1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kết nối chính trị, bất ổn kinh tế vĩ mô và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Một nghiên cứu thực hiện cho các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh

96 109 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRẦN VĂN DƯƠNG KẾT NỐI CHÍNH TRỊ, BẤT ỔN KINH TẾ VĨ MÔ VÀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP - MỘT NGHIÊN CỨU THỰC HIỆN CHO CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HỒ CHÍ

Trang 1

TRẦN VĂN DƯƠNG

KẾT NỐI CHÍNH TRỊ, BẤT ỔN KINH TẾ VĨ MÔ VÀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP - MỘT NGHIÊN CỨU THỰC HIỆN CHO CÁC DOANH NGHIỆP

NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH

Mã số chuyên ngành: 60 34 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Tp Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2019

Trang 2

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thu Hiền Chữ ký:

Cán bộ chấm nhận xét 1: Chữ ký:

Cán bộ chấm nhận xét 2: Chữ ký:

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG Tp HCM ngày 8 tháng 7 năm 2019

Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:

1 Chủ tịch: PGS.TS Vương Đức Hoàng Quân

2 Thư ký: TS Trương Minh Chương

3 Phản biện 1: TS Nguyễn Anh Phong

4 Phản biện 2: TS Dương Như Hùng

5 Uỷ viên: TS Nguyễn Thu Hiền Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá luận văn và Trưởng Khoa quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Họ tên học viên Ngày, tháng, năm sinh Chuyên ngành

I TÊN ĐÈ TÀI:

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

22/05/1989 Quản trị kinh doanh

Nơi sinh : Quảng Ngãi

Mã số : 60 34 01 02

Kết nối chính trị, bất ổn kinh tế vĩ mô và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp - Một nghiên cứu thực hiện cho các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh

II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

- Tìm hiểu ảnh hưởng kết nối chính trị tác động đến đầu tư của doanh nghiệp

- Tìm hiểu ảnh hưởng kết nối chính trị tác động đến đầu tư của doanh nghiệp trong

4' Â 1 ■ Ạ _ 1_ Á i Ạ _ 1 • _1 _ i Ả I V _ Ạ

điêu kiện bat ôn kinh tê VI mô

III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 01/10/2018

IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 20/05/2019

V CÁN Bộ HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN THU HIỀN

CÁN Bộ HƯỚNG DẪN

Tp HCM, ngày 20 thảng 5 năm 2019

CHỦ NHIỆM Bộ MÔN ĐÀO TẠO

TRƯỞNG KHOA

Trang 4

Xin chân thành cảm ơn quý Thầy cô khoa Quản lý công nghiệp - Đại học Bách Khoa Thành phố

Hồ Chí Minh đã truyền đạt những kiến thức quý báu, những kinh nghiệm thực tiễn cho tôi trong suốt chương trình học tập

Cuối cùng, xin cảm ơn những người bạn và gia đình đã hỗ trợ, đã động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2019

Người thực hiện

Trần Văn Dương

Trang 5

TÓM TẮT Kết nối chính trị từ lâu được xem là một lợi thế trong kinh doanh giúp doanh nghiệp có được các điều kiện ưu đãi trong các hoạt động của mình, từ đó có thể có được lợi thế cạnh tranh, hoặc giảm thiểu được các tác động bất lợi từ chính sách hoặc từ các bất ổn trong môi trường kinh doanh Nghiên cứu này tìm hiểu vai trò của kết nối chính trị đối với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, đặc biệt trong điều kiện xảy ra bất ổn kinh tế vĩ mô Giả thuyết nghiên cứu đặt ra là một doanh nghiệp có kết nối chính trị sẽ có khả năng giảm thiểu được tác động tiêu cực mà bất ổn kinh tế vĩ mô có thể gây ra đối với hoạt động đầu tư của mình Nghiên cứu được sử dụng mẫu là các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm

2005 đến 2017 Nghiên cứu tìm thấy bằng chứng là doanh nghiệp có kết nối chính trị có mức độ đầu tư cao hơn doanh nghiệp không có kết nối chính trị; bất ổn kinh tế vĩ mô ảnh hưởng tiêu cực lên đầu tư của doanh nghiệp; và trong hoàn cảnh có bất ổn kinh tế xảy ra, kết nối chính trị giúp giảm tác động tiêu cực của bất ổn lên hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Kết nối chính trị giúp đầu tư của doanh nghiệp tăng thêm 0.016 đơn vị với mức ý nghĩa 1% và kết nối chính trị giúp làm giảm tác động tiêu cực do giới hạn tài chính của dòng tiền nội tại đối với đầu tư của doanh nghiệp

Từ khóa: đầu tư doanh nghiệp, bất ổn kinh tế vĩ mô, kết nối chính trị, ARCH

Trang 6

ABSTRACT

Political connectivity has long been seen as business advantages while helping businesses to gain preferential conditions in their activities, which can yield a competitive advantage, or minimize negative impacts of policies or of macroeconomic business environment This study explores the role of political connection to investment activities of enterprises, especially in the context of macroeconomic instability The research hypothesis poses that a politically connected enterprise will be able to mitigate the negative impact that macroeconomic instability may have on its investment This study utilizes a sample of enterprises listed on Ho Chi Minh Stock Exchange during the period from 2005 to 2017 It is found that politically connected enterprises have a higher level of investment than businesses without political connections; macroeconomic instability negatively affects the investment of enterprises; and in the context of economic instability, political connections help reduce the negative impact of instability on investment activities of enterprises Political connectivity helps enterprises' investment increase by 0.016 units with a 1% significance level and political connections help reduce negative impacts due to the financial limit of internal cash flow for corporate investment

Key words: corporate investment, macroeconomic uncertainty, political connections, ARCH

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

- Những nội dung trong luận văn này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô

TS Nguyễn Thu Hiền

- Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố

- Mọi sao chép không họp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Tp, Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 05 năm 2019

Người thực hiện

Trần Văn Dương

Trang 8

MỤC LỤC

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC sĩ i

LỜI CẢM ƠN i

TÓM TẮT ii

LỜI CAM ĐOAN iv

MỤC LỤC V DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIÊU ĐỒ viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT X CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do hình thành đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 5

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 6

1.4 Phương pháp nghiên cứu 6

1.5 Ý nghĩa của đề tài 6

1.6 Cấu trúc của luận văn 7

CHƯƠNG 2: Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN LÝ LUẬN 8

2.1 Cáccơsởlý thuyết 8

2.1.1 Kết nối chính trị (Political Connections) 8

2.1.2 Hạn chế tài chính 9

2.1.3 Đầu tư và vốn đầu tư 10

2.1.4 Dòng tiền (CF) 11

2.1.5 Tobin’s Q 12

2.1.6 Bất ổn kinh tế vĩ mô (Macroeconomic Uncertainty) 12

2.1.7 Tons tài sản (TAI 19

Trang 9

2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 19

2.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài 19

2.2.2 Các nghiên cứu trong nước 21

2.2.3 Phát triển giả thiết nghiên cứu 22

CHƯƠNG 3 Dữ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cửu 24

3.1 Mô tả dữ liệu 24

3.2 Nguồn thu thập dữ liệu 24

3.3 Mô hình và cách đo các biến nghiên cứu 25

3.3.1 Mô hình nghiên cứu 25

3.3.2 Cách đo các biến nghiên cúu 26

3.4 Phương pháp phân tích 28

3.5 Mối quan hệ kỳ vọng giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập 32

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN cửu 33

4.1 Các biến đại diện cho nghiên cứu 33

4.1.1 Ước lượng biến đại diện cho bất ổn kinh tế vĩ mô 33

4.1.2 Ước lượng biến đại diện cho kết nối chính trị 36

4.1.3 Tác động của bất ổn kinh tế vĩ mô, kết nối chính trị lên đầu tư của doanh nghiệp 38

4.2 Kết quả thực nghiệm 38

4.2.1 Thống kê mô tả 40

4.2.2 Ma trận tương quan 43

4.3 Nhận xét kết quả hồi quy 45

4.3.1 Nhận xét kết quả mô hình về các yếu tố tác động lên đầu tư của doanh nghiệp 45

4.3.2 Nhận xét kết quả mô hình về mối quan hệ giữa kết nối chính trị và đầu tư của doanh nghiệp 47

4.3.3 Nhận xét kết quả mô hình về mối quan hệ giữa bất ổn kinh tế vĩ mô và đầu tư của doanh nghiệp 49 4.3.4 Nhận xét kết quả mô hình về mối quan hệ bất ổn kinh tế vĩ mô, kết nối

Trang 10

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 61

5.1 Kết luận dựa trên kết quả nghiên cứu 61

5.2 Hàm ý quản trị dựa trên kết quả nghiên cứu 63

5.3 Những điểm hạn chế của nghiên cứu 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC 69

Phụ lục 1: Kiểm định Hausman các mô hình nghiên cứu 69

Phụ lục 2: Kết quả thực nghiệm các mô hình nghiên cứu qua 3 phưong pháp Pooled OLS, FE, RE 76

Phụ lục 3: Kết quả tính ARCH/GARCH 92

LÝ LỊCH TRÍCH NGANG 93

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIẺU ĐỒ

Biểu đồ 4.1 Mô tả kết quả thu thập biến PC

Trang 12

Ma trận tưong quan giữa các biến trong mô hình Kết quả hồi quy mô hình 1

Kết quả hồi quy mô hình 2 Kết quả hồi quy mô hình 3 Kết quả hồi quy mô hình 4

Trang 13

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TTCK Thị trường chứng khoán

HOSE Hồ Chí Minh Stock Exchange (Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh)

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

DNTN Doanh nghiệp tư nhân

DNNY Doanh nghiệp niêm yết

PƯ Policy Uncertainty (Bất ổn chính sách)

IMF International Monetary Fund (Quỹ tiền tệ Quốc tế)

CAPX Capital Investment (Vốn đầu tư)

CF Cash Flow (Dòng tiền)

PC Political Connections (Kết nối chính trị)

MU Macroecomic Uncertainty (Bất ổn kinh tế vĩ mô)

GDP Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)

IPI Industrail Production Index (Chỉ số sản xuất công nghiệp)

CPI Consumer Price Index (Chỉ số giá tiêu dùng)

VNI Viet Nam Index (Chỉ số chứng khoán Việt Nam)

TA Total Assets (Tổng tài sản)

Trang 14

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do hình thành đè tài

Việt Nam chính thức đổi mới nền kinh tế vào khoảng cuối năm 1986, từ cơ chế kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gồm nhiều thành phần kinh tế: doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài Vai trò của các lãnh đạo DNNN có mối liên hệ chặt chẽ với các cơ quan chính quyền trung ương và địa phương thông qua việc bổ nhiệm cán bộ theo Quy định 105-QD/TW Các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) luôn chiếm ưu thế, được nhà nước bảo hộ, được hưởng các đặc quyền đặc lợi về tiếp cận nguồn vốn, tài nguyên thiên nhiên, thông tin chính sách và được chỉ định đầu tư các công trình trọng điểm quốc gia Năm 2016, mặc dù DNNN có 718 doanh nghiệp tập trung 19 ngành lĩnh vực với quy mô vừa và lớn, chiếm tỷ trọng khoảng 0,67% về số lượng doanh nghiệp nhưng DNNN vẫn nộp ngân sách đáng kể và đóng góp lớn nhất vào GDP (DNNN 28,8%, ngoài nhà nước 11,8%, FDI 17,9%) Bên cạnh đó, DNNN còn chịu sự tác động của chính phủ nhằm thực thi các chính sách điều tiết ổn định kinh tế vĩ mô, an sinh xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng trong nhiều điều kiện kinh tế kể cả bất ổn kinh tế vĩ mô Nên vai trò của DNNN vẫn còn thể hiện rất lớn trong nền kinh tế Việt Nam Các doanh nghiệp tư nhân (DNTN) do bất cân xứng về thông tin, hạn chế về nguồn vốn dẫn đến mất lợi thế trong việc tham gia các hoạt động đầu tư Hoạt động đầu tư là một quá trình ngắn hạn lẫn dài hạn nhằm tạo ra giá trị cho công ty, lợi ích cho cổ đông

và quốc gia Mối liên hệ giữa lãnh đạo công ty với chính quyền luôn tạo cho doanh nghiệp những lợi thế hay bất lợi còn phụ thuộc vào thể chế chính trị của mỗi quốc qua Vì vậy, hầu hết lãnh đạo các doanh nghiệp đều mong muốn có được sự kết nối với các cơ quan chính quyền để có được lợi thế trong việc đầu tư, lợi thế trong việc tiếp cận các khoản vay tín dụng và được hỗ trợ các chính sách ưu đãi về thuế

Theo nghiên cứu của Fan và cộng tác giả (2007) các doanh nghiệp kết nối chính trị là

Trang 15

các doanh nghiệp có thành viên trong hội đồng quản trị hay CEO đã hoặc đang làm việc trong các cơ quan chính quyền trung ương hay địa phương hay quân đội hoặc theo nghiên cứu của

Wang và cộng tác giả (2008) doanh nghiệp có kết nối chính trị gồm những loại sau: các DNNN

địa phương do chính quyền địa phương sở hữu và quản lý, các DNNN trung ương do chính quyền trung ương quản lý, các DNTN có lãnh đạo (thành viên HĐQT và ban điều hành) đã hoặc đang làm trong các cơ quan nhà nước Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về kết nối chính trị và mối quan hệ giữa kết nối chính trị ảnh hưởng đến đầu tư, tín dụng ngân hàng, hiệu quả doanh nghiệp

Nghiên cứu về kết nối chính trị của Faccio và cộng tác giả (2006) chỉ ra các công ty có kết nối

chính trị sẽ được ưu đãi về tài chính khi gặp khó khăn so với các công ty không kết nối chính trị

Chen và cộng tác giả (2014) cũng tiết lộ rằng các công ty được kết nối chính trị dễ dàng tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng Ferguson và Voth (2008) đã sử dụng dữ liệu của Đức vào năm

1933 để chứng minh rằng các công ty có liên kết với đảng phát xít có lợi nhuận cao bất thường

khi Hitler được bổ nhiệm làm Thủ tướng Theo Goldman và cộng tác giả (2009) khi Đảng Cộng

hòa giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2000 tại Hoa Kỳ thì giá cổ phiếu các công ty kết nối với Đảng Cộng Hòa tăng, trong khi giá cổ phiếu các công ty kết nối với Đảng Dân Chủ thì giảm

Bên cạnh các nghiên cứu cho ra kết quả tích cực của kết nối chính trị thì có các nghiên cứu chỉ

ra mặt không tích cực của kết nối chính trị Theo Dewenter và Malatesta (2001) báo cáo rằng

các công ty của chính phủ có ít lợi nhuận và kém hiệu quả hơn so với các công ty tư nhân, kết nối chính trị có thể tác động xấu lên giá trị các doanh nghiệp do hiệu quả hoạt động thấp hơn

Các nghiên cứu của Johnson và Mitton (2003) chỉ ra rằng các công ty IPO sau 3 năm ở Trung

Quốc có CEO được kết nối chính trị kém hiệu quả so với các công ty không có CEO kết nối

chính trị Tại Việt Nam có nghiên cứu của Markussen và Tarp (2011) “Các kết nổi chỉnh trị và

đầu tư liên quan đến đất đai ở nâng thân Việt Nam ” Nghiên cứu sử dụng dữ liệu hộ gia đình có

người thân có kết nối chính trị ở nông thôn Việt Nam Ket quả nghiên cứu cho thấy các hộ gia đình sẽ tăng

Trang 16

đầu tư vào đất đai, dễ dàng tiếp cận các khoản tín dụng và cảm giác an toàn về quền sở hữu đất đai Kết quả cũng chỉ ra rằng các quan chức thích thông qua người thân để sở hữu đất đai

Bên cạnh yếu tố kết nối chính trị, thì bất ổn kinh tế vĩ mô cũng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp Đầu tư của doanh nghiệp là một hoạt động quan trọng có vai trò tác động đến tương lai hoạt động của doanh nghiệp Quá trình ra quyết định đầu tư phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau như: doanh thu, lợi nhuận, tỷ lệ hoàn vốn, thời gian hoàn vốn, lãi suất chiết khấu, tỷ

lệ đòn bẩy hoạt động, giá trị tài sản, dòng tiền của doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, các chính sách kinh tế vĩ mô bên ngoài và bên trong quốc gia, nhưng yếu tố gây ảnh hưởng to lớn nhất đến

hoạt động đầu tư của doanh nghiệp là yếu tố về bất ổn về kinh tế vĩ mô Theo Baum và cộng tác giả (2005) cho rằng bất ổn kinh tế vĩ mô được đánh giá bởi các biến động của một tập họp các

biến số kinh tế vĩ mô bao gồm: GDP thực, chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI), chỉ số giá tiêu dùng (CPI), suất sinh lợi của chỉ số chứng khoán Nhìn chung, có thể thấy bất ổn kinh tế vĩ mô là tình trạng chuyển biến xấu đi của các biến số kinh tế vĩ mô quan trọng trong nền kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của chính phủ và doanh nghiệp

Theo Wang và cộng tác giả (2013) “Bất ổn chính sách kinh tể và đầu tư doanh nghiệp: Một

nghiên cứu từ Trung Quốc ” nghiên cứu cho thấy rằng khi mức độ bất ổn chính sách kinh tế càng

cao thì các công ty đứng đầu giảm đầu tư và ngược lại Tuy nhiên, các công ty có lợi tức đầu tư cao, sử dụng nguồn tài chính tự có và không thuộc sở hữu nhà nước sẽ ít bị tác động tiêu cực của

sự chính sách bất ổn kinh tế Theo nghiên cứu của Gulen và cộng tác giả (2015) “Bất ổn chỉnh

sách và đầu tư của doanh nghiệp ” các chính sách bất ổn sẽ làm giảm hoạt động đầu tư và đối

với các doanh nghiệp phụ thuộc vào chi tiêu của chính phủ sẽ chậm trễ trong việc phòng ngừa

rủi ro do không thể đảo ngược đầu tư Theo Aizenman và Marion (1993) nghiên cứu mối quan

hệ giữa sự bất ổn chính sách kinh tế và GDP bình quân đầu người cho 46 nước đang phát triển

từ 1970 đến 1985 và

Trang 17

ghi nhận kết quả rằng sự bất ổn chính sách có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế thông qua đầu tư

Tại Việt Nam đề tài về tác động của bất ổn chính sách kinh tế vĩ mô đến hoạt động đầu tư đã được nhiều đối tượng quan tâm từ nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và nhả đầu tư Một

số nghiên cứu điển hình như Nguyễn Thị Thúy An (2017): “Tác động của bất ổn kinh tể vĩ mô

lên đầu tư của doanh nghiệp” Nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ ngược chiều của các yếu tố đại

diện bất ổn kinh tế vĩ mô và bất ổn kinh tế vĩ mô tác động đến đầu tư của doanh nghiệp, nó làm cản trở việc ra quyết định đầu tư của doanh nghiệp và các đợt bầu cử ở Việt Nam tác động không cùng chiều lên đầu tư so với bầu cử ở Mỹ do chế độ một Đảng cầm quyền nên không gây ra xáo trộn chính sách khi các đợt bầu cử diễn ra Biến bầu cử có tương quan cao đến đầu tư có thể giải thích rằng việc bầu cử sẽ làm cho việc quản lý Nhà nước tốt hơn, kỳ vọng của doanh nghiệp

nhiều hơn cho việc thay đổi cách quản lý hay sửa đổi chính sách có lợi cho doanh nghiệp Nguyễn

Ngọc Phương Linh (2017): “Tác động của bất ổn kinh tể vĩ mô lên đầu tư doanh nghiệp: Một

nghiên cứu tại Việt Nam ” Nghiên cứu sử dụng 4 proxy đại diện cho bất ổn kinh tế vĩ mô theo

Baum và cộng tác giả (2005) gồm GDP, IPI, CPI, suất sinh lợi của chỉ số VNIndex và quan hệ

tiêu cực giữa bất ổn kinh tế vĩ mô lên hoạt động M&A

Đối với môi trường kinh doanh tại Việt Nam, hầu hết các doanh nghiệp đều mong muốn có được những mối quan hệ, những kết nối từ các cơ quan chính quyền nhằm tạo sự linh hoạt trong các thủ tục hành chính và các lợi thế trong cạnh tranh, đầu tư Tuy nhiên, vẫn chưa chưa có nghiên cứu nào chứng minh việc kết nối chính trị của các doanh nghiệp Việt Nam là mang lại lợi ích về mặt hiệu quả tài chính hay tạo ra được các lợi thế trong việc tiếp cận vốn so với các doanh nghiệp

ở các nước đã được nghiên cứu như Trung Quốc, Đài Loan, Mỹ Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây hầu như chỉ xem xét đơn lẻ từng thành phần tác động như bất ổn kinh tế vĩ mô lên đầu tư doanh nghiệp hay kết nối chính trị ảnh hưởng đến đầu tư doanh nghiệp chứ chưa xem xét đến vai trò của kết nối

Trang 18

chính trị đối với đầu tư của doanh nghiệp trong bối cảnh có bất ổn kinh tế xảy ra Khi có bất ổn kinh tế xảy ra thì nghiên cứu kỳ vọng sẽ nhìn thấy được rõ hơn các lợi ích từ kết nối chính trị mang lại cho doanh nghiệp Cụ thể, tác giả kỳ vọng kết nối chính trị sẽ là tấm lá chắn cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp khi có bất ổn kinh tế xảy ra

Từ bối cảnh kinh tế, đặc hưng mô hình kinh tế và thể chế chính trị của Việt Nam được xét trong điều kiện bất ổn kinh tế vĩ mô thì chúng ta tìm hiểu hoạt động đầu tư của doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) thông qua các câu hỏi nghiên cứu sau: Các công ty có kết nối chính trị có gia tăng hoạt động đầu tư trong điều kiện bất ổn kinh tế vĩ mô hay không? Khi bất ổn kinh tế vĩ mô xảy ra có ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động đầu tư của các công

ty có kết nối chính trị hay không? Sự kết nối chính trị mà doanh nghiệp có được và cố gắng duy trì có mang lại hiệu quả tài chính cho doanh nghiệp trong điều kiện bất ổn kinh tế vĩ mô hay không? nhằm làm rõ các mục tiêu về vai trò của kết nối chính trị đối với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp trong điều kiện bất ổn kinh tế vĩ mô và mối quan hệ của kết nối chính trị, bất ổn kinh tế vĩ mô tác động lên hoạt động đầu tư của doanh nghiệp và củng cố thêm các lý thuyết về

đầu tư của doanh nghiệp Qua đó, chúng ta thấy rằng đề tài “Kết nối chính trị, bất ổn kinh tế

vĩ mô và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp - Một nghiền cứu thực hiện cho các doanh nghiệp niềm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh” là cần được thực hiện nhằm

góp phần về mặt lý luận và thực tiễn kiểm chứng vai trò của kết nối chính trị trong quyết định đầu tư của doanh nghiệp, từ đó giúp cho nhà đầu tư có cái nhìn tổng quát về mối quan hệ chính trị, bất ổn kinh tế và đầu tư, là nền tảng cho các nghiên cứu về kết nối chính trị ở Việt Nam sau này

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu có mục tiêu đánh giá tác động của kết nối chính trị đối với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp trong điều kiện bất ổn kinh tế vĩ mô

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 19

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Tất cả các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn từ 2005-2017

Thời gian dữ liệu nghiên cứu: Dữ liệu được thu thập trong khoảng thời gian 2005-2017

1.4 Phương pháp nghiền cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với dữ liệu dạng bảng từ 2005-2017

Công cụ được sử dụng là phần mềm STATA 14 để phân tích dữ liệu và chạy mô hình hồi quy

Các bước phân tích: phân tích dữ liệu, phân tích mô tả mẫu, tương quan, hồi quy đa biến, với các mô hình ước lượng Pooled OLS (Pooled Ordinary Least Squared - Bình phương nhỏ nhất cổ điển gộp) không phân biệt dữ liệu theo năm, FEM (Fixed Effect Models - Mô hình tác động cố định) nhằm tách ảnh hưởng của các đặc điểm riêng biệt không đổi theo thời gian ra khỏi các biến giải thích để ước lượng ảnh hưởng thực của biến độc lập lên biến phụ thuộc và REM (Random Effect Models - Tác động ngẫu nhiên) nhằm khắc phục hiện tượng sai số ngẫu nhiên tự tương quan

1.5 Ý nghĩa của đề tài

Nghiên cứu kỳ vọng cho thấy liệu vai trò của kết nối chính trị của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam đang có được hay cố gắng xây dựng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp tích cực hay không Nghiên cứu kỳ vọng kết nối chính trị sẽ hạn chế được ảnh hưởng của bất ổn kinh tế vĩ mô đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp Bên cạnh đó, nghiên cứu củng cố thêm các giả thiết và kết quả về bất ổn kinh tế

Trang 20

vĩ mô có thể làm thay đổi môi trường kinh tế từ đó sẽ thay đổi lợi nhuận mà các nhà đầu tư kỳ vọng và sẽ ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của từng doanh nghiệp

1.6 Cấu trúc của luận văn

Cấu trúc của đề tài gồm 5 chương:

Chương 1: Phần giới thiệu tổng quan: cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu, vấn đề và phạm

vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan lý luận: trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài, các

lý thuyết nền có liên quan, mô hình nghiên cứu

Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu: nguồn thu thập dữ liệu, loại dữ liệu, cách đo các biến, kiểm chứng mô hình

Chương 4: Ket quả nghiên cứu và bình luận: kết quả phát triển, phân tích và kiểm định

mô hình, nêu ý nghĩa biến số và kết quả

Chương 5: Kết luận: đúc kết vấn đề đặt ra và có nhận xét chung về đề tài

Trang 21

CHƯƠNG 2: Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN LÝ LUẬN

2.1 Các cơ sở lý thuyết

2.1.1 Kết nổi chính trị (Political Connections)

Khái niệm kết nối chính trị theo nghiên cứu của Faccio (2006) và Fan và cộng tác giả (2007)

là công ty có thành viên HĐQT và CEO đã và đang làm việc trong các cơ quan chính quyền địa phuơng, trung uơng hoặc quân đội Các proxy đại diện cho kết nối chính trị gồm doanh nghiệp

có nguồn vốn nhà nuớc, tỉ lệ sở hữu của nhà nuớc trong doanh nghiệp, thành viên HĐQT và CEO có kết nối chính trị

Theo nghiên cứu của Wang và cộng tác giả (2008) doanh nghiệp có kết nối chính trị gồm những

loại sau:

• Các DNNN địa phuơng do chính quyền địa phuơng sở hữu và quản lý (Ví dụ: các công

ty cấp thoát nuớc, các công ty công trình đô thị cây xanh)

• Các DNNN trung uơng do chính quyền trung uơng quản lý (Ví dụ: Các tổng công ty, tập đoàn nhà nuớc nhu tập đoàn dầu khí, buu chính viễn thông, than và khoáng sản)

• Các công ty tu nhân có lãnh đạo (thành viên HĐQT và CEO) đã từng hoặc đang làm trong các cơ quan nhà nuớc

Theo Li và cộng tác giả (2008) một công ty có kết nối chính trị nếu có các hoạt động chính trị

sau: xu huớng đảng phái chính trị (gồm ba loại công ty: các công ty có chủ tịch hoặc CEO là thành viên của ủy ban trung uơng thuộc đảng chính trị, các công ty có chủ tịch hoặc CEO có bạn thân là ứng cử viên trong chính trị và các công ty có chủ tịch hoặc CEO hỗ trợ cho một ứng cử viên của đảng ra tranh cử), sụ đóng góp cho hoạt động chính trị Xu huớng đảng phái chính trị

và đóng góp chính trị rất quan trọng trong việc thiết lập mối quan hệ với các đảng phái chính trị trong các cuộc bầu cử Ví dụ, trên truyền thông lãnh đạo công ty hỗ trợ cho một ứng cử viên trong chiến dịch tranh cử sẽ nhận

Trang 22

được lòng biết on của ứng cử viên và sẽ được coi là đồng minh Do đó, khi ứng cử viên thắng

cử có xu hướng tạo thuận lợi cho những người ủng hộ này một cách rõ ràng hoặc ngầm Cox và Cubbỉns (1986)

Một doanh nghiệp được xác định là có kết nối chính trị nếu có một thành viên ban lãnh đạo công

ty có kết nối chính trị Do tình hình ban lãnh đạo công ty thay đổi theo thời gian do nhiệm kỳ, bãi nhiệm, miễn nhiệm, bầu mới nên tính chất có hoặc không có kết nối chính trị của doanh nghiệp sẽ thay đổi theo thời gian

2.1.2 Hạn chế tài chính

Keynes (1936) cho rằng sự cân bằng thanh khoản cho phép các công ty thực hiện các dự án có giá trị Tuy nhiên, tầm quan trọng của sự cân bằng thanh khoản bị ảnh hưởng bởi mức độ mà các công ty tiếp cận với nguồn vốn bên ngoài Nếu một công ty có thể huy động không hạn chế nguồn vốn bên ngoài nghĩa là công ty không bị hạn chế tài chính thì không có nhu cầu phòng ngừa trước những nhu cầu đầu tư trong tưong lai và thanh khoản của công ty cũng không trở

thành vấn đề quan trọng Đây cũng chính là cơ sở định nghĩa mà Almeida và cộng tác giả (2004)

sử dụng trong bài nghiên cứu Nguồn vốn bên ngoài không phải là thay thế hoàn hảo cho nguồn vốn nội bộ nên chi phí tài chính từ nguồn vốn bên ngoài có thể khác nhau đáng kể so với nguồn nội bộ

“Một công ty bị hạn chế tài chính nếu các chi phí sẵn có của nguồn vốn bên ngoài ngăn cản các công ty thực hiện các quyết định đầu tư và buộc các công ty phải chọn thực hiện bằng nguồn vốn

nội bộ sẵn có” (Kaplan và Zingales, 1997) Trong nghiên cứu của Denis và Sibilkov (2010)

cũng nhận định về công ty hạn chế tài chính giống như các định nghĩa được nêu ra bên trên Công ty với chi phí sử dụng nguồn vốn bên ngoài cao tương đương với công ty bị hạn chế tài chính sẽ dựa nhiều hon và các nguồn lực tài chính nội bộ để hạn chế việc giảm đi đầu tư trong tương lai, giảm hiệu quả hoạt động và sự tăng trưởng của công ty

Trang 23

Doanh nghiệp được xem là có hạn chế tài chính khi doanh nghiệp đó có một khoảng cách giữa chi phí vốn bên trong và chi phí vốn bên ngoài Doanh nghiệp nhiều hạn chế tài chính khi khoảng cách giữa chi phí vốn bên trong và chi phí vốn bên ngoài càng lớn Doanh nghiệp ít hạn chế tài chính hay không có hạn chế tài chính khi nó có nhiều tài sản có tính thanh khoản và giá trị thuần lớn

Một số phương pháp phân loại hạn chế tài chính được sử dụng phổ biến trong các bài nghiên cứu trước như sau: chi trả cổ tức, dòng tiền, quy mô, chi phí tài trợ bên ngoài, khả năng thanh toán

lãi vay, chỉ số đo lường rủi ro phá sản Z-score của Altman (1968), chỉ số đo lường hạn chế tài chính KZ của Kaplan and Zingales (1997), chỉ số phân biệt hạn chế tài chính ww của Whited

và cộng tác giả (2006)

2.1.3 Đầu tư và vốn đầu tư

Trong kinh tế học, đầu tư có liên quan đến tiết kiệm và trì hoãn tiêu thụ Trong tài chính, đầu tư

là đặt tiền vào một tài sản với kỳ vọng của vốn đánh giá cao, thường là dài hạn Các hình thức đầu tư liên quan đến rủi ro, như đầu tư vào cổ phần, bất động sản và thậm chí các chứng khoán lãi suất cố định mà có thể, rủi ro lạm phát Đầu tư khi được phân loại theo các căn cứ được chia như sau:

V Căn cứ vào thời gian bỏ vốn đầu tư và thực hiện, có hai loại đầu tư: đầu tư ngắn hạn (dưới một năm), đầu tư dài hạn

V Căn cứ vào mục tiêu đầu tư có hai loại: đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp (góp vốn liên doanh, mua cổ phiếu, trái phiếu) và đầu tư vào bên trong doanh nghiệp (nghiên cứu và phát triển sản phẩm, tạo điều kiện phát triển lâu dài cho doanh nghiệp), đầu tư mở rộng, đầu tư thay thế hoặc duy trì)

V Căn cứ vào chủ thể đầu tư: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp

Vốn đầu tư là toàn bộ các chi phí bỏ ra để thực hiện mục đích đầu tư Theo quan điểm kinh tế vĩ

mô vốn đầu tư trong kinh tế bao gồm ba nội dung chính là: vốn đầu tư làm tăng tài sản cố định; vốn đầu tư tài sản lưu động và vốn đầu tư vào nhà ở

Trang 24

Nhân tố quyết định đầu tư: chính sách kinh tế Nhà nước, thị trường và sự cạnh tranh, chính sách huy động vốn, độ vững chắc tin cậy của sự đầu tư, sự tiến bộ của khoa học công nghệ, khả năng tài chính của doanh nghiệp, tính cách của chủ đầu tư

Hoạt động đầu tư luôn diễn ra hai giai đoạn cơ bản: giai đoạn bỏ vốn ra đầu tư và giai đoạn thu hồi vốn và có lãi

2.1.4 Dòng tiền (CF)

CF (Cash Flow) của một công ty trong khoảng thời gian (thường là một quý hoặc một năm) bằng

sự thay đổi số dư tiền mặt trong giai đoạn này: tích cực nếu gia tăng số dư tiền mặt (nhiều tiền mặt hơn), tiêu cực nếu số dư tiền mặt giảm đi Tổng số dòng tiền ròng được phân loại trong ba lĩnh vực:

• Lưu chuyển tiền tệ hoạt động: Tiền thu hoặc chi như là kết quả của hoạt động kinh doanh của công ty, bao gồm các khoản thu nhập tiền mặt cộng với thay đổi vốn lưu động, về

trung hạn dòng tiền này phải dương nếu công ty còn khả năng thanh toán

• Lưu chuyển tiền tệ đầu tư: Tiền mặt nhận được từ việc bán các tài sản thời gian sử dụng dài, hoặc chi tiêu vào vốn chi (đầu tư, mua lại và tài sản thời gian sử dụng dài)

• Lưu chuyển tiền tệ tài chính: Tiền mặt nhận được từ phát hành nợ và vốn chủ sở hữu, hoặc chi trả cổ tức, mua lại cổ phần hoặc trả nợ

• Dòng tiền ròng tăng cho thấy tình trạng và biểu hiện tốt từ các chính sách của cơ quan Nhà Nước, không gây ra tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Dòng tiền ròng có quan hệ cùng chiều với đầu tư của doanh nghiệp, khi dòng tiền ròng thực tế tăng cho thấy doanh nghiệp có thêm vốn đầu tư và có thêm vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 25

2.1.5 Tobin’s Q

Hệ số Q của Tobin (Tobin's Q) được James Tobin và William Brainard giới thiệu năm 1968 Ý

tưởng của Tobin là nếu thị trường (chứng khoán) đánh giá một công ty cao hơn giá trị vật lý (physical capital) của công ty đó thì đó là tín hiệu thị trường cho rằng công ty này có triển vọng phát triển

Khi Q lớn hơn 1, công ty sẽ đẩy mạnh đầu tư để tăng trưởng, ngược lại nếu Q nhỏ hơn 1 thì công

ty sẽ hạn chế đầu tư, nghĩa là bán bớt tài sản vật chất hoặc giảm đầu tư xuống Nếu hệ số Q cao,

công ty sẽ đầu tư nhiều hơn vì việc huy động thêm vốn sẽ rẻ hơn do thị giá của công ty khá cao

so với chi phí huy động thêm vốn Ngược lại, nếu hệ số Q thấp, công ty sẽ không gia tăng đầu

Chỉ số chịu ảnh hưởng từ điều kiện kinh tế vĩ mô của cơ quan Nhà nước và khối đầu tư nước ngoài thông qua chính sách kinh tế vĩ mô và hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là trong điều kiện kinh

tế mở

2.1.6 Bất ỗn kỉnh tế vĩ mô (Macroeconomic Uncertainty)

Kinh tế vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế ở góc độ tổng thể thông qua các chỉ tiêu tổng quát như sản lượng quốc gia, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp Mục tiêu điều tiết vĩ mô là: hiệu quả, công bằng, ổn định và tăng trưởng Chính phủ điều tiết bằng các chính sách kinh tế:

• Chính sách tài khóa: chính sách thuế và chi ngân sách của chính phủ

• Chính sách tiền tệ: Ngân hàng Trung ương thay đổi lượng cung tiền tệ nhằm làm thay đổi lãi suất tiền tệ

• Chính sách ngoại thương: tác động đến cán cân thương mại và cán cân thanh toán thông qua chính sách can thiệp và tỷ giá hối đoái và thuế xuất nhập khẩu

Khái niệm về bất ổn kinh tế vĩ mô chưa có sự thống nhất hoàn toàn giữa các nghiên cứu Theo

Hausman & Gavin (1996), ổn định kinh tế vĩ mô đòi hỏi đảm bảo được 3 yếu tố

Trang 26

trong một nền kinh tế: Tăng trưởng, đầu tư và năng suất lao động Trong khi đó, Fissher (1993), Bleaney (1996) và Ismỉhan và cộng tác giả (2002) cho rằng bất ổn kinh tế vĩ mô tăng lên đồng

nghĩa với sự tăng lên của một trong các chỉ số dẫn báo như: Tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thâm hụt/GNP

và tỷ lệ nợ nước ngoài/GNP Sametỉ và cộng tác giả (2012) cũng cho rằng bất ổn kinh tế vĩ mô

được đánh giá bởi các biến động của một tập họp các biến số kinh tế vĩ mô bao gồm: Tăng trưởng, lạm phát, thâm hụt cán cân vãng lai, dự trữ ngoại hối và thâm hụt ngân sách Nhìn chung,

có thể thấy, bất ổn kinh tế vĩ mô là một khái niệm mô tả tình trạng chuyển biến xấu đi của các biến số kinh tế vĩ mô quan trọng trong nền kinh tế, được biểu hiện và theo dõi theo thời gian thông qua sự kết họp các biến số như tăng trưởng, lạm phát, thâm hụt cán cân vãng lai, dự trữ ngoại hối, nợ nước ngoài và thâm hụt ngân sách

Cardarellỉ và cộng tác giả (2009) cho rằng, bên cạnh các chính sách kinh tế chưa phù họp như

chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, các cú sốc từ bên ngoài là nguồn gốc tạo nên những bất

ổn kinh tế vĩ mô trong nước Theo đó, các tác giả cho rằng, cú sốc về ngoại thương (xuất nhập khẩu) và sự biến động của dòng vốn vào là nguồn gốc gây nên bất ổn kinh tế vĩ mô Ngoài ra,

theo Clipa và Caragancỉu (2009), trong bối cảnh của một nền kinh tế mở nói chung, đặc biệt là

các nền kinh tế đang phát triển, những ảnh hưởng của một cuộc khủng hoảng thế giới có thể được lan truyền qua kênh tài chính, ngoại thương và đầu tư

Có nhiều phương pháp để đánh giá tình trạng bất ổn kinh tế vĩ mô của một nước Trong khi nhiều nghiên cứu sử dụng hoặc kết họp sử dụng một số chỉ số vĩ mô đơn lẻ (tăng trưởng, lạm phát, dự trữ ngoại hối, tỷ giá hối đoái, thâm hụt vãng lai, thâm hụt ngân sách, nợ công ) để đánh giá tình trạng bất ổn kinh tế vĩ mô thì phương pháp chỉ số có xu hướng được sử dụng nhiều hơn trong những năm gần đây

• Phương pháp chỉ số bất ổn kinh kế vĩ mô

• Phương pháp chỉ số tổn thương giảm tăng trưởng

Trang 27

• Phương pháp chỉ số tổn thương tổng thể

Baum và cộng tác giả (2005) xây dựng bốn proxy cho sự bất ổn kinh tế vĩ mô từ các phương

sai điều kiện gồm GPD thực, chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI), chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và suất sinh lợi thị trường chứng khoán chỉ số s & p 500 Mỗi proxy nắm bắt các yếu tố khác nhau của sự bất ổn được nhận thức bởi các nhà quản lý của các công ty liên quan đến môi trường kinh

tế vĩ mô

• Proxy đầu tiên được sử dụng là phương sai có điều kiện của GDP thực theo quý Nó là thước đo của hoạt động kinh tế vĩ mô tổng thể Từ GDP thực theo quý tạo ra chuỗi GDP thực theo tháng thông qua phương pháp Denton sử dụng chỉ số sản xuất công nghiệp theo tháng tỷ lệ thuận với dentonmq

• Proxy thứ hai là chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI) theo tháng Chỉ số này chỉ tập trung vào hoạt động công nghiệp và bỏ qua hoạt động của ngành dịch vụ ngày càng trở nên quan trọng đối với nền kinh tế Mỹ

• Proxy thứ ba, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) theo tháng

• Proxy cuối cùng, tập trung vào sự không chắc chắn của thị trường tài chính dựa trên lợi tức tháng của chỉ số s&p 500

Bên cạnh đó theo Baker và cộng tác giả (2011) xây dựng một chỉ báo từ ba thành phần cơ bản

để đo lường sự bất ổn về kinh tế liên quan đến chính sách

• Thảnh phần đầu tiên là kết quả tìm kiếm các thảo luận về các từ khóa “kinh tế”, “bất ổn kinh tế”, “bất ổn kinh tế vĩ mô” từ 10 tờ báo lớn Từ những bài báo này xây dựng một chỉ số chuẩn hóa về số lượng các bài báo thảo luận về sự bất ổn của chính sách kinh tế

• Thành phần thứ hai dựa trên các báo cáo của Văn phòng Ngân sách Quốc hội (CBO) cung cấp danh sách các quy định tạm thời về mã số thuế hiện tại và mã số thuế dự kiến hết hạn trong 10 năm nhằm đo mức độ bất ổn liên quan đến mã số thuế liên bang biến động trong tương lai

Trang 28

• Thành phần thứ ba liên quan đến chính sách dựa trên điều tra dự báo chuyên nghiệp của

Ngân hàng Dự trữ Liên bang Philadelphia Ở đây, Baker và cộng tác giả (2015) sử dụng

sự phân tán của từng dự báo về tương lai của chỉ số giá tiêu dùng, chi tiêu liên bang và chi tiêu của tiểu bang và địa phương để xây dựng các chỉ số sự bất ổn về các biến kinh

tế vĩ mô liên quan đến chính sách

2.I.6.I Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

GDP (Gross Domestic Product): là giá trị bằng tiền của toàn bộ các sản phẩm cuối cùng được sản xuất ra trên lãnh thổ của một nước, tính trong khoảng thời gian nhất định thường là một năm GDP được tính theo ba phương pháp:

• Theo phương pháp thu nhập: bằng tổng thu nhập được tạo ra trong nền kinh từ ba chủ thể là doanh nghiệp, hộ gia đình và chính phủ, và tương tác nhau qua thị trường hàng hóa và thị trường các yếu tố sản xuất

• Theo phương pháp chi tiêu: là tổng chi tiêu của tất cả các khu vực của toàn bộ nền kinh

tế Chi tiêu từ chi tiêu cuối cùng của hộ gia đình, chi đầu tư của doanh nghiệp, chi tiêu chính phủ, xuất khẩu (chi của khu vực nước ngoài cho hàng hóa trong nước), nhập khẩu (chi cho khu vực trong nước cho hàng hóa nước ngoài)

• Theo phương pháp giá trị gia tăng: tính những cái doanh nghiệp sản xuất ra, phương pháp này còn được gọi là phương pháp sản xuất

GDP thực hay còn được gọi là GDP theo giá so sánh và được tính theo giá của một năm nào đó được gọi là năm gốc, GDP thực giúp loại trừ yếu tố lạm phát

Theo phương pháp tính GDP cho thấy đầu tư của doanh nghiệp góp phần làm gia tăng GDP trong chủ thể đóng góp là doanh nghiệp Khi các giá trị tạo ra hay chi tiêu trong các chủ thể gia tăng sẽ thúc đẩy sự gia tăng GDP và tăng trưởng kinh tế

Trang 29

2.1.6.2 Chỉ sổ sản xuất công nghiệp (IPI)

IPI (Industrial Production of Index) chỉ tiêu quan trọng trong danh mục nhóm chỉ tiêu quốc gia Chỉ tiêu đánh giá tốc độ phát triển sản xuất công nghiệp hàng tháng, quý, năm Chỉ số ngày thường được tính dựa trên khối lượng sản phẩm sản xuất, nên còn được gọi là “chỉ số khối lượng sản phẩm công nghiệp”, là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh khái quát tình hình phát triển toàn ngành công nghiệp nói chung và tốc độ phát triển của từng sản phẩm, nhóm ngành sản phẩm nói riêng, đáp ứng nhu cầu thông tin của cơ quan quản lý Nhà nước, các nhà đầu tư và các đối tượng dùng tin khác

IPI là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng sản xuất công nghiệp tạo ra trong kỳ hiện tại với khối lượng sản xuất công nghiệp kỳ gốc Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế là toàn bộ giá trị sản phẩm do hoạt động sản xuất công nghiệp tạo ra tính theo giá tại thời kỳ tính giá trị sản xuất Giá trị sản xuất công nghiệp là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ của các nhóm ngành công nghiệp thực hiện trong một thời kỳ nhất định Giá trị sản xuất công nghiệp bao gồm: giá trị nguyên liệu, năng lượng, phụ tùng thay thế; chi phí dịch vụ sản xuất và khấu hao tài sản cố định, chi phí tiền lương, tiền công lao động; thuế sản xuất và giá trị thặng dư tạo

ra trong cấu thành giá trị sản phẩm Chỉ số thực hiện dựa trên nguồn số liệu điều tra chọn mẫu các cơ sở sản xuất đại diện cho sản xuất công nghiệp hàng tháng do Tổng Cục Thống kê thực hiện

Chỉ số phản ánh tình hình phát triển của toàn ngành công nghiệp nói chung và các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp nói riêng Khi doanh nghiệp gia tăng đầu tư sẽ góp phần thúc đẩy chỉ

số đánh giá cho ngành phát triển

2.1.6.3 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

CPI (Consumer Price Index): là chỉ số quan trọng mà một số nước thường lấy để đo tỉ lệ lạm phát và được xem là để đo lường chi phí liên quan đến rổ hàng hóa và dịch vụ vụ thể được người tiêu dùng mua CPI dùng cùng một nhóm hàng hóa và dịch vụ của năm

Trang 30

gốc (tức là năm 0) để thấy được sự biến động của giá qua các thời kỳ Là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tưong đối của giá hàng hóa tiêu dùng theo thời gian Là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức giá và sự thay đổi của mức giá chính là lạm phát CPI giúp theo dõi mức tăng giảm giá của hàng hóa tiêu dùng, các nhóm hàng quan trọng nhất có ảnh hưởng đến đời sống cũng như tâm lý của dân chúng Nó phản ánh tình hình biến động và mức độ trượt giá trong ngắn hạn và dài hạn

Chỉ số có nhiều biến động, người dân sẽ hạn chế tiêu dùng và chi tiêu dùng, làm cho hàng hóa sản xuất khó tiêu thụ, doanh nghiệp sẽ hạn chế chi tiêu cho việc đầu tư, sản xuất Khi chỉ số có biểu hiện tích cực sẽ giúp doanh nghiệp gia tăng đầu tư và thúc đẩy kinh tế phát triển

2.I.6.4 Suất sinh lợi thị trường của chỉ sổ chứng khoán Việt Nam (Stock Market Return)

Chỉ số được tính toán và công bố sau một phiên giao dịch, sự biến động về giá cổ phiếu sẽ làm thay đổi giá trị chỉ số, đồng thời được so sánh tăng giảm với phiên trước bằng phần trăm Chỉ số thị trường chứng khoán là một giá trị thống kê phản ánh tình hình của thị trường cổ phiếu Nó được tổng họp từ danh mục các cổ phiếu theo phương pháp tính nhất định Thông thường, danh mục sẽ bao gồm các cổ phiếu có những điểm chung như cùng niêm yết tại một sở giao dịch chứng khoán, cùng ngành hay cùng mức vốn hóa thị trường Chỉ số giá chứng khoán có thể được xem như là nền tảng và thước đo sự biến động cơ bản cho thị trường chứng khoán mà các thành phần tạo nên GDP từ chủ thể doanh nghiệp không bao gồm hoạt động đầu tư tài chính Thị trường chứng khoán giúp doanh nghiệp huy động vốn đặc biệt là vốn nước ngoài

Tỷ suất sinh lợi của thị trường là lãi suất bình quân trên thị trường, là thu nhập nhà đầu tư kỳ vọng sẽ thu được trong tương lai trên mỗi đồng vốn đầu tư Lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán có quan hệ đồng biến với rủi ro của chứng khoán, nghĩa là nhà đầu tư kỳ vọng chứng khoán rủi ro cao sẽ có lợi nhuận cao và ngược lại Khi thị trường chứng

Trang 31

khoán bất ổn nhà đầu tư sẽ hạn chế đầu tư và có xu hướng chuyển đầu tư sang kênh khác an toàn

và ổn định hơn

2.I.6.5 VNINDEX

Chỉ số thị trường chứng khoán là một giá trị thống kê phản ánh tình hình của thị trường cổ phiếu

Nó được tổng họp từ danh mục các cổ phiếu theo phương pháp tính nhất định Thông thường, danh mục sẽ bao gồm các cổ phiếu có những điểm chung như cùng niêm yết tại một sở giao dịch chứng khoán, cùng ngành hay cùng mức vốn hóa thị trường

Theo Nguyễn Minh Kiều và Bùi Kim Yến (2009), Chỉ số giá chứng khoán là chỉ báo giá cổ

phiếu phản ánh xu hướng phát triển của thị trường cổ phiếu, thể hiện xu hướng thay đổi của giá

cổ phiếu và tình hình giao dịch trên thị trường Chỉ số giá chứng khoán được theo dõi chặt chẽ

và được các nhà kinh tế học quan tâm vì nó có mối liên quan chặt chẽ đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia và thế giới Mỗi thị trường chứng khoán đều công bố một hoặc một vài chỉ số chứng khoán, có thể là chỉ số cho tất cả cổ phiếu trên thị trường của một quốc gia, như chỉ số giá Hang Seng của Hồng Kông, chỉ số giá cổ phiếu tổng họp của Hàn Quốc (KOSPI),

có thể là chỉ số cho từng ngành, nhóm ngành, như chỉ số giá cổ phiếu ngành công nghiệp của

Mỹ (DJIA), Nguyễn Minh Kiều và Bùi Kim Yến (2009)

VNINDEX= Tổng giá trị thị trường của các cổ phiếu niêm yết hiện tại

Tổng giá trị của các cổ phiếu niêm yết cơ sở * 100

Chỉ số được tính toán và công bố sau mội phiên giao dịch Trong quá trình đó, sự biến động về giá cổ phiếu sẽ làm thay đổi giá trị chỉ số, đồng thời được so sánh tăng giảm với phiên trước bằng %

Chỉ số giá chứng khoán có thể được xem như là nền tảng và thước đo sự biến động cơ bản cho thị trường chứng khoán Tại Mỹ, chỉ số giá chứng khoán s&p 500 thường được

Trang 32

sử dụng đánh giá sự biến động thị trường chứng khoán do mức độ bao phủ rộng rãi của nó Mặc

dù chỉ tập trung vào các công ty có mức độ vốn hóa lớn, nhưng với độ bao quát khoảng 75% chứng khoán Mỹ, chỉ số này đã trở thành đại diện thích họp cho toàn bộ nền kinh tế Mỹ Hay chỉ số FTSE-100 được xem như phong vũ biểu của nền kinh tế Anh và là chỉ số cổ phiếu hàng đầu ở Châu Âu

2.1.7 Tổng tài sản (TA)

TA (Total Assets): là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng Tài sản phản ánh tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp như tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn, tài sản cố định và đầu tư dài hạn gồm: tài sản cố định, các khoản đầu tư chứng khoán dài hạn, chi phí xây dựng cơ bản dở dang Khi phân loại tài sản theo chu kỳ sản xuất, ta có tài sản cố định và tài sản lưu động Còn khi phân loại tài sản theo đặc tính cấu tạo của vật chất, ta có tài sản hữu hình và tài sản vô hình

Chính sách của cơ quan Nhà nước ổn định tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh và tăng hưởng, giúp cho doanh nghiệp tích lũy thêm tài sản và gia tăng đầu tư Quản lý tài sản tốt đặc biệt là tài sản lưu động cho thấy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong tính thanh khoản

2.2 Tổng quan các nghiền cứu trước đây

2.2.1 Các nghiền cứu nước ngoài

Theo Xu và cộng tác giả (2013) ' ‘Các kết nổi chỉnh trị, trở ngại tài chỉnh và đầu tư của công

ty: Bằng chứng từ các công ty gia đình niêm yết ở Trung Quốc” Nghiên cứu sử dụng mẫu là các

công ty gia đình tại Trung Quốc từ năm 2000 đến năm 2007, nghiên cứu điều tra hành vi đầu tư của các công ty gia đình và ảnh hưởng của mối quan hệ chính trị đối với các khoản đầu tư trong nền kinh tế Các công ty gia đình Trung Quốc gặp khó khăn về tài chính, các vấn đề về thông tin bất đối xứng dẫn đến mức đầu tư thấp do hạn chế dòng tiền Nghiên cứu cũng thấy rằng kết nối chính trị của các công ty gia đình có thể giúp giảm thiểu vấn đề đầu tư kém hiệu quả, các công

ty bị hạn chế tài chính suy

Trang 33

giảm hiệu quả đầu tư Kết quả nghiên cứu giải thích thận trọng và thừa nhận một số khiếm khuyết

về định nghĩa kết nối chính trị không đầy đủ Ví dụ, một số CEO không có kết nối chính trị nhưng xây dựng mối quan hệ với các quan chức chính phủ thông qua hối lộ

Theo Shen và Lin (2015) “Các kểt nổi chỉnh trị, hạn chế tài chỉnh và đầu tư của câng ty” Nghiên

cứu sử dụng dữ liệu các công ty ở Đài Loan từ 1991 đến 2010 điều tra các công ty kết nối chính trị với đảng cầm quyền có thể giảm thiểu các hạn chế tài chính và tăng đầu tư của họ hay không? Kết quả cho thấy rằng các công ty kết nối với đảng cầm quyền có thể giảm thiểu những hạn chế tài chính, các công ty kết nối với đảng đối lập cũng không bị ảnh hưởng bởi quyền lực của đảng cầm quyền Các công ty kết nối với cả hai đảng có kết quả tương tự với những kết nối với đảng cầm quyền nhưng hiệu ứng yếu hơn so với kết nối với đảng cầm quyền Kết quả cho thấy thêm rằng các công ty bị hạn chế về mặt tài chính có thể tăng đầu tư khi họ có các kết nối chính trị với đảng cầm quyền

Theo Ho và cộng tác giả (2015) “Kết nối chỉnh trị, Chính sách của Chính phủ và Giao dịch nhà

đầu tư: Bằng chứng từ một thị trường mới nổi” Nghiên cứu xem xét kết nối chính trị

(PC-Political Connection), chính sách của chính phủ (GP-Govemment Policy), hoặc cả hai ảnh hưởng đến lợi nhuận chứng khoán trước và sau cuộc bầu cử tổng thống Đài Loan năm 2008 Các nghiên cứu trước đây đã tập trung vào PC hoặc hiệu ứng GP, trong khi nghiên cứu này xem xét cả hai tác động Nghiên cứu cũng xem xét hai hiệu ứng này có ảnh hưởng đến năm loại giao dịch của nhà đầu tư trong cuộc bầu cử hay không Cụ thể năm loại nhà đầu tư là: nhà đầu tư nước ngoài (foreign investors), công ty tín thác đầu tư an ninh (security investment trust companies), đại lý bảo mật (security dealers), giám sát viên của ban giám đốc (board of directors and supervisors)

và nhà đầu tư cá nhân (individual investors) Thay vào đó, nghiên cứu xác định các doanh nghiệp

Trang 34

có hiệu ứng PC và GP có chung lợi nhuận bất thường trong thời gian bầu cử

Theo Wang và cộng tác giả (2013) “Bất ổn chỉnh sách kinh tể và đầu tư doanh nghiệp: Một

nghiên cứu từ Trung Quốc ” Nghiên cứu chỉ ra rằng sự bất ổn chính sách kinh tế ảnh hưởng đến

đầu tư của công ty niêm yết tại Trung Quốc như thế nào Nghiên cứu cho thấy rằng khi mức độ bất ổn chính sách kinh tế càng cao thì các công ty đứng đầu giảm đầu tư và ngược lại Tuy nhiên, các công ty có lợi tức đầu tư cao, sử dụng nguồn tài chính tự có và không thuộc sở hữu nhà nước

sẽ ít bị tác động tiêu cực của chính sách bất ổn kinh tế đối với đầu tư của công ty Các doanh nghiệp ở các khu vực có độ nhạy thị trường cao sẽ nhạy cảm với sự bất ổn của chính sách kinh

tế và việc giữ minh bạch, ổn định trong việc thực hiện các chính sách kinh tế có thể cải thiện hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp Nghiên cứu sử dụng chỉ số đo lường bất ổn kinh tế EPƯ

(Economic Policy Uncertainty) được nghiên cứu bởi Baker và cộng tác giả (2011), sử dụng quy

mô doanh nghiệp, đoàn bẩy tài chính và các biến phụ thuộc khác để đánh giá tác động của bất

ổn chính sách kinh tế vĩ mô lên hoạt động đầu tư của doanh nghiệp

2.2.2 Các nghiền cứu trong nước

Tại Việt Nam có nghiên cứu của Markussen và Tarp (2011) “Các kết nối chỉnh trị và đầu tư

liên quan đến đất đai ở nâng thân Việt Nam ” Nghiên cứu sử dụng dữ liệu hộ gia đình từ nông

thôn Việt Nam để khám phá những ảnh hưởng của việc người thân có quyền lực chính trị Ket quả nghiên cứu cho thấy các hộ gia đình sẽ tăng đầu tư vào đất đai do các mối quan hệ đó, các gia đình được kết nối chính trị có quyền tiếp cận các khoản tín dụng dễ hơn về quen sở hữu đất đai an toàn hơn Ket quả cũng chỉ ra rằng các quan chức thích thông qua người thân để sở hữu các đất đai

Tại Việt Nam đề tài về tác động của bất ổn chính sách kinh tế vĩ mô đến hoạt động đầu tư đã

được các tác giả nghiên cứu như Nguyễn Thị Thúy An (2017): “Tác động của bất ổn kinh tể vĩ

mô lên đầu tư của doanh nghiệp Nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ ngược

Trang 35

chiều của các yếu tố đại diện bất ổn kinh tế vĩ mô và bất ổn kinh tế vĩ mô tác động đến đầu tư của doanh nghiệp, nó làm cản trở việc ra quyết định đầu tư của doanh nghiệp và các đợt bầu cử

ở Việt Nam tác động không cùng chiều lên đầu tư so với bầu cử ở Mỹ do chế độ một Đảng cầm quyền nên không gây ra xáo trộn chính sách khi các đợt bầu cử diễn ra Biến bầu cử có tương quan cao đến đầu tư có thể giải thích rằng việc bầu cử sẽ làm cho việc quản lý Nhà nước tốt hơn,

kỳ vọng của doanh nghiệp nhiều hơn cho việc thay đổi cách quản lý hay sửa đổi chính sách có

lợi cho doanh nghiệp Nguyễn Ngọc Phương Linh (2017): “Tác động của bất ổn kinh tể vĩ mô

lên đầu tư doanh nghiệp: Một nghiên cứu tại Việt Nam ” Nghiên cứu sử dụng 4 proxy đại diện

cho bất ổn kinh tế vĩ mô theo Baum và cộng tác giả (2005) gồm GDP, IPI, CPI, suất sinh lợi

của chỉ số VNIndex và quan hệ tiêu cực giữa bất ổn kinh tế vĩ mô lên hoạt động M&A

2.2.3 Phát triển giả thiết nghiền cứu

Kết nối chính trị có ảnh hưởng quan trọng đến giá trị của các công ty (Fisman 2001), lợi nhuận

cổ phiếu dài hạn (Cooper và cộng tác giả 2010), các khoản cứu trợ dành cho công ty (Faccio

và cộng tác giả 2006), họp đồng cho vay ưu đãi (Khwaja và Mỉan 2005 ), trở ngại tài chính (

Xu và cộng tác giả 2013), hạn chế tài chính (Shen và Lin 2015) Do vậy kết nối chính trị có

ảnh hưởng đến đầu tư của doanh nghiệp

Hi: Các công ty kết nối chính trị sẽ gia tăng hoạt động đầu tư

Các công ty bị hạn chế về tài chính có thể tăng đầu tư khi có kết nối chính trị với đảng cầm quyền tại Đài Loan và các công ty có sự kết nối chính trị chặt chẽ có thể làm giảm hạn chế tài chính

hiệu quả hơn Theo Shen và Lin (2015) Goldman và cộng tác giả (2009) cho thấy các kết nối thông qua các thành viên hội đồng quản trị làm tăng giá trị của các công ty Mỹ Theo Belo và cộng tác giả (2013) các công ty có kết nối chính trị dễ có được các dự án của chính phủ nên sẽ

gia tăng hoạt động đầu tư

H 2 : Các công ty kết nối chính trị sẽ gia tăng hoạt động đầu tư trong điều kiện bất

Trang 36

ỗn kỉnh tế vĩ mô

Bất ổn kinh tế vĩ mô có tác động tiêu cực lên đầu tư của công ty (Wang và cộng tác giả 2013)

Các công ty bị hạn chế năng lực tài chính sẽ hạn chế đầu tư do vấn đề bất cân xứng thông tin,

hiệu quả đầu tư và hạn chế về dòng tiền (Xu và cộng tác giả 2013) Tuy nhiên, kết nối chính trị

làm cho công ty tăng khả năng tiếp cận vốn thông qua tín dụng ngân hàng, bảo lãnh của chính phủ hoặc thông qua thị trường vốn làm cho dòng tiền của công ty luôn dồi dào nên chủ động trong các hoạt động đầu tư Một số nghiên cứu đã cho thấy rằng các công ty kết nối chính trị có

khả năng tiếp cận tài chính tốt hơn so với các công ty không có kết nối (Johnson và Mitton

2003, Cull và Xu 2005, Khwaja và Mỉan 2005, Faccio và cộng tác giả 2006, và Chen và cộng tác giả 2014) Bên cạnh hoạt động đầu tư, các công ty kết nối chính trị còn thể hiện vai trò đảm

bảo an sinh xã hội, an ninh quốc phòng nên hoạt động đầu tư diễn ra liên tục bất chấp điều kiện kinh tế

Trang 37

CHƯƠNG 3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu

3.1 Mô tả dữ liệu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài Ket nổi chính trị, bất ổn kinh tể vĩ mô và hoạt động đầu tư của

doanh nghiệp - Một nghiên cứu thực hiện cho các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh, đề tài sử dụng dữ liệu nghiên cứu từ các doanh nghiệp niêm yết trên Sở

giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và các dữ liệu kinh tế vĩ mô từ năm

2005 đến 2017 Nghiên cứu loại ra các công ty thuộc ngành ngân hàng, các quỹ đóng, quỹ mở,

do các hạng mục của báo cáo tài chính và quy định kế toán của các ngành này có tính đặc thù, không phù họp cho mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu cũng loại trừ các công ty không có thông tin, thiếu, mất dữ liệu và huỷ niêm yết bắt buộc Đặc biệt, nghiên cứu không đòi hỏi các doanh nghiệp phải có đủ 12 năm quan sát liên tục, vì một số doanh nghiệp có thời gian niêm yết ít hơn

12 năm quan, số liệu đuợc thu thập từ báo cáo tài chính đã đuợc kiểm toán, báo cáo thuờng niên, báo cáo quản trị công ty của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) Kết quả thu đuợc 314 doanh nghiệp phù họp với mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật winsorize dữ liệu ở mức 1 % và 99% nhằm ngăn chặn các ảnh huởng ngoại

lệ đến kết quả

Dữ liệu đuợc dùng trong phân tích hồi quy của bài nghiên cứu này là dữ liệu bảng vì bộ dữ liệu bao gồm cả hai chiều không gian và thời gian Dữ liệu bảng kết họp cả không gian và thời gian cung cấp nhiều thông tin hơn, nhiều bậc tụ do hơn, hiệu quả hơn, phù họp hơn cho các nghiên cứu của thay đổi

3.2 Nguồn thu thập dữ liệu

Dữ liệu biến PC đuợc Fan và cộng tác giả (2007) định nghĩa là công ty có thành viên hội đồng quản trị hoặc CEO đã từng hoặc đang làm việc trong các cơ quan nhà nuớc, quân đội từ trung uơng đến địa phuơng đuợc thu thập dựa vào thông tin lý lịch trích ngang của các thành viên hội đồng quản trị và CEO trên các báo cáo thuờng niên của

Trang 38

doanh nghiệp trong giai đoan 2005-2017

Dữ liệu doanh nghiệp gồm các biến: đầu tư, tổng tài sản, lợi nhuận sau thuế, khấu hao, dòng tiền, doanh thu, nợ phải trả, tỷ lệ nợ, giá trị sổ sách, giá trị thị trường được thu thập, tính toán dựa trên

dữ liệu báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE từ 2005-2017

Dữ liệu các biến kinh tế vĩ mô gồm: CPI theo tháng, IPI theo tháng, suất sinh lợi của chỉ số VNIndex theo tháng, tăng trưởng GDP theo năm, Dữ liệu GDP theo quý, dữ liệu GDP theo tháng dùng kỹ thuật Denton để chuyển dữ liệu GDP quý sang tháng dựa trên chỉ số IPI để phù họp với

bộ dữ liệu vĩ mô Các biến được thu thập trên dựa trên các nguồn sau: Cổng thông tin điện tử của tổng cục thống kê, các trang thông tin điện tử www.worldbank.org,www.ifm.org,https://fred.stlouisfed.org/

3.3 Mô hình và cách đo các biến nghiền cứu

3.3.1 Mô hình nghiền cứu

Mô hình nghiên cứu dựa trên sự kết họp nghiên cứu của nhóm tác giả Xu và cộng tác giả (2013)

và Gulen và cộng tác giả (2015)

❖ Mô hình 1

Mô hình các yếu tố tác động lên đầu tư của công ty

❖ Mô hình 2

Xem xét ảnh hưởng của kết nối chính trị đến đầu tư của công ty

CAPXit = a + jổ;CFit + y^Qit-1 + /^PCit-i + /^CFitPCit-1 + /?jQit-iPCit-i + //^Control + Pit

❖ Mô hình 3

Xem xét ảnh hưởng của bất ổn kinh tế vĩ mô đến đầu tư của công ty

Trang 39

CAPXit = a + P J C Fit + &Qit-i + ^MUit-i + /^Control + JLtit

❖ Mô hình 4

Xem xét ảnh hưởng bất ổn kinh tế vĩ mô và kết nối chính trị đến hành vi đầu tư của công ty và kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu của đề tài về vai trò của kết nối chính trị đối với đầu tư của doanh nghiệp trong bối cảnh có bất ổn kinh tế vĩ mô

/?7MUit-iPCit-i + /^Control + Pit

Trong đó:

CAPX Đầu tư của doanh nghiệp

CF Dòng tiền của doanh nghiệp (Cash Flow)

Q Chỉ số Tobin’s Q của doanh nghiệp

MU Bất ổn kinh tế vĩ mô (Macroeconomic Uncertainty)

PC Kết nối chính trị (Political Connections)

Control Biến kiểm soát gồm SALE và LEVERAGE

1 Các chỉ tiêu của doanh nghiệp

t Thời điểm t (năm)

3.3.2 Cách đo các biến nghiên cúu

❖ Biến phụ thuộc

CAPX được đo bằng:

CAPXi,t: Đầu tư của doanh nghiêp i tai thời điểm t chia cho tổng tài sản (TA) của doanh nghiệp i

tại thời điểm t nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của quy mô

Đầu tư của doanh nghiệp = Tiền mua tài sản cố định và các tài sản dài hạn khác - Tiền thu được

từ thanh lý tài sản cố định

❖ Biến độc lập

Trang 40

CF được đo bằng:

CFi,t : Dòng tiền của doanh nghiêp i tai năm t chia cho tổng tài sản (TA) của doanh

TA i,t-i

nghiệp i tại thời điểm t nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của quy mô

Dòng tiền của doanh nghiệp = Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao

Qit = Giá tri thi trường của doanh nghiêp i tai năm t chia cho giá tri sổ sách của BVit

doanh nghiệp i tại năm t Trong đó:

B v= Tổng tài sản - Nợ phải phải - TSCĐ Vô hình MP= Sổ lượng cổ phiếu phát

hành * Giá đóng cửa PC: Biến dummy đại diện cho kết nối chính trị của doanh nghiệp PC được

Fan và cộng tác giả (2007) định nghĩa là công ty có thành viên hội đồng quản trị hoặc CEO đã

từng hoặc đang làm việc trong các cơ quan nhà nước, quân đội từ trung ương đến địa phương được thu thập dựa vào thông tin lý lịch trích ngang của các thành viên hội đồng quản trị và CEO trên báo cáo thường niên của doanh nghiệp PC = 1 khi doanh nghiệp có kết nối chính trị và PC

= 0 khi doanh nghiệp không có kết nối chính trị

MU (Macroeconomic Uncertainty): Bất ổn vĩ mô của nền kinh tế MU được ước lượng từ dao động của bốn biến đại diện cho các yếu tố vĩ mô quan trọng của nền kinh tế gồm: GDPthực, IPI, CPI, suất sinh lợi từ chỉ số chứng khoán VNIndex Các biến vĩ mô của nền kinh tế được ước lượng từ mô hình chuỗi thời gian theo các quan sát theo tháng và dao động của biến vĩ mô là

phương sai có điều kiện được ước lượng từ mô hình ARCH/GARCH theo nghiên cứu Baum và cộng tác giả (2005) như sau:

Dispt (Cit/TAit) = fio + y?/MU2t + jntTrong đó MU được ước lượng từ 4 biến đại diện cho các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế bao gồm: MUi t Bất ổn kinh tế vĩ mô ước lượng theo GDPthực (Ký hiệu: MUiGDP)

21 Bất ổn kinh tế vĩ mô ước lượng theo IPI (Ký hiệu: MU2IPI)

Ngày đăng: 10/11/2019, 20:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w