1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tài chính công bất ổn kinh tế vĩ mô

57 526 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 582,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự vận hành mang tính chất chu kì của nền kinh tế Thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng đã khiến cho lạm phát và thất nghiệp trở thành căn bệnh kinh niên của nền kinh tế thị trường và gây ra nhiều tổn thất cho xã hội. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện này, bất ổn kinh tế vĩ mô đã, đang và sẽ tiếp tục là vấn đề kinh tế vĩ mô mà tất cả các quốc gia đều phải quan tâm và đối phó bởi những hậu quả khôn lường mà nó gây ra. Bất ổn kinh tế vĩ mô ở nhiều cấp độ khác nhau có thể gây ra những hệ quả khác nhau, nhẹ có thể chỉ là lạm phát, thất nghiệp hay sự đóng băng của thị trường bất động sản, và nặng hơn có thể dẫn đến khủng hoảng kinh tế, với sự sụp đổ của thị trường tài chính, thị trường chứng khoán, thâm hụt ngân sách quốc gia hay thậm chí là vỡ nợ quốc gia và chịu sự chi phối của các nước khác.Chính vì vậy, một vấn đề hết sức quan trọng và cấp bách đặt ra cho Chính phủ các nước đó là tiến hành nghiên cứu để hiểu được bản chất của bất ổn kinh tế vĩ mô, hiểu được cơ chế tác động của nó đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, cũng như những hệ quả mà nó đem tới, để từ đó có các biện pháp để chủ động đối phó với các bất ổn kinh tế vĩ mô luôn rình rập đối với nền kinh tế.Trong chương trình nội dung môn học Tài chính công, nhóm 5 lớp Kh12 Nhân sự 01 đã tiến hành nghiên cứu vấn đề bất ổn kinh tế vĩ mô như một thất bại của thị trường trên các khía cạnh cơ bản nhất với hy vọng phần nào có thể nêu lên những vần đề cốt lõi, bản chất nhất thuộc về bất ổn kinh tế vĩ mô, từ đó nhóm cũng có những liên hệ với thực tiễn với thực trạng bất ổn kinh tế vĩ mô Việt Nam hiện nay, đồng thời đề xuất một số giải pháp căn bản để có thể khắc phục phần nào thực trạng trên.Trong quá trình nghiên cứu, nhóm có sự tham khảo các tài liệu, sách, báo trong và ngoài nước với hy vọng mang lại cái nhìn toàn diện nhất cho vấn đề bất ổn kinh tế vĩ mô, tuy vậy, nhóm cũng không thể tránh khỏi những thiếu xót, hạn chế, chính vì vậy, nhóm rất mong nhận được sự đánh giá khách quan, thẳng thắn của Giảng viên bộ môn, cũng như các bạn đọc quan tâm.

Trang 1

MỤC LỤC

A ĐẶT VẤN ĐỀ 4

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 4

I KHÁI NIỆM – NGUYÊN NHÂN CỦA BẤT ỔN KINH TẾ 4

1 Khái niệm 4

2 Nguyên nhân của bất ổn kinh tế 5

2.1 Nguyên nhân khách quan 5

2.2 Nguyên nhân chủ quan 6

II BIỂU HIỆN CỦA BẤT ỔN KINH TẾ VĨ MÔ 6

1 Lạm phát 7

1.1.Khái niệm: 7

1.2.Phân loại: 9

1.3 Nguyên nhân 9

1.4 Hậu quả của lạm phát 11

1.5 Ví dụ thực tế (tình hình lạm phát ở việt nam 2014) 12

1.6 Biện pháp 13

2 Thất nghiệp 14

2.1.Khái niệm: 14

2.2 Phân loại: 15

2.3 Nguyên nhân của thất nghiệp: 17

2.4 Biểu hiện thực tế: 19

2.5 Giải pháp khắc phục đối với tình trạng thất nghiệp 20

III ẢNH HƯỞNG CỦA BẤT ỔN KINH TẾ VĨ MÔ 22

1 Ảnh hưởng tiêu cực 22

2 Ảnh hưởng tích cực 23

IV CÁC GIẢI PHÁP NGĂN CHẶN BẤT ỔN KINH TẾ VĨ MÔ 24

1 Chính sách tài khóa 25

1.1 Khái niệm 25

1.2 Mục tiêu 26

Trang 2

1.3 Các công cụ của chính sách tài khóa 26

1.4 Các kiểu chính sách tài khóa 27

1.5 Tác động của chính sách tài khóa 28

1.6 Thực trạng chính sách tài khóa ở Việt Nam hiện nay 30

2 Chính sách tiền tệ 33

2.1 Khái niệm 33

a) Khái niệm: 33

b) Vị trí của chính sách tiền tệ: 34

c) Đặc trưng của chính sách tiền tệ: 34

- Chính sách tiền tệ là một bộ phận hữu cơ cấu thành chính sách tài chính quốc gia 34

- Chính sách tiền tệ là công cụ thuộc tầm vĩ mô 34

Ngân hàng trung ương là người đề ra và vận hành chính sách tiền tệ 34

2.2 Mục tiêu 34

a) Ổn định giá trị đồng tiền: 34

b) Tăng công ăn việc làm 35

c) Tăng trưởng kinh tế 35

2.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ 35

a) Lãi suất: 35

c) Dự trữ bắt buộc: 36

d) Quản lý hạn mức tín dụng của các ngân hàng thương mại: 36

e) Quản lý lãi suất của các ngân hàng thương mại: 37

2.4 Nôi dung của chính sách tiền tệ 38

2.5 Phân loại 39

2.6 Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến đường IS-LM 43

43

2.7 Thực trạng của chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay 45

2.8 Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay 47

3 Phối hợp chính sách tài chính và tiền tệ trong quản lý kinh tế 49

3.1 Cơ sở và điều kiện phối hợp CSTK và CSTT: 49

Trang 3

3.2 Nội dung kết hợp CSTK và CSTT 49

3.3 Thực trạng của việc phối hợp CSTK và CSTT ở Việt Nam: 52

C.KẾT LUẬN 54

D.TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

Trang 4

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Sự vận hành mang tính chất chu kì của nền kinh tế Thế giới nói chung vànền kinh tế Việt Nam nói riêng đã khiến cho lạm phát và thất nghiệp trở thànhcăn bệnh kinh niên của nền kinh tế thị trường và gây ra nhiều tổn thất cho xãhội Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện này, bất ổn kinh tế vĩ mô đã,đang và sẽ tiếp tục là vấn đề kinh tế vĩ mô mà tất cả các quốc gia đều phải quantâm và đối phó bởi những hậu quả khôn lường mà nó gây ra Bất ổn kinh tế vĩ

mô ở nhiều cấp độ khác nhau có thể gây ra những hệ quả khác nhau, nhẹ có thểchỉ là lạm phát, thất nghiệp hay sự đóng băng của thị trường bất động sản, vànặng hơn có thể dẫn đến khủng hoảng kinh tế, với sự sụp đổ của thị trường tàichính, thị trường chứng khoán, thâm hụt ngân sách quốc gia hay thậm chí là vỡ

nợ quốc gia và chịu sự chi phối của các nước khác

Chính vì vậy, một vấn đề hết sức quan trọng và cấp bách đặt ra cho Chínhphủ các nước đó là tiến hành nghiên cứu để hiểu được bản chất của bất ổn kinh

tế vĩ mô, hiểu được cơ chế tác động của nó đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân,cũng như những hệ quả mà nó đem tới, để từ đó có các biện pháp để chủ độngđối phó với các bất ổn kinh tế vĩ mô luôn rình rập đối với nền kinh tế

Trong chương trình nội dung môn học Tài chính công, nhóm 5 lớp Nhân sự 01 đã tiến hành nghiên cứu vấn đề bất ổn kinh tế vĩ mô như một thấtbại của thị trường trên các khía cạnh cơ bản nhất với hy vọng phần nào có thểnêu lên những vần đề cốt lõi, bản chất nhất thuộc về bất ổn kinh tế vĩ mô, từ đónhóm cũng có những liên hệ với thực tiễn với thực trạng bất ổn kinh tế vĩ môViệt Nam hiện nay, đồng thời đề xuất một số giải pháp căn bản để có thể khắcphục phần nào thực trạng trên

Kh12-Trong quá trình nghiên cứu, nhóm có sự tham khảo các tài liệu, sách, báotrong và ngoài nước với hy vọng mang lại cái nhìn toàn diện nhất cho vấn đề bất

ổn kinh tế vĩ mô, tuy vậy, nhóm cũng không thể tránh khỏi những thiếu xót, hạnchế, chính vì vậy, nhóm rất mong nhận được sự đánh giá khách quan, thẳngthắn của Giảng viên bộ môn, cũng như các bạn đọc quan tâm

do tác động của nó đến sự mong muốn đầu tư Trước đây, hai thước đo thườngđược sử dụng để đo lường ổn định kinh tế vĩ mô là tốc độ tăng trưởng và tỷ lệlạm phát (IFAD, 2010)

Trang 5

Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế thị trườngthường xuyên biến động, sản lượng thực tế luôn dao động lên xuống xungquanh trục sản lượng tiềm năng Thêm vào đó, nền kinh tế ngày càng mở cửa rabên ngoài thì càng chịu ảnh hưởng của các yếu tố biến động của thị trường thếgiới, của các định chế quốc tế, và khoản vay nước ngoài Chính vì vậy, ổn địnhkinh tế vĩ mô ngoài ổn định giá cả và duy trì tăng trưởng còn liên quan đến duy trì

và cải thiện các cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối trong cán cân thanh toánquốc tế (đặc biệt là xuất nhập khẩu), cân đối giữa thu - chi ngân sách nhà nước,cân đối tiết kiệm - đầu tư, kiểm soát tỷ giá, lãi suất… để giảm bớt biên độ giaođộng của chu kỳ kinh doanh

Không có một khái niệm nào chung cho vấn đề bất ổn kinh tế vĩ mô, tuynhiên có thể thấy rằng: Bất ổn kinh tế là một trạng thái của nền kinh tế trong đó

có chứa đựng rất nhiều yếu tố như lạm phát và thất nghiệp tăng cao, thị trườngtài chính sụp đổ, bất động sản đóng băng,… Và trong đó, các chính sách điềutiết nền kinh tế của Nhà nước mà đứng đầu là Chính phủ dường như không pháthuy tác dụng hoặc có nhưng rất hạn chế, chính điều này đã làm cho giá cả hànghóa tăng cao, sức mua trong nền kinh tế giảm sút, sản xuất đình đốn, trì trệ, cácvấn đề xã hội khác cũng từ đó mà phát sinh Có thể thấy bất ổn kinh tế là mộtvấn đề mang tính chất chu kì của nền kinh tế, mà đặc biệt là nền kinh tế TBCN.Tuy vậy, nói như vậy không có nghĩa là nền kinh tế thị trường định hướngXHCN ở nước ta không có bất ổn, mà có chăng nó chỉ ở dưới các hình thái vàmức độ khác nhau mà thôi

Có thể thấy, khủng hoảng kinh tế chính là mức độ cao nhất của bất ổnkinh tế Khủng hoảng kinh tế đề cập đến quá trình tái sản xuất đang bị suy sụptạm thời Thời gian khủng hoảng làm những xung đột giữa các giai tầngtrong xã hội thêm căng thẳng, đồng thời nó tái khởi động một quá trình tích

tụ tư bản mới

2 Nguyên nhân của bất ổn kinh tế.

Bất ổn kinh tế ở cấp độ thế giới và trong nước có thể do nhiều nguyênnhân khác nhau, tuy nhiên có thể nêu ra một số nguyên nhân chính sau đây:

2.1 Nguyên nhân khách quan.

- Sự vận hành mang tính chất chu kỳ của nền kinh tế của mỗi một quốc gia.

Chu kỳ kinh tế, còn gọi là chu kỳ kinh doanh, là sự biến độngcủa GDP thực tế theo trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưngthịnh (bùng nổ) Cũng có quan điểm coi pha phục hồi là thứ yếu nên chu kỳkinh doanh chỉ gồm hai pha chính là suy thoái và hưng thịnh (hay mở rộng)

Có thể thấy, bất ổn kinh tế có thể xuất hiện trong cả ba pha trên của nềnkinh tế, tuy nhiên nó sẽ biểu hiện rõ ràng nhất trong pha suy thoái, khi mà các

Trang 6

dấu hiệu như chỉ số lạm phát, thất nghiệp tăng cao, các chính sách tài khóa, tiền

tệ không phát huy tác dụng…

- Xu hướng Quốc tế hóa, toàn cầu hóa.

Hội nhập kinh tế quốc tế làm cho nền kinh tế các nước trong một khuvực và trên thế giới trở nên phụ thuộc chặt chẽ vào nhau Chính vì lẽ đó, sự suythoái, khủng hoảng kinh tế ở quốc gia, khu vực này cũng có thể gây ảnh hưởngnghiêm trọng, dẫn đến sự khủng hoảng kinh tế hay nhẹ hơn là các dấu hiệu củabất ổn kinh tế ở một quốc gia hay khu vực khác Ví dụ tiêu biểu nhất là cuộckhủng hoảng thị trường cho vay thế chấp nhà đất ở Mỹ năm 2008 đã nhanhchóng lan ra các thị trường tài chính, bất động sản, chứng khoán của nước Mỹ,gây nên cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất lịch sử nước Mỹ mấy chục nămtrở lại đây, tuy nhiên cuộc khủng hoảng này không dừng lại ở đó mà nó nhanhchóng lan ra toàn bộ thế giới và gây nên cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưhiện nay

- Ngoài ra, còn có các nguyên nhân khác ít nhiều gây ảnh hưởng đến bất

ổn kinh tế vĩ mô như gia tăng dân số quá nhanh, các vấn đề mang tính chất quốc tế như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, chống khủng bố, chiến tranh….

2.2 Nguyên nhân chủ quan.

Thứ nhất, các cải cách kinh tế trong mỗi nước đã không theo kịp với sựhội nhập quốc tế Nền kinh tế thiếu một khu vực tư nhân mạnh, một thị trườngtài chính sâu và lành mạnh trong khi thị trường nội địa thiếu tự do hóa

Thứ hai, sai lầm của các Chính phủ trong việc đưa ra các lựa chọn chiến lượcnhằm thích ứng với quá trình hội nhập đã dẫn đến nguồn lực quốc gia bị phân

bổ sai, chủ yếu cho khối doanh nghiệp nhà nước, làm giảm năng suất toàn bộnền kinh tế

Thứ ba, những nỗ lực hội nhập và duy trì tăng trưởng kinh tế trong khi năngsuất nền kinh tế tăng chậm hoặc không tăng đã dẫn đến lạm dụng chính sáchtiền tệ, tài khóa và sau đó là hành chính; và do đó càng làm cho nguồn lực bịphân bổ méo mó

Thứ tư, các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô của Chính phủ như chínhsách tài khóa, chinh sách tiền tề vì nhiều nguyên nhân đã không đem lại hiệuquả như mong muốn

II BIỂU HIỆN CỦA BẤT ỔN KINH TẾ VĨ MÔ.

Bất ổn kinh tế chính là một trạng thái của nền kinh tế mà trong đó cácchính sách tài khóa, tiền tệ của Chính phủ không đem lại tác dụng, dẫn đến cácchỉ số của nền kinh tế như lạm phát, thất nghiệp tăng cao, chính điều này làm

Trang 7

cho sản xuất trì trệ, đình đốn, sức mua của thị trường trong nước giảm, đời sốngcủa người dân gặp nhiều khó khăn….Chính vì vậy có thể thấy, bất ổn kinh tế cóthể biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và mức độ khác nhau như:

- Chỉ số lạm phát tăng cao, có thể lên đến hai hoặc ba con số, ví dụ nhưchỉ số lạm phát năm 2011 của Việt Nam lên tới 18% theo thống kê của Bộ TàiChính

- Tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, cao hơn rất nhiều tỷ lệ thất nghiệp tự nhiêncủa nền kinh tế ( vào khoảng 6% )

- Lãi suất cho vay và lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh

- Thị trường ngoại hối thiếu cạnh tranh, giảm sức hút

- Thị trường bất động sản đóng băng

- Thị trường tài chính sụp đổ

- Thâm hụt ngân sách Quốc gia

Sản xuất trì trệ đình đồn, sức mua trong nước giảm mạnh

-……

Rõ ràng rằng, các biểu hiện của bất ổn kinh tế vĩ mô là hết sức phongphú, khó có thể liệt kê và nhận biết hết được, tuy vậy, khi nghiên cứu kinh tếhọc vĩ mô, người ta thường hay chú ý vào hai biểu hiện chính của bất ổn kinh

tế, đó là lạm phát và thất nghiệp Chính vì vậy, nhóm sẽ tập trung nghiên cứuvào hai vấn đề nêu trên với mục tiêu đưa ra cái nhìn tổng quan nhất về bất ổnkinh tế vĩ mô

tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người

ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu Phạm

vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ thể gây tranh cãi giữa cácnhà kinh tế học vĩ mô Ngược lại với lạm phát là giảm phát Một chỉ số lạm phátbằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự ổn định giá cả

Trong thời gian qua, ở các nước phát triển đã có hai trường phái nghiêncứu về lạm phát phát triển theo những quan điểm khác nhau:

Trang 8

Thứ nhất, học thuyết cơ cấu về lạm phát nói rằng lạm phát xuất hiện doxung đột về phân phối, được báo hiệu bởi những chuyển dịch tăng giá và một hệthống các quy luật hình thành giá làm gia tăng thêm xung đột nêu trên thànhmột làn sóng tăng giá mạnh mẽ thông qua cơ chế lan truyền.

Thứ hai, học thuyết của các nhà tiền tệ cho rằng giá tăng nhiều hay ít mộtphần do tăng mức cung tiền (L.Taylor)

1.1.2 Một số khái niệm liên quan:

-Thước đo lạm phát: là mối quan hệ giữa lạm phát và chỉ số giá Hay nói

cách khác lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cảcủa một lượng lớn các hàng hóa dịch vụ trong một nền kinh tế

-Chỉ số giá cả, bao gồm:

+Chỉ số giá sinh hoạt (CLI): là sự tăng lên trên lí thuyết giá cả sinh hoạt

của một cá nhân so với thu nhập, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đượcgiả định một cách xấp xỉ Các nhà kinh tế học tranh luận với nhau là có haykhông việc một CPI có thể cao hơn hay thấp hơn so với CLI dự tính Điều nàyđược xem như là “sự thiên lệch” trong phạm vi CPI CLI có thể được điều chỉnhbởi cự ngang giá sức mua để phản ánh những khác biệt trong giá cả của đất đaihay các hàng hóa khác trong khu vực (chúng dao động một cách rất lớn từ giá

cả thế giới nói chung)

+Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là chỉ số quan trọng mà một số nước thường

lấy để đo tỉ lệ lạm phát và được xem là để đo lường chi phí liên quan đến rổhàng hóa và dịch vụ cụ thể được người tiêu dùng mua

+Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được

không tính đến giá bổ sung qua đại lí hoặc thuế doanh thu Nó khác với CPI là

sự trợ cấp giá, lợi nhuận và thuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhận được bởicác nhà sản xuất là không bằng với những gì người tiêu dùng đã thanh toán Ởđây cũng có một sự chậm chế điển hình giữa sự tăng trong PPI và bất kì sự tăngphát sinh nào bởi nó trong CPI

+Chỉ số giá hàng hóa bán buôn: Chỉ số giá bán buôn do sự thay đổi trong

giá cả các hàng hóa bán buôn (thông thường là trước khi bán có thuế) một cách

có lựa chọn

+Chỉ số giảm phát (GDP) được coi là chỉ số phản ánh bình quân giá của

tất cả các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước Do vậy, chỉ số này cóthể nói là toàn diện hơn chỉ số giá tiêu dùng CPI vì bao quát hết tất cả các loạihàng hóa và dịch vụ Chỉ số này được dùng để tính giảm phát GDP danh nghĩa

và tính GDP thực

Trên đây là một số phép đo phổ biến của chỉ số lạm phát

-Thiểu phát: trong kinh tế học là lạm phát ở tỉ lệ rất thấp Không nên nhầm lẫn giữa Giảm phát và Thiểu phát Giảm phát là tình trạng mức giá chung

Trang 9

của nền kinh tế giảm xuống liên tục Giảm phát, do đó, trái ngược với lạm phát.Cũng có thể nói giảm phát là lạm phát với tỷ lệ mang giá trị âm.

1.2.Phân loại:

Lạm phát thường được chia làm ba loại:

-Lạm phát chấp nhận được: là lạm phát ở mức dưới một con số (khôngquá 10%)

-Lạm phát cao: là lạm phát hai con số đến khoảng 50% Đây là mức lạmphát báo động gây hậu quả xấu không chỉ cho nền kinh tế mà cả xã hội và đờisống của người dân

-Lạm phát phi mã: là lạm phát cao trên 50% Đây là mức lạm phát phá vỡhoàn toàn mọi cân đối và hệ thống tài chính – tiền tệ rối loạn, kinh tế - xã hội cónhiều biến động xấu

1.3 Nguyên nhân

1.3.1: Lạm phát do cơ cấu.

Theo học thuyết cơ cấu, nguyên nhân của lạm phát là do sự mất cân đối

về cơ cấu kinh tế, mâu thuẫn về phân phối gây ra tăng giá Cơ chế lan truyền đãtạo ra căng thẳng thêm các mâu thuẫn đó và dẫn đến lạm phát tăng Các nhàkinh tế theo trường phái cơ cấu cho rằng lạm phát là tất yếu của nền kinh tế khimuốn tăng trưởng cao nhưng tồn tại nhiều khiếm khuyết, hạn chế và yếu kém.Lạm phát do mất cân đối cơ cấu kinh tế xuất hiện khi có mối quan hệ khôngbình thường trong các cân đối lớn của nền kinh tế như nông nghiệp – côngnghiệp, công nghiệp nặng – công nghiệp nhẹ, sản xuất – dịch vụ, xuất khẩu –nhập khẩu, tích lũy – tiêu dùng Thực tế lạm phát ở các nước Châu Mỹ La – tinhthường gắn liền với sự thay đổi cơ cấu kinh tế trong bối cảnh từ một nước kémphát triển với nền kinh tế hướng nội chuyển sang nền kinh tế hướng ngoại, đẩymạnh xuất khẩu Những thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế - xã hội do tăngtrưởng kinh tế thường dẫn đến giá tăng lên khi cơ cấu thị trường chưa đượchoàn chỉnh, các nguồn vật lực có giới hạn, các quan hệ không được đặt trongmột sự cân đối hợp lí, năng lực sản xuất không được khai thác hết, trạng tháivừa thừa vừa thiếu xuất hiện Cụ thể, tình trạng mất cân đối thường xuất hiện là:

- Mất cân đối giữa cung và cầu lương thực thực phẩm (cung nhỏ hơncầu): là do quá trình đô thị hóa, những người sống ở đô thị có nguồn thu nhậpcao nên làm cho nhu cầu tiêu dùng lương thực thực phẩm tăng lên, nhưng sảnxuất nông nghiệp lại chưa được quan tâm phát triển đúng mức đã làm lượngcung lương thực thực phẩm bị hạn chế, và kết quả làm cho cầu nhiều hơn cungquá mức đã đẩy giá lương thực thực phẩm lên cao

Trang 10

- Ngoại tệ có hạn do nhập nhiều hơn xuất: mất cân đối giữa cung và cầungoại tệ xảy ra đối với những nước nhập khẩu nhiều hơn xuất (thường là nhậpsiêu quá cao) và không có luồng ngoại tệ nào khác ngoài xuất khẩu để có ngoại

tệ nhập khẩu đã dẫn đến cán cân thanh toán quốc tế của những nước này lâmvào tình trạng khó khăn và buộc họ phải phá giá đồng tiền làm cho lạm pháttăng lên

- Ngân sách thâm hụt và bị hạn chế do thu được ít nhưng nhu cầu chi cao:Kinh tế đòi hỏi tăng trưởng nhanh nhưng nguồn vốn trong nước lại hạn chế,trong đó thu ngân sách có hạn mà nhu cầu chi thì cao nên nhiều nước đã pháthạnh tiền cho ngân sách vay để đảm bảo chi và đây là một nguyên nhân dẫn đếnlạm phát

1.3.2: Lạm phát do tiền tệ.

Học thuyết của các nhà tiền tệ cho rằng, lạm phát là một hiện tượng thuầntúy tiền tệ, giá tăng lên ít nhiều là do cung tiền tệ quá mức cầu của nền kinh tế.Với quan điểm này thì lạm phát xuất hiện khi có một khối lượng tiền bơm vàolưu thông lớn hơn khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông của thị trường Điềunày biểu hiện ở chỗ đồng tiền nội địa mất giá Người dân không muốn gửi tiềnvào hệ thống Ngân hàng vì nguyên tắc lãi suất dương thường bị vi phạm khôngbảo đảm được giá trị đồng tiền, đồng thời người dân cũng không muốn giữ tiền

vì như vậy đồng tiền sẽ mất giá trị càng nhanh, họ chỉ còn cách là mua hàng hoatích trữ hoặc là mua ngoại tệ mạnh Kết quả là hệ thống Ngân hàng đã thiếu tiềncàng thiếu hơn nên phải phát hành thêm tiền để chi tiêu hoặc đưa vàng cất giữ

ra thị trường mong bảo tồn giá trị đồng tiền họ có Bên cạnh đó, một số quốc giabơm tiền ra để đáp ứng nhu cầu tăng chi tiêu dùng của Chính phủ và xã hội Do

đó ngoài thị trường thì cung tiền tệ vượt quá mức cầu tiền tệ, và khan hiếm hànghóa tăng lên kết quả lạm phát ngày một tăng cao

1.3.3: Lạm phát do cầu kéo.

Lạm phát do cầu kéo thực chất là do sự mất cân đối giữa tổng cung vàtổng cầu hàng hóa và dịch vụ Khi tổng cầu hàng hóa và dịch vụ có khả năngthanh toán lớn hơn tổng cung hàng hóa và dịch vụ đã đẩy giá tăng lên để thiếtlập một sự cân bằng mới trên thị trường, trong đó tổng cung bằng tổng cầu Lạmphát phụ thuộc vào sự co giãn của giá cung hàng hóa và dịch vụ Cung hàng hóa

và dịch vụ có thể tăng nhanh do tăng giá một chút nếu độ co giãn của giá lớn.Một mặt, nếu các cơ sở sản xuất đang hoạt động thấp hơn công suất hiện có vàcòn nhiều công suất sản xuất chưa được sử dụng thì cung hàng hóa sẽ tăng nhờtác động tăng cầu hàng hóa và có thể không gây lạm phát Mặt khác, nếu có sẵnngoại tệ thì nhập khẩu hàng hóa sẽ tăng lên khi tổng cầu hàng hóa tăng, do vậycũng có thể không tạo ra tăng giá và cũng sẽ không gây ra lạm phát

Như phân tích ở trên cho thấy, lạm phát do tổng cầu tăng lên chỉ trongtrường hợp nguồn ngoại tệ để nhập khẩu bị hạn chế, các năng lực sản xuất đã

Trang 11

huy động hết làm cho tổng cung không thể nào tăng lên để cân bằng được vớitổng cầu ở mức giá cố định, buộc giá cả phải tăng lên để tạo cân bằng mới caohơn, tức là lạm phát đã xuất hiện.

1.3.4: Lạm phát do chi phí đẩy

Lạm phát do chi phí đẩy xảy ra khi có tác động của các yếu tố bên ngoàitác động vào không gắn với tình hình tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế.Như chúng ta đều biết, ở hầu hết các nước đang phát triển thường phải nhập mộtlượng lớn nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất trong nước, nếu giá của các loạinguyên vật liệu này trên thị trường thế giới tăng lên làm cho chi phí sản xuất cácsản phẩm sẽ tăng lên, lạm phát xuất hiện khi giá nguyên vật liệu tăng, tiền côngtăng lên cao hơn năng suất lao động bình quân, chi phí khấu hao lớn, máy mócthiết bị lạc hậu tiêu tốn nhiều nhiên, nguyên liệu Và để bảo tồn sự tồn tại củacác cơ sở sản xuất trên cơ sở đảm bảo sản xuất có lãi và bù đắp được chi phí bắtbuộc các nhà sản xuất phải đưa giá bán trên thị trường trong nước tăng lên theo(trường hợp này xảy ra ở các nước đang phát triển khi sản xuất đang ở dạng độcquyền hoặc bán độc quyền, các quy luật thị trường chưa được phát huy hết).Đây là tình trạng khi chi phí sản xuất tăng lên quá mức trung bình mà nền kinh

tế có thể chịu đựng được đã đẩy giá tăng lên Đặc điểm của loại lạm phát nàythường diễn ra trong điều kiện nền sản xuất chưa đạt tới mức giá trị sản lượngtiềm năng so với năng lực hiện tại, nghĩa là hiệu quả sản xuất thấp

1.3.5: Lạm phát đẻ ra lạm phát.

Khi nhận thấy có lạm phát, cá nhân với dự tính duy lí sẽ cho rằng tới đâygiá cả hàng hóa sẽ còn tăng, nên đẩy mạnh tiêu dùng hiện tại Tổng cầu trở nêncao hơn tổng cung, gây ra lạm phát

1.4 Hậu quả của lạm phát.

-Trên phương diện lí thuyết, nếu lạm phát ở mức độ có thể tiên đoán được

thì có thể tránh được mọi hậu quả xấu có thể xảy ra Còn nếu lạm phát khôngthể tiên đoán được thì hậu quả sẽ là ghê gớm và khó có thể lường trước được.Điều này biểu hiện ở chỗ:

- Lạm phát cao sẽ kìm hãm tăng trưởng kinh tế: Khi lạm phát xảy ra nó sẽlàm lệch lạc cơ cấu giá cả, kéo theo là nguồn tài nguyên, vốn và nguồn nhân lựckhông được phân bố một cách có hiệu quả, kết quả là làm cho tăng trưởng chậmlại

- Tính không chắc chắn của lạm phát là kẻ thù của tăng trưởng và đầu tưdài hạn: nếu các nhà đầu tư không biết chắc chắn hoặc không thể dự đoán đượcmức giá cả trong tương lai, kéo theo là không thể biết được lãi suất thực thìkhông ai trong số họ dám liều lĩnh đầu tư, nhất là đầu tư vào các dự án dài hạn,mặc dù có thể các điều kiện đầu tư khác là khá ưu đãi và hấp dẫn Tính khôngchắc chắn của mức độ lạm phát sẽ đẩy lãi suất thực lên cao bởi chủ nợ muốn có

Trang 12

sự bảo đảm cho mức rủi ro lớn Mức lãi suất thực cao này sẽ kìm hãm đầu tư vàlàm chậm tốc độ tăng trưởng.

- Lạm phát cao khuyến khích người dân quan tâm đến lợi ích trước mắt.Khi có lạm phát cao xảy ra ở một nước, thay cho việc kí thác trong ngân hàng

để hưởng lãi suất hay đầu tư vào khu vực sản xuất kinh doanh hòng tìm kiếm lợinhuận, dân chúng có thể đổ xô đi mua hàng dự trữ vì kì vọng giá hàng hóa còntăng nữa Điều này vô hình dung làm tăng cầu hàng hóa một cách giả tạo và dovậy càng làm cho lạm phát có nguy cơ bùng nổ đến mức độ cao hơn

-Lam phát cao ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ hoạt động kinh tế xã hộicủa quốc gia Chính phủ các nước đã từng trải qua lạm phát cao (Indonesia năm

1967, Anh năm 1979…) đều cho rằng không kiểm soát được lạm phát là điềuđáng sợ nhất Toàn bộ hoạt động kinh tế bị méo mó, biến dạng nghiêm trọng,gây tâm lí xã hội phức tạp và làm lãng phí ghê gớm trong sản xuất Đặc biệt khilạm phát cao xảy ra, sức mua đối nội của đồng tiền giảm sút, lòng tin của dânchúng cũng như các nhà đầu tư

1.5 Ví dụ thực tế (tình hình lạm phát ở việt nam 2014).

Cục Quản lý giá nhận định, năm 2014 vẫn tiềm ẩn nhiều khả năng lạmphát tăng cao do tác động theo độ trễ của những chính sách tháo gỡ khó khănsản xuất kinh doanh năm 2013, cùng với đó là tình hình thiên tai, bão lũ, dịchbệnh trên cây trồng vật nuôi

Nhận định này được đưa ra tại hội thảo “Diễn biến giá cả, thị trường ởViệt Nam năm 2013 và dự báo 2014” do Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) phốihợp với Viện Kinh tế Tài chính (Bộ Tài chính) tổ chức ngày 30/12

Theo Tiến sỹ Vũ Đình Ánh, sang năm 2014, diễn biến thị trường giá cảmột mặt vẫn chịu sự tác động bởi các chính sách quản lý thị trường giá cảtruyền thống cũng như xu thế tăng chậm của tổng cầu đầu tư và tiêu dùng

Mặt khác, lại chịu sự ảnh hưởng của các chính sách nới lỏng tài khóa nhưtăng thâm hụt ngân sách nhà nước lên 5,3% GDP, đồng thời phát hành thêm170.000 tỷ đồng trái phiếu đầu tư giai đoạn 2011-2015

Thêm vào đó, nỗ lực tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ thịtrường và cố gắng thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể buộc dòng tiền vậnđộng nhanh hơn với quy mô lớn hơn khiến áp lực lạm phát tăng lên

Đồng quan điểm này, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cũng cho rằngtrong năm 2014, những khó khăn thách thức của nền kinh tế về cơ bản vẫn còn,kinh tế thế giới dự báo vẫn còn nhiều khó khăn

Mặc dù chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đang trong tầm kiểm soát, sức mua yếunhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ tăng giá

Trang 13

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số CPI tháng 12/2013 tăng0,51% so với tháng 11/2013; tăng 6,04% so với tháng 12/2012 và chỉ số CPIbình quân năm 2013 tăng 6,6% so với năm 2012.

Đây là mức tăng thấp nhất ở Việt Nam trong 10 năm qua (2004-2013).Diễn giả Phạm Minh Thụy, Viện kinh tế-Tài chính (Bộ Tài chính) nhậnđịnh, diễn biến giá cả trong năm 2013 cho thấy CPI đã phá vỡ xu hướng biếnđộng giá có tính quy luật là “hai năm nhanh, một năm chậm” đã hình thành ởnước ta trong chín năm trước đó (2004-2012)

Điều này thể hiện sự điều hành, can thiệp của Chính phủ vào thị trường,giá cả ở Việt Nam đã chủ động, có liều lượng và bài bản hơn

“Do vậy giá cả không còn bị ‘nhảy múa’ giữa hai thái cực (tăng nhanh rồilại chậm, rồi lại nhanh như chín năm trước đó)”, ông Phạm Minh Thụy khẳngđịnh

Diễn giả Phạm Minh Thụy cũng nhấn mạnh, diễn biến giá cả khá ổn địnhcủa năm 2013 cho thấy đây là “cơ hội tốt” để Chính phủ thực hiện điều chỉnhgiá các mặt hàng này theo cơ chế thị trường mà vẫn đạt được mục tiêu kiềm chếlạm phát đã đề ra

Tuy nhiên, việc điều chỉnh giá của từng mặt hàng cụ thể cần được cânnhắc liều, lượng và phân phối một cách hợp lý để tránh tạo ra những cú sốc trênthị trường và tác động xấu tới đời sống người dân

Ngoài ra, giá nhiều loại nguyên, nhiên vật liệu (xăng dầu, phân bón, phôithép…) trên thị trường thế giới biến động phức tạp, vì vậy, giá các mặt hàngnày ở Việt Nam sẽ biến động theo hướng đó

1.6 Biện pháp.

- Để chống lạm phát không thể áp dụng đơn lẻ giải pháp nào mà phải có

một hệ thống các nhóm giải pháp thì mới mong thành công Các nhóm giải phápnày phải đi từ đẩy mạnh sản xuất đến các giải pháp phát triển lưu thông hànghóa, các giải pháp chống đầu cơ lũng loạn thị trường, các giải pháp đẩy mạnhxuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, tiếp đó là các giải pháp về ngân sách nhà nước,chi tiêu phải hiệu quả, đúng việc và tiết kiệm, không để bội chi ngân sách nhànước quá cao và bù đắp thâm hụt không thể từ phát hành tiền

- Nhóm giải pháp về tiền tệ phải được chú ý đặc biệt ở mọi phương diện

từ tốc độ tăng tổng phương diện thanh toán, huy động vốn đến hạn mức tíndụng, tốc độ tăng dư nợ tín dụng, xem xét mức độ tiền tệ hóa qua hệ số nở tiền,xem xét sự ngưng trệ hay linh hoạt của đồng tiền qua vòng quay tiền tệ Phải ápdụng chính sách lãi suất thực dương nhưng không quá cao mà phải ở mức hợp lí(tỷ lệ lãi suất dương chia cho lạm phát bằng khoảng 20%) Chính sách tỉ giáphải linh hoạt nhưng không biến động lớn, bảo đảm đẩy mạnh xuất khẩu, hạn

Trang 14

chế nhập khẩu và không làm cho đồng tiền mất giá hoặc lên giá quá mức Giảipháp về đầu tư cũng rất quan trọng: đầu tư không được dàn trải, không đượcquá mức có thể của nền kinh tế Đồng thời phải cắt giảm các công trình quá lớnđem lại hiệu quả thấp và thời gian thi công kéo dài làm thất thoát vốn lớn.

- Nhóm giải pháp điều hành và nhóm giải pháp khắc phục bất cập về cơcấu và yếu kém về hành chính cũng cần đặc biệt chú ý Bằng các giải pháp này

sẽ làm cho các giải pháp khác trở nên có hiệu lực và hiệu quả

- Chống lạm phát nhưng không quên nhiệm vụ đẩy nhanh phát triển kinh

tế, bảo đảm nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Chống lạm phát đếnmột mức nào đó có thể làm cho tăng trưởng kinh tế chậm lại Nhưng để nềnkinh tế không tụt hậu so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới đòihỏi phải đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và nguyên tắc bất di bất dịch.Như vậy, cần xử lí hài hòa hai mục tiêu không cùng hướng này

Ở Pháp người ta cho rằng: Thất nghiệp là không có việc làm, có điều kiệnlàm việc, đang đi tìm việc làm

Thái Lan, định nghĩa về thất nghiệp khẳng định: “Thất nghiệp là không

có việc làm, muốn làm việc có năng lực làm việc”

Trung Quốc định nghĩa về thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp là ngườitrong độ tuổi lao động (dân thành thị) có khả năng lao động, chưa có việc làm,đang đi tìm việc làm, đăng kí tại cơ quan giải quyết việc làm”

Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Thất nghiệp là tình trạng tồn tạimột số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìmđược việc làm ở mức lương thịnh hành”

Các định nghĩa tuy có khác nhau về mức độ, giới hạn( tuổi, thời gian mấtviệc) nhưng đều thống nhất người thất nghiệp ít nhất phải có 3 đặc trưng:

 Có khả năng lao động

 Đang không có việc làm

 Đang đi tìm việc làm

Trang 15

Ở Việt Nam, thất nghiệp là vấn đề mới nảy sinh trong thời kì chuyển đổinền kinh tế cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường Vì vậy tuychưa có văn bản pháp quy về thất nghiệp cũng như các vấn đề có liên quan đếnthất nghiệp nhưng có nhiều công trình nghiên cứu nhất định Những công trìnhnghiên cứu bước đầu khẳng định thất nghiệp là những người không có việc làm,đang đi tìm việc và sẵn sàng làm việc

Định nghĩa thất nghiệp ở Việt Nam: “Thất nghiệp là những người trong

độ tuổi lao động , có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không cóviệc làm, đang đi tìm việc làm”

2.1.2: Các khái niệm có liên quan:

- Số người thất nghiệp: là những người từ 15 tuổi trở lên mà trong tuần

tham chiếu đã hội đủ các yếu tố sau đây

(1) Không làm việc nhưng sẵn sàng và mong muốn có việc làm; và (2) Đang đi tìm việc làm có thu nhập, kể cả những người trước đó chưa bao giờlàm việc

-Tỉ lệ thất nghiệp: là chỉ tiêu biểu hiện tỷ lệ so sánh số người thất nghiệp

với lực lượng lao động (tổng dân số hoạt động kinh tế) trong kỳ

Tử số: Không tính những người không cố gắng tìm việc

Mẫu số: Tổng số lao động xã hội = Số người có việc làm + sốngười không có việc làm nhưng tích cực tìm việc

Do đặc trưng của nền kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp của nước ta thường đượctính cho khu vực thành thị theo công thức sau:

Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị (%) = {(Số người thất nghiệp khu vựcthành thị)/( Dân số hoạt động kinh tế (LLLĐ) khu vực thành thị)} x 100

2.2 Phân loại:

Thất nghiệp là một hiện tượng phức tạp cần phải được phân loại để hiểu

rõ về nó Căn cứ vào từng chỉ tiêu đánh giá, ta có thể chia thất nghiệp thành cácloại sau:

Trang 16

2.2.1: Phân theo đặc trưng của người thất nghiệp:

Thất nghiệp là một gánh nặng, nhưng gánh nặng đó rơi vào đâu, bộ phậndân cư nào, ngành nghề nào… Cần biết được điều đó để hiểu được đặc điểm,tính chất, mức độ tác hại… của thất nghiệp trong thực tế Với mục đích đó cóthể dùng những tiêu thức phân loại dưới đây:

- Thất nghiệp chia theo giới tính

- Thất nghiệp chia theo vùng, lãnh thổ

- Thất nghiệp chia theo lứa tuổi

- Thất nghiệp chia theo nghành nghề

- Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc

2.2.2: Phân loại theo lí do thất nghiệp:

-Thất nghiệp tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở một mức tiền công nào

đó người lao động không muốn làm việc hoặc vì lý do cá nhân nào đó (dichuyển, sinh con…) Thất nghiệp loại này thường là tạm thời

-Thất nghiệp không tự nguyện: là thất nghiệp mà ở mức tiền công nào đó

người lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy thoái,cung lớn hơn cầu về lao động…

-Thất nghiệp trá hình (còn gọi là hiện tượng khiếm dụng lao động) là

hiện tượng xuất hiện khi người lao động được sử dụng dưới mức khả năng màbình thường người lao động sẵn sàng làm việc Hiện tượng này xảy ra khi năngsuất lao động của một ngành nào đó thấp, thất nghiệp loại này thường gắn vớiviệc sử dụng không hết thời gian lao động

Kết cục của những người thất nghiệp không phải là vĩnh viễn Có nhữngngười (bỏ việc, mất việc…) sau một thời gian nào đó sẽ được trở lại làm việc.Nhưng cũng có một số người không có khả năng đó và họ phải ra khỏi lựclượng lao động do không có điều kiện bản thân phù hợp với yêu cầu của thịtrường lao động hoặc do mất khả năng hứng thú làm việc (hay còn có thể cónhững nguyên nhân khác)

Như vậy, con số thất nghiệp là con số mang tính thời điểm Nó luôn biến độngtheo thời gian Thất nghiệp xuất phát từ nhu cầu cần việc làm, có việc rồi lạimất việc, từ không thất nghiệp trở lên thất nghiệp rồi ra khỏi trạng thái đó Vìthế việc nghiên cứu dòng lưu chuyển thất nghiệp là rất có ý nghĩa

2.2.3: Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp:

-Thất nghiệp tạm thời : là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển

không ngừng của người lao động giữa các vùng, các loại công việc hoặc giữacác giai đoạn khác nhau của cuộc sống Thậm chí trong một nền kinh tế có đủviệc làm vẫn luôn có sự chuyển động nào đó như một số người tìm việc làm saukhi tốt nghiệp hoặc di chuyển chỗ ở từ nơi này sang nơi khác; phụ nữ có thểquay lại lực lượng lao động sau khi sinh con…

Trang 17

-Thất nghiệp có tính cơ cấu: Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung- cầu

lao động (giữa các ngành nghề, khu vực…) Loại này gắn liền với sự biến động

cơ cấu kinh tế và gây ra do sự suy thoái của một ngành nào đó hoặc là sự thayđổi công nghệ dẫn đến đòi hỏi lao động có chất lượng cao hơn, ai không đápứng được sẽ bị sa thải Chính vì vậy, thất nghiệp loại này còn gọi là thất nghiệpcông nghệ

-Thất nghiệp do thiếu cầu: Loại thất nghiệp này xảy ra khi mức cầu

chung về lao động giảm xuống Nguồn gốc chính là sự suy giảm tổng cầu Loạinày còn được gọi là thất nghiệp chu kỳ bởi ở các nền kinh tế thị trường nó gắnliền với thời kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh Dấu hiệu chứng tỏ sự xuấthiện của loại này là tình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan ở khắp mọi nơi, mọingành nghề

-Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường: Loại thất nghiệp này còn được

gọi theo lý thuyết cổ điển Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi cáclực lượng thị trường và cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường laođộng Vì tiền lương không chỉ quan hệ đến sự phân phối thu nhập gắn với kếtquả lao động mà còn quan hệ đến mức sống tối thiểu nên nhiều quốc gia (Chínhphủ hoặc công đoàn) có quy định cứng nhắc về mức lương tối thiểu, sự khônglinh hoạt của tiền lương (ngược với sự năng động của thị trường lao động), dẫnđến một bộ phận mất việc làm hoặc khó tìm việc làm

Tóm lại, thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu xảy ra trong một bộphận riêng biệt của thị trường lao động (có thể diễn ra ngay cả khi thị trường laođộng đang cân bằng) Thất nghiệp do thiếu cầu xảy ra khi nền kinh tế đi xuống,toàn bộ thị trường lao động bị mất cân bằng Còn thất nghiệp theo lý thuyết cổđiển do các yếu tố xã hội, chính trị tác động Sự phân biệt đó là then chốt đểnắm bắt tình hình chung của thị trường lao động

2.3 Nguyên nhân của thất nghiệp:

2.3.1: Nguyên nhân chung:

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp nhưng chủ yếu

do những nguyên nhân sau:

-Do chu kỳ sản xuất thay đổi: Theo chu kỳ phát triển kinh tế, sau hưng

thịnh đến suy thoái, khủng hoảng Ở thời kỳ được mở rộng, nguồn nhân lực xãhội được huy động vào sản xuất, nhu cầu về sức lao động tăng nhanh nên thuhút nhiều lao động Ngược lại thời kì suy thoái sản xuất đình trệ, cầu về laođộng giảm không những không tuyển thêm lao động mà còn một số lao động bịdôi dư gây nên tình trạng thất nghiệp Theo kinh nghiệm của các nhà kinh tế nếunăng lực sản xuất xã hội giảm 1% so với khả năng, thất nghiệp sẽ tăng lên 2%

-Do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật: Đặc biệt quá trình tự động hoá quá

trình sản xuất Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, tự động hoá quá trình sản xuất

sẽ tiết kiệm được chi phí, năng suất lao động tăng cao, chất lượng sản phẩm tốt

Trang 18

hơn, giá thành lại rẻ làm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm Chính vì thế,các nhà sản xuất luôn tìm cách đổi mới công nghệ, sử dụng những dây chuyền

tự động vào sản xuất máy móc được sử dụng nhiều, lao động sẽ dôi dư Số laođộng này sẽ bổ sung vào đội quân thất nghiệp Sự tiến bộ khoa học kỹ thuậtđồng nghĩa với việc thay thế sức người bằng máy móc thiết bị giúp giảm thiểu

số lượng người làm việc đồng thời tăng năng suất lao động, cũng chính vì vậy

mà lượng người sẽ bị cắt giảm đi, đồng thời tiến bộ khoa học kỹ thuật đòi hỏingười lao động cần có trình độ cao hơn, những người có trình độ thấp sẽ bị loạikhỏi nơi làm việc và số lượng người đó sẽ góp phần tăng tỉ lệ thất nghiệp

2.3.2: Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam:

Giống như các quốc gia khác trên thế giới, VN cũng đang phải đươngđầu với vấn đề thiếu việc làm Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, các doanhnghiệp buộc phải thu hẹp quy mô sản xuất và cắt giảm nhân công khiến cho sốngười thất nghiệp không ngừng gia tăng Tỉ lệ thất nghiệp ở nước ta đã tăng từ2,22% trong năm 2011 lên 2,29% trong 6 tháng đầu năm 2012 Chính vì vậy,việc làm và thất nghiệp đã và đang là vần đề xã hội cấp thiết đối với nước ta.Thực tế ở VN, thất nghiệp xuất hiện chủ yếu là do một số nguyên nhân sau:

-Mất cân đối giữa đào tạo và nhu cầu thực tế

Hiện nay, sinh viên tốt nghiệp đại học không dễ gì kiếm được một côngviệc phù hợp Tỉ lệ cử nhân thất nghiệp còn ở mức khá cao Rất nhiều sinh viên

ra trường làm việc trái ngành nghề mình được đào tạo Trong khi đó, việc cácdoanh nghiệp phải đào tạo lại nhân lực là khá phổ biến Theo kết quả của cuộckhảo sát việc làm trên gần 3.000 sinh viên do trường Đại học KHXH-NV và dự

án Nghiên cứu chính sách hợp tác với Quỹ Rosa - Luxembourg của Đức tiếnhành, có đến 42% sinh viên không đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng, 27 %không kiếm được việc làm do ngành học không đáp ứng được yêu cầu của thịtrường và có đến18 % số sinh viên được hỏi cho biết họ bị từ chối là do nhàtuyển dụng không biết ngành học của họ là gì Có thể thấy, các cử nhân hiệnnay đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm cho mình một công việc phùhợp với nhu cầu và ngành nghề đào tạo của mình

Còn đối với những người đã kiếm được việc làm thì hiện tượng “nhảyviệc” cũng không hiếm Ngoài lý do để có được cơ hội thăng tiến cao hơn vàmôi trường làm việc phù hợp hơn thì rất nhiều nhân viên quyết định bỏ việc và

đi tìm một công việc khác là do thu nhập không đáp ứng được nhu cầu sống

-Do chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế.

Để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế, ngày càng có nhiều khu côngnghiệp, khu đô thị mọc lên và đi kèm với đó là diện tích đất dành cho nôngnghiệp ngày càng co lại Thiếu kiến thức, thiếu chuyên môn trong khi ruộng đấtcanh tác lại bị thu hẹp khiến cho đời sống người nông dân gặp nhiều khó khăn,buộc họ phải rời làng quê để gia nhập đội quân thất nghiệp ở các thành phố lớn,tìm kiếm việc làm mưu sinh Chính vì vậy, giải quyết việc làm cho người dân bị

Trang 19

thu hồi đất đã và đang là một vấn đề cần được các cấp chính quyền lưu tâm xemxét.

-Do tái cơ cấu hoạt động sản xuất kinh doanh ở một số doanh nghiệp.

Sai lầm trong chiến lược kinh doanh sẽ đẩy các doanh nghiệp vào tìnhtrạng khó khăn, thua lỗ, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn nhưhiện nay Và tái cấu trúc có lẽ là phương án đầu tiên mà người ta nghĩ đến nhằmđưa công ty thoát khỏi tình trạng nợ nần chồng chất Tuy nhiên, tái cơ cấudoanh nghiệp lại là một trong những nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp Trườnghợp của tập đoàn taxi Mai Linh là một ví dụ Sai lầm trong chiến lược kinhdoanh và cấu trúc hoạt động đã đẩy tập đoàn này vào tình trạng thua lỗ, nợ các

cá nhân lên đến 500 triệu đồng Và để có thể thanh toán khoản tiền này, tậpđoàn Mai Linh dự kiến phải bán 3.000 xe taxi Điều này đồng nghĩa với việchơn 6.000 lao động sẽ thất nghiệp

Theo thống kê của Trung tâm giới thiệu việc làm (TTGTVL) Hà Nội chothấy, lượng người thất nghiệp ở Hà Nội đã tăng lên mạnh mẽ trong năm 2011 và

có nhiều dấu hiệu tăng nhanh trong tháng đầu của năm 2012 Năm 2010, sốngười đăng ký thất nghiệp là 4.192, sang năm 2011, con số này đã là 16.100người và tháng 1 năm 2012, đã có 1.467 người đăng ký BHTN

Theo những số liệu từ BHTN của Trung tâm GTVL Hà Nội thì số lượnglao động đăng ký BHTN trong tháng 1/2012 đã lên đến con số 1.467 người.Trong đó, theo thống kê cụ thể, công ty TNHH có số lượng lao động thất nghiệpđăng ký nhiều nhất lên tới 781 người; công ty cổ phần 529 người và các công tykhác là 151 người Lượng người thất nghiệp tăng cao đã làm cho chi phí trợ cấpthất nghiệp tăng lên chóng mặt đến mức 7,665 tỷ đồng

2.4 Biểu hiện thực tế:

- Thiếu việc làm: Đây là vấn đề đáng quan tâm nhất ở Việt Nam

+ Năm 2011 cả nước có 3,1 triệu lao động đang làm việc dưới 35giờ/tuần, chiếm 6,1% tổng số lao động có việc làm Trên 2/3 số lao động nàyđang làm việc ở khu vực nông thôn nên tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn

là 7%, cao hơn rất nhiều so với khu vực thành thị (3,8%), cho thấy yêu cầu tạothêm việc làm và tiếp tục chuyển dịch cơ cấu lao động tại nông thôn, nhất làviệc làm phi nông nghiệp là rất cấp bách

+ Trong nhóm ngành nông nghiệp, tỷ lệ thiếu việc làm chiếm 69,8%,nhóm lao động tự làm và lao động gia đình không hưởng lương, thuộc nhómviệc làm không bền vững với thu nhập thấp không ổn định và điều kiện laođộng không đảm bảo chiếm 71,8% Và đây cũng là nhóm ngành có tỷ lệ thiếuviệc làm cao nhất

+ Theo đánh giá của báo cáo Tổng kết, trong 5 năm sau khi gia nhậpWTO, cơ cấu GDP chuyển dịch không rõ nét và không theo xu hướng từ nông –lâm – thủy sản (NLTS) sang công nghiệp xây dựng (CNXD) và dịch vụ như đã

Trang 20

đặt ra trong Kế hoạch 2006-2010 Đến năm 2011, tỷ trọng khu vực NLTS tăng1,7 điểm phần trăm so với năm 2007, trong khi đó hai khu vực CNXD và dịch

vụ đều giảm xuống tương ứng là 1,2 điểm phần trăm và 0,5 điểm phần trăm.Chỉ tiêu kế hoạch NLTS chiếm 15-16% GDP, CNXD 43-44% và dịch vụ 40-41% vào năm 2010 đã không đạt được Nguyên nhân của việc chuyển dịch cơcấu kinh tế không như mong muốn chủ yếu là do hai ngành CNXD và dịch vụtăng trưởng thấp hơn kế hoạch

-Thất nghiệp tiếp tục tăng: Trong khi đang có nhiều dấu hiệu cho thấy thị

trường lao động đang ấm dần lên tại các thành phố lớn thì về tổng thể, số lượngngười thất nghiệp chung và thiếu việc làm vẫn có xu hướng gia tăng

+ Trong năm 2011, ước tính cả nước có 1,393 triệu người thất nghiệp,

tăng hơn 362 nghìn người so với cuối năm 2006 Tỷ lệ thất nghiệp thành thị tuygiảm đều, từ 5,1% xuống còn khoảng là 4,1% năm 2011, nhưng vẫn cao hơn ởnông thôn Xu hướng này có thể bị phá vỡ do tác động cộng hưởng của suygiảm kinh tế và một phần biểu hiện lạm dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp

+ Những vùng kinh tế phát triển hơn như Đông Nam bộ thường có tỷ lệthất nghiệp cao hơn Thất nghiệp vẫn là vấn đề chủ yếu đối với thanh niên Một

bộ phận đáng kể lao động có chuyên môn kỹ thuật bị thất nghiệp Ở mức độnhất định, điều này phản ánh sự bất cập của hệ thống giáo dục trong việc đápứng nhu cầu của thị trường lao động

+ Trong quý 1, số lao động đăng ký thất nghiệp đang có xu hướng chữnglại ở nhiều tỉnh, thành phố Hà Nội có 4.221 người đăng ký thất nghiệp,TP.HCM có 16.200 người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp…

+ Ở một số lĩnh vực sử dụng nhiều lao động, thực tế chưa có gì sáng sủa.Tại hội nghị tổng kết công đoàn tổng công ty Vinaconex mới tổ chức, côngđoàn tổng công ty này thông báo, số lao động của tổng công ty đã giảm 10%trong năm qua tương đương gần 1.700 người Tình trạng nợ lương vẫn đangdiễn ra ở nhiều công ty con Theo tổng cục thống kê, nhiều ngành có lượnghàng tồn kho tăng cao như sản xuất xe và động cơ, giường tủ bàn ghế, hoá chất

và sản phẩm hoá chất, thuốc hoá dược và dược liệu… cho thấy nhu cầu sử dụnglao động sẽ giảm ở những ngành này

2.5 Giải pháp khắc phục đối với tình trạng thất nghiệp.

Thời gian qua, trước nguy cơ thất nghiệp gia tăng làm nảy sinh tình trạngbất ổn xã hội, chính phủ các nước đã liên tiếp đưa ra các giải pháp khác nhau đểgiải quyết việc làm và trợ cấp xã hội cho người lao động

Trang 21

2.5.1: Trên thế giới:

-Tại Trung Quốc, chính phủ nước này hy vọng chương trình kích thích trị

giá gần 600 tỷ USD với mức đầu tư lớn vào hạ tầng cơ sở có thể giúp tạo hàngtriệu việc làm mới Chính phủ Trung Quốc coi bình ổn thị trường việc làm làmục tiêu ưu tiên trong thời gian tới vì thất nghiệp tăng đang đe dọa gây ra cácvấn đề xã hội Chính phủ đã công bố một loạt biện pháp nhằm ngăn chặn thấtnghiệp và hỗ trợ những người mất việc làm, đặc biệt là đối với số lao động nôngthôn ra thành phố Trong đó có việc cung cấp thông tin về việc làm cho số laođộng này và đào tạo bỏ sung cho những người về quê tìm việc Hơn nữa, mỗinăm ở Trung Quốc sẽ có thêm từ 6 đến 7 triệu sinh viên mới tốt nghiệp tham gialực lượng lao động Trước tình hình này chính phủ đề nghị trả toàn bộ học phícho những sinh viên mới ra trường nếu họ chấp nhận làm việc vùng nông thôn

-Tại Nhật Bản, Chính phủ cũng dành việc làm ở nông thôn cho giới trẻ

thất nghiệp, coi đó là cách tạo dựng một thế hệ nông gia mới

-Tại Thái Lan, Chính phủ cam kết thưởng lớn hơn cho nông gia trong

khuôn khổ chương trình kích thích kinh tế đem lại niềm hy vọng cho hàngnghìn người thất nghiệp

-Tại Pháp, Chính phủ đã công bố kế hoạch phục hồi kinh tế trị giá 26 tỷ

Euro, trong đó có các gói giải pháp hỗ trợ đầu tư, tạo công ăn việc làm và hạnchế những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đối với kinh tếtrong nước

-Tại Mỹ, việc kiềm chế số người thất nghiệp tăng dần hàng tháng được

coi là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của chính quyền Tổng thống Obama Ngày17/2/2009, ông Obama đã ký ban hành luật tái đầu tư và khôi phục nước Mỹ,với trị giá 787 tỷ USD Gói kích thích này sẽ tạo ra và bảo vệ 3,5 triệu việc làmtrong 2 năm tới, với 90% việc làm trong khu vực tư nhân

về nhu cầu lao động trong ngắn hạn và dài hạn của nền kinh tế nói chung và mỗingành nghề nói riêng để các học sinh, sinh viên có lựa chọn phù hợp Ngược lại,sinh viên cũng phải xác định một mục tiêu rõ ràng cho tương lai, hoạch địnhcho bản thân một kế hoạch học tập cụ thể để có thể tích lũy được những kiếnthức, kỹ năng cần thiết Đồng thời, giới trẻ nên có một cái nhìn nghiêm túc vềviệc chọn ngành nghề học sao cho phù hợp với đam mê và khả năng của mình,

Trang 22

không nên chạy theo số đông, dễ gây ra tình trạng thừa lao động, thiếu việc làmsau khi tốt nghiệp Trong thực tế hiện nay cũng có nhiều câu chuyện "dở khóc,

dở cười" khi nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp với tấm bằng loại giỏi nhưngvẫn không xin được việc Nguyên nhân do ngành học không đáp ứng nhu cầutuyển dụng của doanh nghiệp, hoặc thiếu nhiều kỹ năng trong nghề nghiệp Vìthế nhiều chuyên gia trong và ngoài nước cho rằng hệ thống giáo dục Việt Namcần gắn kết các trường học với các doanh nghiệp Nhằm đào tạo đúng với nhưcầu doanh nghiệp, tránh tình trạng thất nghiệp diễn ra hiện nay

-Đối với những dự án xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị… phải thuhồi đất canh tác, chính quyền các địa phương nên tạo cơ hội tìm kiếm việc làmcho họ thông qua các hoạt động dạy nghề, đào tạo nhân lực Nhờ đó mà nôngdân có thể có được một công việc khác, tạo nguồn thu nhập cho bản thân và giađình, ví dụ như : may mặc, thủ công mỹ nghệ, công nhân cơ khí trong các khucông nghiệp, …

-Thêm vào đó, Chính phủ cũng nên có các biện pháp hỗ trợ cho doanhnghiệp trong việc đầu tư, mở rộng sản xuất để tạo nhiều cơ hội việc làm chongười lao động Ví dụ như: hạ lãi suất ngân hàng giúp cho doanh nghiệp tiếpcận được nguồn vốn vay hay giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, tạo động lựccho doanh nghiệp đầu tư, thúc đẩy sản xuất

- Thực hiện việc lồng ghép các chương trình mục tiêu về việc làm với cácchương trình, dự án khác nhằm nâng cao chất lượng cung, điều chỉnh cung laođộng phù hợp cầu lao động, đẩy mạnh kết nối cung - cầu và trực tiếp làm tăngquy mô việc làm hay gián tiếp tạo ra việc làm mới

- Tư vấn nghề nghiệp và giới thiệu việc làm, tổ chức sàn giao dịch việclàm; phát triển thông tin thị trường lao động; đổi mới công tác dạy nghề theohướng đáp ứng nhu cầu thực tế trước mắt và lâu dài; hỗ trợ doanh nghiệp trongviệc đào tạo lại và tạo điều kiện cho người lao động học tập suốt đời để khônglạc hậu trước công nghệ mới và đẩy mạnh xuất khẩu lao động

-Tổ chức các ngày hội việc làm cũng tạo cơ hội cho người lao động tiếpcận với các nhà tuyển dụng và giúp họ tìm được một công việc phù hợp, gópphần giảm tỉ lệ thất nghiệp của quốc gia

Như vậy vấn đề thất nghiệp là vấn đề nan giải của bất kỳ một quốc gianào, vào bất cứ thời điểm nào, đều có tình trạng thất nghiệp, kể cả khi nền kinh

tế của quốc gia đó đang trong tình trạng khỏe mạnh Và chính vì vậy đòi hỏi cácnước phải nhìn nhận vấn đề thật sáng suốt, và đưa ra những giải pháp tốt nhấtnhằm khắc phục được tình trạng thất nghiệp, nâng cao đời sống của người laođộng

Trang 23

III ẢNH HƯỞNG CỦA BẤT ỔN KINH TẾ VĨ MÔ.

+ Lạm phát có tác động lớn hơn đối với người nghèo và các đối tượng dễ

bị tổn thương, do họ phải dành một phần lớn hơn trong chi tiêu của mình chothực phẩm và các mặt hàng thiết yếu khác so với các gia đình khá giả Theo sốliệu Khảo sát Mức sống Hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) năm 2008, bộ phậndân cư nghèo nhất dành 65% chi tiêu của gia đình họ cho thực phẩm, trong khi

bộ phận dân cư giàu nhất chỉ chi 45%

+ Giá thực phẩm tăng cũng tác động đến an ninh lương thực Ở Việt Namđiều này thể hiện rõ trong giai đoạn 2007-2008 và các tháng đầu năm 2011.Theo các số liệu được trình bày tại một hội thảo gần đây của Bộ Kế hoạch vàĐầu tư, ước tính có 838.600 người dân thuộc các hộ gia đình làm nông nghiệp

bị thiếu ăn trong 2 tháng đầu năm 2011, đây là con số lớn nhất kể từ năm 2007

và gần gấp đôi con số của cùng kỳ năm 2010

+ Việc lạm phát quay trở lại mức cao hiện nay đã tác động đến các mốiquan hệ lao động và điều kiện lao động Kể từ đầu năm, số lượng các cuộc đìnhcông đã tăng lên đáng kể, với trên 200 cuộc đình công được ghi nhận trong quý

I năm 2011

+ Về lâu dài, lạm phát cũng có tiềm năng khiến cho nhiều hộ gia đìnhphải quay trở lại tình trạng nghèo đói Ví dụ, những dự báo dựa trên số liệuKhảo sát VHLSS vào các năm 2002, 2004, và 2006 gợi ý rằng tỉ lệ nghèo trênthực tế có thể đã tăng 1,5% do hậu quả của lạm phát vào năm 2008 Điều nàyđược thể hiện qua tỉ lệ giảm nghèo chậm lại trong giai đoạn 2006-2008, trong

đó tỉ lệ nghèo chỉ giảm 1,5%, từ 16% năm 2006 xuống còn 14.5% năm 2008; sovới mức giảm 3,5% giữa các năm 2004 và 2006 và 19,5% giữa các năm 2002 và2004

- Đến tình hình kinh tế:

+ Lạm phát tăng cao làm cho sức mua giảm, đồng thời giá nguyên liệuđầu vào cho sản xuất của các doanh nghiệp tăng mạnh, chính vì vậy đã dẫn đếntình trạng sản xuất trì trệ, hoặc nghiêm trọng hơn là tình trạng các doanh nghiệpphá sản, dừng sản xuất

Trang 24

+ Thị trường tài chính, tiền tệ bị lũng loạn, các chính sách điều tiết nềnkinh tế của Chính phủ không phát huy tác dụng, ảnh hưởng nghiêm trọng tớitoàn bộ các ngành kinh tế khác của đất nước.

+ Bất ổn kinh tế nếu không được ngăn chặn kịp thời có thể dẫn đến khủnghoảng kinh tế và khi đó hậu quả mang lại cho nền kinh tế sẽ là hết sức nghiêmtrọng

- Thứ hai, bất ổn kinh tế vĩ mô chính là cơ hội để Chính phủ các nướcnhận ra những hạn chế cố hữu trong nền kinh tế đất nước mình, cũng như là hạnchế trong các chính sách quản lý của mình, để từ đó có các chính sách, công cụđiều chỉnh sao cho hợp lý hơn

- Thứ ba, bất ổn kinh tế buộc các Chính phủ các nước phải có các chínhsách ổn định kinh tế và xã hội, qua đó cũng là cơ hội để cải thiện đời sốngngười dân, đặc biệt là người nghèo, tầng lớp chịu nhiều ảnh hưởng nhất của bất

ổn kinh tế vĩ mô

- Thứ tư, trên phạm vi khu vực và quốc tế, bất ổn kinh tế vĩ mô chính là

cơ hội để các nước có lợi thế về khoa học, kỹ thuật, quản lý, tài nguyên vươnlên mãnh mẽ, đồng thời cũng giúp dần phân công hóa thị trường lao động quốc

tế theo lợi thế của mội quốc gia, khu vực

IV CÁC GIẢI PHÁP NGĂN CHẶN BẤT ỔN KINH TẾ VĨ MÔ.

Bất ổn kinh tế là một vấn đề hết sức khó khăn và nan giải đối với cácquốc gia trên thê giới nói chung và Việt Nam nói riêng, để giải quyết vấn đềnày, chúng ta không chỉ đơn giản sử dụng một vài chính sách kinh tế đơn thuần,

mà cần có sự phối kết hợp các chính sách kinh tế - chính trị - xã hội – giáo dụcmột cách triệt để và đồng bộ, cũng như là cần có sự tham gia, vào cuộc của cáccấp, các ngành để đem lại hiệu quả cao nhất Chính vì vậy, một số chính sách cóthể đưa ra như sau:

- Chính phủ tiếp tục sử dụng hợp lý chính sách tài khóa và chính sách tiền tệnhằm mục tiêu ổn định kinh tế

- Quản lý nhà nước là không can thiệp trực tiếp vào việc điều hành thị trường tàichính, tín dụng, thị trường chứng khoán, mà chú trọng việc kiểm tra, giảm sát

Trang 25

hệ thống tài chính, tín dụng, ngân hàng hiệu quả và năng lực cạnh tranh của cácdoanh nghiệp.

- Tăng cường công tác kiểm soát quy trình, giảm sát việc cho vay bất động sảncủa các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng

- Nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, tránh đầu tư tràn lan,chồng chéo vào các dự án không mang lại hiệu quả

- Phát triển bền vững doanh nghiệp thông qua các biện pháp nâng cao năng lựccạnh tranh của các doanh nghiệp, tích cực thực hiện các biện pháp quản lý rủi

ro, đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực và công tác dự báo thị trường

- Tiếp tục tăng cường pháp chế, tuẩn thủ, đảm bảo việc thực thi pháp luật hiệuquả, đóng góp vào việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh, cơ chế thị trường pháttriển lành mạnh

- Áp dụng các chính sách hạn chế thất nghiệp, giảm lạm phát

- Tăng cường công tác giáo dục – đào tạo, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế

- Thực hiện các chính sách ổn định xã hội, đặc biệt là trong thời kì nền kinh tếkhủng hoảng

Tuy nhiên, để cho công tác ổn định kinh tế vĩ mô đem lại hiệu quả caonhất, thực tế chứng minh rằng chúng ta không thể áp dụng một cách tràn lan tất

cả các giải pháp trên mà cần có sự chọn lựa, tập trung cao độ vào một số giảipháp nhất định, mà trước hết đó là các giải pháp tác động vào nguyên nhân sâu

xa nhất của bất ổn kinh tế, đó chính là hai giải pháp về chính sách tài khóa vàchính sách tiền tệ

1 Chính sách tài khóa.

Để ổn định nền kinh tế, Nhà nước phải đưa ra các chính sách kinh

tế vĩ mô hướng đến các sản lượng, việc làm, ổn định giá cả, kinh tế đốingoại và phân phối công bằng Một trong những chính sách chủ yếu đangđược Chính phủ các nước có nền kinh tế thị trường phát triển nói chung

và Việt Nam nói riêng sử dụng là Chính sách tài khóa

Trang 26

1.1 Khái niệm.

Chính sách tài khóa (fiscal policy - CSTK) trong kinh tế học vĩ mô làchính sách thông qua chế độ thuế và đầu tư công cộng để tác động tới nền kinh

tế Chính sách tài khóa cùng với chính sách tiền tệ là các chính sách kinh tế vĩ

mô quan trọng, nhằm ổn định và phát triển kinh tế

Chính sách tài khóa: Hệ thống các chính sách của chính phủ về tài chính,thường được hoạch định và thực hiện trọn vẹn trong một niên khóa tài chính,nhằm tác động đến các định hướng phải triển của nền kinh tế, thông qua nhữngthay đổi trong kế hoạch chi tiêu chính phủ và chính sách thu ngân sách (chủ yếu

là các khoản thu về thuế)

1.2 Mục tiêu.

Mục tiêu của CSTK sẽ được thiết lập dựa trên mục tiêu phát triển kinh tế

xã hội của đất nước nhằm ổn định nền kinh tế bằng những thay đổi về mức độ

và thành phần của thuế và chi tiêu của chính phủ qua đó tác động đến các biến

số sau trong nền kinh tế: tổng cầu và mức độ hoạt động kinh tế, kiểu phân bốnguồn lực, phân phối thu nhập

1.3 Các công cụ của chính sách tài khóa.

1.3.1.Chi tiêu công

a/ Khái niệm

Chi tiêu công là tổng hợp các khoản chi của chính quyền trung ương,chính quyền địa phương, các doanh nghiệp nhà nước và của toàn dân khi cùng

Trang 27

trang trải kinh phí cho các hoạt động do chính phủ quản lý.

b/ Đặc điểm

- Đặc điểm nổi bật là nhằm phục vụ cho lợi ích chung cho cộng đồng dân

cư ở các vùng hay phạm vi quốc gia

- Chi tiêu công luôn gắn liền với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụkinh tế, chính trị, xã hội mà nhà nước thực hiện

- Các khoản chi tiêu công do chính quyền nhà nước các cấp đảm nhậntheo nội dung đã được quy định trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước vàcác khoản chi tiêu công này nhằm đảm bảo cho các cấp chính quyền thực hiệnchức năng quản lý phát triển kinh tế- xã hội

- Các khoản chi tiêu công hoàn toàn mang tính công cộng

- Các khoản chi tiêu công mang tính không hoàn trả hay hoàn trả khôngtrực tiếp và thể hiên ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượngcủa những địa chỉ cụ thế đều được hoàn lại dưới hình thức các khoản chi tiêucông

- Thuế là công cụ quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô: khuyến khích hoặckìm hãm hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế theo từngmực tiêu chung của đất nước, thúc đẩy tăng cường đầu tư vốn và lành mạnh hóathị trường

- Thuế góp phần đảm bảo bình đẳng giữa cá thành phần kinh tế ( côngbằng - thuế suất)

Trang 28

1.4 Các kiểu chính sách tài khóa.

Khái niệm Là chính sách tăng

cường chi tiêu của Chínhphủ (G>T) thông qua chitiêu chính phủ tăng cườnghoặc giảm bớt nguồn thu từthuế hoặc cả hai

Là chính sáchtrong đó chi tiêu củachính phủ ít đi thông quaviệc tăng thu từ thuế hoặcgiảm chi tiêu hoặc kếthợp cả hai

Công cụ - Tăng chi tiêu của

chính phủ

+ Tăng chi chuyểnnhượng (chi không cầnhàng hóa đáp lại như cholương hưu, chi trợ cấp, chibảo hiểm)

Mục tiêu Giảm thất ngiệp và

Khi sản lượng nềnkinh tế vượt quá sảnlượng tiềm năng (Y>Y*)

1.5 Tác động của chính sách tài khóa.

Ngày đăng: 29/04/2016, 14:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS, TS. Phạm Văn Vận và Th.S Vũ Cương, (2008), Kinh tế công cộng, Hà Nội: NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế công cộng
Tác giả: PGS, TS. Phạm Văn Vận và Th.S Vũ Cương
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2008
2. Laffont, J.J., (1998), Fundamentals of Public Economics, MIT Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fundamentals of Public Economics
Tác giả: Laffont, J.J
Năm: 1998
3. Robbins, D., (2004), Handbook of Public Sector Economics, Marcel Dekker/CRC Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Handbook of Public Sector Economics
Tác giả: Robbins, D
Năm: 2004
5. Phạm Chung, “Kinh tế vĩ mô phân tích”, Nhà xuất bản Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế vĩ mô phân tích
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh
7. Oliver Blanchard, “Kinh tế vĩ mô”,tái bản lần thứ 2, 2000 (đã dịch sang tiếng Việt) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế vĩ mô
8. Rosalind Levacic và Alexander Rebmann, “Kinh tế vĩ mô”, Nhà xuất bản Macmillan, London, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế vĩ mô
Nhà XB: Nhà xuất bản Macmillan
9. “Nguyên lý Kinh tế học Vi mô”, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân 10. “Kinh tế học Vi mô”, Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý Kinh tế học Vi mô”, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân10. “Kinh tế học Vi mô
14. “Kinh tế Vi mô trong nền kinh tế chuyển đổi”, Trường ĐH Thương mại 15. http://vneconomy.vn/20120321095841395P0C9920/bat-on-kinh-te-do-ba-nguyen-nhan-chinh.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Vi mô trong nền kinh tế chuyển đổi
6. N.G. Mankiw, Kinh tế học vĩ mô ( Macroeconomics), tái bản lần thứ 2 (đã dịch sang tiếng Việt, gọi tắt là Mankiw 2 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 24.3 Cân bằng trên thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ - Tài chính công  bất ổn kinh tế vĩ mô
Hình 24.3 Cân bằng trên thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ (Trang 42)
Hình 24.4 Mở rộng tài khóa làm dịch chuyển đường IS - Tài chính công  bất ổn kinh tế vĩ mô
Hình 24.4 Mở rộng tài khóa làm dịch chuyển đường IS (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w