Đạo đức của công chức trong thực thi công vụ là yếu tố then chốt đam bảo sự thành công của công cuộc cải cách nền hành chính ở nước ta hiện nay – hành chính phục vụ. Để xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Với ý nghĩa đó, đạo đức công chức cần được chuẩn mực trở thành bắt buộc mang tính nguyên tắc dựa trên pháp luật.II.KHÁI NIỆM1.Đạo đứcTrên thế giới hiện nay vẫn chưa có cách định nghĩa chung về đạo đức. nhưng tựu chung lại ta có thể hiểu Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội,với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội .
Trang 1ĐẠO ĐỨC THỰC THI CÔNG
VỤ CỦA CÔNG CHỨC
MÔN: ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ
NHÓM : A6 LỚP:KH12NS- 01
Trang 2I Các nội dung chính
Trang 3 1 Đạo đức: là một phạm trù lịch sử thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng
xử của con người trong quan hệ với nhau, với nhà nước và xã hội, với tự nhiên, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.
II Các khái niệm
Trang 42 Công chức : (Quy định tại Điều 4-Luật cán bộ công chức năm 2008): Là công dân Việt Nam, được tuyển dụng,
bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị
- xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị
sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Trang 5 Đạo đức công vụ: là đạo đức cá nhân và các khía cạnh liên quan đến đạo đạo đức nghề nghiệp của công chức.
Trang 6 Thực thi công vụ: là công việc do người công chức đảm nhiệm, thực hiện theo quy định của Hiến pháp & pháp luật, được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và
xã hội
Trang 7Giai đoạn pháp luật hóa
Giai đoạn tự giác
Trang 8Quá trình hình thành đạo đức công vụ
là một quá trình từ nhận thức, ý thức đến tư duy hành động và cuối cùng được chuẩn hóa thành các quy tắc, quy chế, pháp luật của Nhà nước
Trang 9 Là giai đoạn tự nhận thức về các giá trị, các chuẩn mực hành vi, cách ứng
xử và quan hệ của công chức trong
Trang 10Trong xã hội phong kiến: Đạo đưc công vụ không được thể hiện qua các chuẩn mực đạo đức mà thông qua các phán quyết, khẩu dụ của nhà vua.
Đến xã hội tư bản và cộng sản: Đạo đức công vụ được quy định rõ trong pháp luật và các chuẩn mực đạo đức
xã hội
Trang 11Giá trị của đạo đức công vụ (pháp
luật về công vụ) được thể chế hóa,
pháp luật hóa trong luật, đạo luật,
những điều lệ, qui tắc, qui chế, những thủ tục bắt buộc
chuẩn mực đạo đức, hành vi ứng xử của cán bộ công chức
2 Giai đoạn pháp luật hóa
Trang 12Hầu hết các nước trên thế giới đều đưa ra những giá trị về chẩn mực đaọ đức công
vụ và luật hóa nó lên thành luật, đạo luật… mang tính pháp lý
Ở Việt Nam có Luật Cán bộ - Công chức (2008)
Trang 13 Đây là hành vi cuối cùng, là đích đến cuối cùng trong việc thực hiện hành vi đạo đức mang ý nghĩa đặc trưng cho công vụ.
Công cụ pháp luật không phải là chìa
khóa vạn năng trong quản lí công việc,
công cụ nếu thiếu đi sự tự giác thì công chức sẽ đặt lợi ích riêng lên lợi ích chung
3 Giai đoạn tự giác
Trang 14 vì vậy phải làm cho công chức thấm nhuần tư tưởng giá trị và chuẩn mực của đạo đức công chức để họ tự giác thực hiện không cần “phong trào” hay cưỡng chế bằng pháp luật.
Trang 16IV.Các yếu tố đạo đức công vụ
Trang 17Công việc
Con người để thực thi công việc.
Tổng quan: Công vụ dựa trên 2 yếu
tố cơ bản:
Trang 18 Công việc của nhà nước do đội ngũ cán bộ công chức thực hiện, do vậy muốn tìm hiểu đạo đức công cụ trước hết ta phải xem xét đạo đức của người công chức Bởi đây là yếu tố hết sức quan trọng.
Trước hết, công chức là người tạo ra khuôn khổ
pháp luật, họ sẽ am hiểu những chân giá trị của các quy định pháp luật, nếu không làm tốt thì sẽ ảnh hưởng xấu tới xã hội.
1 Đạo đức công vụ trước hết được hình
thành từ đạo đức cá nhân của công chức.
Trang 19Thứ hai, công chức là người triển khai pháp
luật vào đời sống nên sự tuân thủ pháp luật của họ cũng là tấm gương cho người khác theo.
Thứ ba, công chức là công dân do đó họ có
ngĩa vụ phải tuân thủ quy định của pháp luật.
Trang 20 Đạo đức xã hội là chuẩn mực của gia trị của từng giai đoạn phát triển của xã hội.
Đạo đức xã hội và cam kết thực hiện những giá trị chuẩn mực của đạo đức
xã hội sẽ tạo tiền đề cho xã hội phát triển.
2.Đạo đức công vụ được hình thành từ khía cạnh đạo đức xã hội của công chức
Trang 21Về phương diện xã hội, công chức phải là người tích cực chống lại những thói xa hoa, lãng phí Tránh tạo
ra những hiện tượng xấu
Trang 22 Ở đây đạo đức nghề nghiệp của công chức là đạo đức của việc cung cấp dịch vụ cho xã hội,
vì vậy họ phải trung thực, không thiên vị và có thái độ phục vụ nhân dân sao cho phù hợp.
3.Đạo đức nghề nghiệp của công
chức
Trang 23 Không ít công chức hiện nay có những hành vi không đúng mực trong quá trình thực thi công
vụ khiến nhân dân mất lòng tin và không hài lòng với cách làm việc của không ít cán bộ công chức.
Trang 24Khi thực thi công vụ thì đòi hỏi người công
chức phải có đạo đức cá nhân, xã hội theo
hướng tích cực, được xã hội chấp nhận
4.Đạo đức công vụ là sự tổng hòa của hai nhóm đạo đức khi thực thi công vụ của công chức và được pháp luật quy định cụ thể
Trang 25 Đạo đức thực thi công vụ của công chức phải tự trong lòng mỗi công chức phải thực hiện đúng ba yếu tố:
Đạo đức cá nhân, xã hội
Những quy định pháp luật riêng cho hoạt động công vụ
Trang 26 Bác Hồ đã từng nói “ muốn có xã hội chủ nghĩa thì phải có con người chủ nghĩa xã hội” Vì vậy cho nên muốn có những công chức thực thi công vụ có đạo đức thì họ phải là những người có đạo đức mang tính
tự giác cao
Trang 271 Nguyên tắc thực thi công vụ
Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật
Bảo vệ lợi ích của NN, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân
V Phần mở rộng
Trang 28Công khai, minh bạch và đúng thẩm quyền
Bảo đảm tính hệ thống, thống nhất, liên tục, thông suốt và hiệu quả
Bảo đảm thứ bậc hành chính và sự phối hợp chặt chẽ
Trang 29 Quy định những điều “phải làm”: Nhiệm vụ
Quy định những điều “được làm”: được làm những điều PL không cấm nhưng phải đảm bảo các yêu cầu đề ra (không làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, của các tổ chức khác và của các công dân)
Quy định những điều “không được làm” một số việc do tính đặc trưng của công việc trong các
cơ quan NN.
2.Trách nhiệm với thực thi công vụ
Trang 30Tham nhũng
Cẩu thả
3.Biểu hiện vi phạm đạo đức thực
thi công vụ của công chức
Trang 31Hối lộ
Lạm dụng quyền hạn của công chức
Lãng phí
Trang 32Giá trị dân chủ:
Trung thực, không thiên vị
Trung thành, đúng pháp luật
4.Đạo đức thực thi công vụ là sự hài
hòa của các giá trị
Trang 35 Đạo đức công vụ:
Là vấn đề quan trọng Nhà nước luôn chủ động xây dựng và hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức – pháp lý cho hành vi công chức trong hoạt động công vụ.
Các quy phạm pháp luật và các quy phạm đạo đức có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong việc xác lập các chuẩn mực, nguyên tắc hành động cho công chức trong hoạt động công vụ.
VI Tổng kết
Trang 36Hệ thống PLVN đã và đang ngày càng hoàn chỉnh chế định pháp lý này
Trang 37Cảm ơn thầy cô và các bạn đã chú ý lắng nghe bài thuyết trình của nhóm A6!!!