NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINHTheo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, mọi học thuyết tư tưởng ra đời, một mặt là sự kế thừa những tư tưởng học thuyết trước đó, mặt k
Trang 1Bài 2: NGUỒN GỐC, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
I Đặt vấn đề
Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, người chiến sỹ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, danh nhân văn hóa thế giới Người đại diện cho tinh hoa trí tuệ và văn hóa của dân tộc Việt Nam Người đã hiến dâng trọn cuộc đời mình cho Tổ quốc; cho cuộc sống âm no, tự do hạnh phúc của nhân dân Tư tưởng của Người để lại là tài sản tinh thần vô cùng quý báu của Đảng
và dân tộc ta, là ngon cờ soi đường chỉ lối cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Nghiên cứu nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triền của tư tưởng Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ quan trọng để hiểu bản chất tư tưởng của Người, cũng như thấy được giá trị thời đại to lớn của những tư tưởng đó Đặc biệt, thấy được nhân cách vĩ đại của một con người vĩ đại – Hồ Chí Minh
II Mục đích, yêu cầu
1 Mục đích
- Về kiến thức: Nêu và phân tích được các yếu tố nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố đó Trình bày khái quát được các giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh
- Về kỹ năng: Biết nghiên cứu tài liệu, thu thập, xử lý thông tin một cách khoa học, hợp lý để luận giải, làm sáng tỏ các yếu tố về nguồn gốc, về quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh
- Về thái độ
+ Bồi dưỡng tình cảm, lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc về công lao và sự cống hiến vĩ đại của Hồ Chí Minh, cũng như những giá trị to lớn mà tư tưởng của Người đã để lại cho Đảng và dân tộc ta
Trang 2+ Xây dựng niềm tin tưởng vững chắc vào các quan điểm chính thống của Đảng, nhà nước về tư tưởng Hồ Chí Minh; phê phán, bác bỏ các quan điểm xuyên tạc sự thật, tầm thường hóa hoặc thần thánh hóa tư tưởng của Người.
2 Yêu cầu
Học viên học tập nghiêm túc, chấp hành tốt kỷ luật, nghe, ghi chép và tích cực thảo luận nội dung của bài…
III Nội dung và thời gian
1 Nội dung: gồm 2 phần (trọng tâm phần I)
+ Phần I: Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
+ Phần II: Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh
2 Thời gian: toàn bài là 6 tiết
+ Thời gian lên lớp:
+ Thời gian thảo luận, ôn luyện:
IV Phương pháp
- Giáo viên: Thuyết trình, đàm thoại, nêu vấn đề
- Học viên: Đọc tài liệu, nghe, ghi chép, thảo luận
V Giáo trình, tài liệu
- Giáo trình:
+ Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh – HĐLLTW, Nxb CTQG, H, 2003
- Tài liệu tham khảo:
+ Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh – Bộ GD&ĐT, Nxb CTQG, H, 2008.+ Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh – TCCT, Nxb QĐND
+ Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh quá trình hình thành và phát triển, Nxb Sự thật, H 1993, tr 13-31
+ Song Thành (Chủ biên), Hồ Chí Minh tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2010
Trang 3I NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, mọi học thuyết tư tưởng
ra đời, một mặt là sự kế thừa những tư tưởng học thuyết trước đó, mặt khác là sự phản ánh quy luật vận động của hiện thực, đồng thời là kết hoạt động nhận thức, sáng tạo của một con người gắn với phẩm chất, nhân cách cá nhân; phản ánh ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc trong một thời đại nhất định
Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không nằm ngoài quy luật đó Đó chính là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam; là sự kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc; tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại Tuy nhiên, đó mới chỉ là những yếu tố thuộc về nguồn gốc
tư tưởng lý luận
Sẽ là thiếu sót nếu không đề cập đến những yếu tố thuộc về thực tiễn của thời đại và những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh Bởi, con người ai cũng có tư tưởng nhưng không phải ai cũng trở thành nhà tư tưởng và không phải tư tưởng của ai cũng có giá trị thời đại Nói về điều này, Lênin chỉ rõ: “chỉ xứng đáng với danh hiệu “nhà tư tưởng” khi nào họ đi trước phong trào tự phát, chỉ đường cho nó, khi nào họ biết giải quyết trước người khác tất cả các vấn đề lý luận, chính trị, sách lược và các vấn đề về tổ chức mà “những yếu tố vật chất” của phong trào húc phải một cách tự phát” Như vậy, V.I.Lênin đã đưa ra một quan niệm mới
về nhà tư tưởng, khác với quan niệm truyền thống hiểu nhà tư tưởng chỉ là người hay suy nghĩ, hay trầm tư mặc tưởng, chỉ đề xuất ý tưởng mà không hành động
Nhà tư tưởng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, phải là người thống nhất được ý chí và hành động, lý luận và thực tiễn Tức là phải sử dụng được lực lượng vật chất trong thực tiễn để thực hiện tư tưởng Về điều này chỉ có ở những con người xuất chúng, có phẩm chất và tài năng đặc biệt Ở Hồ Chí Minh có đầy đủ những tiêu chí đó và tư tưởng của Người cũng được hình thành trên cả hai phương diện khách quan (nguồn gốc thực tiễn và nguồn gốc lý luận) và chủ quan (nhân tố
Trang 4nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh phải nghiên cứu trên tất cả các nguồn gốc trên.
Hồ Chí Minh, trước tiên là nghiên cứu về nguồn gốc thực tiễn
Về nguồn gốc thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh, đa số ý kiến khác cho rằng, thực tiễn ở đây là thực tiễn của đất nước với chính sách cai trị tàn bạo của chính quyền thực dân ở thuộc địa, sự chống đối mãnh liệt và liên tục của nhân dân Việt Nam đối với nền thống trị của thực dân Pháp, sự bế tắc về đường lối cứu nước
ở Việt Nam; thực tiễn thế giới với ba mươi năm Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sống và hoạt động ở nước ngoài, nhất là ở các trung tâm văn hóa, văn minh thế giới, đã chứng kiến những biến đổi to lớn trong đời sống chính trị thế giới Đó chính là thực tiễn trong nước và thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã tác động ảnh hưởng to lớn và trở thành nguồn gốc khách quan hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1.1 Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
- Xã hội Việt Nam trước khi Pháp xâm lược là xã hội phong kiến độc lập, nền nông nghiệp lạc hậu, trì trệ Mâu thuẫn giữa chính quyền phong kiến với nhân dân ngày càng sâu sắc
Sau khi đánh bại triều Tây Sơn, chính quyền nhà Nguyễn (1802 - 1845) đã thi hành chính sách đối nội, đối ngoại bảo thủ, phản động “bế quan tỏa cảng”… không mở ra khả năng cho Việt Nam cơ hội tiếp xúc và bắt nhịp với sự phát triển của thế giới Vì vậy, đã không phát huy được những thế mạnh của dân tộc và đất nước, không tạo ra tiềm lực vật chất và tinh thần đủ sức bảo vệ Tổ quốc, chống lại
Trang 5âm mưu xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây Trong hoàn cảnh đó, mâu thuẫn giữa tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn với nhân dân cả nước – chủ yếu là nông dân sớm trở nên vô cùng gay gắt và bộc lộ ra ngoài một cách kịch liệt bằng sự bùng nổ của các cuộc khởi nghĩa nông dân, càng về sau càng lan rộng và nâng cao Theo “Đại Nam thực lục” (bộ chính sử triều Nguyễn) thì tổng số những phong trào đấu tranh lớn nhỏ nổ ra trong thời kỳ trị vì của các hoàng đế đầu thời Nguyễn như sau:
+ Thời Gia Long (1802 - 1819) có 73 phong trào
+ Thời Minh Mạng (1820 - 1840) có 254 phong trào
+ Thời Thiệu Trị (1841 - 1847) có 58 phong trào
+ Thời Tự Đức (1848 - 1883) chỉ tính riêng trong khoảng 1848 – 1862 (trước khi ký hòa ước Nhâm Tuất với Pháp) đã có hơn 40 phong trào Tiêu biểu là các phong trào của Phan Bá Vành (1821 - 1827) ở Thái Bình với khẩu hiệu “Lấy của nhà giầu chia cho người nghèo” được nhân dân địa phương tham gia sôi nổi; phong trào của Lê Duy Dương (1833 - 1834), phong trào Nông Văn Vân (1833 - 1835), phong trào của Cao Bá Quát (1854 - 1855) 1
- Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1-9-1858), xã hội Việt Nam bước sang giai đoạn mới và trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến Trong lòng xã hội thuộc địa, mâu thuẫn mới bao trùm lên mâu thuẫn cũ, nó không thủ tiêu mâu thuẫn cũ mà là cơ sở để duy trì mâu thuẫn cũ, làm cho xã hội Việt Nam càng thêm đen tối
Trong khi nhân dân ta khắp nơi nổi dậy chống Pháp thì để bảo vệ quyền lợi của mình triều đình nhà Nguyễn vội vàng ký Hiệp ước Nhâm Tuất còn gọi là Hiệp ước HécMăng (Harmand) (5-6-1862), cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ dâng cho giặc Pháp, kèm theo những điều khoản nặng nề khác, đánh dấu bước cấu kết đầu tiên giữa phong kiến cầm quyền với thực dân xâm lược Sau đó, triều đình ngày càng sa lầy vào vũng bùn nhượng bộ, cầu hòa với bọn xâm lược Triều đình tiếp tục
1 Trần Nam Tiến (chủ biên), Hỏi đáp lịch sử Việt Nam, tập 3, Nxb Trẻ, TP HCM, 2009
Trang 6ký Hiệp ước Giáp Tuất (15-3-1874) công khai xác nhận chủ quyền của Pháp trên cả
ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ Liên tiếp sau đó, triều đình ký liền hai hiệp ước
25-8-1883 và 6-6-1884 (Hiệp ước Patơnốt) đánh dấu sự đầu hàng của toàn bộ giai cấp phong kiến Việt Nam trước chủ nghĩa tư bản Pháp, đồng thời cũng đặt cơ sở lâu dài
và chủ yếu cho quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam với 3 chế độ khác nhau ở 3 miền: Nam kỳ là thuộc địa của Pháp, Trung kỳ và Bắc kỳ dưới chế độ bảo hộ
Trước tình hình đó nhân dân ta ở khắp nơi đã sôi nổi đứng dậy đấu tranh với quyết tâm “phen này quyết đánh cả Triều lẫn Tây”2 với nhiều phong trào đấu tranh theo các hệ tư tưỏng khác nhau
+ Phong trào đấu tranh theo hệ tư tưỏng phong kiến, tiêu biểu như: Khởi nghĩa của Trương Công Định (1859 - 1864), Nguyễn Trung Trực (1861 - 1868), Nguyễn Hữu Huân (1862 - 1875)…, trung tâm phong trào này lại chính là quê hương Nghệ - Tĩnh với cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất do Trần Tấn và Đặng Như Mai lãnh đạo (1874), được đông đảo văn thân sỹ phu trong tỉnh nhiệt tình hưởng ứng Nghĩa quân đã chiếm được tỉnh lỵ Hà Tĩnh cùng nhiều phủ, huyện thuộc Nghệ An,
Hà Tĩnh và đang tìm đường phát triển ra Bắc, vào Nam Thực dân Pháp và vua quan phong kiến bối rối kinh hoàng, dồn mọi lực lượng để bóp chết cuộc khởi nghĩa vào cuối năm 1874
Riêng ở Hà Nội trong giai đoạn nay có 2 trận đánh lớn của nhân dân chống Pháp đó là: Trận Cầu Giấy ngày 21-12-1873 của quân Cờ Đen do Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy đã tiêu diệt được tên thiếu tá Hải quân Pháp là Francis Ganier cùng một số
sỹ quan Pháp; Trận phục kích tại Cầu Giấy ngày 19-5-1883 cũng do Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy đã giết chết viên tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Bắc Kỳ - Henri Riviere
Tiếp đó là các cuộc khởi nghĩa vũ trang theo phong trào cần vương do Tôn Thất Thuyết nhân danh vị hoàng đế trẻ Hàm Nghi đề xướng sau cuộc tấn công tại
2 Vè khởi nghĩa Giáp Tuất, in trong tập: Vè Nghệ - Tĩnh, tập 1, Nxb Văn học, H, 1989
Trang 7kinh thành Huế thất bại Phong trào kéo dài 10 năm (1885 - 1895) với các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như:
Khởi nghĩa Hương Khê (1885-1895) của Phan Đình Phùng, Cao Thắng ở Hương Khê, Hà Tĩnh
Khởi nghĩa Ba Đình (1886-1887) của Đinh Công Tráng, Phạm Bành ở Nga Sơn, Thanh Hóa
Khởi nghĩa Bãi Sậy (1885-1889) của Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng Yên
+ Phong trào đấu tranh theo hệ tư tưởng nông dân: Song song với các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp do các văn thân sỹ phu yêu nước theo tư tưởng phong kiến lãnh đạo là các cuộc đấu tranh tự phát của nông dân Trong đó nổi bật nhất là phong trào nông dân Yên Thế ở Bắc Giang Cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế (1884 - 1913) do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo Đây là phong trào vũ trang lớn, kéo dài nhất trong phong trào đấu tranh chống Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX (gần 30 năm), đã gây rất nhiều khó khăn cho Pháp khi chúng bình định Bắc Kỳ…
+ Phong trào đấu tranh theo hệ tư tưỏng dân chủ tư sản: Đến đầu thế kỷ XX, ngoài các phong trào cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến, nông dân còn phải kể đến các phong trào theo khuynh hướng dân chủ tiểu tư sản trong giai đoạn này như: Phong trào Đông du của Phan Bội Châu (1905 - 1908) với chủ trương cầu viện sự giúp đỡ của Nhật, ông đã đưa thanh niên xuất dương sang Nhật học, nhờ các đảng phái, các hội yêu nước tiến bộ của học sinh và chính khách có mặt ở Nhật ủng hộ cứu nước Ngoài ra ông còn lập ra Hội Duy Tân (1904) chủ trương vũ trang bạo động Tiếp đó, ông thành lập Việt Nam Quang phục hội (1911) với chủ trương
“Đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập nước Cộng hòa dân quốc Việt Nam” Năm 1924 ông cải tổ Việt Nam Quang phục hội thành Việt Nam Quốc dân đảng phỏng theo Quốc dân đảng của Tôn Trung Sơn Sau này Nhật, Pháp bắt tay với nhau không cho các nhà hoạt động cách mạng Việt Nam và lưu học sinh
ở Nhật nữa, phong trào tan rã
Trang 8Phong trào Duy Tân (1906 - 1908) do Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp phát động Đây là phong trào cứu nước theo con đường dân chủ và cải cách xã hội, bằng việc nâng cao dân trí và dân quyền Ông đã viết thư yêu cầu nhà cầm quyền Pháp phải thay đổi thái độ đối với sĩ dân nước Việt và sửa đổi chính sách cai trị để giúp nhân dân Việt từng bước tiến lên văn minh Ông đã đi khắp tỉnh Quảng Nam và các tỉnh lân cận để vận động cuộc duy tân Khẩu hiệu của phong trào lúc bấy giờ là: Chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh (Chấn dân khí: Làm cho mọi người thức tỉnh tinh thần tự cường, hiểu được quyền lợi của mình, dám tố cáo sự hà hiếp bóc lột của quan lại và sự nhũng lạm của cường hào Khai dân trí:
Là bỏ lối học tầm chương trích cú, mở trường dạy chữ Quốc ngữ, kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục và thói xa hoa Hậu dân sinh: Khuyến khích dân học nghề nghiệp, khai hoang làm vườn, lập hội buôn và sản xuất hàng nội hóa…)
Phong trào Đông kinh nghĩa thục do Lương Văn Can, Nguyễn Quyết lãnh đạo (3/1907 – 11/1907) Phong trào thành lập trường Đông kinh Nghĩa thục Trường có nhiệm vụ truyền bá văn hóa mới, cổ vũ Duy Tân, đề cao truyền thống yêu nước chống ngoại xâm Lúc đầu trường hoạt động hợp pháp nhưng sau đó thực dân Pháp thấy đây là “cái lò phiến loạn” nên đã ra lệnh đóng cửa trường và bắt các lãnh tụ của Đông kinh Nghĩa thục
Cuối cùng là cuộc khởi nghĩa Yên Bái (1930) do Quốc dân đảng lãnh đạo mà lãnh tụ là Nguyễn Tấn Tài và Nguyễn Thái Học
→ Như vậy, suốt từ năm 1858 đến năm 1930 trên khắp cả nước liên tục có các phong trào giải phóng dân tộc đứng trên 3 lập trường khác nhau: lập trường phong kiến với những người lãnh đạo là các quan lại yêu nước; lập trường nông dân; lập trường tiểu tư sản và tư sản dân tộc Tuy nhiên tất cả các phong trào đó đều thất bại Nguyên nhân trực tiếp của sự thất bại đó là chưa có đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn, vẫn đi theo lối mòn kinh nghiệm chống ngoại xâm xưa
cũ Do đó, các cuộc khởi nghĩa, các phong trào đấu tranh tuy có diễn ra liên tục, quyết liệt nhưng đơn độc, cục bộ địa phương không liên kết gắn bó với nhau,
Trang 9không đoàn kết được toàn thể dân tộc nên dễ bị kẻ thù tiêu diệt Cách mạng giải phóng dân tộc nước ta lúc này bế tắc, đi vào ngõ cụt tưởng chừng như không có đường ra Việc tìm ra một con đường cứu nước mới bây giờ là một đòi hỏi tất yếu của lịch sử.
- Thực tiễn đó đã tác động, ảnh hưởng đến Nguyễn Tất Thành, hình thành nên tư tưởng yêu nước và chí hướng cách mạng ở Người.
Nguyễn Tất Thành sinh ra trong cảnh đất nước lầm than dưới ách nô lệ của thực dân, phong kiến Vốn là người có lòng yêu nước, thương dân, trước cảnh đau thương đó của người dân mất nước làm cho cái chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào trong Nguyễn Tất Thành ngày càng được nung nấu Nguyễn Tất Thành khâm phục và kính trọng các nhà cách mạng tiền bối, nhưng “không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào”3 Người cho rằng cách làm của cụ Phan Bội Châu chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”4, cách làm của cụ Phan Chu Trinh là “xin giặc rủ lòng thương”5, cách làm của cụ Hoàng Hoa Thám “thực
tế hơn, vì trực tiếp đấu tranh chống Pháp” nhưng “cụ còn nặng cốt cách phong kiến”6 Câu hỏi “làm thế nào để cứu nước” đã sớm được đặt ra trong trí óc của Người Và Người đã tìm cho mình một hướng đi đó là quyết định đi sang phương Tây tìm đường cứu nước Bối cảnh lịch sử đó chính là nguồn gốc thực tiễn quan trọng hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1.2 Thực tiễn thế giới
- Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chủ nghĩa tư bản đã phát triển từ giai đoạn
tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa
+ Đặc điểm chung trong giai đoạn này là diện tích và dân số các nước thuộc địa lớn gấp nhiều lần so với diện tích và dân số các nước chính quốc Theo Lênin,
3 8 Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Trẻ - Nxb Chính trị quốc gia,
Trang 10thế giới phân chia đa số (70%) các dân tộc bị áp bức, số ít (30%) các dân tộc đi áp bức Hầu hết các dân tộc chậm phát triển ở châu Á, Phi, Mỹ La Tinh đã trở thành thuộc địa hoặc phụ thuộc các nước đế quốc Tại Đại hội V quốc tế cộng sản (1924)
Hồ Chí Minh đã đưa ra con số đầy thuyết phục về vấn đề này: thuộc địa của Anh lớn gấp 252 lần diện tích nước Anh, dân số thuộc địa Anh lớn gấp 8,5 lần dân số nước Anh Đế quốc Anh tự cho rằng mặt trời không bao giờ lặn trên đất nước Anh Còn nước Pháp thì chiếm một số đất đai rộng gấp 19 lần nước Pháp và số dân ở thuộc địa Pháp đông hơn số dân ở nước Pháp 16.600.000 người… Tính tổng lãnh thổ thuộc địa của 9 nước đế quốc (Anh, Pháp, Mỹ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý,
Bỉ, Hà Lan, Nhật) đã gấp 5 lần lãnh thổ các nước chính quốc, còn số dân các nước chính quốc chưa bằng 3/5 số dân các nước thuộc địa7
+ Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành một hiện tượng xã hội, một hệ thống trên toàn thế giới Chúng vừa tranh giành, xâu xé thuộc địa vừa vào ùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ yếu trong vòng kìm kẹp thuộc địa của chúng Do đó, thế giới xuất hiện ba mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản, mâu thuẫn giữa các nước tư bản – đế quốc với nhau, mâu thuẫn giữa thực dân đế quốc với các nước thuộc địa và phụ thuộc Các mâu thuẫn này ngày càng diễn ra gay gắt, đẩy thế giới vào hai cuộc chiến tranh thảm khốc ( CTTG I: 1914 – 1918 và CTTG II: 1939 - 1945) Đây chính là hậu quả tất yếu của việc giải quyết mâu thuẫn giữa các nước tư bản – đế quốc với nhau nhằm chia lại thị trường thế giới và mở rộng xâm lược thuộc địa
+ Nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc bị bọn tư bản đế quốc bóc lột đến tận xương tủy, cuộc sống bị nô lệ lầm than, bị tức hết các giá trị văn hóa, tinh thần, quyền lợi kinh tế và địa vị xã hội…Mạng sống của họ “không đáng một đồng trinh”8 Vì vậy, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc ngày càng phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên phong trào này chưa gặp được phong trào cộng sản và công nhân quốc tế vì bị chính quyền thực dân bưng bít,
7 Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, H, 2000, tr 277
8 Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H, 2000, tr 59
Trang 11ngăn cản; và sự quan tâm chưa đúng mức của Quốc tế Cộng sản Do đó, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc dâng cao nhưng đều bị thất bại trước sự đàn áp dã man của bọn xâm lược (Việt Nam cũng rơi vào tình cảnh đó).
- Lênin bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời lãnh đạo cách mạng tháng Mười Nga thành công (1917), xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, mở ra một thời đại mới, thời đại quá
độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới
Nước Nga Xô Viết dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đã đánh bại chủ nghĩa phát xít Đức trong đại chiến thế giới thứ II, giải phóng nhiều nước Đông Âu, hình thành phe XHCN Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi đánh dấu sự chiến thắng của giai cấp công nhân, trực tiếp tạo điều kiện thúc đẩy việc thành lập Quốc
tế Cộng sản
Trong bài Cách mạng tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc, Hồ Chí Minh nhận xét: “Giống như mặt trời chói lọi, cách mạng tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu sắc như thế Cách mạng tháng mười là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác và học thuyết Lênin ở một nước lớn là Liên Xô, rộng một phần sáu thế giới”9 Hay là “Cách mạng tháng Mười đã mở đường giải phóng cho giai cấp lao động và cho các dân tộc bị áp bức khắp thế giới Cách mạng tháng Mười đã soi sáng cho họ một tương lai vẻ vang, hoà bình và hạnh phúc, không có người bóc lột người, không có dân tộc này bóc lột dân tộc khác”10 Hoặc là “Cách mạng tháng Mười mở đường cho phong trào cách mạng vô sản toàn thế giới tiến lên và đã khuyến khích giúp đỡ các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh và thành công to lớn”11
9 Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, H, 2000, tr 300
10 Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H, 2000, tr 375
11 Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, H, 2000, tr 258
Trang 12- Tháng 3/1919 Lênin thành lập quốc tế III (Quốc tế Cộng sản), từ đây phong trào đấu tranh của công nhân và phong trào giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa có tổ chức lãnh đạo thống nhất
+ Quốc tế I (Liên minh công nhân quốc tế) (1864 - 1876), do Các Mác thành lập Lịch sử của Quốc tế I là lịch sử đấu tranh khốc liệt của Mác, Ăngghen và các
đồ đệ để bảo vệ chủ nghĩa cộng sản khoa học chống các thuyết tiểu tư sản của Pơ –
Ru Đông, Lát – Xan, Ba – Cu – Nin
+ Quốc tế II (Liên minh quốc tế của các Đảng xã hội) (1889 - 1895) Từ năm
1985 trở về trước Quốc tế do Ăngghen chỉ đạo cho nên nó là một tổ chức vô sản phát triển trên cơ sở của chủ nghĩa Mác Nó đã góp phần tuyên truyền chủ nghĩa Mác, tập hợp lực lượng của giai cấp công nhân, xây dựng mối liên hệ giữa các đảng công nhân Sau năm 1895, khi Ăngnghen mất, cơ quan lãnh đạo của QTII rơi vào tay các phần tử cơ hội, bọn này đi theo con đường xét lại học thuyết các mạng của Mác, dẫn đến chia rẽ trong nội bộ Có 3 trào lưu trong QTII: Cánh hữu gồm những phần tử xã hội sô - vanh trắng trợn (Pở - lê – kha – nốp, Sây – đe – man, Ren – nê –
rơ, Van – đéc – ven – đê…); Phái giữa gồm Cau – ski, Tơ – rốp – ski, Mác – tốp,
Át – le – rơ…; Phái tả là những người theo chủ nghĩa quốc tế gồm Đảng Bôn – sê – vích… Năm 1919, Lênin và những người Bôn – sê – vích thành lập ra Quốc tế III Năm 1923 những người theo phái hữu khôi phục lại QTII Năm 1924, những người theo phái giữa cũng thành lập ra QTII rưỡi
+ Quốc tế III (Quốc tế cộng sản) (1919 - 1943) Một tổ chức cách mạng quốc
tế, trung tâm lãnh đạo phong trào công nhân thế giới do Lênin sáng lập Cương lĩnh của QTCS quy định rằng: Nhiệm vụ lịch sử của quốc tế là tranh thủ đa số giai cấp công nhân và quần chúng lao động cơ bản về phía chủ nghĩa cộng sản, thay thế chế
độ tư bản chủ nghĩa bằng chế động xã hội chủ nghĩa, tiêu diệt chế độ người bóc lột người
Lênin chỉ rõ, chỉ có nền dân chủ tư sản và nền dân chủ vô sản, không có nền dân chủ thứ ba Dân chủ vô sản là nền dân chủ cao nhất Do vậy, nhiệm vụ của
Trang 13Quốc tế III là phải xác lập được nền dân chủ vô sản Sự thành lập Quốc tế Cộng sản
có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
Nó góp phần đẩy nhanh sự hình thành các đảng cộng sản ở nhiều nước Năm 1918, các Đảng cộng sản Hung-ga-ri, Đức, Ba Lan, Phần Lan, Áo, Hà lan, Hy Lạp được thành lập Ở một số nước khác, nhiều nhóm cộng sản xuất hiện và lớn mạnh… ĐH
I QTCS (1919) có 8 đảng và nhóm cộng sản thì đến ĐH VII (1935) QTCS đã có 76 đảng, trong đó có 22 đảng hợp pháp
Quốc tế III ra đời đánh dấu sự thắng lợi của chủ nghĩa Mác – Lênin với chủ nghĩa cơ hội - xét lại Tất cả các đảng cách mạng chân chính đã đoàn kết dưới ngon
cờ Quốc tế III – trung tâm lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là Đảng Bônsêvích Nga và Lênin
Lênin đã thấy rõ mối quan hệ giữa phong trào cộng sản thế giới và cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa, chỉ ra con đường giải phóng các dân tộc, thuộc địa và phụ thuộc với khẩu hiệu nổi tiếng “Vô sản tất cả các nước, các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” Đây chính là con đường giải phóng dân tộc thuộc địa đã được Lênin chỉ ra về cơ bản Vấn đề là ở chỗ các nước thuộc địa và phụ thuộc có nhận ra được hay không?
- Tình hình các nước châu Á:
Sau cuộc cải cách Thiên Hoàng Minh trị (1866-1869), nước Nhật phát triển theo con đường Tư bản chủ nghĩa Các nước châu Á còn lại trở thành thuộc địa hoặc phụ thuộc của Pháp
Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước châu Á cũng diễn ra mạnh mẽ, nhưng cũng rơi vào bế tắc…
→ Bối cảnh thế giới trên đây đã được Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
nghiên cứu, tìm hiểu ngay khi còn ở Việt Nam và hơn 30 năm bôn ba khắp thế giới Kinh nghiệm thành công và thất bại của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc chính là cơ sở thực tiễn cho việc hình thành và phát triển tư tưởng của Người sau này
Trang 141.2 Nguồn gốc lý luận
- Về nguồn gốc lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh, một số quan điểm cho rằng, có hai nhân tố là học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng yêu nước, văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam Nhưng phổ biến hơn là quan điểm cho rằng, có
ba nguồn gốc lý luận chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh đó là: chủ nghĩa yêu nước
và truyền thống văn hóa, nhân ái Việt Nam; tinh hoa văn hóa phương Đông, phương Tây; chủ nghĩa Mác - Lênin
- Về vai trò và vị trí của mỗi yếu tố, có người nhấn mạnh văn hóa dân gian
và dân tộc Việt Nam là nguồn gốc quan trọng nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh, có người lại khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của các giá trị văn minh nhân loại đối với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh Ý kiến khác cho rằng, văn hóa dân tộc
là cơ sở, nền tảng tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh Nhưng phần lớn các quan điểm đều nhất trí cho rằng “chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc chủ yếu nhất”, “là
cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh” Chính nhờ có thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin mà Hồ Chí Minh đã hấp thụ và chuyển hóa được những nhân tố tích cực và tiến bộ của truyền thống dân tộc cũng như tư tưởng và văn hóa nhân loại để tạo nên hệ thống tư tưởng của mình
1.2.1 Truyền thống văn hóa dân tộc.
- Dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữa nước
đã tạo lập cho mình một nền văn hóa riêng, phong phú và bền vững với nhiều truyền thống tốt đẹp và cao quý GS Trần Văn Giàu đã nêu lên bảy giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam là yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa, qua đó khẳng định: Hồ Chí Minh là kết tinh của các giá trị truyền thống và đạo đức cách mạng Việt Nam
- Còn các nhà nghiên cứu khác lại thống nhất quan điểm về bốn truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã góp phần tác động đến việc hình thành tư tưởng Hồ Chí
Minh đó là: chủ nghĩa yêu nước và tinh thần bất khuất trong đấu tranh dựng nước
và giữ nước; truyền thống nhân nghĩa, tương thân, tương ái, cố kết cộng đồng;
Trang 15truyền thống lạc quan yêu đời; truyền thống cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo, hạm học hỏi và không ngừng mở rộng cửa đón nhận tinh hoa văn hóa nhân loại.
1 Chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước
- Trong những truyền thống trên, chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nước là dòng chủ lưu chảy xuyên suốt trường kỳ lịch sử Việt Nam, là chuẩn mực cao nhất đứng đầu bảng giá trị văn hóa – tinh thần Việt Nam Mọi học thuyết đạo đức, tôn giáo nước ngoài du nhập vào Việt Nam đều được tiếp nhận khúc xạ qua lăng kính của tư tưởng yêu nước đó Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là giá trị thiêng liêng nhất, là cơ sở cho ý chí, hành động cứu nước
và xây dựng đất nước của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
- Cơ sở hình thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam: Từ công cuộc lao động xây dựng đất nước, phát triển nghề trồng lúa nước, đoàn kết chống lại thiên tai, bảo vệ mùa màng; từ yêu cầu chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc
- Nội dung cơ bản của chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam là: Yêu quê hương, yêu đồng bào; tự hào về lịch sử vẻ vang và nền văn hóa Việt Nam; độc lập dân tộc là mục tiêu và nghĩa vụ của mọi thế hệ người Việt Nam; ý thức sâu sắc về chủ quyền quốc gia và kiên quyết bảo vệ vững chắc chủ quyền đó; niềm tự tôn tự hào dân tộc được đặc biệt coi trọng.12
+ Do có vị trí chiến lược trọng yếu “đầu cầu lục địa và hải cảng giao tiếp” vô cùng quan trọng ở Đông Dương và Đông Nam Á, lại có nguồn tài nguyên thiên phong phú, đã tạo cho nước ta nhiều lợi thế trong phát triển, giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội Nhưng cũng chính vị lợi thế đó mà Tổ quốc ta từ trước đến nay đã trở thành mục tiêu xâm lược của nhiều nước lớn trong khu vực và trên thế giới Bởi vậy, ngay từ buổi đầu dựng nước, nhiệm vụ chống giặc ngoại xâm đã trở nên ngày càng cấp thiết Dựng nước đi đôi với giữ nước trở thành quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta Thực tế cho thấy, nạn ngoại xâm là mối đe dọa thường xuyên
12 Nguyễn Trọng Phúc (chủ biên), Giáo trình Lịch sử Việt Nam, Nxb CTQG, H, 2001
Trang 16và nguy hiểm nhất đối với sự sống còn của dân tộc ta “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, câu nói sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện ở thế kỷ XX, nhưng chủ nghĩa yêu nước mà cốt lõi là độc lập tự do thì đã có từ lâu Chính vì thế, mỗi khi đất nước có giặc ngoại xâm thì nhân dân ta lại đứng lên đấu tranh bảo vệ Tổ quốc.
+ Nhìn lại lịch sử dân tộc, kể từ cuối thế kỷ thứ III trước công nguyên đền nay, tức là từ cuộc kháng chiến chống quân Tần xâm lược của Thục Phán – An Dương Vương (214-208 trCN) cho đến cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước Trong 22 thế kỷ ấy thì dân tộc ta đã có tới 12 thế kỷ với gần 20 cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, cùng với hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng khác Đặc biệt, trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, cha ông ta luôn luôn phải chống lại kẻ thù mạnh hơn nhiều lần về kinh tế và quân sự Điều đáng lưu ý ở đây là độ dài thời gian và tần số xuất hiện các cuộc kháng chiến chống giặc giữ nước và chiến tranh giải phóng ở Việt Nam là đại lượng quá lớn so với nhiều nước khác trên thế giới Song với tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, mưu trí, sáng tạo, cha ông ta đã đánh thắng tất cả kẻ thù xâm lược, viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc
+ Thực tiễn đã chứng minh từ văn hóa dân gian đến văn hóa bác học; từ những nhân vật trong truyền thuyết như Thánh Gióng, Sơn Tinh, Thủy Tinh… đến những nhân vật có tên tuổi sáng ngời trong lịch sử như Hai Bà Trưng, Ngô Quyền,
Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung… đều đã phản ánh một cách hùng hồn và đậm nét chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Đó là động lực to lớn nhân lên gấp bội sức mạnh dân tộc để chiến thắng nhiều kẻ thù xâm lược hùng mạnh làm nên biết bao chiến công lẫy lừng
+ Mặt khác, trong lịch sử Việt Nam, mỗi khi đất nước ở vào thời điểm hiểm nghèo, thì với tinh thần yêu nước nồng nàn, các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam dù là Kinh, Mường hay Dao, Tày hay Nùng … trăm họ đều đứng lên cố kết một lòng chiến đấu Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Dân ta có
Trang 17một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi Nó kết thành một làn sóng
vô cùng mạnh mẽ, to lớn Nó nhấn chìm tất cả bè lũ bán nước và lũ cướp nước”13 Thật vậy, ở Việt Nam hầu như không có xung đột dân tộc, sắc tộc hay tôn giáo, mặc
dù chúng ta có 54 dân tộc anh em và nhiều tôn giáo khác nhau Trong khi đó trên thế giới đã và đang xẩy ra nhiều cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo đẫm máu như: ở Nam Sudan hay ở Thổ Nhĩ Kỳ, Kyrgyzstan, Pakistan, gần chúng ta có Indonexia, Thái Lan
+ Cũng nhờ truyền thống yêu nước mà dân tộc Việt Nam đã tồn tại và phát triển, sự nghiệp dựng nước và giữ nước cũng như vấn đề giải phóng dân tộc và vấn
đề dân chủ của đất nước được giữ vững Bởi kẻ thù từ phương Bắc hay phương Tây trong khi xâm lược và thống trị, bao giờ chúng cũng tìm cách thôn tính hay đồng hóa dân tộc ta Thế nhưng trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc
ta luôn có sức sống mãnh liệt và phát triển liên tục Đúng như Gớt Hôn – một chính khách Mỹ đã nhận xét: “Dân tộc Việt Nam chưa bao giờ bị đánh bại, mà thực tế họ
đã đánh bại mọi cuộc xâm lăng”14 Trong lịch sử nhân loại, một dân tộc như dân tộc Việt Nam không phải là phổ biến, nhiều quốc gia trên thế giới đã bị xóa sổ, nhiều dân tộc từ đa số trở thành “thiểu số” hoặc diệt vong Chẳng hạn như: 2 quốc gia được nhiều nước thừa nhận, nhưng thực tế không độc lập: Palestine và Tây Sahara;
6 quốc gia thực tế độc lập nhưng không được cộng đồng quốc tế thừa nhận: Abkhazia, Bắc Kibris (riêng nước này được duy nhất Thổ Nhĩ Kỳ công nhận), Nagorno-Karabakh, Nam Ossetia, Somaliland, Transnistria
+ Chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã thúc đẩy Nguyễn Sinh Cung sau này là Nuyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước Đó cũng là động lực tư tưởng, tình cảm chi phố mọi suy nghĩ, hành động của Người trong suốt cả cuộc đời mình Người đặt cho mình cái tên Nguyễn Ái Quốc – tức là yêu nước, để luôn nhắc nhở, cổ vũ bản thân và cổ vũ quốc dân đồng bào Đó cũng chính là cơ sở
13 Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H, 2000, tr 171
14 Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, nxb sự thật, H, 1971, t3, tr 176.
Trang 18tư tưởng đã dẫn Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin.
2 Truyền thống nhân nghĩa, tương thân, tương ái, cố kết cộng đồng.
Nhân nghĩa chính là sự yêu thương giữa con người với con người “cốt yếu của Nhân là yêu thương con người” Người Việt Nam luôn trọng nhân nghĩa, luôn đồng cảm với nỗi đau của người khác, sẵn sàng nhường cơm xẻ áo cho nhau với tinh thần “lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân”, “ một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, hay “ bầu ơi thương lấy bí cùng/ tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, hàng xóm láng giềng yêu thương nhau, tối lửa tắt đèn có nhau để tạo nên sự gắn bó lâu dài Sống theo phương châm “mình vì mọi người mọi người vì mình”, tôn trọng những người có công với dân với nước
Truyền thống này cũng hình thành cùng với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và giặc ngoại xâm Bước sang thế kỷ XX, mặc dù xã hội Việt Nam đã có sự phân hóa về giai cấp, truyền thống này vẫn còn rất bền vững Vì vậy, Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát huy sức mạnh của truyền thống nhân nghĩa, trong bài thơ “Mười chính sách của Việt Minh” năm
1941, Hồ Chí Minh nhấn mạnh bốn chữ “đồng”:
“Khuyên ai xin nhớ chữ đồng, Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh” 15
3 Truyền thống lạc quan, yêu đời.
Trong muôn nguy, ngàn khó, người dân Việt Nam vẫn luôn động viên, nhắc
nhở nhau “chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo”, “còn da lông mọc, còn chồi nảy cây” Tinh thần lạc quan đó có cơ sở từ niềm tin vào sức mạnh của bản thân mình, tin vào sự tất thắng của chân lý, chính nghĩa, dù trước mắt còn đầy gian truân, khổ
ải phải chịu đựng, vượt qua
Hồ Chí Minh chính là hiện thân của truyền thống lạc quan đó Trải qua bao đắng cay vất vả, Người luôn có niềm tin vào tương lai Trong cuộc đời Hồ Chí Minh, dù trải qua muôn vàn khó khăn nhưng tinh thần lạc quan, yêu đời vẫn luôn
15 T3, tr.206
Trang 19tràn trề: “Hết mưa là nắng hửng lên trời”; “Thân thể ở trong lao/ Tinh thần ở ngoài lao/ Muốn lên sự nghiệp lớn/ tinh thần càng phải cao”; hay “Ví không có cảnh đông tàn/Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân” Người tin vào sự thắng lợi của cuộc cách mạng của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, trong
Di chúc, Người đã khẳng định: “cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.Đó là một điều chắc chắn”, “Nay tuy châu chấu đá voi/ Nhưng mai voi
sẽ bị lòi ruột ra”
4 Truyền thống cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo, ham học hỏi và không ngừng mở rộng cửa đón nhận tinh hoa văn hóa nhân loại.
+ Do gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước và hoàn cảnh luôn đối phó với giặc ngoại xâm đã hình thành nên phong cách cần cù và anh dũng kiên cường Cuộc đời Hồ Chí Minh là một minh chứng cho sự cần cù, anh dũng bất khuất: từ nhỏ Người tự thân vận động, nuôi em trai còn nhỏ khi mẹ mất sớm, bố đi xa Ra đi tìm đường cứu nước bằng hai bàn tay trắng, khi ra nước ngoài thì làm nhiều công việc như vẽ thuê, bưng bê, quét tuyết, đốt lò ở trung tâm sưởi ấm thành phố Đến khi về nước thì tham gia sản xuất, nuôi cá làm vườn, là một vị Chủ tịch nước nhưng Người không cần thư ký riêng mà tự mình viết tay, đánh máy Suốt cuộc đời Bác là mẫu mực cho một tinh thần trung với nước, hiếu với dân, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư
+ Từ xa xưa, người Việt Nam đã đề cao tinh thần ham học hỏi: “nửa bụng chữ bằng 1 hũ vàng”, “không thầy đố mày làm nên” Vì thế, dân tộc ta luôn mở rộng cửa đón nhận tinh hoa văn hóa nhân loại, từ Nho, Phật, Lão của phương Đông đến tư tưởng- văn hóa hiện đại phương Tây Nhờ vị trí thuận lợi, ở giữa đầu mối của sự giao lưu văn hóa Bắc- Nam và Đông- Tây, Người Việt Nam từ xưa đã rất xa
lạ với đầu óc hẹp hòi, thủ cựu Trên cơ sở giữ vững bản sắc của dân tộc, nhân dân
ta đã biết chọn lọc, tiếp thu, cải biến những cái hay, cái tốt, cái đẹp của người thành những giá trị riêng của mình Hồ Chí Minh là hình ảnh sinh động và trọn vẹn của
Trang 20truyền thống đó Trong bài Đông Dương, phần chính sách ngu dân, Hồ Chí Minh
đã khái quát: “Người An Nam rất hiếu học Trong các tầng lớp xã hội, người sĩ phu chiếm địa vị hàng đầu”16 Sau này, trong Những nhiệm vụ cấp bách của nhà nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà (3/9/1845), Người xác định nhiệm vụ thứ 2/6 là “một
dân tộc dốt là một dân tộc yếu Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn
mù chữ”17
→ Như vậy, có thể nói truyền thống văn hóa Việt Nam mà nổi bật là chủ
nghĩa yêu nước là một trong những nguồn gốc chủ yếu, là cội nguồn lý luận đầu tiên của tư tưởng Hồ Chí Minh Đúng như Người đã nói: “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”18 Và “Tôi kính yêu Lênin vì Lênin là người yêu nước vĩ đại
đã giải phóng đồng bào mình, trước đó tôi chưa hề đọc một cuốn sách nào của Lênin viết”
1.2.2 Tinh hoa văn hoá nhân loại
Ngoài truyền thống văn hóa dân tộc, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh còn học hỏi, tiếp thu các tinh hoa văn hóa nhân loại như Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo… của phương Đông; tư tưởng dân chủ, nhân văn của văn hóa Phục hưng, của các cuộc cách mạng tư sản phương Tây
Về văn hoá phương Đông
Hồ Chí Minh đã tiếp thu có chọn lọc tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo và các
tư tưởng tiến bộ khác của văn hoá phương Đông
- Nho giáo:
Nho giáo còn gọi là Khổng giáo do Khổng Tử (551 – 479 trCN) ở Trung Quốc sáng lập, được các học trò của ông (Tử Tư, Mạnh Tử, Tuân Tử, Tăng Tử…) phát triển Nho giáo không phải là một tôn giáo mà là một khoa học về kinh
16 Hå ChÝ Minh Toµn tËp, tËp 1, Nxb CTQG, H.2009, tr 395.
17 Hå ChÝ Minh Toµn tËp, tËp 4, Nxb CTQG, H.2009, tr 8.
18 Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, H, 2000, tr 128
Trang 21nghiệm, về đạo đức, về phép ứng xử trong gia đình và xã hội để xây dựng một xã hội thịnh trị, an ninh, hòa mục - tức là một xã hội có tôn ti trật tự
+ Nho giáo vào Việt Nam từ rất sớm, vào khoảng thế kỷ thứ I trCN, là thời điểm nước ta bắt đầu chịu sự xâm chiếm của giặc phương Bắc (179trCN - 905), đây chính là thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc Trong thời gian này, mặc dù kẻ thù đã dùng mọi cách để đồng hóa dân tộc ta như truyền bá những phong tục, nghi lễ phong kiến Trung Quốc, mở trường dạy chữ Hán…vv Song với truyền thống yêu nước nồng nàn chúng ta không những không bị đồng hóa mà còntiếp biến chúng thành văn hóa Việt Nam, trong đó Nho giáo đã trở thành Nho giáo yêu nước Việt Nam
+ Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, ngay từ nhỏ Hồ Chí Minh đã được học chữ Hán với những nhà nho yêu nước, đã tiếp thu những triết lý đạo đức
Khổng – Mạnh qua các tác phẩm kinh điển của Nho giáo (Tứ thư gồm bốn quyển
sách là Đại Học: một chương trong Kinh Lễ; Trung Dung: một chương khác trong Kinh Lễ; Luận Ngữ: cuốn sách ghi chép lại những lời dạy của Khổng Tử và do học trò của ông ghi chép lại; Mạnh Tử: sách ghi chép lại những cuộc đối thoại của Mạnh Tử và một số vị vua trong thời kỳ ông sống Bốn bộ sách này được các học trò của Khổng Tử biên soạn sau khi ông mất Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc Về sau Kinh Nhạc bị thất
lạc nên chỉ còn năm bộ kinh nên thường được gọi là Ngũ kinh) Mặt khác, Người
cũng đã từng sống ở kinh thành Huế, nơi ngự trị của vua chúa nhà Nguyễn vốn sung bái Nho giáo nên Người càng chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của các tư tưởng Nho giáo
+ Những kiến thức Hán học mà người tiếp thu được từ nhỏ đã ăn sâu vào trí nhớ, để lại những dấu ấn sâu sắc trong tư tưởng, tình cảm của Người đến mãi về sau này Không có gì là lạ trong nhiều bài nói, bài viết của mình, Người đã sử dụng
có cải biến các khái niệm, các mệnh đề tích cực của Nho giáo để diễn tả tư tưởng
của mình như: triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời; triết lý
Trang 22nhân sinh, tu thân, dưỡng tính; đề cao văn hoá, lễ giáo, tinh thần hiếu học…
Đây là tư tưởng tiến bộ hơn hẳn của Nho giáo so với các học thuyết cổ đại
Ví dụ: “Trung – Hiếu”…; hoặc là Nho giáo đề cập đến con người phải có 5 chữ tức là Ngũ thường (Nhân - Nghĩa – Lễ - Trí - Tín), Hồ Chí Minh đã phát triển
và chỉ ra 5 tiêu chuẩn của người cán bộ đó là (Nhân - Nghĩa - Trí - Dũng - Liêm) hoặc Người chỉ ra 6 yêu cầu của người làm Tướng (Trí - Nhân - Dũng - Tín - Liêm
- Trung); hoặc là các tư tưởng “Tứ hải giai huynh đệ”, “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, “Cần, kiệm, liêm, chính” hay quan điểm: “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” đã được Hồ Chí Minh tiếp thu để giáo dục cán
bộ, đảng viên Tiếp thu các tư tưởng tiến bộ của Nho giáo, Người dạy rằng: “Người
An Nam chúng ta muốn hoàn thiện mình về mặt tinh thần hãy đọc các tác phẩm của Khổng Tử, muốn hoàn thiện về phương pháp cách mạng hãy đọc các tác phẩm của Lênin”
+ Nguyễn Sinh Cung – Nguyễn Tất Thành được học tập chữ Hán với các thầy vốn là những nhà nho yêu nước (ông Nguyễn Sinh Sắc, thầy Vương Thúc Quý…) Đạo đức Nho giáo thấm vào tư tưởng tình cảm của Người không phải là những giáo điều “tam cương”, “ngũ thường” (Nho giáo quan niệm danh phận của mỗi người do các mối quan hệ quy định, mỗi mối quan hệ gọi là một Luân Nho giáo chọn ra 5 Luân cơ bản là: Vua – Tôi, Cha – Con, Chồng – Vợ, Anh – Em, Bạn – Bè Trong đó 3 mối quan hệ đầu được cho là mối quan hệ chính còn gọi là cương Tam cương là Quân vi thần cương, Phụ vi tử cương, Phu vi thê cương Tam tòng là: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử Tứ đức: Công, dung, ngôn, hạnh) nhằm bảo vệ tôn ti trật tự phong kiến mà là tinh thần nhân nghĩa, đạo tu thân,
sự ham học hỏi, đức tính khiêm tốn, ôn hòa, cách xử thế có lý có tình…
+ Trong khi tiếp thu những yếu tố tích cực của nho giáo, Hồ Chí Minh đã
phê phán loại bỏ các yếu tố thủ cựu, tiêu cực của học thuyết này như: tư tưởng
phân chia đẳng cấp quân tử và tiểu nhân, trọng nam khinh nữ, chỉ đề cao nghề đọc sách coi thường lao động chân tay… Những quan điểm đó hoàn toàn xa lạ với
Trang 23tư tưởng Hồ Chí Minh: đấu tranh cho một xã hội bình đẳng, dân chủ, tôn trọng lao động, tôn trọng phụ nữ, chủ trương nam nữ bình quyền… Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
“Đạo đức cũ và đạo đức mới khác nhau nhiều Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời Đạo đức mới như hai chân đứng vững dưới đất, đầu ngửng lên trời” Chính Hồ Chí Minh là người đã đảo thế đứng đó, cũng như Mác – Ăngghen tiếp thu phép biện chứng duy tâm của Hêghen và đặt lại phép biện chứng
đó trên cái nền duy vật
→ Như vậy, một mặt Hồ Chí Minh tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của Nho
giáo, một mặt Người phê phán loại bỏ những yếu tố lạc hậu tiêu cực để phát triển thành những chuẩn mực mới về đạo đức và phép ứng xử của cán bộ, đảng viên và
nhân dân trong thời đại mới Cũng chính những chuẩn mực đạo đức này đã là hành
trang góp phần quan trọng làm nên nhân cách vĩ đại của Hồ Chí Minh sau này
- Phật giáo:
Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới (các tôn giáo lớn khác
là Do Thái giáo, Ki - tô giáo và Hồi giáo, và Ấn Độ giáo) Phật giáo được một nhân vật lịch sử là Tất - đạt - đa (Thích Ca Mâu Ni 566, 563 – 486, 483trCN) sáng lập khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, và Phật - đà hay Bụt - đà (người Việt gọi đơn giản là Phật) có nghĩa là “người tỉnh thức”, "người giác ngộ" là danh hiệu mà Ngài có được sau khi giác ngộ, thành đạo Giáo lý mà Ngài dạy và sau này để lại cho đời được gọi là Phật pháp Cơ sở tư tưởng của Phật giáo là Tứ diệu đế (Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế), đây là cốt lõi giáo pháp của đạo Phật, và cũng là điều
mà Phật đã chứng ngộ lúc đạt đạo Bốn chân lý này chính là câu trả lời cho câu hỏi của thời đại lúc đó là: Tại sao con người cứ bị trói buộc trong luân hồi và liệu con người có cơ hội thoát khỏi nó hay không?
Trả lời câu hỏi này Phật giáo cho rằng: Đời là bể khổ, nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển (Bể khổ gồm có 8 nỗi khổ: Sinh, lão, bệnh, tử khổ, sở cầu bất đắc khổ, ái biệt ly khổ, oán tăng hội khổ, ngũ thủ uẩn khổ = Khổ đế; Nguyên nhân của cái khổ là do dục vọng: tham, sân, si mà ra tức là tham lam, bực tức, thù hằn,
Trang 24oán ghét, mê muội, ngu si = Tập đế; “Giận nên mà phát cơn điên, người khôn hóa dại, người lành hóa ngu”; Để thoát được cái khổ luân hồi đó thì con người phải diệt nguyên nhân của nỗi khổ tức là diệt tham, sân, si để đi lên cõi Niếp bàn sống thanh thản, an nhàn = Diệt đế; Đạo đế là con đường để đi đến Niếp bàn có nhiều đường tùy căn cơ của từng người, nhưng có tám con đường cơ bản gọi là Bát chính đạo: Chính kiến (nhìn nhận rõ chân tướng sự vật), Chính tư duy (suy nghĩ đúng đắn), Chính ngữ (lời nói ngay thẳng, không nói dối), Chính nghiệp (tạo dựng sự nghiệp đúng đắn, không sát sinh…), Chính mệnh (nuôi sống bản thân bằng nghề chính đáng), Chính tinh tiến (cố gắng làm điều thiện), Chính niệm ( tư tưởng trong sạch), Chính định ( tập trung tư tưởng).
Phật giáo vào Việt Nam từ sớm, ngay từ đầu Công Nguyên (với câu chuyện Chử Đồng Tử học đạo của một nhà sư Ấn Độ Do được tiếp thu Phật giáo trực tiếp
từ Ấn Độ nên từ “Buddha” được phiên âm là “Bụt”, sau này vào thế kỷ thứ 4-5 do ảnh hưởng của Phật giáo đến từ Trung Quốc nên “Bụt” đổi thành “Phật” bởi
“Buddha” phiên âm theo tiếng Hán là “Phật đà” hay “Phật đồ” sau này rút gọn gọi
là “Phật”) Vì vậy, Phật giáo ăn sâu bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm và có ảnh hưởng rất mạnh đến tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống của người dân Việt Nam
Phật giáo có tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân, một tình yêu bao la đến cả chim muông cây cỏ Đồng thời có tư tưởng bình đẳng, dân chủ hơn so với Nho giáo…“Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành” Phật giáo cũng đề cao nếp sống đạo đức, trong sạch, chăm làm điều thiện “Ác giả ác báo xoay vần, hại nhân nhân hại xưa nay lẽ thường”, coi trọng lao động “Một ngày không làm, một ngày không có ăn” …
Đến thời nhà Lý, Trần Phật giáo trở nên cực thịnh và trở thành quốc đạo của Việt Nam Đặc biệt năm 1299, vua Trần Nhân Tông, dưới sự hướng dẫn của thiền
sư Tuệ Trung Thượng Sỹ, xuất gia và lên tu ở núi Yên Tử, thuộc huyện Uông Bí,
Quảng Ninh, thống nhất các thiền phái tồn tại trước đó và lập nên Thiền phái Tr úc lâm với chủ trương không xa dời mà sống gắn bó với nhân dân, với đất nước,
Trang 25tham gia vào cộng đồng, vào cuộc đấu tranh của nhân dân chống giặc ngoại xâm Có được điều này chính là sự bắt gặp giữa những tư tưởng tiến bộ của Phật
giáo với chủ nghĩa yêu nước, tinh thần bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc ta
→ Như vậy, có thể nói những mặt tích cực của Phật giáo đã đi vào đời sống
tinh thần nhân dân và để lại nhiều dấu ấn trong văn hóa Việt Nam, từ tư tưởng, tình cảm, tín ngưỡng, phong tục tập quán đến lối sống…Hồ Chí Minh sinh ra trong gia đình nhà nho nghèo, gần gũi với nông dân nên cũng thấm nhuần tinh thần đó Nói
Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của văn hóa truyền thống là đã bao gồm trong đó có Phật giáo
- Chủ nghĩa tam dân:
Đây là tư tưởng dân chủ của Tôn Trung Sơn (1866 - 1925), là nhà cách mạng dân chủ Trung Quốc, người lãnh đạo cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 lật đổ triều đại Mãn Thanh và khai sinh nước Trung Hoa dân quốc Ông được người Trung Hoa gọi yêu mến là "Quốc phụ Trung Hoa" Ông đã nêu ra chủ thuyết "Tam dân"
Chủ thuyết "Tam dân" của ông với tư tưởng chính là dân tộc độc lập, dân
quyền tự do, dân sinh hạnh phúc đã có ảnh hưởng sâu sắc đến phong trào đấu tranh
giành độc lập ở Việt Nam, đặc biệt là tổ chức Quốc Dân Đảng Việt Nam và tầng lớp trí thức yêu nước Việt Nam trong những năm 1920-1930 Hồ Chí Minh đã tìm thấy, tiếp thu những điều thích hợp với điều kiện của nước ta ở chủ thuyết này Sau này Người đưa vào Quốc hiệu của nước Việt Nam những tinh túy nhất của chủ thuyết đó là: Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
+ Ngoài ra Hồ Chí Minh còn tiếp thu những tinh hoa văn hóa phương Đông khác từ Lão Tử, Mạc Tử, Quản Tử, Tôn Tử Đặc biệt người đã kế thừa, tiếp thu tư tưởng quân sự nổi tiếng của Tôn Tử Hồ Chí Minh cho rằng: tư tưởng quân sự của Tôn Tử dùng trong quân sự rất tốt mà trong chính trị cũng rất hay, cách nói của Tôn Tử rất dễ hiểu, chữ ít mà nghĩa nhiều Ví dụ Tôn Tử cho rằng: “Đánh mà giữ toàn nước địch là thứ nhất; thắng mà phá tan nước địch là thứ hai; thắng mà giữ
Trang 26toàn quân đội địch là thứ nhất; thắng mà phá tan quân đội địch là thứ hai; đánh bằng mưu là thứ nhất; đánh bằng ngoại giao là thứ hai; đánh bằng binh là thứ ba; vây thành mà đánh là kém nhất”.
Về văn hoá phương Tây
Ngay từ khi còn học tiểu học ở trong nước Hồ Chí Minh đã quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu về các nền văn hóa của nhân loại, nhất là văn hóa Pháp Trong 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Hồ Chí Minh đã đi qua 3 đại dương, 4 châu lục và đặt chân đến gần 30 nước trên thế giới, làm hàng chục nghề khác nhau19 Do vậy, Người có điều kiện trực tiếp tiếp xúc với nhiều nền văn minh của nhân loại Song chủ yếu Người sống và làm việc ở châu Âu, nên Người chịu ảnh hưởng rất sâu rộng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng của phương Tây Cụ thể:
→ Tư tưởng tự do bình đẳng, bác ái, qua các tác phẩm của các nhà khai sáng Pháp như: Vônte, Rutxô, Mông tét ki ơ
→ Những giá trị trong “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của đại
cách mạng Pháp 1791
→ Những tư tưởng về dân chủ, quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu
hạnh phúc của “Tuyên ngôn độc lập” ở Mỹ 1776.
→ Ngoài ra trong quá trình bôn ba ở các nước phương Tây, Hồ Chí Minh còn tiếp thu được nhiều giá trị khác như cách nghĩ, cách tư duy, lối sống, phương pháp ứng xử…tất cả được hun đúc để tạo thành một giá trị bất hủ trong tư tưởng của Người
+ Nền văn hóa Pháp được Bác làm quen sớm nhất vào năm 1905, khi Người học ở Trường Tiểu học Pháp – Việt (Vinh) Bác nói: “Vào trạc tuổi 13, lần đầu tiên tôi được nghe những từ Tự Do, Bình Đẳng, Bác Ái… Người Pháp đã nói thế và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy”20 Sau đó Người thường xuyên tiếp xúc với những từ đó
19 Xem Song Thành, Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb CTQG, H, 2009, tr 34
20 Theo Ôxíp Manđenxtam: “Thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản – Nguyễn Ái Quốc” Báo Đốm Lửa (Liên Xô) số
39, ngày 23-12-1923
Trang 27ở Trường Quốc học Huế Tại đây vào kỳ nghỉ hè năm 1907, Người được đọc các
“Tân thư, Tân văn” của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu giới thiệu về thân thế, sự nghiệp, tác phẩm của các nhà khai sáng Pháp như Mông – tet – xki – ơ, Rút – xô, Vôn – te…
* Mông- tet – xki - ơ (1689 - 1755) một nhà luật học nổi tiếng với tác phẩm
“Tinh thần pháp luật” ông đã đưa ra nguyên tắc tách biệt giữa 3 quyền lực: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Ông cho rằng nhà nước lập hiến ở Anh thời
đó là mẫu mực của thể chế chính trị, phù hợp với tình hình chung của xã hội Qua Mông – tet – xki – ơ, Người tiếp cận được tư tưởng về “Nhà nước pháp quyền”
* Vôn - te (1694 - 1778) là một bậc thiên tài với khả năng hiểu biết toàn diện và
đã thành công trên nhiều lĩnh vực nghiên cứu như: (Triết học, văn học, sử học, vật lý học) ông đã công kích gay gắt chế độ chuyên chế và nhà thờ Pháp Chủ trương xoá bỏ chế độ chuyên chế nhưng vẫn giữ thể chế quân chủ với những vị vua sáng suốt, nếu vua trở nên tàn bạo thì nhân dân có quyền đánh đổ Qua Vôn – te, tư tưởng chống phong kiến, phủ nhận vua, vốn đã lớn dần ở Người từ trước được khẳng định lại và phát triển Người đã đoạn tuyệt với chế độ phong kiến
* Rút - xô (1712 - 1778), xuất thân nghèo khổ, phải làm nhiều nghề, đi nhiều nước, thấu hiểu tình cảnh cùng cực của người dân thường nên tư tưởng của ông là lên
án chế độ Phong kiến, phê phán chế độ sở hữu tư nhân và tình trạng bất bình đẳng trong
xã hội Ông chủ trương thiết lập chế độ cộng hoà, người dân có quyền chính trị như nhau, được hưởng quyền tự do và bình đẳng Qua tác phẩm “Khế ước xã hội” của Rút –
xô, Hồ Chí Minh được tiếp cận với “nền cộng hòa dân chủ” mà ở đó nhân dân là người nắm chính quyền
Ngoài ra, Người còn học lịch sử nước Pháp và các môn khoa học tự nhiên khác ở Trường Quốc học Huế Từ đó, Người rất ham học hỏi lịch sử thế giới, nhất
là cách mạng Pháp 1789 Hơn hẳn các bặc tiền bối, Hồ Chí Minh thừa nhận nước Pháp có một nền văn minh thực sự và ra sức tìm hiểu nền văn minh ấy qua các tác phẩm của các đại biểu tiêu biểu của nó Từ đó tri thức của Người ngày càng dồi
Trang 28dào, phong phú và có nhiều điểm mới
Đặc biệt, năm 1917 người chuyển đến sống và làm việc tại thủ đô nước Pháp, quê hương của lý tưởng “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” Đây là một quyết định
có ý nghĩa lịch sử, mở ra một thời kỳ mới trong cuộc đời của Người Bởi Pari là thủ
đô chính trị của nước Pháp, đồng thời cũng là trung tâm văn hóa – nghệ thuật của
cả Châu Âu, là nơi hợp lưu các dòng văn hóa thế giới Các trào lưu triết học, các trường phái nghệ thuật nổi tiếng thế giới phần lớn đều được hình thành và ra mắt tại đây Ở Pháp, Bác đã tham gia các hoạt động đấu tranh cách mạng như viết văn, làm báo, tham gia đảng phái (Đảng Xã hội Pháp), phát biểu ý kiến, trình bày quan điểm trước dư luận… Chính vì vậy, Người có điều kiện thuận lợi để nhanh chóng chiến lĩnh vốn tri thức của thời đại, đặc biệt là truyền thống văn hóa dân chủ và tiến
bộ của nước Pháp
+ Bên cạnh đó, nền văn hóa Mỹ cũng có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng của Người Trong thời gian dừng chân ở Mỹ vào khoảng cuối 1912 đến cuối năm 1913, Người đã ở Brúclin, đến thăm khu da đen Háclem, chiêm ngưỡng tượng Nữ thần Tự do… Đặc biệt, Người được đọc bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776, trong
đó đề cập đến “quyền bình đẳng”, “quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” của con người, “quyền nhân dân kiểm soát chính phủ…” “Hễ chính phủ nào mà
có hại cho dân chúng, thì dân chúng đạp đổ chính phủ ấy đi, và gây nên chính phủ khác” 21 Người khâm phục ý chí giành độc lập, tự do của nhân dân Mỹ, khâm phục những tư tưởng vĩ đại của Oasinhton, Giépphécxơn, Lincon… Chính vì vậy, sau này trong Tuyên ngôn độc lập của nước ta, Người đã đưa vào phần tinh túy nhất của Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ Người khẳng định: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”22
21 Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H, 2000, tr 270
22 HCM: Toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, tập 4, trang 1.
Trang 29→ Như vậy, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, kế thừa, tiếp thu những tư tưởng
tiến bộ của cuộc cách mạng tư sản Pháp và Mỹ một cách có chọn lọc Trong khi khẳng định những giá trị chân chính, những yếu tố tích cực, tiến bộ của cách mạng dân chủ tư sản, nhất là tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, tư tưởng nhân văn giải phóng con người khỏi thần quyền và sự thống trị của những quan hệ phong kiến, Người cũng đồng thời đánh giá đúng những hạn chế của nó Trong cuốn “Đường cách mệnh”, Người viết về cách mạng Mỹ: “Tuy rằng cách mệnh đã thành công hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẵn cực khổ, vẵn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai Ấy là vì cách mệnh Mỹ là cách mệnh tư bản, mà cách mệnh tư bản là chưa phải cách mệnh đến nơi”23 Về cách mệnh Pháp, Người cũng đánh giá: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì tước lục công nông, ngoài thì
áp bức thuộc địa”24 Do vậy, “Cách mệnh An Nam nên nhớ đến điều ấy”25 Chính vì không thỏa mãn với con đường cách mạng tư sản nên người tìm đến với chủ nghĩa Mác – Lênin
+ Ngoài ra Hồ Chí Minh còn kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh và tính nhân văn của Thiên Chúa giáo – một tôn giáo lớn của phương Tây Người còn tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của nền văn minh phục hưng, kết tinh của nền văn minh Hy Lạp và La Mã cổ đại…
→ Như vậy, trong quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của mình, Bác
đã kế thừa có chọn lọc tinh hoa văn hóa phương Đông, phương Tây từ cổ điển đến hiện đại Người loại bỏ những yếu tố lạc hậu, lỗi thời, giáo điều, cực đoan mà trước hết là những quan điểm nhằm duy trì và bảo vệ chế độ và trật tự phong kiến, thực dân Người chỉ tiếp thu những yếu tố tích cực, phù hợp, có ích cho mục đích tìm đường cứu nước, cứu dân thoát khỏi tình trạng nô lệ, phụ thuộc Người chỉ rõ:
“Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân Tôn giáo Giêsu
23 Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H, 2000, tr 270
24 Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H, 2000, tr 270
25 Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H, 2000, tr 274
Trang 30có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu hạnh phúc cho xã hội Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng nhất định họ chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”26.
Rõ ràng, Người kế thừa các học thuyết, các tư tưởng của nhân loại một cách
có phê phán, chon lọc, không bao giờ sao chép máy móc, cũng không bao giờ phủ định một cách đơn giản, mà có sự phân tích sâu sắc để tìm ra yếu tố tích cực, làm giầu thêm vốn kiến thức và hành trang tư tưởng của minh Chính điều này đã làm nên nét đặc sắc ở Hồ Chí Minh – một con người tượng trưng cho sự kết hợp hài hòa văn hóa Đông và Tây
1.2.3 Chủ nghĩa Mác - Lênin
- Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết chính trị do C.Mác, Ph Ăngghen sáng lập, được V.I Lênin bảo vệ, phát triển và hoàn thiện với ba bộ phận là Triết học Mác – Lênin, Kinh tế Chính trị Mác – Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học Đây là hệ
tư tưởng chính trị của giai cấp công nhân, là vũ khí lý luận sắc bén, là thế giới quan
và phương pháp luận khoa học của giai cấp vô sản, bảo đảm cho cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng XHCN giành thắng lợi Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết duy nhất nêu lên mục tiêu, con đường, lực lượng và phương pháp thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người; là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan và phương pháp luận khoa học; là một học thuyết mở, không cứng nhắc, không bất biến và không ngừng đổi mới trong dòng trí tuệ của nhân loại
- Chủ nghĩa Mác – Lênin là một học thuyết tiên tiến, mang tính cách mạng, khoa học
26 Võ Nguyên Giáp, Những bài viết và nói chọn lọc thời kỳ đổi mới, Nxb CTQG – QĐND, H, 2001, tr 46, 47
Trang 31+ Tính khoa học: Học thuyết đã phát hiện ra quy luật của tự nhiên, xã hội và
tư duy
+ Tính cách mạng: Học thuyết không chỉ giải thích hiện thực mà còn cải tạo hiện thực theo hướng tích cực, tiến bộ vì hạnh phúc của con người
- Sau nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước vào tháng 7 năm 1920, Hồ Chí Minh
đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Đó là thời điểm Bác đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin Tác phẩm của Lênin đã chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản với sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa Nhờ đó mà Người tìm thấy con đường cứu nước Từ đó cho đến những năm cuối đời, Người không ngừng nghiên cứu, tiếp thu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin Như vậy, chính Lênin đã giúp Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác Sau này Người đã nhắc lại cảm tưởng của mình lúc đó: “Luận cương của Lênin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết của chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”27 Trong bài “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin”, Hồ Chí Minh đã giải thích rõ quá trình đến với chủ nghĩa Mác – Lênin
và hình thành nên tư tưởng của mình: “Lúc bấy giờ tôi ủng hộ cách mạng Tháng Mười chỉ là theo cảm tính tự nhiên… Tôi kính yêu Lênin vì Lênin là một người yêu nước vĩ đại đã giải phóng đồng bào mình…Tôi tham gia Đảng Xã hội Pháp chẳng qua vì các ông bà ấy (hồi ấy tôi gọi đồng chí của tôi như thế) đã tỏ đồng tình với tôi, với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức Còn như Đảng là gì, công đoàn là gì, CNXH và CNCS là gì thì tôi chưa hiểu”28
- Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin là bước ngoặt cơ bản trong quá trình tìm đường cứu nước và phát triển tư tưởng của Người: Từ một người yêu nước trở thành người cộng sản, từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến với
27 Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, H, 2000, tr 127
28 Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, H, 2000, tr 126 128