làm hai giai đoạn: Sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực Ở mỗi giai đoạn cây ngô sẽ hình thành nên các cơ quan bộ phận khác nhau

Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng hình thành lá, thân, rễ và các hoa

Đây là giai đoạn cây ngô có nhu cầu dinh dưỡng, nước cũng như các yếu tố

khác rất lớn Nếu gặp điều kiện bất thuận trong giai đoạn này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến năng suất

Sinh trưởng sinh thực là giai đoạn hình thành và phát triển của hạt Giai

đoạn này quyết định lượng vật chất khô được tích lũy trong hạt để đạt năng

suất tối đa Quá trình vận chuyển các chất dinh dưỡng về hạt chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện khí hậu và phụ thuộc rất nhiều vào chế độ nước

Mỗi giai đoạn sinh trưởng, phát triển cây ngô có những yêu cầu riêng với điều kiện ngoại cảnh Vì vậy, theo dõi các giai đoạn sinh trưởng phát triển

là cơ sở khoa học quan trọng cho việc bố trí thời vụ gieo trồng hợp lý đối với mỗi giống và tác động các biện pháp kỹ thuật canh tác trên đồng ruộng (Ngô Hữu Tình, 2003) [27]

Ngày đăng: 17/08/2017, 14:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w