Thanh tra xây dựng được tổ chức theo hệ thống từ Trung ương là Thanh tra Bộ xây dựng đến các địa phương là Thanh tra Sở xây dựng nhằm thực hiện chức năng thanh tra hành chính và than
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH THỊ YẾN
§¹O §øC TRONG THùC THI C¤NG Vô CñA C¤NG CHøC
NGµNH THANH TRA X¢Y DùNG
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS VŨ ĐỨC ĐÁN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đinh Thị Yến
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC NGÀNH THANH TRA XÂY DỰNG 8
1.1 Quan niệm về đa ̣o đức 8
1.2 Quan niệm về đạo đức trong thực thi công vụ 16
1.2.1 Khái quát chung về hoạt động thực thi công vụ 16
1.2.2 Quan niệm về đạo đức trong thực thi công vụ 19
1.2.3 Vai trò của đạo đức trong thực thi công vụ 22
1.3 Đa ̣o đức trong thực thi công vu ̣ của công chức ngành thanh tra xây dựng 25
1.3.1 Khái quát chung về công chức ngành thanh tra xây dựng 25
1.3.2 Chuẩn mực đạo đức trong thực thi công vu ̣ của công chức ngành thanh tra xây dựng 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 46
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC TRONG THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC NGÀNH THANH TRA XÂY DỰNG 47
2.1 Khái quát chung về lịch sử hình thành và phát triển các quy định pháp luật về đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng 47 2.2 Biểu hiện đạo đức trong thực thi công vụ của công chức
Trang 42.2.1 Những thành tựu đạt được về nâng cao đạo đức trong thực thi
công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng 57
2.2.2 Một số hạn chế về đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng 78
2.2.3 Nguyên nhân hạn chế về đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng 82
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 88
Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ĐẠO ĐỨC TRONG THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC NGÀNH THANH TRA XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 89
3.1 Yêu cầu về tăng cường đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng 89
3.1.1 Yêu cầu đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng 89
3.1.2 Yêu cầu phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 90
3.1.3 Yêu cầu phù hợp với việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN 91
3.1.4 Yêu cầu phù hợp với truyền thống vẻ vang và tốt đẹp của ngành thanh tra 93
3.1.5 Yêu cầu phù hợp với Chương trình cải cách tổng thể nền hành chính; Chương trình cải cách chế độ công vụ, công chức 94
3.1.6 Yêu cầu gắn với quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thanh tra xây dựng 95
3.2 Giải pháp tăng cường đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng 97
3.2.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng 97
3.2.2 Nâng cao hiệu quả Chương trình phòng chống tham nhũng 100
3.2.3 Nâng cao hiệu quả Chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí 101
3.2.4 Nâng cao hiệu quả hoạt động thi đua khen thưởng 102
Trang 53.2.5 Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thanh tra xây dựng 103 3.2.6 Cải cách về chế độ tiền lương và đãi ngộ đối với công chức ngành
thanh tra xây dựng 111 3.2.7 Tăng cường hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát thực
hiện đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng 113 3.2.8 Xây dựng và ban hành bộ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp công
chức ngành thanh tra xây dựng 116
KẾT LUẬN 119 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CBCC: Cán bô công chức TTCP: Thanh tra Chính Phủ TTXD: Thanh tra xây dựng XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đạo đức là một phạm trù thuộc hình thái ý thức xã hội có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của các quốc gia nói chung và đối với các ngành nghề trong xã hội nói riêng Mỗi ngành nghề trong xã hội đều có những chuẩn mực đạo đức, những khuôn mẫu, những tiêu chuẩn hành vi hình thành nên chân giá trị của những nghề nghiệp đó Các đặc điểm này chi phối, định hướng, dẫn dắt hành vi và thái độ đối với các cá nhân trong nghề nghiệp đó tạo thành nét riêng biệt để phân biệt với các nghề khác trong xã hội
Thanh tra luôn được coi là một chức năng, nhiệm vụ quan trọng của nhà nước ta Hoạt động thanh tra nhằm mục đích phòng ngừa, phát hiện và xử
lý, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền các biện pháp khắc phục, phát huy nhân tố tích cực góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân
Thanh tra xây dựng được hiểu là một loại thanh tra nhà nước được thành lập theo ngành, lĩnh vực Thanh tra xây dựng được tổ chức theo hệ thống từ Trung ương là Thanh tra Bộ xây dựng đến các địa phương là Thanh tra Sở xây dựng nhằm thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong phạm vi quản lý nhà nước về lĩnh vực xây dựng bao gồm: Xây dựng, vật liệu xây dựng, nhà ở và công sở, kiến trúc quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn, hạ tầng kỹ thuật theo quy định của pháp luật.Đặc biệt, khi Nghị Định 26/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013 quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra ngành xây dựng thay thế Nghị định 46/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005 và chấm dứt thực hiện Quyết định
Trang 8lập Thanh tra xây dựng quận, huyện và thanh tra xây dựng xã, phường thị trấn tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh thì lực lượng công chức ngành Thanh tra xây dựng trong cả nước đã được thống nhất về mô hình quản
lý Theo đó công chức Thanh tra xây dựng đã từng thực hiện theo Quyết định 89/2007/QĐ-TTg ngày 18/6/2007 ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã sát nhập về Thanh tra Sở Xây dựng, thực trạng này đã đặt ra vấn đề đạo đức trong thực thi công vụ của lực lượng công chức Thanh tra xây dựng lại trở nên cần quan tâm hơn bao giờ hết
Hoạt động thực thi công vụ nói chung và hoạt động thực thi công vụ của công chức thanh tra xây dựng nói riêng được coi là một “nghề “đặc thù trong xã hội với tầm quan trọng của nó có ảnh hưởng sâu sắc đối với sự phát triển của xã hội và nền hành chính Hiện nay, ngoài những thành tựu đã đạt được về đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra góp phần vào công cuộc cải cách tổng thể nền hành chính, cải cách chế độ công chức, công vụ, tiếp tục học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thì một bộ phận không nhỏ công chức thanh tra xây dựng đã có biểu hiện đi xuống về đạo đức như tham nhũng, không chấp hành đúng các quy định của pháp luật trong thực thi công vụ Sở Xây dựng thành phố Hà Nội và các quận, huyện, thị xã đã xem xét xử lý kỷ luật khiển trách 44 trường hợp, cảnh cáo 30 trường hợp, cách chức 4 trường hợp, bãi nhiệm 2 trường hợp, buộc thôi việc 5 trường hợp và xử lý kỷ luật bằng hình thức khác 57 trường hợp [40, tr.5] Sở Xây dựng thành phố Thành phố Hồ Chí Minh đã xử lý lỷ luâ ̣t 74 công chức và nhân viên hợp đồng và ta ̣m đình chỉ công tác 1 Phó Chánh thanh tra xây dựng để kiểm điểm [42, tr.3] Đây được coi là tình trạng
“báo động” về đi xuống đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng gây ảnh hưởng đến hình ảnh của công chức ngành thanh tra xây dựng nói riêng và uy tín của cơ quan công quyền đối với công dân
Trang 9Ngoài ra, trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện Chương trình cải cách tổng thể hành chính giai đoạn 2011-2020; thực hiện Chương trình cải cách công vụ, công chức và toàn ngành thanh tra tích cực thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 1973 – CT/TTg, ngày 07/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Chỉ thị số 345/CT-TTCP của Tổng Thanh
tra Chính phủ ngày 23/02/2012 “về việc đẩy mạnh học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh; nâng cao chất lượng thực thi công vụ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thanh tra kỷ cương, trách nhiệm, cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”, thì vấn đề tăng cường đạo đức trong thực
thi công vụ của công chức ngành thanh tra nói chung và công chức ngành thanh tra xây dựng trở nên quan trọng hơn lúc nào hết
Xuất phát từ lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Đạo đức trong thực thi
công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng” làm luận văn thạc sĩ
luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, trong thời gian qua, việc nghiên cứu về đạo đức công vụ trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng nhìn chung còn mới mẻ, chưa được quan tâm đầy đủ, do trên thực tế những công trình khoa học nghiên cứu về đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng còn rất ít
Các đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu về thanh tra và thanh tra xây
dựng như: Luận văn tiến sĩ Luật học: “Những vấn đề pháp lý cơ bản của việc
đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra nhà nước Việt Nam” của tác giả Phạm
Tuấn Khải; Luận văn thạc sĩ Luật học: “Vai trò của các cơ quan thanh tra nhà
nước trong giải quyết khiếu nại hành chính ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn
Văn Kim (năm 2004); Đề tài khoa học cấp bộ: “Thực trạng tổ chức và hoạt
Trang 10động thanh tra bộ, ngành, chuyên ngành ở nước ta - những vấn đề đặt ra và giải pháp” của tác giả Phạm Văn Khanh năm 1997”; Đề tài khoa học "Xác định mức độ thất thoát trong đầu tư xây dựng" của Tổng Hội xây dựng Việt Nam
(năm 2005); “Phòng, chống tham nhũng trong xây dựng cơ bản” của tác giả Lê Thế Tiệm Thanh tra Nhà nước (2007): "Những nội dung cơ bản của Luật
thanh tra" - Sách hướng dẫn nghiệp vụ Nguyễn Ngọc Tản "Một số vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật về thanh tra” - Tạp chí Thanh tra số 1 - 2007
Một số đề tài, công trình nghiên cứu về đạo đức công chức, đạo đức công vụ
như: Th.s Lê Thị Hằng, “Đạo đức công chức và xây dựng đạo đức công chức ở
Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sỹ Triết học; TS Cao Minh Công (2012),
“Trách nhiệm công vụ và đạo đức công chức ở nước ta hiện nay”, Luận văn
Tiến sỹ Triết học; TS Đỗ Xuân Đông (2006), “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Luật đạo đức công vụ Việt Nam”, Đề tài khoa học cấp Bộ…
Nhìn chung các công trình nghiên cứu nêu trên đã nghiên cứu, phân tích lý giải nhiều vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động thanh tra và thực trạng của thanh tra và pháp luật về thanh tra nói chung Nghiên cứu và phân tích đạo đức trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức nói chung Tuy nhiên, các công trình đó chưa đề cập cụ thể đến những vấn đề của hoạt động thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực xây dựng cũng như đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng vốn được coi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa các kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của vấn đề đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng nhằm phân tích thực trạng và đưa ra các biện pháp tăng cường đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng Mặc dù vậy, những công trình khoa học đã được công bố nêu trên là tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu và hoàn thiện đề tài của luận văn
Trang 11Có thể khẳng định rằng luận văn “Đạo đức trong thực thi công vụ của
công chức ngành thanh tra xây dựng” được coi là công trình đầu tiên nghiên
cứu về vấn đề trên và đặt trong bối cảnh cả nước đang thực hiện Chương trình cải cách tổng thể nền hành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức, ngành thanh tra đang tích cực thi đua học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 345/CT-TTCP của Tổng Thanh tra Chính phủ ban hành
3 Nhiệm vụ và ý nghĩa của luận văn
3.1 Nhiệm vụ của luận văn
- Nghiên cứu làm rõ các vấn đề về lý luận của đạo đức, đạo đức công
vụ, thanh tra xây dựng, công chức ngành thanh tra xây dựng và yêu cầu đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng
- Đánh giá khái quát sự hình thành và phát triển của các quy định pháp luật có liên quan về đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng; những kết quả đạt được về đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng; làm rõ những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân của vướng mắc, bất cập về đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng hiện nay
- Luận giải các quan điểm và đưa ra các giải pháp tăng cường đạo đức trong thực thi công vụ đối với công chức ngành thanh tra xây dựng
3.2 Ý nghĩa của luận văn
- Có ý nghĩa thực tiễn góp phần tăng cường đạo đức trong thực thi công
vụ của công chức ngành thanh tra nói chung và công chức ngành thanh tra xây dựng nói riêng
- Đóng góp cho công tác tăng cường chất lượng, hiệu quả giải quyết các công việc theo quy định của công chức ngành thanh tra nói chung và công chức ngành thanh tra xây dựng nói riêng khi thực thi công vụ
- Đóng góp một phần vào thành quả của Chương trình cải cách tổng thể
Trang 12nền hành chính giai đoạn 2011-2020; Chương trình cải cách chế độ công vụ, công chức; thi đua học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 354/CT- TTCP của Tổng Thanh tra Chính phủ
- Đồng thời, luận văn cung cấp cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, là tài liệu tham khảo cho những người trực tiếp làm công tác thanh tra xây dựng, công tác giảng dạy, học tập trong các trường Đại học chuyên ngành Luật, trường Đào tạo cán bộ Thanh tra…
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề về mặt lý luận của đạo đức, đạo đức công vụ, thanh tra xây dựng và công chức ngành thanh tra xây dựng, các yêu cầu về đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng; nghiên cứu về thực trang đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng; nghiên cứu về quan điểm và đưa ra giải pháp tăng cường đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thành tra xây dựng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề về đạo đức trong thực thi công
vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng theo các quy định của pháp luật
về đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng tại các văn bản như Luật cán bộ, công chức năm 2008, Luật phòng chống tham nhũng năm 2012, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí 2013, Luật Thanh tra năm 2010 cùng các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan
Luận văn nghiên cứu về thực trạng đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng từ năm 2011 đến nay theo các báo cáo của Thanh tra xây dựng, Bộ Xây dựng và Sở xây dựng
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện dựa trên việc vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phép biện chứng của Chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật
Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể là phân tích, đối chiếu, so sánh, thống kê và tổng hợp; phương pháp phân tích quy phạm cũng được tác giả vận dụng để phân tích, bình luận nội dung của một số chế định
6 Điểm mới của luận văn
Luận văn đề cập khá toàn diện và đầy đủ các vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn về đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng theo yêu cầu của Chương trình cải cách tổng thể nền hành chính giai đoạn 2011-2020; Chương trình cải cách chế độ công vụ, công chức; thi đua học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 354/CT- TTCP của Tổng Thanh tra Chính phủ
Luận văn đưa ra và phân tích cụ thể các yêu cầu về đạo đức trong thực thi công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng dựa trên sự tổng hợp các quy định của pháp luật về đạo đức trong khi thực thi công vụ của công chức
7 Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về đạo đức trong thực thi công vụ của
công chức ngành thanh tra xây dựng
Chương 2: Thực trạng đạo đức trong thực thi công vụ của công chức
ngành thanh tra xây dựng
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường đạo đức trong thực thi
công vụ của công chức ngành thanh tra xây dựng
Trang 14Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG THỰC THI CÔNG
VỤ CỦA CÔNG CHỨC NGÀNH THANH TRA XÂY DỰNG
1.1 Quan niệm về đa ̣o đức
Đạo đức là một hiện tượng xã hội phản ánh các mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ bản thân cuộc sống của con người Đạo đức là tập hợp những quan điểm của một xã hội, của một tầng lớp xã hội, của một tập hợp người nhất định về thế giới, về cách sống Nhờ đó con người điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội Từ thời cổ đa ̣i đến nay xã hô ̣i loài người đã hình thành rất nhiều quan niê ̣m về đa ̣o đức Ở mỗi xã
hô ̣i khác nhau sẽ hình thành những quan niê ̣m về đa ̣o đức khác nhau và ở hình thái nhà nước càng phát triển thì quan niệm về đạo đức càng được hoàn thiện hơn Cụ thể trong lịch sử phát triển của xã hội loài người từ cổ đại đến nay đã hình thành một số quan niệm chủ yếu về đạo đức như sau:
Quan niệm đạo đức thời Cổ đại:
Quan niệm về đạo đức hình thành rất sớm ở Hy Lạp cổ đại Nó phản ánh cuộc đấu tranh giữa quan niệm duy vật và duy tâm, giữa tầng lớp chủ nô dân chủ tiến bộ và tầng lớp chủ nô quý tộc và phần nào phản ánh cuộc đấu tranh giữa nô
lệ và chủ nô Đại biểu xuất sắc cho chủ nghĩa duy vật và tầng lớp chủ nô dân chủ tiến bộ là Đêmôcrít, Êpiquya, còn đại biểu cho chủ nghĩa duy tâm và chủ nô quý tộc là Platôn Các nhà triết học đại diện cho chủ nghĩa duy vật quan niệm đối tượng nghiên cứu của đạo đức học là cuộc sống, hành vi, số phận của mỗi cá nhân Hạnh phúc hay bất hạnh, giàu có hay nghèo nàn, thành công hay thất bại đều do hoạt động kinh tế (thủ công và thương mại) tạo ra, không do "Thượng đế" chi phối Tiêu chuẩn đánh giá đạo đức tốt hay xấu của từng cá nhân gắn động cơ, ý thức với hành động, đó là quan niệm tiến bộ của ông
Trang 15Còn đại diện cho chủ nghĩa duy tâm thì cho rằng hạt nhân trung tâm trong đạo đức của ông là lương tâm trong sáng, là sự lành mạnh về tinh thần của từng cá nhân Quan niệm đạo đức được phát triển theo hướng duy tâm khách quan Nếu Xôcrát thừa nhận đạo đức con người và tri thức thống nhất là một, cái thiện phổ biến (cái chung) là cơ sở của đạo đức, là tiêu chuẩn của đức hạnh, thì Platôn lại cho rằng linh hồn được tạo ra bởi "Thượng đế "mới là
cơ sở, nền tảng tạo nên đời sống đạo đức Theo Platôn, giữa linh hồn và thể xác hoàn toàn đối lập nhau, thể xác chỉ là chỗ trú ngụ tạm thời của linh hồn Thể xác không bất diệt, chỉ có linh hồn mới bất diệt Nhưng linh hồn cũng bao gồm ba phần: lý tính (trí tuệ), xúc cảm và cảm tính, trong ba phần ý chỉ lý tính là bất diệt; tương ứng với ba phần của linh hồn con người, xã hội sẽ có ba hạng người, ba đẳng cấp tùy thuộc người có bộ phận linh hồn nào giữ vai trò chủ đạo Ông cho rằng, chỉ những nhà triết học, những người thông thái và quý tộc mới đạt đạo đức thanh cao, đạo đức của thường dân chỉ là sự kiềm chế dục vọng thấp hèn, họ chỉ thích nghi với lao động chân tay, còn nô lệ thì không có đạo đức, vì không phải là người, chỉ là "động vật biết nói"
Sau thời kỳ cổ đại, với sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất, cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt của giai cấp nô lệ chống giai cấp chủ nô và các cuộc chiến tranh liên miên, tàn khốc giữa các nhà nước chủ nô đã dẫn đến sự tan
rã của chế độ chiếm hữu nô lệ cả ở phương Đông lẫn phương Tây làm xuất hiện chế độ xã hội mới; xã hội phong kiến Chế độ phong kiến dựa trên cơ
sở sở hữu ruộng đất lớn Khác với nô lệ, người nông dân có công cụ sản xuất riêng và có nền kinh tế riêng dựa vào lao động cá nhân và đem lại cho họ những điều kiện sinh sống cần thiết Bọn địa chủ vẫn có quyền điều nông dân ra khỏi lãnh đại của mình, nhưng không có quyền giết họ Đó là một bước tiến của đạo đức xã hội, thật ra địa vị người nông dân cũng chẳng hơn bao nhiêu so với nô lệ Sự phụ thuộc về kinh tế và sự cưỡng ép trực tiếp đã
Trang 16buộc họ phải cày cấy ruộng đất của địa chủ và làm trăm nghìn công việc có lợi cho giai cấp phong kiến
Ở đây, tồn tại nhiều kiểu đạo đạo đức, có cả đạo đức của chính giai cấp phong kiến lại có đạo đức của giai cấp nông dân và nhân dân lao động Đạo đức thống trị trong xã hội phong kiến trước hết và đạo đức học của gai cấp phong kiến Tuy nhiên, tư tưởng đạo đức học ở phương Tây thường xuất phát
từ những tín điều của tôn giáo Ở phương Đông đạo đức học không hoàn toàn
lệ thuộc vào tôn giáo mà thường xuất phát từ quan hệ giữa người và người được nhìn qua lăng kính của học thuyết nho giáo Yêu cầu chung của đạo đức thống trị là bầy tôi phải trung với vua, chư hầu phải trung với thiên tử, nông dân phải trung với địa chủ Khổng Tử đặc biệt coi trọng lễ (tức là trật tự phong kiến), yêu cầu phải chính danh định phận (vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con), yêu cầu này về sau được cụ thể hoá trong công thức tam cương ngũ thường
Ở phương Tây, giai cấp phong kiến đưa lên hàng đầu khái niệm danh
dự để cho mỗi cá nhân quý tộc ý thức được địa vị của mình trong xã hội, khẳng định thân phận và phẩm chất đạo đức của cá nhân gắn liền trước hết với tính "cao quý" của dòng dõi Ở đâu, giai cấp phong kiến cũng coi khinh lao động và quần chúng lao động, đòi hỏi họ phải "giữ phận", chung thuỷ và trung thành vô điều kiện với bề trên Theo giai cấp phong kiến, trật tự phong
kiến là thiêng liêng, do trời định; Khổng Tử dạy phải biết "sợ mệnh trời, sợ
đại nhân (tức là bậc trên), sợ lời nói của thánh nhân (tức là nhà tư tưởng phong kiến)" [28, tr.7], còn giáo hội phương Tây thì truyền bá tư tưởng phục
tùng tuyệt đối đấng Chúa Trời coi đó là phẩm chất đạo đức cao nhất Quan niệm đạo đức của giai cấp thống trị vừa ảnh hưởng, vừa đối lập với quan niệm đạo đức của nông nô và nông dân Một mặt, chính sách ngu dân của phong kiến, địa vị xã hội hèn mọn của nông dân, nuôi dưỡng ở họ tính yên phận,
Trang 17nhẫn nhục, thói quen phục tùng, thái độ tôi tớ đối với phong kiến Mặt khác,
sự bóc lột tàn bạo cũng như thực trạng đạo đức giả trong bản thân giai cấp phong kiến làm nảy sinh lòng phẫn nộ và tinh thần phản kháng, nổ ra thành những cuộc khởi nghĩa nông dân liên miên suốt thời trung đại
Quan niệm đạo đức thời Cận đại:
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, nhất là khoa học tự nhiên, của sản xuất và cuộc đấu tranh liên tục của giai cấp nông dân chống địa chủ, phong kiến… đã thúc đẩy xã hội phương Tây bước vào một thời kỳ mới - thời
kỳ Phục hưng và Cận đại (từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII) Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được hình thành và trở thành xu thế lịch sử tất yếu, không có thế lực nào ngăn cản nổi Chính sự quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản là tiền đề thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của triết học, trong đó có đạo đức học, nhất là các tư tưởng nhân đạo Tin tưởng vào sức mạnh của con người, coi "con người là thước đo của mọi vật" chi phối suy nghĩ, hành động của các nhà tư tưởng
Những quan niệm đạo đức tiêu biểu của thời Phục Hưng và Cận đại tuy
có mặt hạn chế nhưng quan niệm về đạo đức cũng có những yếu tố tích cực đáng được kế thừa và phát triển trong hoàn cảnh mới như:
- Đề cao rèn luyện, tu dưỡng bản thân (Nho giáo, Phật giáo);
- Phát hiện nguồn gốc sinh ra mọi bất công trong xã hội là sở hữu tư nhân;
- Tin vào sức mạnh của con người, con người là chủ thể của xã hội;
- Tìm ra nguồn gốc thúc đẩy xã hội phát triển là quá trình nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn;
- Gắn xây dựng đạo đức với xây dựng luật pháp, nhà nước;
- Đề cao vai trò, vị trí của cá nhân trong xã hội…
Chính những yếu tố tích cực tiến bộ này đã được C.Mác, Ph.Ăngghen
kế thừa để xây dựng nên học thuyết cách mạng, khoa học về đạo đức
Trang 18Quan niệm đạo đức của Mác – xít:
Những quan niệm đạo đức trước Mác tuy có những hạn chế do hoàn cảnh lịch sử, do địa vị giai cấp và nhận thức, nhưng cũng có đóng góp nhất định để hình thành một bộ môn khoa học mới - đạo đức học mác-xít Đạo đức học mác-xít đã khắc phục mặt hạn chế, kế thừa yếu tố tiến bộ để đưa ra quan niệm đúng đắn, khoa học về đạo đức
Theo quan niệm mác-xít:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội [28, tr 8]
Định nghĩa trên cho thấy, triết học, chính trị, pháp quyền, nghệ thuật, tôn giáo… đạo đức là những hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống xã hội dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau Đời sống xã hội (xét đến cùng là chế độ kinh tế - xã hội) là nguồn gốc nảy sinh các quan điểm về đạo đức của con người
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầng, phản ánh tồn tại xã hội về mặt đạo đức, khi tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức
xã hội (trong đó có đạo đức) cũng thay đổi theo, C Mác và Ph.Ăngghen khẳng định:
Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng
đồ sộ cũng đảo lộn ít nhiều nhanh chóng và phương thức sản xuất
ra đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định
ý thức của họ [17, tr.15]
Trang 19Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, đạo đức được sinh ra trước hết từ nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất, trong đấu tranh xã hội, quản lý xã hội, phân phối sản phẩm và trong quan hệ giữa con người với con người để con người tồn tại và phát triển Chính lao động là giá trị đạo đức hàng đầu của mọi thang bậc giá trị, vì nó sáng tạo ra giá trị cao nhất, sáng tạo ra con người, hoàn thiện phẩm cách con người để xã hội tồn tại
và phát triển vì: "Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống
loài người" [17, tr 641]
Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, xã hội tư bản tất yếu sẽ bị diệt vong,
xã hội cộng sản chủ nghĩa nhất định sẽ thay thế xã hội tư bản, người thực hiện
sứ mệnh lịch sử này là giai cấp công nhân, giai cấp vô sản; sau khi giành được chính quyền, thiết lập sự thống trị chính trị của mình, cùng với việc xây dựng
xã hội mới, tiến bộ giai cấp vô sản sẽ xây dựng nên nền đạo đức mới của mình, đó là đạo đức cộng sản
Đạo đức cộng sản là giai đoạn cao trên con đường phát triển của đạo
đức nhân loại, theo V.I Lênin, đạo đức cộng sản đó là: "Những gì góp phần
phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động xung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của người cộng sản" [56, tr 41], vì vậy, đạo đức cộng sản phản ánh lợi ích căn bản của
giai cấp vô sản trong cách mạng vô sản, nó là vũ khí tinh thần giúp giai cấp công nhân xóa bỏ xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội XHCN và cộng sản chủ nghĩa
Quan niệm đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
Trên cơ sở tiếp thu quan niệm đạo đức cộng sản chủ nghĩa, kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại, đạo đức truyền thống của dân tộc, xuất phát từ tình hình thực tế của xã hội Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm của mình về đạo đức, coi đó là "gốc", là "nền
Trang 20tảng" của con người mới, xóa bỏ mọi áp bức bất công, cùng nhau xây dựng một xã hội tương lai tốt đẹp - XHCN và cộng sản chủ nghĩa, đạo đức là đạo
đức mới - đạo đức cách mạng
Đạo đức cách mạng do chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng và cùng với Đảng ta xây dựng, bồi đắp là đạo đức cộng sản, mang bản chất giai cấp công nhân, kế thừa truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, trên cơ sở thực tiễn cách mạng Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại Đạo đức
Không phải là vì danh vọng của cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người; quyết tâm suốt đời đấu tranh cho đảng, cho cách mạng, đó là điều chủ chốt nhất; ra sức làm việc cho Đảng, giữ gìn kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng; đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình Hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân ; vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ; là ở chỗ đấu tranh quên mình vì độc lập của dân tộc, vì thống nhất của tổ quốc, vì tự
do, ấm no và hạnh phúc của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản [32, tr 29, 30]
Nội dung cơ bản của chuẩn mực đạo đức cách mạng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là:
- Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội
- Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư - mình vì mọi người là những phẩm chất đạo đức cơ bản của người cán bộ cách mạng
Trang 21- Yêu thương, quý trọng con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp của con người mới
- Tinh thần quốc tế trong sáng, chân chính là phẩm chất đạo đức mới
Để xây dựng nền đạo đức mới- đạo đức cách mạng theo những tiêu chuẩn, chuẩn mực, phẩm chất đạo đức kể trên, Hồ Chí Minh còn đề ra những nguyên tắc và phương châm mang đặc trưng riêng, độc đáo để định hướng cho sự lãnh đạo của Đảng và việc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của mỗi con người Đó là:
- Nói đi đôi với làm, nêu gương sáng về đạo đức là một yêu cầu, một phương châm lớn và sâu sắc để xây dựng đạo đức mới - đạo đức cộng sản
- "Xây" đi đôi với "chống" là nguyên tắc chỉ đạo mang tính bắt buộc, là đòi hỏi khách quan để xây dựng đạo đức mới - đạo đức cách mạng
- Phải tu dưỡng đạo đức kiên trì, bền bỉ, hàng ngày, hàng giờ trong suốt cuộc đời
- Luôn luôn tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc bén của Đảng, của mỗi người, mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình tu dưỡng, rèn luyện, xây dựng đạo đức cách mạng [30]
Mặc dù ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau và ở mỗi hình thái nhà nước khác nhau quan niệm về đạo đức được hiểu theo một cách khác nhau phù hợp với sự phát triển của kinh tế xã hội nhưng chúng ta có thể hiểu chung nhất về đạo đức như sau:
Đạo đức là toàn bộ tư tưởng, quan điểm về nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân,
Trang 22Đạo đức bao gồm ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức
Ý thức đạo đức là sự thể hiện thái độ nhận thức của con người trước hành vi của mình trong sự đối chiếu với hệ thống chuẩn mực và những quy tắc đạo đức do xã hội đặc ra, giúp con người tự giác điều chỉnh hành vi và hoàn thành nghĩa vụ đạo đức một cách tự nguyện Ý thức đạo đức bao gồm cả tri thức và tình cảm đạo đức Trong đó tình cảm đạo đức là yếu tố quan trọng góp phần chuyển hóa tri thức thành hành vi đạo đức đúng đắn
Thực tiễn đạo đức là hoạt động của con người dưới sự tác động của niềm tin, là quá trình thực hiện hóa ý thực đạo đức trong đời sống xã hội.Thực tiễn đạo đức là hệ thống các hành vi đạo đức của con người được nảy sinh trên cơ sở chỉ dẫn của ý thức đạo đức
1.2 Quan niệm về đạo đức trong thực thi công vụ
1.2.1 Khái quát chung về hoạt động thực thi công vụ
Công vụ là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do cán bộ, công chức tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phục vụ lợi ích nhà nước, nhân dân và xã hội Tuy nhiên trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam, do đặc thù về thể chế chính trị nên công vụ còn bao gồm cả hoạt động thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của cán
bộ, công chức làm việc trong các cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội
Đặc điểm và tính chất của công vụ:
- Mục đích của công vụ là phục vụ lợi ích nhà nước, nhân dân và xã hội;
- Nội dung hoạt động công vụ bao gồm các hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội trong lãnh đạo, quản lý và tham gia quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, đồng thời tổ chức cung ứng và phục vụ các nhu cầu chung của xã hội, của nhân dân không
vì mục đích lợi nhuận
- Chủ thể thực thi công vụ là cán bộ, công chức
Trang 23- Hoạt động công vụ không chỉ thuần tuý mang tính quyền lực nhà nước, mà còn bao gồm cả hoạt động của các tổ chức do nhà nước thành lập (được nhà nước uỷ quyền) để phục vụ các nhu cầu của nhân dân Các hoạt động này đều do cán bộ, công chức nhân danh nhà nước tiến hành Bao gồm các hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước và các hoạt động của các tổ chức được nhà nước uỷ quyền Ở các nước trên thế giới, khi đề cập đến công
vụ, người ta ít nói đến yếu tố quyền lực nhà nước mà thường chỉ nói tới công chức nhân danh pháp luật hoặc nhân danh nhà nước mà thôi Bởi lẽ, pháp luật là công cụ chính, chủ yếu do nhà nước ban hành để thực hiện chức năng quản
lý nhà nước Ngoài ra, ở Việt Nam do đặc thù về thể chế chính trị nên hoạt động công vụ còn bao gồm cả hoạt động của cán bộ, công chức trong các cơ quan của Đảng, của tổ chức chính trị - xã hội
- Hoạt động công vụ được tiến hành theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được Nhà nước giao và tuân theo pháp luật
- Hoạt động công vụ mang tính thường xuyên, chuyên nghiệp
Mục tiêu của hoạt động công vụ là: Hoạt động công vụ nhằm thực hiện
những mục tiêu sau: Phục vụ nhà nước; Phục vụ nhân dân; Không có mục đích riêng của mình; Mang tính xã hội cao vì phục vụ nhiều người; Duy trì an ninh,
an toàn trật tự xã hội; Thúc đẩy tăng trưởng và phát triển; Không vì lợi nhuận
Cách thức tiến hành hoạt động công vụ: Hoạt động công vụ do cán bộ,
công chức thực hiện được tiến hành theo những cách thức sau:
Trang 24- Có sự tham gia giám sát của nhân dân;
Nguyên tắc thực thi công vụ: Hoạt động công vụ được tiến hành theo
một số nguyên tắc cơ bản Theo lý thuyết về công vụ, có thể liệt kê một số
nguyên tắc cơ bản của hoạt động công vụ như sau:
- Nguyên tắc pháp chế;
- Nguyên tắc chịu trách nhiệm;
- Nguyên tắc thống nhất vì lợi ích công;
- Nguyên tắc công khai;
- Nguyên tắc liên tục, kế thừa;
- Nguyên tắc tập trung dân chủ
Theo quy định tại Điều 3 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, khi thi hành công vụ, cán bộ, công chức phải bảo đảm 5 nguyên tắc cơ bản sau:
- Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật;
- Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân;
- Công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền và có sự kiểm tra, giám sát;
- Bảo đảm tính hệ thống, thống nhất, liên tục, thông suốt và hiệu quả;
- Bảo đảm thứ bậc hành chính và sự phối hợp chặt chẽ
Trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ:
Hoạt động công vụ là một loại hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước (quyền lực công) Nói đến hoạt động công vụ là nói đến trách nhiệm của cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ nhằm mục tiêu phục vụ người dân và xã hội Về mặt pháp lý, trách nhiệm của cán bộ, công chức thường được xem xét trong mối quan hệ thống nhất giữa quyền và nghĩa
vụ Do đó, hoạt động công vụ thể hiện trách nhiệm của cán bộ, công chức nhân danh quyền lực công thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quy định của pháp luật
Trang 25Cán bộ, công chức khi tham gia hoạt động công vụ phải tuân thủ các nghĩa vụ và có trách nhiệm thực hiện đúng quyền hạn được giao Để đạt được điều đó, bên cạnh năng lực, trình độ, cán bộ, công chức còn phải hội đủ và thường xuyên rèn luyện phẩm chất, đạo đức để bảo đảm các quy định về đạo đức công vụ, đặc biệt là trách nhiệm trong công vụ Trách nhiệm công vụ là một khái niệm mang tính chính trị, tạo nên hình ảnh của chế độ, của nhà nước trong mắt người dân Đó là việc cán bộ, công chức tự ý thức về quyền và nhiệm vụ được phân công cũng như bổn phận phải thực hiện các quyền và nhiệm vụ đó Trách nhiệm trong hoạt động công vụ của cán bộ, công chức có mối quan hệ chặt chẽ với kết quả công vụ Kết quả công vụ và trách nhiệm công vụ tạo nên hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan, tổ chức Hai nhân tố này luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau Nếu nói kết quả công vụ là điểm mục tiêu, là mong muốn của chủ thể quản lý thì trách nhiệm công vụ là phương thức, cách thức để thực hiện mục tiêu của chủ thể quản lý Một nền công vụ hiệu lực, hiệu quả đều dựa trên cơ sở đề cao tính trách nhiệm với tinh thần tận tuỵ, mẫn cán và làm tròn bổn phận của cán bộ, công chức
Hiện nay vấn đề trách nhiệm công vụ thường được xem xét theo 2 góc độ: trách nhiệm của nhóm cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý và trách nhiệm của nhóm công chức thực thi, thừa hành
1.2.2 Quan niệm về đạo đức trong thực thi công vụ
Đạo đức công vụ là một phạm trù tương đối rộng, bao hàm đạo đức, lối sống, cách xử sự của cán bộ, công chức không chỉ trong các mối quan hệ xã hội thông thường mà còn trong phạm vi thực hiện nhiệm vụ công, đó là trong giao dịch hành chính với tổ chức, công dân Các quy định mang tính đạo đức của công chức đã và đang trở thành chủ đề quan tâm của nhiều nước trên thế giới như Pháp, Đức, Trung Quốc, Thái Lan, …
Ở Việt Nam, những chuẩn mực đạo đức, những tiêu chuẩn đạo đức của
Trang 26nền công vụ vẫn bảo đảm tính kế thừa những đặc trưng văn hoá, tâm lý xã hội truyền thống của dân tộc Việt Nam Ngoài ra, những chuẩn mực đạo đức còn được đúc kết kinh nghiệm trong quá trình đấu tranh, bảo vệ, xây dựng và phát triển mô hình nhà nước dân chủ nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, khẳng định đạo đức là cái gốc của người cách mạng, của cán bộ, công chức Một ngày sau Tuyên ngôn Độc lập, Người đã nói đến nhiệm vụ cấp bách là giáo dục lại nhân dân chúng ta, làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập Người đã đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm, liêm, chính Tiếp đó, ngày 19/9/1945, Người viết bài Chính phủ là công bộc của dân với tinh thần:
Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy Việc gì có lợi cho dân thì phải làm Việc gì có hại cho dân thì phải tránh [29, tr.1]
Cho đến hôm nay, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập quốc tế thì những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về một nền công vụ
vì dân vẫn còn nguyên giá trị Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức công vụ được thể hiện trong những nguyên tắc đạo đức, chuẩn mực cơ bản sau:
- Một là, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
- Hai là, phải có tinh thần trách nhiệm cao với công việc
- Ba là, chấp hành nghiêm kỷ luật và có tinh thần sáng tạo trong thi hành công vụ
- Bốn là, có ý chí cầu tiến bộ, luôn luôn phấn đấu trong công việc
- Năm là, có tinh thần thân ái, hợp tác với đồng nghiệp trong thực hiện công việc
Trang 27Những chuẩn mực đạo đức công vụ này có sự quan hệ, tác động lẫn nhau trong một hệ thống chuẩn mực thống nhất Mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải tích cực tu dưỡng, rèn luyện theo các chuẩn mực đạo đức công vụ, chắc chắn chúng ta sẽ có một đội ngũ cán bộ “vừa hồng vừa chuyên” theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Đạo đức cán bộ, công chức được quy định, cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật của nhà nước Việt Nam Có thể tìm thấy các quy phạm pháp luật về đạo đức, phẩm chất, tư cách của người cán bộ, công chức trong các văn bản pháp luật như: Tại Hiến pháp Việt nam sửa đổi năm 2013 quy định:
Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền [38, Điều 8]
Luật cán bộ, công chức năm 2008 như “Cán bộ, công chức phải thực hiện
cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ” [35, Điều 15];
Luật Phòng chống, tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm Ngoài ra một
số ngành cũng có những quy định sâu, cụ thể hơn ở lĩnh vực chuyên môn của mình như: quy định về y đức của Bộ Y tế, 6 điều Bác Hồ dạy của Công an nhân dân
Đạo đức công vụ là một dạng đạo đức nghề nghiệp Đạo đức nghề nghiệp có thể được hiểu là một hệ thống quy định hoặc quy tắc gắn liền với những chuẩn mực về cách ứng xử đạo đức của một nghề nhằm hướng dẫn hành vi đúng đắn và việc ra quyết định trong phạm vi nghề đó Với cách hiểu này, có thể suy ra rằng đạo đức công vụ là những giá trị và chỉ dẫn nhằm hướng dẫn quyết định của những người thực hành các hoạt động công quyền
Với những đặc điểm như vậy, đối chiếu vào đạo đức công vụ với tư
Trang 28- Về mục đích, đạo đức công vụ đề cao đạo đức và những hành vi đúng đắn của người thi hành công vụ, cũng là nhằm bảo đảm việc phục vụ tốt hơn
xã hội và nhân dân và việc thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của nhà nước (chức năng quản lý và phục vụ) không vì mục tiêu lợi nhuận
- Đạo đức công vụ là để quản lý đội ngũ thực thi công vụ tức là công chức
- Đạo đức công vụ cũng cần được công nhận và điều chỉnh bởi pháp luật; pháp luật là hình thức pháp lý của đạo đức công vụ, pháp luật về công vụ như là “vỏ bọc, áo khoác pháp lý” của đạo đức công vụ Đây cũng là sự thừa nhận chính thức về tính đúng đắn, khách quan hợp lý của các quan niệm về đạo đức cán bộ, công chức đạo đức công vụ và là cách thức hữu hiệu để nhà nước bảo vệ, củng cố những giá trị đạo đức công vụ
Vấn đề cải cách nền hành chính nhà nước của các quốc gia gắn liền với
xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa Các hình thức phi quy chế, giảm sự điều tiết và chấp nhận những cách ứng xử thống nhất trong hoạt động quản lý cũng làm cho các giá trị công vụ thay đổi Nếu như nền hành chính truyền thống là quy tắc, quy chế, thì nền hành chính phát triển, thích ứng trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa phải tập trung vào sự thích ứng với môi trường quốc tế và khu vực Năng lực của cán bộ công chức cũng phải thích ứng với môi trường quốc tế và khu vực, thích ứng với nền hành chính phát triển Điều
đó làm cho tư duy giá trị về công vụ cũng thay đổi
1.2.3 Vai trò của đạo đức trong thực thi công vụ
Thứ nhất, là chuẩn mực cư xử cho cán bộ, công chức trong thực thi công vụ
Đạo đức, hiểu một cách cụ thể là những nguyên tắc, chuẩn mực như những thang giá trị được xã hội thừa nhận Đạo đức có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi của mỗi người, phù hợp với lợi ích của xã hội, của đất nước Đạo đức vừa mang tính “bổn phận” được hiểu là “văn hóa bổn phận”, diễn ra một cách tự giác của mỗi cá nhân, đồng thời cũng chịu sự chế định của dư
Trang 29luận xã hội Mỗi cá nhân có thể thực hành đạo đức qua nhiều mối quan hệ: Từng người thì lấy mình làm đối tượng như thực hiện các hành vi cần, kiệm, liêm, chính Trong mối quan hệ với đất nước và nhân dân là trung với nước, hiếu với dân Quan hệ giữa con người với con người, đó là yêu thương con người, sống có tình có nghĩa Với nhân loại, đó là tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung
Đạo đức công vụ không nằm ngoài các lớp quan hệ đó, tức là đạo đức công dân, đạo đức của con người Việt Nam trong thời đại mới Đồng thời, còn phải thực hành đạo đức của người cán bộ, công chức trong việc thực thi nhiệm vụ của Chính phủ Trong khi thực hành đạo đức công vụ, tùy theo tính chất nghề nghiệp, vị trí công tác, chức vụ được giao, v.v mà yêu cầu, đòi hỏi cũng khác nhau
Trong quá trình thực thi công vụ ngoài việc phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật về thực thi công vụ, cán bộ, công chức còn phải thực hiện theo đúng các chuẩn mực đạo đức nói chung và đạo đức nghề nghiệp nói riêng Đạo đức công chức cần được chuẩn mực trở thành bắt buộc mang tính nguyên tắc dựa trên pháp luật Công chức phải làm tròn bổn phận của mình với một phẩm chất cao nhất là sự liêm khiết Bởi vậy, trong thực thi công vụ, công chức cung cấp cho xã hội một sự quản lý không thiên lệch, trong sáng; thực hiện những dịch vụ hành chính có chất lượng cao, vận hành, sử dụng tài sản công theo hướng tối đa hóa lợi ích là một vấn đề cốt lõi trong cải cách tài chính công, tài sản công hiện nay Công chức trong quá trình thực hiện công việc của mình là công việc phục vụ lợi ích công Do đó, yêu cầu phải làm tăng niềm tin của nhân dân với các cơ quan thực thi quyền hành pháp thì yếu tố cần thiết nữa là phải có lương tâm, công minh và dũng cảm Đây là yếu tố rất cần thiết trong đạo đức của công chức hiện nay
Trang 30Thứ hai, là tiêu chuẩn để đánh giá kết quả khi thực thi công vụ
Để đánh giá mức độ hoàn thành công việc cũng như kết quả khi thực thi công vụ của một cán bộ, công chức không chỉ dựa vào việc thực hiện đúng các quy định của pháp luật khi thực thi công vụ mà còn phải dựa trên những chuẩn mực đạo đức của cán bộ, công chức khi thực thi công vụ Nếu chỉ áp dụng đúng các quy định của pháp luật trong khi thực thi công vụ thì mới chỉ hoàn thành được một nửa yêu cầu về thực thi công vụ Bởi hệ thống các quy tắc ứng xử trong thực thi công vụ rất đa dạng, không chỉ gồm các luật, văn bản dưới luật, các văn bản hướng dẫn thi hành, văn bản quy định về tiêu chuẩn, quy trình, nghiệp vụ mà còn bao gồm cả các quy tắc mang tính đạo đức, nghề nghiệp… Đây là nền tảng để vận hành toàn bộ hoạt động của nền công vụ Hệ thống các quy tắc ứng xử trong thực thi công vụ luôn ẩn chứa trong đó chủ thuyết, định hướng, nguyên tắc, mục đích của chế độ công vụ
Thứ ba, là cơ sở để cán bộ, công chức hoàn thiện bản thân trong khi thực thi công vụ
Đạo đức chính là gốc nếu gốc vững, thì con người dễ dàng phát huy tài trí, tự làm sáng bản thân và trở thành con người có ích cho xã hội Nếu gốc ấy không vững, thì con người dễ dàng ngả nghiêng, sa ngã, “lòng dạ không còn trong sáng nữa” Và khi đó, con người đó sẽ tự làm xấu chính mình và làm hại người khác Đối với người công chức, đạo đức càng quan trọng Là cầu nối giữa Nhà nước và nhân dân, ngoài năng lực, người công chức phải thực sự là những người có tư cách đạo đức tốt Mọi cán bộ, công chức phải làm kiểu mẫu trong công tác và lối sống, trong mọi lúc mọi nơi Nói cách khác, tư cách đạo đức của mỗi công chức đều có tác động mạnh mẽ đến người dân Nếu không có đạo đức tốt, người công chức sẽ trở thành tấm gương xấu có thể gây mất lòng tin và giảm hiệu quả hoạt động của cả bộ máy hành chính
Trong xã hội hiện đại đòi hỏi của người dân đối với bộ máy hành chính
Trang 31nhà nước ngày càng cao Đồng thời, trong nền kinh tế thị trường, những cám
dỗ vật chất và tinh thần từ cuộc sống tác động rất mạnh mẽ; nếu không luôn luôn rèn luyện và tu dưỡng đạo đức, người công chức sẽ nhanh chóng xa rời mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, sa vào chủ nghĩa cá nhân, làm mất lòng tin của quần chúng, từ đó, làm yếu đi hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước Trong bối cảnh đó các chuẩn mực đạo đức sẽ là cơ sở để cán bộ, công chức làm cơ sở để hoàn thiện bản thân mình ngoài việc thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong khi thực thi công vụ
1.3 Đa ̣o đức trong thực thi công vu ̣ của công chức ngành thanh tra xây dựng
1.3.1 Khái quát chung về công chức ngành thanh tra xây dựng
1.3.1.1 Khái niệm và đặc điểm về công chức ngành thanh tra xây dựng
Thanh tra là chức năng thiết yếu của các cơ quan quản lý nhà nước Hoạt động thanh tra thường xuyên diễn ra ngay trong quá trình tổ chức, thực hiện các nhiệm vụ quản lý cũng như thực hiện đường lối, chính sách pháp luật Mặt khác, hoạt động của thanh tra nhà nước còn thực hiện ở lĩnh vực chấp hành, điều hành trong hoạt động quản lý, đánh giá việc thực hiện đúng sai của đối tượng thanh tra trong việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của nhà nước, thực hiện kế hoạch của đơn vị; phân tích và đánh giá đúng thực chất tổ chức, bộ máy, cán bộ, cơ sở vật chất bảo đảm thực hiện nhiệm vụ quản lý; xét giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền; tham mưu cho lãnh đạo cùng cấp giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật Do đó, có thể nói, thanh tra nhà nước bao hàm cả hoạt động giám sát hành chính
Xét về vị trí, vai trò, đặc điểm và nội dung của hoạt động thanh tra trong quản lý nhà nước, có thể thấy thanh tra là một trong ba khâu của chu trình quản lý nhà nước, là phương thức và nội dung quan trọng để nâng cao
Trang 32hiệu quả quản lý nhà nước; là một trong những phương tiện phòng ngừa có hiệu quả những vi phạm pháp luật và phòng chống tội phạm Hoạt động của các cơ quan thanh tra trong thực thi nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật góp phần đảm bảo việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước; phát huy dân chủ, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức nhằm góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, cải cách hành chính nhà nước, nâng cao phòng ngừa có hiệu quả đấu tranh chống tham nhũng hiện nay Bởi vì, trong việc thực hiện nhiệm vụ của bất kỳ cơ quan quản lý nhà nước nào, trên bất kỳ lĩnh vực nào, với bất kỳ quy mô nào, các cơ quan quản lý nhà nước đều phải thực hiện đồng thời cả ba công tác: Đề ra chiến lược, chủ trương, chính sách nhiệm vụ, kế hoạch trong phạm vi thẩm quyền quản lý của cơ quan mình; Tổ chức chỉ đạo thực hiện chủ trương, chính sách, nhiệm vụ, kế hoạch đã được xây dựng và được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Tổ chức tiến hành thanh tra, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ trên của các đối tượng quản lý thuộc quyền quản lý của mình
Mục đích của thanh tra là đánh giá chính xác những mặt làm đúng, những mặt làm sai trong việc chấp hành các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật, kế hoạch của Nhà nước, phát hiện những đơn vị và cá nhân có thành tích xuất sắc để biểu dương, khen thưởng, phát huy, phát hiện và ngăn ngừa những đơn vị và cá nhân mắc khuyết điểm, giúp đỡ sửa chữa và kiên quyết xử lý nghiêm đối với những trường hợp cố tình vi phạm
Về mặt tổ chức, các cơ quan thanh tra của nước ta hiện nay nằm trong
cơ cấu của cơ quan hành pháp (Chính phủ), là bộ phận không thể thiếu của bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước và như Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng Thanh tra là tai mắt của trên là bạn của dưới, công chức ngành thanh tra xây dựng như cái gương cho người soi mặt, gương mờ thì không soi được Các tổ
Trang 33chức thanh tra là công cụ đắc lực của Đảng, của chính quyền trong việc thanh tra, kiểm tra sự chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước cũng như việc thực hiện kế hoạch nhà nước giao cho đơn vị, cho nên các cấp uỷ Đảng và các cấp chính quyền cũng như Thủ trưởng của các ngành cần nhận thức đúng đắn vị trí của tổ chức thanh tra trong bộ máy nhà nước và hoạt động thanh tra trong quá trình quản lý nhà nước
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thanh tra, chúng ta có thể khái quát những yêu cầu cơ bản đối với công tác thanh tra là:
Thứ nhất, công tác thanh tra phải thường xuyên, độc lập
Theo Chủ tịch Hồ Chí minh, vì công tác thanh tra là công tác quan trọng của cơ quan nhà nước, do đó phải được tiến hành thường xuyên Công tác thanh tra nếu không được tiến hành thường xuyên tất yếu sẽ dẫn tới bệnh quan liêu, mệnh lệnh từ đó gây ra những tác hại to lớn khác cho sự nghiệp cách mạng Hoạt động thanh tra phải được đảm bảo tính độc lập tương đối, thanh tra phải được tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Tính thường xuyên trong hoạt động thanh tra do chính đặc điểm, tính chất của hoạt động chấp hành, điều hành trong quản lý hành chính nhà nước quyết định và có mối quan hệ chặt chẽ với yêu cầu kịp thời của việc tìm ra các quyết định lãnh đạo, quản lý
Thứ hai, công tác thanh tra phải kịp thời, cụ thể, khách quan
Hoạt động thanh tra giúp cơ quan cấp trên nắm được tình hình, giúp cấp dưới sửa chữa, uốn nắn những sai lầm, lệch lạc; giúp đỡ cấp dưới thực hiện chủ trương chính sách pháp luật Do vậy hoạt động thanh tra luôn đòi hỏi tính kịp thời Thanh tra phải đến tận nơi, xem tận chỗ, đây chính là phương thức hoạt động đặc trưng của công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì hoạt động thanh tra phải cẩn thận, khách quan Những thông tin mà thanh tra cung cấp cho cơ quan cấp
Trang 34trên, người lãnh đạo đòi hỏi độ chính xác cao Muốn có được độ chính xác đó thì thái độ của công chức ngành thanh tra xây dựng là phải cẩn thận, xem xét một cách tỉ mỉ, thấu đáo và đánh giá một cách khách quan, không được áp đặt những ý nghĩ chủ quan của cá nhân mình
Thứ ba, công tác thanh tra phải được thực hiện bằng phương thức dân chủ
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng một trong những cách thức đảm bảo dân chủ trong hoạt động thanh tra là công tác phê bình và tự phê Đây là yếu
tố rất quan trọng tạo nên hiệu quả của công tác thanh tra Để đạt được yêu cầu
đó, đòi hỏi công chức ngành thanh tra xây dựng phải có năng lực và uy tín, đạo đức cách mạng, phải cố gắng học tập, trau dồi đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ lý luận, nghiệp vụ, chuyên môn
Trong mỗi gia đoạn lịch sử, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những chủ trương thích hợp, điều chỉnh kịp thời chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Thanh tra phù hợp với yêu cầu, nội dung quản lý nhà nước và sự phát triển kinh tế,
xã hội Nhiệm vụ thanh tra được mở rộng chỉ từ chỗ tập trung kiểm tra, kiểm soát và công việc của công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước, xem xét các khiếu nại của công dân đến chỗ xác định nhiệm vụ thanh tra đối với các hoạt động kinh tế, xã hội
Từ những phân tích trên cho thấy: thanh tra là hoạt động kiểm tra, xem xét việc thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước, nhiệm vụ được giao của các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân do các cơ quan thanh tra có thẩm quyền thực hiện nhằm phục vụ hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân
Trong lĩnh vực xây dựng có thể hiểu khái niệm: Thanh tra xây dựng là hoạt động thanh tra chuyên ngành do các cơ quan và cá nhân thanh tra xây dựng có thẩm quyền tiến hành nhằm đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh các quy định pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước về xây dựng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân
Trang 35Hoạt động thanh tra tại cơ quan thanh tra nói chung và thanh tra xây dựng nói riêng do cán bộ, công chức ngành thanh tra xây dựng thực hiện
Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008 thì công chức là:
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản
lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị
sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị
sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [35, Điều 4]
Như vậy công chức ngành thanh tra xây dựng là người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức danh trong cơ quan thanh tra xây dựng các cấp được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, có nhiệm vụ thực hiện thanh tra chuyên ngành đối với hoạt động xây dựng và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật
Đặc điểm công chức ngành thanh tra xây dựng
Ngoài những đặc điểm của cán bộ, công chức nói chung như: là những người đang giữ chức vụ hoặc trách nhiệm nhất định theo trình độ đào tạo và được xếp vào ngạch bậc tương ứng trong hệ thống hành chính; là người được
bổ nhiệm giữ một chức vụ thương xuyên trong các cơ quan của Nhà nước, đang trực tiếp tham gia vào bộ máy công quyền; là những người tự làm chủ
Trang 36được hành vi, thái độ của mình và phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là một công dân, một công chức hành chính Họ trưởng thành ở mặt xã hội còn biểu hiện ở giá trị sản phẩm lao động của họ được xã hội công nhận và bằng sức lao động của mình thì công chức Thanh tra xây dựng còn mang những đặc điểm đặc thù của mình đó là việc đề cao phẩm chất chính trị tốt, có ý thức trách nhiệm, trung thực, công minh, khách quan; đã tốt nghiệp đại học một trong các ngành kinh tế, kỹ thuật, xã hội, quản lý nhà nước, có trình độ lý luận chính trị, tin học, ngoại ngữ nhất định; có nghiệp vụ công tác thanh tra, nắm vững và vận dụng tốt đường lối, chính sách, pháp luật vào công tác thanh tra; có trình độ nghiên cứu, phát hiện, phân tích tổng hợp, để xuất biện pháp giải quyết theo yêu cầu của công tác thanh tra
Những tiêu chuẩn công chức thanh tra xây dựng được cụ thể hóa ở quy định của Luật Thanh tra về tiêu chuẩn chung của Thanh tra viên Theo đó, người được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra phải có đủ các tiêu chuẩn sau đây:
- Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có phẩm chất đạo đức, văn hoá tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, công minh, khách quan;
- Tốt nghiệp đại học, có kiến thức quản lý nhà nước và kiến thức pháp luật; đối với Thanh tra viên chuyên ngành còn phải có kiến thức chuyên môn về chuyên ngành đó;
- Có nghiệp vụ thanh tra;
- Có ít nhất hai năm làm công tác thanh tra đối với người mới được tuyển dụng vào ngành thanh tra (không kể thời gian tập sự); nếu là cán bộ, công chức công tác ở cơ quan, tổ chức khác chuyển sang cơ quan thanh tra nhà nước thì phải có ít nhất một năm làm công tác thanh tra
Như vậy Thanh tra viên là công chức làm công tác thanh tra và chỉ có trong các tổ chức Thanh tra nhà nước Thanh tra viên là người có đủ tiêu
Trang 37chuẩn nghiệp vụ, được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm để thực hiện nhiệm vụ Thanh tra theo quy định của pháp luật
Công chức ngành thanh tra xây dựng thực hiện thanh tra chuyên ngành
đối với hoạt động xây dựng Thanh tra hoạt động xây dựng là một loại hoạt
động thanh tra có tính chuyên ngành, hoạt động thanh tra xây dựng có một số
đặc điểm cơ bản sau:
- Hoạt động thanh tra xây dựng được tiến hành trong phạm vi quản lý nhà nước về: xây dựng, vật liệu xây dựng, nhà ở và công sở, kiến trúc, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn, hạ tầng
kỹ thuật đô thị theo quy định của pháp luật
- Hoạt động thanh tra xây dựng luôn gắn với hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước và phục vụ cho quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng;
- Hoạt động thanh tra xây dựng do các cơ quan thanh tra chuyên ngành xây dựng tiến hành, thực hiện quyền lực nhà nước trong các hoạt động thanh tra
- Đối tượng của thanh tra xây dựng là các tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng và các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng
Do vậy cũng giống như các hoạt động thanh tra chuyên ngành khác Công chức ngành thanh tra xây dựng chỉ có thẩm quyền thanh tra chuyên ngành đối với hoạt động xây dựng theo đúng quy định của pháp luật
Công chức ngành thanh tra xây dựng có nhiệm vụ và quyền hạn là thanh tra hoạt động xây dựng dưới 02 nội dung là thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành xây dựng
Đối với hoạt động thanh tra hành chính:
Thực hiện các nhiệm vụ thanh tra hành chính, cơ quan thanh tra xây
Trang 38dựng được tiến hành thanh tra đối với tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp trong việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ được giao; thực hiện nhiệm vụ giải
quyết khiếu nại, tố cáo theo các quy định của Luật khiếu nại, tố cáo
Đối với thanh tra chuyên ngành xây dựng:
Theo nội dung này, cơ quan thanh tra xây dựng có thẩm quyền tiến hành thanh tra đối với tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước về hoạt động xây dựng Cụ thể là:
- Thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về quy hoạch, kiến trúc:
Về công tác lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch xây dựng: Quy hoạch xây dựng vùng; quy hoạch xây dựng đô thị; quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn; quy hoạch xây dựng nông thôn mới; quy hoạch xây dựng khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, các cửa khẩu biên giới quốc tế;
Về công tác quản lý quy hoạch xây dựng: Công bố công khai quy hoạch xây dựng; cắm mốc chỉ giới xây dựng và các mốc giới quy định khác ngoài thực địa; cấp giấy phép quy hoạch; cung cấp thông tin về quy hoạch xây dựng; thực hiện xây dựng theo quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
Việc quản lý, sử dụng vốn cho công tác quy hoạch xây dựng theo thẩm quyền;
Điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia thiết kế quy hoạch xây dựng, điều kiện hành nghề kiến trúc sư, điều kiện hành nghề kỹ sư quy hoạch đô thị; việc đào tạo, cấp và quản lý chứng chỉ hành nghề kiến trúc sư, chứng chỉ hành nghề kỹ sư quy hoạch đô thị
- Thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về hoạt động đầu tư xây dựng:
Việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình;
Trang 39Việc lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, tổng dự toán, dự toán công trình xây dựng;
Việc áp dụng quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng đối với công trình xây dựng; việc áp dụng tiêu chuẩn xây dựng của nước ngoài trong hoạt động xây dựng tại Việt Nam;
Việc cấp, gia hạn, điều chỉnh, cấp lại, thu hồi giấy phép xây dựng và quản lý xây dựng theo giấy phép xây dựng;
Việc lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng theo quy định của Luật xây dựng và pháp luật về đấu thầu;
Việc cấp, thu hồi giấy phép thầu đối với các nhà thầu nước ngoài hoạt động xây dựng tại Việt Nam;
Việc thuê tư vấn nước ngoài trong hoạt động xây dựng tại Việt Nam; Việc ký kết, thực hiện hợp đồng trong hoạt động xây dựng;
Việc lập, quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình;
Việc quản lý chất lượng công trình xây dựng; nghiệm thu, bàn giao, bảo hành, bảo trì công trình; thanh toán, quyết toán công trình theo thẩm quyền;
Việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, cấp và quản lý các loại chứng nhận, chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng theo quy định của pháp luật;
Việc thành lập, hoạt động của các phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng
- Thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về phát triển đô thị, bao gồm:
Việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển đô thị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
Việc tuân thủ quy định pháp luật trong việc nâng cấp đô thị;
Việc đầu tư xây dựng các khu đô thị
- Thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về quản lý, sử dụng các công trình hạ tầng kỹ thuật, bao gồm: cấp nước, thoát nước, xử lý nước
Trang 40trang; công trình ngầm đô thị; các công trình hạ tầng kỹ thuật khác trong phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng
- Thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về phát triển, quản lý,
sử dụng nhà ở, kinh doanh bất động sản, quản lý, sử dụng công sở trong phạm
vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng
- Thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng; kinh doanh vật liệu xây dựng có điều kiện theo quy định của pháp luật
- Thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng theo thẩm quyền
- Thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật khác trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành Xây dựng
1.3.1.3 Tổ chức của công chức ngành thanh tra xây dựng
Theo quy định của Luật cán bộ, công chức 2008, theo Nghị định 06/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25/01/2010 quy định về những người là công chức và theo quy định của Nghị định 26/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành xây dựng (Sau đây gọi tắt là Nghị định số 26/2013/NĐ-CP) thì công chức ngành thanh tra xây dựng gồm những người sau và được tổ chức thành cơ quan thanh tra Bộ xây dựng và cơ quan thanh tra Sở xây dựng Công chức ngành thanh tra xây dựng tại cơ quan thanh tra gồm: