1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN môn Tiếng Việt lớp 4

20 463 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 62,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời đại chúng ta đang sống là thời đại “bùng nổ thông tin”. Mặc dù các phương tiện truyền thông ngày càng được hiện đại hóa, có rất nhiều cách giúp cho con người tiếp nhận thông tin, mở mang kiến thức và học tập thường xuyên. Dạy văn là cần thiết giúp cho trẻ sản sinh ra những văn bản có cảm xúc chân thực khi nói hoặc viết. Mục tiêu của cả người dạy và học là “ có cảm xúc” trong mỗi tiết học văn. Người giáo viên giúp cho các em cảm nhận được cái hay cái đẹp trong các bài văn, bài thơ, cuộc sống xung quanh và thể hiện “cái đẹp” đó bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh. Thực tế cho thấy, nội dung, trương trình, của sách giáo khoa có nhiều yêu cầu đòi hỏi người giáo viên cần nắm tốt được phương pháp dạy bộ môn Tiếng việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng để giảng dạy có hiệu quả. Hơn nữa, chương trình, sách giáo được biên soạn theo quan điểm giao tiếp nghĩa là học sinh được luyện nói trong quá trình giao tiếp. Muốn vậy dạy lý thuyết văn nói riêng như thế nào để giúp học sinh được luyện nói mà nắm được kiến thức cơ bản để viết văn đúng thể loại. Từ khái niệm về thể loại văn, học sinh vận dụng viết văn đúng dạng bài như: miêu tả con vật, miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối…. Để học sinh nắm được lí thuyết văn miêu tả, người giáo viên cần sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học kết hợp hình thức tổ chức dạy học phù hợp để học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức. Muốn vậy người giáo viên cần có những biện pháp nhất định giúp giờ học đạt hiệu quả cao.

Trang 1

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

I – LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Thời đại chúng ta đang sống là thời đại “bùng nổ thông tin” Mặc dù các phương tiện truyền thông ngày càng được hiện đại hóa, có rất nhiều cách giúp cho con người tiếp nhận thông tin, mở mang kiến thức và học tập thường xuyên Dạy văn là cần thiết giúp cho trẻ sản sinh ra những văn bản có cảm xúc chân thực khi nói hoặc viết Mục tiêu của cả người dạy và học là “ có cảm xúc” trong mỗi tiết học văn Người giáo viên giúp cho các em cảm nhận được cái hay cái đẹp trong các bài văn, bài thơ, cuộc sống xung quanh và thể hiện “cái đẹp” đó bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh

Thực tế cho thấy, nội dung, trương trình, của sách giáo khoa có nhiều yêu cầu đòi hỏi người giáo viên cần nắm tốt được phương pháp dạy bộ môn Tiếng việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng để giảng dạy có hiệu quả

Hơn nữa, chương trình, sách giáo được biên soạn theo quan điểm giao tiếp nghĩa là học sinh được luyện nói trong quá trình giao tiếp Muốn vậy dạy lý thuyết văn nói riêng như thế nào để giúp học sinh được luyện nói mà nắm được kiến thức

cơ bản để viết văn đúng thể loại Từ khái niệm về thể loại văn, học sinh vận dụng viết văn đúng dạng bài như: miêu tả con vật, miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối…

Để học sinh nắm được lí thuyết văn miêu tả, người giáo viên cần sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học kết hợp hình thức tổ chức dạy học phù hợp để học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức Muốn vậy người giáo viên cần có những biện pháp nhất định giúp giờ học đạt hiệu quả cao

Trong quy trình dạy học văn miêu tả, mỗi tiết học đều có vị trí và nhiệm vụ riêng của nó Trong đó, việc quan sát tìm ý có vai trò đặc biệt quan trọng Nó là cơ

sở, là tiền đề để tiến hành các tiết tiếp theo Vì vậy, để góp phần giúp cho việc dạy tốt và học tốt văn miêu tả, đặc biệt là việc tìm ý nhằm làm cho chất lượng các bài văn miêu tả của các em cao hơn, mang phong cách nghệ thuật hơn, chính những

điều này đã thúc giục tôi tìm hiểu tôi đã chọn đề tài: “Việc quan sát và việc dạy quan sát trong văn miêu tả ở lớp 4”

II – LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:

Quan sát là sử dụng các giác quan để nhận biết sự vật Trong cuốn “Một số kinh nghiệm viết văn của tôi” Tô Hoài chỉ ta thấy rõ hơn về quan sát, cách quan

sát:

“Cái cách, cái lối quan sát, không có gì đặc biệt và bí ẩn Đó chỉ là thói quen mài giũa cái nhìn, cái nghe, cái nghĩ, đó là công việc bắt sức óc phải chăm chú tìm tòi, đổi mới lọc lõi đến tận chi tiết cho phong phú”

“Quan sát không phải chỉ là đứng ngắm mà quan sát bắt ta hòa mình vào cuộc sống, thấy ra những cái cần ghi chép, cần nhớ và mở rộng những điều đã biết” Trong cuốn “Dạy Văn cho học sinh Tiểu Học” Hoàng Hòa Bình đã nói lên vai

trò quan trọng của quan sát trong dạy học văn miêu tả và trong đời sống:

Trang 2

“Dạy văn miêu tả là dạy trẻ học quan sát, một phẩm chất rất cần cho con người Chính là nhờ quan sát mà con người thu lượm được những hiểu biết phong phú, rộng rãi, cụ thể và sâu sắc về thế giới hiện thực”.

Các nhà văn: Văn Tú Nam, Phạm Hổ, Bùi Hiển, Nguyễn Quang Sáng trong

cuốn “Văn miêu tả và kể chuyện” cũng đưa ra những suy nghĩ của mình.

Trong “Suy nghĩ về văn miêu tả và kể chuyện”, Vũ Tú Nam đã nói đến điều kiện để việc quan sát có hiệu quả: “Quan sát tất nhiên là hết sức cần thiết Nhưng bản thân ta phải là cây ăng ten nhạy cảm theo định hướng yêu cái đẹp, trọng sự thực và quý điều thiện thì quan sát mới có hiệu quả, mới bắt được những làn sóng tốt lành”

Phạm Hổ trong bài viết của mình cũng đã nói đến vị trí quan sát trong miêu tả

cách quan sát: “Muốn miêu tả hay, phải tập trung quan sát, phải có công quan sát Công việc này, mỗi người có thể làm một cách khác nhau Có người ghi chép rất tỷ

mỉ, công phu”.

Trong phần: Trò chuyện về cách làm văn miêu tả và kể chuyện, Bùi Hiển có

nhấn mạnh thêm về vai trò của sự quan sát trực diện: “Sự quan sát trực diện, nhanh nhậy vừa giúp cho mình miêu tả đúng và cụ thể, vừa tạo điều kiện cho trí tưởng tượng của mình sáng tạo thêm ra”.

Như vậy, quan sát rất cần thiết trong văn miêu tả cũng như trong đời sống Nhờ

có quan sát, con người mới thu lượm được những hiểu biết về thế giới hiện thực Chính vì thế mà các nhà nghiên cứu đã tốn thời gian và công sức để tìm tòi, suy nghĩ để nhằm tìm ra cách quan sát sao cho mang lại hiệu quả cao nhất Đặc biệt là đối với văn miêu tả trong trường Tiểu học thì quan sát chiếm một vụi trí vô cùng quan trọng Để chất lượng các bài văn miêu tả được nâng lên, việc dạy quan sát tìm

ý trong văn miêu tả cần phải được quan tâm một cách sâu sắc hơn

III – NHIỆM VỤ, MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI:

Tìm hiểu kỹ về thể loại văn miêu tả - một thể loại quan trọng nhất và có nhiều tác dụng trong nhà trường Tiểu học

Năm vững yêu cầu, nội dung và phương pháp dạy học thể loại văn miêu tả trên

cơ sở nấm vững quy trình dạy tập làm văn miêu tả, đặc biệt là quan sát – lập dàn ý

Đề ra những phương pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn miêu tả nói chung và quan sát – lập dàn ý nói riêng

IV- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:

1 Phương pháp thống kê tổng hợp tài liệu

2 Phương pháp phân tích, khái quát hóa

3 Phương pháp thực nghiệm

V- PHẠM VI VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN.

Thời gian: Một năm học ở lớp 4: 2014 – 2015

Trang 3

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG I- QUAN SÁT VÀ VAI TRÒ CỦA QUAN SÁT TRONG VĂN MIÊU TẢ:

1 Khái niệm về quan sát:

Dạy văn miêu tả là dạy trẻ em học quan sát Mà quan sát và cảm nhận thế giới xung quanh là lẽ tự nhiên của con người, từ thủa ấu thơ Thế nhưng tái hiện những điều đã quan sát và cảm nhận ấy lại là chuyện không đơn giản chút nào, nhất là khi phương tiện để tái hiện chỉ là những con chữ Khi ấy, cái thế giới được tái hiện là kết quả của sự quan sát có ý thức, thông qua những cảm nhận tinh tế mang bản tính con người Cao hơn nữa, đó là cảm nhận của con người cụ thể, riêng biệt và được biểu hiện bằng những cách nhìn riêng, sự lựa chọn riêng với một bản sắc xúc cảm riêng Thế giới phong phú không chỉ bởi bản thân nó, mà còn bởi những cách nhìn nhận và tái hiện không giống nhau đó…

Vậy quan sát là gì mà có vai trò quan trọng như thế ?

Quan sát là sử dụng các giác quan để nhận biết sự vật Theo tâm lý học, quan sát là cơ sở để hình thành các biểu tượng Khi quan sát, người ta sử dụng các giác quan như: Mắt, tai, tay, mũi, lưỡi … để nhìn, nghe, sờ, ngửi, nếm … nhằm nhận biết sự vật về hình dáng, màu sắc, âm thanh, mùi vị …

Quan sát để làm bài văn miêu tả là hình thức quan sát có những nét riêng khác

với sự quan sát trong tiết “Tìm hiểu tự nhiên và xã hội” (cấp I), trong tiết vật lý,

hóa học, sinh vật …(cấp II) Hay nói cách khác là: Quan sát trong văn chương có

sự phân biệt với quan sát trong khoa học, trong đời sống Sự khác biệt đó có thể khái quát thành ba đặc điểm sau:

Quan sát để làm văn miêu tả là nhằm nhận ra những nét độc đáo, đặc biệt của đối tượng chứ không phải nhằm thống kê tỉ mỉ trung thực mọi chi tiết về sự vật

Với tiết quan sát và tìm ý cho đề bài “Tả chiếc cặp của em” (lớp 4), trong tiết này,

học sinh cần quan sát để nhận ra các đặc điểm của chiếc cặp của mình, phân biệt với chiếc cặp của bạn khác: Cặp có hình dáng như thế nào? (Vuông hay hình chữ nhật), làm bằng chất liệu gì? (da, vải, giả da hay ni lông …), màu sắc ra sao ? Có một kháo hai hai khóa … Ngoài ra, cần quan sát cụ thể: Da cặp nhẵn hay ráp, mềm hay cứng, cũ hay mới, trên mặt da có hình gì đặc biệt: Dòng chữ hoặc hình ảnh (ví

dụ như hình của chú chuột Michkey, hình chú cừu ngộ nghĩnh …)

Sự khác biệt tiếp theo: Sự quan sát để miêu tả trong tập làm văn còn luôn gắn với cảm xúc, với kỷ niệm, với cuộc sống cá nhân của người quan sát Do đó việc quan sát để miêu tả gắn rất chặt với các hoạt động liên tưởng so sánh, tưởng tưởng, hồi tưởng … của từng cá nhân

Nhìn chú chuột Michkey em lại nhớ tới những hành động thông minh, tinh nghịch của chú mà em được xem trên tivi Xoa tay vào cặp em thấy da của nó không còn nhẵn mà hơi ráp vì đã cũ làm em bồi hồi cảm xúc vì sự gắn bó giữa em với chiếc cặp trong ba năm liền …

Trang 4

Sự khác biệt thứ ba đó là: Sự quan sát để miêu tả gắn liền với việc tìm từ ngữ

để diễn tả đúng và sinh động điều đã quan sát được Có thể thấy rõ đặc điểm này qua các bài miêu tả trích trong sách Tiếng việt lớp 2 , 3 , 4 , 5

Sở dĩ quan sát có vai trò quan trọng như vậy là vì nó là sự quan sát nằm trong văn miêu tả Đó là sự quan sát để miêu tả do đó để thấy rõ hơn vai trò của quan sát trong văn miêu tả, chúng ta hãy đi tìm hiểu về văn miêu tả cùng với các đặc trưng của nó

2 Văn miêu tả và đặc trưng của văn miêu tả:

a) Khái niệm văn miêu tả:

Miêu tả là “Lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện các nhân chứng của sự vật ra” (Đào Duy Anh – Hán Việt – Từ điển).

Có thể nói: Văn miêu tả là một thể loại văn bản mà trong đó người viết dùng ngôn ngữ có tính chất nghệ thuật của mình để tái hiện lại hình ảnh chân dung của đối tượng miêu tả với những đặc điểm nổi bật về hình dáng bên ngoài và những phẩm chất bên trong của đối tượng

Như vậy, văn miêu tả giúp cho người đọc nhận biết về đối tượng bằng cả trí tuệ

và tâm hồn, giúp họ hình dung ra đối tượng như chính mình đang xem tận mắt, bắt tận tay Tuy nhiên hình ảnh một cánh đồng, một dòng sông, một con vật hay một con người … do văn miêu tả tạo nên không phải là bức ảnh chụp lại, sao chép lại một cách khô cứng, vụng về Mà là sự kết tinh của những nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc mà người viết đã thu lượm được khi quan sát cuộc sống

Ta thấy, dưới ngòi bút của Nguyễn Thế Hội, vẻ đẹp của thiên nhiên hiện lên từ hình ảnh con chuồn chuồn nước đến cảnh đồng ruộng, sông hồ, làng quê ở vùng

đồng bằng nước ta: “Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao! Màu vàng trên lưng chú lấp lánh Bốn cái cánh mỏng như giấy bóng Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh như thủy tinh Thân chú nhỏ và thon vàng như màu vàng của nắng mùa thu … Dưới tầm cánh chú bây giờ là lũy tre xanh rì rào trong gió, là bờ ao với những khóm khoai nước rung rinh Rồi những cảnh tuyệt đẹp của đất nước hiện ra: cánh đồng với những đàn trâu thung thăng gặm cỏ; dòng sông với những đoàn thuyền ngược xuôi Còn trên tầng cao cánh chú là đàn cò đang bay, là trời xanh trong và cao vút”.

(“Con chuồn chuồn nước” Theo Nguyễn Thế Hội) Trong đoạn miêu tả trên đây, vẻ đẹp của thiên nhiên dần hiện từ hình dáng đẹp

đẽ của con chuồn chuồn nước: “Màu vàng trên lưng lấp lánh; cánh mỏng như giấy bong ; mắt như thủy tinh, thân thon vàng, đến cảnh; lũy tre rì rào, cánh đồng với đàn trâu thung thăng gặm cỏ, dòng sông với những đoàn thuyền ngược xuôi

…” Tất cả là những nét đẹp của một vùng đồng bằng và cũng là vẻ đẹp phổ biến

của nông thôn Việt nam ta Bài văn đã thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu cảnh thanh bình của làng quê của tác giả

Sự miêu tả trong văn chương có ưu thế riêng so với sự miêu tả bằng màu sắc, đường nét của hội họa Dùng ngôn ngữ văn chương có thể miêu tả sự vật trong một

Trang 5

quá trình vận động, có thể tả cả những thứ vô hình như âm thanh, tiếng động, hương vị … hay tư tưởng, tình cảm thầm kín của con người

b) Đặc trưng của văn miêu tả:

Đặc trưng đầu tiên là văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm của người viết Dù là tả một con mèo, một con gà, một cây bàng thay lá mùa thu, hay đến một cánh đồng lúa chin … bao giờ người viết cũng đánh giá chúng theo một quan điểm thẩm mĩ, cũng gửi vào bài viết ít nhiều tình cảm hay ý kiến đánh giá, bình luận của mình Do vậy, từng chi tiết trong bài miêu tả đều mang ấn tượng cảm xúc, chủ quan của người viết

“Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo”

( Hồ Xuân Hương)

“Cành thông, lá liễu” trong hai câu thơ trên mang rất rõ dấu ấn cá tính của nhà thơ qua các chi tiết vừa giàu tính tạo hình lại giàu sức sống tiềm tàng: lắt lẻo, cơn gió thốc, đầm đìa, giọt sương gieo

Đặc trung thứ hai là văn miêu tả có tính sinh động và tạo hình Tính sinh động

và tạo hình chính là phẩm chất của một bài miêu tả hay

Một bài miêu tả được coi là sinh động, tạo hình khi các sự vật, đồ vật, phong cách, con người … được miêu tả hiện lên qua từng câu, từng dòng như trong cuộc sống thực, tưởng như có thể cầm nắm được, có thể nhìn, ngắm được như cách nói

của Gorki “ Dùng từ để “tô điểm” cho người và vật là một việc Tả họ một cách sinh động, cụ thể đến nỗi người ta muốn lấy tay sờ, như người ta thường muốn sờ

mó các nhân vật trong “Chiến tranh và hòa bình” của Lép – Tôn – xtôi, đó là một việc khác”.

Gorki có lần đã nói lên sự khâm phục của mình trước những trang miêu tả thần

diệu của Ban – dắc trong tác phẩm “Miếng da lừa”:

“Tôi thực sự kinh ngạc khi đọc những trang tả bữa tiệc ở nhà ông chủ nhà băng

trong tiểu thuyết “Miếng da lừa” của Ban – dắc Ở đó có đến vài chục người cùng

nói, tạo nên cảnh ồn ào hỗn độn và tôi tưởng như nghe thấy những âm thanh phức tạp ấy Nhưng cái chinh là tôi không chỉ nghe thấy mà tôi còn trộng thấy ai nói như thế nào Tôi thấy con mắt, nụ cười,điệu bộ của họ mặc dù Ban dắc không tả mặt mày hình dáng các vị khách của ông chủ nhà băng” “Ở đây Ban – dắc chỉ dùng những câu chuyện rời rạc bên bàn ăn mà vẽ lên được những khuôn mặt và những tính cách rõ nét lạ lùng”

Làm nên sự sinh động, tạo hình của văn miêu là là những chi tiết sống, gây ấn tượng … Tước bỏ chúng đi, bài miêu tả sẽ trở lên mờ nhạt, vô vị bài tả “ Những cánh bướm bên bờ sông” sẽ trơ ra như bộ xương khô nếu bị xóa bỏ đi các chi tiết

“tha thẩn ở bờ sông, đen như nhung, bay nhanh loang loáng, nhiều hình mặt nguyệt, van cánh có răng cưa …” Tuy nhiên, nhưng chi tiết được đưa vào cần được chọn lọc, lựa chọn, cần gạt đi các chi tiết thừa để cho bài miêu tả gọn và giầu chất tạo hình Điều quan trọng là lấy những chi tiết sinh động ở đâu? Lấy từ sự quan sát cuộc sống xung quanh ta, từ kinh nghiệm sống của bản thân Có bắt nguồn

Trang 6

từ trong thực tế, có thai nghén trong kinh nghiệm, văn của ta mới cụ thể và linh hoạt

Đặc trung thứ ba là ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh Chỉ có như vậy ngôn ngữ miêu tả mới có khả năng diễn tả cảm xúc của người viết, vẽ được sinh động, tạo hình ảnh đối tượng miêu tả

Quan sát văn bản miêu tả, người ta thấy ngôn ngữ miêu tả giàu các tính từ, động từ, thường hay sử dụng phép nhân hóa, so sánh ẩn dụ

Nhà văn Vũ Thị Thường có cách dùng tính từ tả màu vàng, cách so sánh thật đáng yêu khi tả mấy con vịt mới nở Nào chúng có “Lồng và mỏ vàng suồm suộm”, rồi “con nào con nấy tròn xoe xoe, y như những cái trứng vàng ươm biết cử động” Chỉ một tính từ “nhọc nhằn”, một từ láy “lẹt xẹt” dùng đúng chỗ, Ngô Tất Tố

đã tả được độ dày của sương mù, độ thập nhỏ của dãy đồi vùng trung du trong câu văn “Mặt trời cuối thu nhọc nhằn chọc thủng màn sương từ từ nhô lên ngàn cây trên dãy núi đồi lẹt xẹt”

Do sự phối hợp của các tính từ (màu sắc, phẩm chất …) của các động từ với các biện pháp tu từ, ngôn ngữ miêu tả luôn tỏa sáng lung linh trong lòng người đọc, gợi lên trong lòng họ những cảm xúc, tình cảm ấn tượng, hình ảnh về sự vật được miêu tả

c) Một số yêu cầu của việc dạy học văn miêu tả:

Trong chương trình Tập làm văn ở Tiểu học hiện tại, học sinh học chủ yếu các bài văn thuộc ngôn ngữ nghệ thuật Loại văn thuộc ngôn ngữ nghệ thuật đòi hỏi bài viết phải giàu cảm xúc, tạo nên cái “hồn”, chất văn của bài làm Muốn vậy phải luôn luôn nuôi dưỡng cho các em một tâm hồn trong sáng, một cái nhìn hồn nhiên, một tấm lòng dễ xúc động, luôn hướng tới cái thiện

Từ thực tiễn đó nên trong dạy học văn miêu tả cần theo một số yêu cầu sau: + Bồi dưỡng vốn sống, vốn hiểu biết cho học sinh:

Bài tập làm văn là sản phẩm tổng hợp của học sinh Muốn có bài tập làm văn tốt ngoài việc vận dụng những kiến thức về ngôn ngữ học, về các thể loại văn học vào dạy và học tập làm văn, các em còn cần được bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc, tích lũy vốn hiểu biết về cuộc sống, các tri thức văn hóa chung thông qua các môn học Bài tập làm văn còn là sản phẩm thể hiện rõ vốn hiểu biết đời sống, trình độ kiến thức văn hóa của học sinh Có câu văn sau: “Vỏ chuối màu vàng có những chấm đen li ti như chiếc áo hoa lộng lẫy” So sánh vỏ chuối trứng cuốc với “chiếc

áo hoa lộng lẫy” là chưa đúng, không hay Chính vì do thiếu hiểu biết về quả chuối nên đã có sự so sánh không chính xác này

Điều quan trọng khi dạy trẻ em làm văn miêu tả (cũng như dạy mọi dạng văn khác) là phải dạy các em thể hiện chân thực những quan sát, những suy nghĩ, tình cảm của mình Bài văn chân thực bao giờ cũng giàu sức truyền cảm, kể cả khi nó còn ngây ngô, vụng về Bởi vì đã nói, viết chân thực với lòng mình thì mỗi bài đều

có cái riêng, cái lạ, thậm chí cái mới, cái độc đáo

Để học sinh nói, viết một cách chân thực, phải cho các em nói và viết về những

gì các em gắn bó, quan tâm, những gì thực sự làm rung động trái tim, tâm hồn các

Trang 7

em, gợi được trong các em nhu cầu, hứng thứ nói, viết Muốn vậy thì trước hết, bản thân đề tài của giờ làm văn phải hấp dẫn với các em Tuy nhiên đề tài có thể là hấp dẫn với học sinh này mà vẫn không thích hợp, không gợi được hứng thú ở học sinh khác nên đề tài cần phải rộng rãi, mở ra nhiều khả năng cho học sinh lựa chọn Ví dụ: Dạy học sinh quan sát loài vật, cô giáo có thể chọn đề tài con lợn hoặc con gà trống làm bài dạy mẫu để học sinh hiểu được muốn làm bài tả con vật thì phải quan sát như thế nào Nhưng khi cho các em làm bài tập để thực hành thì nên ra đề có phạm vi thật rộng để các em tự chọn để tả một con vật mình yêu thích Tả con gà mái, gà chọi, … chứ không nhất thiết phải chọn con lợn mà có thể là con chim, con vẹt, con khỉ nuôi ở công viên Học sinh được chọn con vật mình yêu thích để tả, các em sẽ hiểu rõ vì sao yêu nó: Nó thông minh? Nó đẹp? Nó ngộ nghĩnh? Cũng vì yêu quý con vật, muốn thể hiện tình cảm của mình với con vật nên các em chịu khó quan sát con vật, quan sát hành động hay tính tình của nõ và tả về nó với những chi tiết sinh động hơn

Vốn hiểu biết về đời sống của học sinh được hình thành từ hai: Từ hoạt động hàng ngày và qua sách báo, truyền hình, truyền thanh Đó là vốn sống trực tiếp và vốn sống gián tiếp Các phân môn Tập đọc và Kể chuyện có tác dụng cung cấp vốn sống gián tiếp cho học sinh qua các bài tập đọc, các câu chuyện kể Nhờ các phương tiện thông tin đại chúng như: báo chí, phát thanh, truyền hình… mà vốn sống gián tiếp của học sinh được mở rộng ra thế giới, trở lại với những thế kỷ xa xưa Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ học sinh chưa có điều kiện vật chất để mở rộng vốn sống nên hiểu biết của các em còn nghèo, còn khó khăn Dạy tập làm văn, giáo viên phải lưu ý điều này

Dù vốn sống gián tiếp có tăng bao nhiêu song vốn sống trực tiếp vẫn cần và rất quý đối với việc học tập làm văn Con người ta có trải qua, kinh qua mới hiểu, mới biết, mới cảm, mới nhận một cách sâu sắc

+ Bồi dưỡng những tình cảm, những rung động tinh tế, nhạy bén cho học sinh: Làm một bài tập làm văn, các em học sinh trước tiên bộc lộ trên trang giấy tình cảm yêu ghét của mình đối với con đường từ nhà đến trường em thường đi học, cây

có bóng mát bên đường, quyển lịch nhà em…Bài làm văn nào cũng là sự thể hiện các trạng thái tình cảm của học sinh Chỉ có những tình cảm trong sáng, đẹp đẽ, hồn nhiên mới tạo ra những đoạn văn, bài văn đáng yêu và đạt kết quả cao Vì thế giáo viên phải giupd cho học sinh tự bồi dưỡng tình cảm, cảm xúc, dạy các em biết yêu quý thiết tha bố mẹ, anh chị em, con đường em đi học, con gà nuôi trong sân, con lợn nuôi trong chuồng Dạy tôn trọng từng quyển sách, cái bút… những đồ vật gần gũi hàng ngày, dạy các tinh thần hào hiệp giúp đỡ các bạn tàn tật, những người gặp khó khăn…Chính những tình cảm ấy sẽ tạo nên mạch ngầm làm cho bài văn của các em sống động, lôi cuốn, hấp dẫn người đọc

+ Hướng dẫn học sinh lựa chọn từ ngữ khi miêu tả:

Khi học sinh đã có được vốn sống, vốn hiểu biết phong phú cũng có nghĩa là học sinh đã tích lũy được vốn từ ngữ miêu tả Có vốn từ ngữ nhưng phải biết dùng chúng đúng lúc, đúng chỗ Muốn vậy phải coi trọng việc lựa chọn từ ngữ khi diễn

Trang 8

đạt kết quả quan sát cũng như khi làm bài miêu tả Mỗi chi tiết miêu tả thường chỉ

có một từ ngữ, một hình ảnh thích hợp, do đó có tác dụng gợi hình, gợi cảm nhất Cách làm thông thường khi lựa chọn từ ngữ là so sánh các từ gần nghĩa hay trái nghĩa Ví dụ để tả một người gầy nên dùng từ ngữ nào trong hàng loạt các từ ngữ

“Gầy, khô đét, xương xẩu, hom hem, lép kẹp…” Cần luyện tập kiên trì để học sinh làm quen với phương pháp này và chống lại tâm lý dễ dãi khi dùng từ ngữ

Cách đặt câu hỏi của giáo viên trong các tiết hướng dẫn học sinh quan sát (ở lớp 4) hay quan sát để trả lời câu hỏi (ở lớp 2,3) không chỉ có tác dụng định hướng quan sát mà còn có ảnh hưởng lớn tới việc tìm tòi từ ngữ, hình ảnh khi miêu tả Cần tránh đặt các câu hỏi về kiến thức khoa học mà nên đặt các câu hỏi có tác dụng tìm

ra những chi tiết miêu tả

II QUY TRÌNH DẠY VĂN MIÊU TẢ VÀ VIỆC DẠY HỌC QUAN SÁT TRONG VĂN MIÊU TẢ:

1 Quy trình dạy văn miêu tả và vị trí của quan sát trong văn miêu tả:

Ngay từ đầu bậc Tiểu học, học sinh đã được làm quen với thể loại văn miêu tả

Đó là các kiểu bài rèn luyện kỹ năng quan sát ở lớp 2 và lớp 3 Đây là bước chuẩn

bị công phu cho việc học văn miêu tả ở các lớp trên Tùy theo đối tượng quan sát

mà có các kiểu bài cụ thể Quan sát tranh và trả lời câu hỏi, quan sát đồ vật, con vật, cây cối và trả lời câu hỏi

Các kiểu bài miêu tả chính thức được học ở lớp 4 gồm tả: đồ vật, cây cối, loài vật Hiện nay, việc dạy tập làm văn ở lớp 4 được các nhà sư phạm thiết kế thành loại quy trình sau:

Tiết 1: Cấu tạo bài văn miêu tả

Tiết 2: Quan sát

Tiết 3: Luyện tập miêu tả

Tiết 4: Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả

Quy trình này nó có ưu điểm lớn, đó là: Đã bám sát quá trình sản sinh văn bản

để hình thành những kỹ năng tạo lập văn bản cho học sinh Đặc biệt, đã chú ý đến giai đoạn chuẩn bị hình thành văn bản, chí ý đến việc tiếp cận đối tượng và tập trung vào kỹ năng quan sát đặc thù của loài vật thuộc phong cách nghệ thuật

Mỗi một tiết học trong quá trình có một nhiệm vụ, yêu cầu và nội dung nhất định nhằm luyện tập một kỹ năng trong quá trình làm văn miêu tả Vì thế, mỗi tiết học trong quy trình cần được đặt vào hệ thống chung khi phân tích xem xét và đánh giá Làm như vậy sẽ tránh được thái độ nôn nóng, vội vàng dẫn đến tham lam, nhồi nhét trong giảng dạy và sẽ bình tĩnh, yên tâm hơn trước kết quả cụ thể của từng tiết học Nói cách khác, mỗi tiết học cần được tiến hành tới mức tốt nhất việc thực hiện các yêu cầu và nội dung đã đề ra Toàn bộ các tiết học trong một quy trình sẽ góp phần giúp cho các em hiểu lý thuyết, hình thành các kỹ năng làm một thể văn miêu tả

Mỗi tiết dạy trong quy trình đều có vị trí và vai trò riêng của nó Song đối với quy trình đầy đủ đáng chú ý nhất vẫn là việc quan sát

Trang 9

Quan sát là cơ sơ chủ yếu để tìm ý mà tìm ý tốt sẽ là điều kiện để lập được dàn bài chi tiết và đầy đủ cho bài văn Chính vì thế việc quan sát để lập dàn ý giữ một vai trò quan trọng trong quá trình làm văn miêu tả

Thực tế, có nhiều giáo viên cho rằng đây là việc khó dạy Nguyên nhân khách quan do: các chỉ dẫn cụ thể về phương pháp giảng dạy chưa nhiều Về mặt chủ quan: Kinh nghiệm giảng dạy của bản thân từng giáo viên đối với việc tập quan sát

và tìm ý còn ít Mỗi giáo viên chưa được rèn luyện tốt kỹ năng cơ bản có thể truyền thụ, hướng dẫn, rèn , tập cho học sinh trong các tiết dạy Đó là kỹ năng quan sát Việc quan sát thường là tiết học quan trọng trong quy trình dạy một kiểu bài, loại bài Nhiệm vụ của tiết quan sát là thông qua giải quyết một đề bài cụ thể, luyện cho học sinh 2 kỹ năng: kỹ năng tìm hiểu một đề bài cụ thể và kỹ năng tìm tư liệu (tức ý) cho đề bài đó để chuẩn bị làm bài Đồng thời cung cấp cho các em hiểu biết chung nhất mang tính lý thuyết về kiểu, loại bài

Như vậy, thông qua việc tìm hiểu các quy trình dạy văn miêu tả, chúng ta đã thấy được vị trí của việc quan sát trong văn miêu tả Việc dạy tiết quan sát- tìm ý đòi hỏi người dạy phải nắm được những gì? Trả lời được câu hỏi này sẽ giúp cho người giáo viên dạy tiết này tốt hơn Từ đó sẽ góp phần làm cho chất lượng dạy học các loại bài miêu tả cho học sinh được nâng cao

2) Việc dạy quan sát – lập dàn ý:

Quan sát - tìm ý được người giáo viên đặc biệt quan tâm không chỉ vì nó khó dạy so với các tiết khác trong quy trình mà điều căn bản là vì vị trí quan trọng của

nó trong văn miêu tả Để dạy được tốt tiết này thì trước tiên người dạy cần nắm được mục đích, yêu cầu cầu quan sát – tìm ý Sau đó cần nắm được những thao tác

cơ bản trong tiết đó Cuối cùng, không thể không kể đến đó là: phương pháp dạy quan sát – lập dàn ý

a) Mục đích, yêu cầu của quan sát – lập dàn ý:

Tiết học này thường mở đầu cho quy trình dạy một bài kiểu văn miêu tả cụ thể Yêu cầu của tiết học này gồm có 2 mặt:

Chuẩn bị kiến thức phục vụ cho việc làm bài thông qua việc tìm hiểu một đầu bài văn

Ví dụ: Ở tiết 2 lớp 4 có đầu bài: “ Dựa theo kết quả quan sát của em, hãy lập dàn ý cho bài văn miêu tả đồ chơi mà em đã chọn” Kết quả cuối cùng của tiết học này là học sinh phải tìm được các yêu cầu cụ thể mà đề bài ra để xác định đúng hướng đi cho bài viết và chuẩn bị cho việc làm bài văn theo yêu cầu của đầu bài đã cho

Hình thành phương pháp và kỹ năng quan sát (đồ vật, cây cối, con vật …) gắn với từng kiểu văn miêu tả, để có khả năng làm được loại bài văn kiểu đó

Nói cụ thể hơn, học về tả đồ vật, sau tiết tập quan sát và tìm ý cho đầu bài tả đồ vật của em, học sinh từ chỗ quan sát đồ vật đó, biết phương pháp quan sát đồ vật nói chung, từ đó dần hình thành kỹ năng quan sát các đồ vật khác như: Cái bàn em ngồi học ở nhà, cái trống trường em … Yêu cầu thứ hai này (hình thành kỹ năng và

Trang 10

phương pháp quan sát) rất quan trọng và chỉ đạt được vững chắc qua một số loại bài Sau mỗi bài, kết quả khó thể hiện tức thì và khó kiểm tra trực tiếp được

Hai yêu cầu trên có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau Yêu cầu thứ hai chỉ có thể thực hiện được thông qua việc thực hiện yêu cầu thứ nhất Nếu việc tập quan sát và tìm ý cho đầu bài cụ thể đã nêu trong tiết học càng làm tốt bao nhiêu thì kỹ năng quan sát (tức yêu cầu thứ hai) sẽ càng được rèn luyện tốt bấy nhiêu

b) Những thao tác cơ bản trong giờ quan sát:

Kỹ năng quan sát chủ yếu được hình thành trên cở sở luyện tập ( Một cách tự giác hoặc không tự giác) Trước khi học các tiết quan sát và tìm ý, học sinh đã sử dụng kỹ năng này nhiều lần và thường là không tự giác, là sơ lược, giản đơn … Xuất phát từ điểm đó và từ các đặc điểm của kỹ năng quan sát trong miêu tả để tìm ra các phương pháp rèn luyện thích hợp hơn

Trong tiết quan sát cần tiến hành các công việc cụ thể sau:

+ Hướng dẫn học sinh lựa chọn trình tự quan sát:

Tốt nhất là để mỗi em tự tìm cho mình một trình tự quan sát thích hợp Trường hợp các em gặp khó khăn, giáo viên có thể hướng dẫn các em quan sát theo trình tự bản thân đã có đã có chuẩn bị trước hoặc gợi ý các trình tự quan sát khác nhau dể các em tự lựa chọn

Các trình tự quan sát có thể tiến hành là:

Trình tự không gian: Từ quan sát toàn bộ đến quan sát từng bộ phận hoặc ngược lại; từ trái sang phải; trên xuống dưới; ngoài vào trong hoặc ngược lại … Trình tự thời gian: Quan sát theo diễn biến của thời gian từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc, từ mùa này sang mùa khác, tháng này sang tháng khác, tuần này sang tuần khác, ngày này sang ngày khác …

Trình tự tâm lý: Thấy nét gì nổi bật thu hút bản thân, gây cảm xúc mạnh cho bản thân (hứng thú hay khó chịu, yêu hay gét …) thì quan sát trước, các bộ phận khác quan sát sau …

Chú ý: Đối với trình tự không gian phải quan sát sự vận động của sự vật

Ví dụ: Khi tả chiếc cặp của em lúc trên lưng đến trường hay lúc đem đi đá bóng hoặc khi ở góc học tập Khi ở trên lưng: chiếc cặp tung tăng nhún nhảy theo nhịp bước chân em đến trường; khi em đi đá bóng: nó cùng chúng bạn nằm chồng chất lên nhau xem chúng em đá bóng Chốc chốc em lại nhìn về phía nó Nó vẫn nằm

im ngoan ngoãn; Khi ở góc học tập: Nó được dựng ngay ngắn ở góc học tập của

em Nó như mời gọi em đến mở ra để học bài

Dù quan sát theo trình tự nào cũng chỉ dừng lại ở bộ phận chủ yếu, trọng tâm để quan sát kỹ lưỡng hơn

+ Hướng dẫn học sinh sử dụng các giác quan để quan sát: đây là thao tác quan trọng nhất và có tính chất quyết định về nhiều mặt

Thông thường học sinh chỉ dùng mắt để quan sát, do đó kết quả thu lượm được thường là các nhận xét và cảm xúc gắn liền với thị giác (hình dáng, màu sắc, đường nét, độ xa gần …), đó là mặt mạnh và cũng là nhược điểm của các em Giáo viên cần lưu ý học sinh dùng thêm các giác quan thích hợp để quan sát Quan sát một

Ngày đăng: 27/04/2016, 15:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w