Trong xây dựng cơ bản, khi xây một toà nhà cao tầng hiện đại thì việc xử lý móng là hết sức quan trọng mà nền móng ngôi nhà lại là phần nằm sâu trong lòng đất nên người ta thường chỉ nhìn thấy những tầng cao ở trên; chỉ có những người xây dựng, những người có chuyên môn mới thấy rõ tầm quan trọng, giá trị đích thực của nó. Bậc Tiểu học cũng được coi như cái nền móng của ngôi nhà tri thức kia. Chính vì vậy mà bậc tiểu học là bậc học đầu tiên, bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Bậc tiểu học đã tạo những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bền vững cho các em tiếp tục học các bậc học trên. Nội dung giảng dạy của tiểu học luôn gắn liền với thực tiễn, phục vụ thiết thực cho cuộc sống, không chỉ có thế mà mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Trong các môn học, môn tập đọc là một trong những môn có vị trí rất quan trọng. Môn tập đọc giúp học sinh biết đọc và các nội dung, kiến thức của môn tập đọc được sử dụng trong tất cả các môn học khác, trong đời sống hàng ngày, ... Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hóa, khoa học, những tư tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bình thường, có hạnh phúc được.
Trang 1I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Phần mở đầu
Trong xây dựng cơ bản, khi xây một toà nhà cao tầng hiện đại thì việc xử
lý móng là hết sức quan trọng mà nền móng ngôi nhà lại là phần nằm sâu trong lòng đất nên người ta thường chỉ nhìn thấy những tầng cao ở trên; chỉ có những người xây dựng, những người có chuyên môn mới thấy rõ tầm quan trọng, giá trị đích thực của nó Bậc Tiểu học cũng được coi như cái nền móng của ngôi nhà tri thức kia Chính vì vậy mà bậc tiểu học là bậc học đầu tiên, bậc học nền tảng của
hệ thống giáo dục quốc dân Bậc tiểu học đã tạo những cơ sở ban đầu rất cơ bản
và bền vững cho các em tiếp tục học các bậc học trên Nội dung giảng dạy của tiểu học luôn gắn liền với thực tiễn, phục vụ thiết thực cho cuộc sống, không chỉ
có thế mà mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh Trong các môn học, môn tập đọc là một trong những môn có vị trí rất quan trọng Môn tập đọc giúp học sinh biết đọc và các nội dung, kiến thức của môn tập đọc được sử dụng trong tất cả các môn học khác, trong đời sống hàng ngày, Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hóa, khoa học, những tư tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bình thường, có hạnh phúc được
Biết đọc, con người đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội, tư duy Biết đọc, con người sẽ có khả năng chế ngự một số phương tiện văn hóa cơ bản giúp họ giao tiếp được với thế giới bên trong của người khác, thông hiểu tư tưởng, tình cảm của người khác Đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn chương, con người không chỉ được thức tỉnh về mặt nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, được khơi dậy năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng như được bồi dưỡng tâm hồn Không biết đọc con người sẽ không
có điều kiện hưởng thụ sự giáo dục mà xã hội dành cho họ, không thể hình thành được một nhân cách toàn diện Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin thì biết đọc càng quan trọng vì nó giúp chúng ta sử dụng các nguồn thông tin Đọc chính
là học, học nữa, học mãi, đọc để tự học, học cả đời Vì vậy dạy học sinh đọc, đọc thuộc lòng có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Chính vì vậy mà Bộ Giáo dục và đào tạo đã xác định mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học như sau:
a) Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt( nghe,nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi
Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của
tư duy
Trang 2b) Cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài.
c) Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Để đạt được mục tiêu trên và nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường nói chung và cho bậc tiểu học nói riêng đòi hỏi những nhà nghiên cứu giáo dục luôn luôn phải điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp với nhận thức của từng đối tượng học sinh nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện góp phần đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho quê hương, đất nước
Hiện nay vấn đề cải cách giáo dục không phải là một mối quan tâm của một cá nhân nào mà là một nhiệm vụ chung của toàn xã hội Đã có rất nhiều những cải cách được đưa vào giảng dạy ở trường học Sự đổi mới phương pháp giáo dục đã sẽ đóng góp quan trọng cho việc thực hiện mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục là đào tạo con người mới một cách có hệ thống và vững chắc từ
bé đến lớn, đảm bảo thế hệ cách mạng cho đời sau
Trong giai đoạn hiện nay, để thực hiện chương trình giáo dục đổi mới cần cải tiến những điều kiện: Giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, tổ chức quản lý, đồng thời đổi mới phương pháp dạy học ở bậc Tiểu học là làm sao để giáo viên không chỉ là người truyền thụ kiến thức mà còn là người tổ chức, hướng dẫn, định hướng cho học sinh hoạt động, để học sinh huy động vốn hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân vào việc chiếm lĩnh tri thức mới, làm sao giáo viên giảng giải ít nhưng thường xuyên làm việc với học sinh và về phía học sinh phải học tập cá nhân, học tập theo nhóm để tham gia giải quyết các tình huống
do giáo viên nêu ra dưới các hình thức khác nhau và giáo viên giải quyết linh hoạt các tình huống ngoài dự kiến Có như vậy mới phát huy khả năng, bản lĩnh
cá nhân của từng học sinh
Trong dạy học, giáo viên cần phải biết tận dụng, kết hợp và đưa vào từng môn học, tiết học, bài học những phương pháp dạy học sao cho phù hợp
Riêng đối với dạy học thuộc lòng văn bản, để lưu giữ những tri thức là việc làm cần thiết ở bậc tiểu học Những tri thức được lưu giữ lại trong chương trình
là những bài văn, bài thơ có giá trị Học thuộc lòng sẽ giúp học sinh tích lũy văn chương, nói năng lưu loát, bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh và gây hứng thú đối với môn học
2 Lý do chọn đề tài
Qua nhiều năm giảng dạy ở bậc Tiểu học, tôi thấy phân môn tập đọc (học thuộc lòng) là một phân môn rất quan trọng Bước vào học bậc Tiểu học, học
Trang 3hiểu biết của mình Vốn hiểu biết ấy được làm giàu bằng nhiều cách Các em có thể dùng con mắt để quan sát, dùng cái tai để ghi nhận những âm thanh của đất trời và có thể dùng trí tuệ để phân tích, đánh giá các hiện tượng tự nhiên, xã hội theo một cách riêng Bên cạnh đó, những trang sách của nhà trường cứ mỗi ngày lại mang đến cho các em những điều mới mẻ Nguồn kiến thức đến với các em nhiều như vậy nhưng không hẳn các em đã ghi nhớ được hết và hiểu được ngay Việc dạy các em cách học thuộc lòng để lưu lại các tri thức là vô cùng quan trọng và cần thiết Tuổi các em còn nhỏ, sức ghi nhớ rất nhanh nhạy và năng động Vì vậy việc học thuộc lòng có ý nghĩa rất lớn đối với việc rèn luyện trí nhớ cho các em Vậy để dạy học thuộc lòng như thế nào cho học sinh có sự ghi nhớ tốt? Là điều tôi băn khoăn và chọn đề tài này.
3 Đối tượng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Khảo sát đầu năm
- Nguyên nhân chủ yếu
- Biện pháp thực hiện
- Nội dung và kết quả thực hiện
- Thời gian thực hiện: Từ tháng 9/2014 đến tháng 3/ 2015
Trang 4vần chân, vần lưng liên kết các câu thơ, khổ thơ… và có thể cả những dấu hiệu ghi nhớ máy móc nhưng có tác dụng giúp học sinh tái hiện lại văn bản.
Thời gian luyện đọc trong tiết tập đọc được thay bằng thời gian luyện khả năng ghi nhớ của học sinh trong tiết học thuộc lòng dưới nhiều hình thức hoặc tổ chức trò chơi
Như vậy, kết thúc tiết học mà có nhiều học sinh học thuộc bài tại lớp thì mới là tiết dạy học đạt yêu cầu
Với cách dạy học thuộc lòng như vậy trong suốt bậc tiểu học sẽ hình thành cho học sinh phương pháp ghi nhớ khoa học mà sau này lên Trung học cơ
sở, Trung học phổ thông không ai giúp các em những điều như vậy
2 Khảo sát đầu năm
Tình trạng thực tế khi chưa thực hiện:
Sau nhiều năm dạy những giờ tập đọc - học thuộc lòng ở lớp 3, qua khảo sát thực tế đầu năm học, tôi thấy học sinh học bài thuộc lòng còn rất khó khăn, vất
vả Nhiều học sinh đến lớp không thuộc bài, đọc bài hay quên dở chừng Có những em đọc chỉ để mà đọc nhưng không hiểu nội dung bài Có em thì hiểu nội dung tác phẩm nhưng đọc bài thì chưa chính xác, lúc thiếu từ, lúc thừa từ…
2.1 Số liệu điều tra trước khi thực hiện
Lớp có 38 học sinh thì:
Mức độ Học sinh có trí
nhớ kém
Học sinh có trí nhớ trung bình
Học sinh có trí nhớ tốt
2.2 Nguyên nhân chủ yếu:
- Học thuộc lòng là một quá trình nắm vững nội dung và ý nghĩa của bài học Đó là quá trình hiểu bài và thuộc bài, cái nọ là tiền đề của cái kia Học thuộc lòng thực chất là sự ghi nhớ một cách chính xác tới từng tiếng, từng từ, từng câu của tác phẩm
- Cơ sở khoa học của sự ghi nhớ này chính là tâm lý học và trí nhớ Khi ghi nhớ điều gì tức là hình thành một hệ thống đường liên hệ thần kinh tạm thời khá vững chắc, sau này có khả năng phục hồi lại được và quá trình này phải được lặp đi lặp lại nhiều lần, củng cố thật vững cho nó khỏi mất đi
Trang 5- Với những học sinh bậc tiểu học thường có các loại ghi nhớ: Ghi nhớ không có ý thức và ghi nhớ có ý thức.
+ Ghi nhớ không có ý thức: là không đặt trước cho mình nhiệm vụ phải
ghi nhớ và cũng không sử dụng biện pháp nào để trợ giúp cho việc ghi nhớ thêm thuận lợi Đây là loại ghi nhớ của các em có trí nhớ kém, trong lớp thường không tập trung nghe giảng, khi giáo viên yêu cầu đọc tiếp hoặc trả lời câu hỏi thì không thực hiện được
+ Ghi nhớ có ý thức: là loại ghi nhớ có đặt mục đích từ trước Loại ghi
nhớ này định rõ nhiệm vụ ghi nhớ Đây là loại ghi nhớ của các em có trí nhớ tốt Trong giờ dạy, các em đều tập trung chú ý nghe giảng, thấu hiểu được nội dung của bài và nắm chắc các “điểm tựa” có trong bài, nhiều khi các em có thể “tái hiện” lại ngay nội dung của bài, tức là học thuộc lòng ngay tại lớp
- Ghi nhớ máy móc và ghi nhớ logic:
+ Ghi nhớ máy móc: là loại ghi nhớ phải dựa vào dấu hiệu, sự liên hệ
bên ngoài Đa số các bài học thuộc lòng là thơ Bởi vì đặc điểm của thơ có sự phối hợp của tiết tấu, âm vang của vần điệu, sự hài hoà của âm thanh Học sinh thường dựa vào đặc điểm này mà không cần hiểu nội dung tác phẩm, cứ đọc lặp
đi lặp lại nhiều lần là được Đây là loại ghi nhớ của hầu hết học sinh bậc tiểu học, kể cả học sinh có trí nhớ tốt lẫn không tốt
+ Ghi nhớ logic: là loại ghi nhớ chủ yếu dựa vào sự hiểu biết nội dung ý
nghĩa của tác phẩm Đây là loại ghi nhớ mà học sinh cần đạt được trong mỗi giờ học Sự ghi nhớ này giúp học sinh ghi nhận kiến thức đầy đủ, nhanh chóng và bền vững hơn Nếu các em có quên thì có thể dùng óc suy luận dựa vào các điểm tựa để tìm ra các ý lớn, ý nhỏ và mối quan hệ giữa các ý… Ghi nhớ logic
có hạn chế là: vì hiểu nội dung bài nên nhiều khi học sinh không thuộc chính xác tác phẩm, thường thêm hoặc bớt từ hoặc thay thế bằng các từ tương tự
Vì vậy dựa vào các đặc điểm và nguyên nhân trên, người giáo viên cần phải biết phối hợp các loại ghi nhớ trên và cần có phương pháp giảng dạy cho phù hợp
3 Những biện pháp thực hiện:
3.1 Biện pháp chung đối với cả lớp:
Biện pháp 1: Học sinh tự mình tri giác và ghi nhớ tác phẩm trước
Tôi đã đề ra cho học sinh ở lớp, mỗi em đều có vở soạn bài ở nhà trước khi đến lớn Mục đích của việc làm này là giúp học sinh hơn một lần ghi nhớ tác phẩm Trong quá trình soạn bài, học sinh phải đọc kỹ tác phẩm nhiều lần, sau đó trả lời các câu hỏi yêu cầu của bài, tức là học sinh tự tìm hiểu nội dung tác phẩm Có thể có những em tìm hiểu đúng nội dung yêu cầu của bài, đọc nhiều lần nên thuộc bài từ ở nhà Nhưng cũng có những em do việc cảm thụ còn hạn chế, chưa trả lời đúng, thuộc bài một cách thụ động, tôi cũng không coi trọng lắm đến mức độ đúng, sai mà chủ yếu tôi muốn các em được làm quen với tác phẩm trước khi hiểu tác phẩm Có như vậy khi đến lớp, cô giáo giảng bài, học sinh không bị ngỡ ngàng trước nội dung của bài, khi đọc và ghi nhớ sẽ được lặp lại nội dung và khắc sâu hơn Qua gần một năm, lớp tôi đã có 100% vở soạn bài
Trang 6Nhiều em soạn bài rất đầy đủ, chu đáo và cẩn thận Khi đến lớp, nhiều em đã có câu trả lời tốt, phát hiện ra những từ khó đọc, thể loại thơ, cách đọc diễn cảm, nhiều em thuộc bài trước từ ở nhà Thậm chí có em còn tự mình đặt ra câu hỏi tìm hiểu bài.
Ví dụ:
Khi HS chuẩn bị bài “ Nhớ lại buổi đầu đi học ”
( Tiếng Việt 3 - tập 1), các em phải trả lời một số câu hỏi bắt buộc của
GV như sau:
Câu hỏi 1: Điều gì gợi tác giả nhớ những kỉ niệm của buổi tựu trường?
Câu hỏi 2: Trong ngày tựu trường đầu tiên, vì sao tác giả thấy cảnh vật
xung quanh có sự thay đổi lớn?
Câu hỏi 3: Tìm những hình ảnh nói lên sự bỡ ngỡ, rụt rè của đám học trò
mới tựu trường?
Câu hỏi 4: Nêu nội dung của bài?
Ngoài ra, GV khuyến khích HS tự nghĩ ra thêm các câu hỏi khác để hiểu bài sâu hơn
Khi giảng bài , giáo viên đưa ra các câu hỏi trên để các em trả lời theo sự chuẩn bị, sau đó giáo viên chốt lại từng câu trả lời để học sinh hiểu đúng, hiểu sâu hơn như sau:
Câu hỏi 1: Điều gì gợi tác giả nhớ những kỉ niệm của buổi tựu trường?
( Hằng năm, cứ vào cuối thu lá ngoài đường rụng nhiều…Khung cảnh này gợi tác giả nhớ đến những kỉ niệm sâu sắc của buổi tựu trường đầu tiên của mình.)
Câu hỏi 2: Trong ngày tựu trường đầu tiên, vì sao tác giả thấy cảnh vật
xung quanh có sự thay đổi lớn?
( Ngày tựu trường đầu tiên với mỗi trẻ em và với gia đình của mỗi em đều là ngày quan trọng, là một sự kiện, là một ngày lễ Vì vậy, ai cũng hồi hộp trong ngày đến trường, khó có thể quên kỉ niệm của ngày đến trường đầu tiên.)
Câu hỏi 3: Tìm những hình ảnh nói lên sự bỡ ngỡ, rụt rè của đám học trò
mới tựu trường?
( Mấy bạn học trò mới bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám đi từng bước nhẹ Họ như con chim nhìn quãng trời rộng muốn bay nhưng còn ngập ngừng, e
sợ Họ thèm vụng và ước ao được như những học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi rụt rè trong cảnh lạ.)
Câu hỏi 4: Nêu nội dung của bài?
( Những kỉ niệm đẹp đẽ về buổi đầu đi học của nhà văn Thanh Tịnh.)
Biện pháp 2: Giúp học sinh ghi nhận đầy đủ các thông tin có trong bài
Trang 7+ Với bước này để gây hứng thú và sự chú ý cho học sinh, tôi thường dùng lời giới thiệu bài ngắn gọn và hấp dẫn Tôi thường hỏi các em có thích tác phẩm này không? Vì sao? Sau đó yêu cầu học sinh ngồi học ngay ngắn, đúng tư thế và chú ý nghe giảng Đó là bước tạo tâm thế nghe giảng cho tốt Có chú ý nghe và hứng thú nghe giảng thì học sinh mới ghi nhớ được tốt Đây cũng là tiền
để của sự ghi nhớ
+ Tuỳ từng nội dung của bài mà tôi chọn lựa ra nội dung chính cần ghi nhớ Có bài chỉ ghi nhớ những điểm cơ bản, chủ yếu nhất Có bài lại phải ghi nhớ chính xác từng lời, phải nhớ trật tự của ý, các sự kiện Để làm tốt bước này, tôi cho học sinh tri giác toàn bộ bài cần đọc thuộc lòng với hình thức đọc thầm hoặc đọc theo cặp Giáo viên đọc mẫu rồi cho học sinh đọc để tìm tòi, phát hiện những từ ngữ, những hình ảnh, những câu văn, câu thơ đặc biệt đáng lưu ý bằng cách gạch chân những từ ngữ tìm được Như vậy, các em đã tìm được “điểm tựa” trong bài, có tự mình tìm được thì các em mới nhớ lâu
VD:
Khi cho HS học thuộc lòng bài “ Một mái nhà chung” Tác giả Định Hải
( Tiếng Việt 3 tập 2 – trang 100)
Tôi đã tiến hành như sau:
+ Giáo viên đọc mẫu, giọng diễn cảm để gây hứng thú cho HS cả lớp.+ HS giỏi đọc đúng và hay
+ Cả lớp đọc đồng thanh rồi đọc thầm
+ Yêu cầu HS gạch dưới các mái nhà riêng, đặc điểm của các mái nhà riêng đó HS sẽ tìm được:
Mái nhà của chim: lợp nghìn lá biếc
Mái nhà của cá: sóng xanh rập rình
Mái nhà của dím: Sâu trong lòng đất
Mái nhà của ốc: Tròn vo bên mình
Mái nhà của em: giàn gấc đỏ
Mái nhà của bạn: hoa giấy lợp hồng
Dựa vào đặc điểm ghi nhớ của HS tiểu học thường là ghi nhớ máy móc và dựa vào đặc điểm của tác phẩm thơ, tôi thường nhấn mạnh hình thức nghệ thuật của tác phẩm Bởi vì sự liên hệ bên ngoài của thơ thường dựa vào dòng thơ, nhịp thơ, vần thơ
* Dòng thơ:
Thường là dòng nọ tương hỗ dòng kia, trước hết có ý nghĩa lo gic, rồi đến
nhịp điệu, vần điệu
VD:
Bài “ Cùng vui chơi ”
( Tiếng Việt lớp 3 tập 2 – trang 83)
Ngày đẹp lắm / bạn ơi //
Nắng vàng trải khắp nơi /Chim ca trong bóng lá /
Trang 8Ra sân / ta cùng chơi //
+ Logic ở chỗ: ngày đẹp thì có nắng vàng, chim thì có lá cây
+ Nhịp điệu: 3/2, 4/4, 2/3
+ Vần điệu: ơi - nơi - chơi, ca - lá - ra - ta
+ Cách đọc : giọng nhẹ nhàng, thoải mái, vui tươi, tưởng chừng như em nhỏ đá cầu vừa chăm chú nhìn theo quả cầu, vừa hồn nhiên đọc bài thơ, nghỉ hơi dài hơn giữa các ý thơ, nhấn giọng những từ ngữ gợi tả , gợi cảm
*Vần thơ:
Nó như mắt nối các câu thơ với nhau, tạo nên một âm hưởng trọn vẹn cho nhịp điệu thơ và góp phần nâng cao cảm xúc thẩm mĩ cho thơ Các vần chủ yếu phổ biến là vần chân( ở cuối câu), vần lưng ( ở giữa câu)
VD:
Bài “ Bàn tay cô giáo” của Nguyễn Trọng Hoàn
( Tiếng Việt lớp 3 tập 2- trang 25)
Một tờ giấy trắng
Cô gấp cong congThoắt cái đã xong Chiếc thuyền xinh quá
Vần “ ong, ô” được lặp lại giúp HS dễ thuộc hơn
Bài “ Cùng vui chơi ”
( Tiếng Việt lớp 3 tập 2 - trang 84)
Quả cầu giấy xanh xanhQua chân tôi, chân anh Bay lên rồi lộn xuống
Đi từng vòng quanh quanh
Trang 9VD:
Bài “ Cái cầu” của Phạm Tiến Duật
( Tiếng Việt lớp 3 tập 2 - trang 34)
Tôi đã phân tích để HS hiểu bài và có những “ điểm tựa” chính về nội dung
để HS ghi nhớ bài
+ Khổ thơ đầu: Cha làm nghề xây dựng cầu
+ Khổ thơ thứ 2: Từ chiếc cầu cha làm, bạn nhỏ nghĩ đến sợi tơ nhỏ như chiếc cầu giúp nhện qua chum nước Bạn nghĩ đến lá tre như chiếc cầu giúp kiến qua ngòi Bạn nghĩ đến ngọn gió, như chiếc cầu giúp sáo sang sông
+ Khổ thơ thứ 3: Từ chiếc cầu cha làm, bạn nghĩ đến chiếc cầu tre sang nhà bà ngoại êm như võng trên sông ru người qua lại
+ Khổ thơ thứ 4: Từ chiếc cầu cha làm, bạn nhỏ nghĩ đến chiếc cầu ao mẹ thường đãi đỗ
Để học sinh dễ dàng hiểu bài và nắm vững những điểm tựa về nội dung, tôi
đã sưu tầm, cung cấp thêm nhiều tranh, ảnh minh họa cho học sinh quan sát
Bài “ Cái cầu”, tôi cho học sinh quan sát 4 tranh sau:
Trang 11
Tranh 4
Tranh 4 giúp học sinh có “ điểm tựa” là “ từ chiếc cầu cha làm, bạn nghĩ
đến chiếc cầu tre sang nhà bà ngoại, chiếc cầu ao mẹ thường đãi đỗ” ở khổ thơ
Trang 12Con ong yêu hoa vì hoa giúp ong làm mật
Con cá yêu nước vì có nước cá mới sống được
Trang 13Con chim yêu trời vì có bầu trời cao, rộng chim mới có chỗ bay lượn, ca hát
Qua việc quan sát tranh và có được những “ điểm tựa” về nội dung mà các
em dễ hiểu bài hơn, thuộc bài nhanh hơn và ghi nhớ lâu hơn
Ngoài ra, học sinh còn dựa vào “ điểm tựa” là các tiếng, từ đầu mỗi dòng thơ, khổ thơ để học thuộc bài
VD:
Bài “ Cái cầu” của Phạm Tiến Duật
( Tiếng Việt lớp 3 tập 2 - trang 34)
Tôi ghi lên bảng những từ đầu dòng thơ để học sinh nhìn vào và đọc thuộc cả bài
Trang 14Nhện Là
Con sáo Mẹ
Con kiến Con
Biện pháp 4: Giúp học sinh lập mối liên hệ giữa các “điểm tựa” trong bài.
Nhờ vào mối liên hệ giữa các “điểm tựa” trong bài mà học sinh tái hiện lại các ý, các phần của bài được thuận lợi Đây là bước mà học sinh đã có thể thuộc
bài trên cơ sở hiểu bài từ các phần trước
VD:
Bài “ Cái cầu” của Phạm Tiến Duật
( Tiếng Việt lớp 3 tập 2 - trang 34), tôi hướng dẫn HS dựa vào các điểm tựa sau:+ Nghề của cha: chiếc ảnh cái cầu, cha vừa bắc xong, xe lửa sắp qua
+ Chiếc cầu giúp nhện qua chum nước: tơ nhỏ
+ Chiếc cầu giúp sáo sang sông: ngọn gió
+ Chiếc cầu giúp kiến qua ngòi: lá tre
+ Chiếc cầu tre: lối sang bà ngoại, như võng trên sông
+ Chiếc cầu ao: mẹ đãi đỗ
+ Chiếc cầu Hàm Rồng sông Mã: cái cầu của cha
Biện pháp 5: Khắc sâu những điều đã học thuộc bằng việc củng cố ý nghĩa của bài mà học sinh đã ghi nhận được, kể cả những nét đặc sắc về hình thức của bài.
Để làm được bước này, tôi thường xuyên kiểm tra, cho học sinh đọc thuộc lòng hàng ngày để lưu giữ chắc chắn những điều các em đã thuộc
Để học sinh có được những hứng thú trong quá trình học tập, rèn luyện trí nhớ được tốt, cuối mỗi giờ học tôi thường tổ chức cho học sinh chơi trò chơi Các trò chơi mà tôi thường sử dụng là: Đọc nhanh tiếp sức, thả thơ, tìm câu viết lạc, tìm câu viết thiếu, tìm câu viết sai trật tự, tìm câu có từ kết hợp sai, đúng hay sai, Vì vậy đã kích thích được sự chú ý và phát huy tính tích cực, sự ghi nhớ của học sinh Các em trong lớp đều tập trung chú ý, thi đua nhau ghi nhớ nhanh để tham gia vào trò chơi được tốt
VD:
+ Trò chơi 1 “ Đọc nhanh tiếp sức”:
Hình thức chơi: Chia HS thành 2 nhóm, cử giám khảo, trọng tài Mỗi nhóm có
số HS tương ứng với số dòng thơ, câu thơ hoặc khổ thơ Đánh số thứ tự cho từng em theo số thứ tự câu thơ ( khổ thơ) Hai nhóm sẽ đọc bài từ số 1 đến hết Nhóm nào nhanh, đọc thuộc bài sẽ thắng
+ Trò chơi 2 “ Thả thơ”:
Giáo viên đưa ra một câu thơ, 1 từ hoặc 1 dòng thơ viết sẵn Chia HS làm 2 nhóm , một nhóm thả thơ, một nhóm đọc thơ theo khổ thơ, bài thơ
Trang 15
Bài “ Cùng vui chơi”
Yêu cầu HS đọc thuộc theo khổ thơ, bài thơ
- Để HS đọc thuộc lòng khổ thơ đầu tôi viết vào giấy như sau:
Hoặc chỉ viết từ đầu tiên của mỗi khổ thơ:
NgàyQuảAnhTrongHọc sinh nhìn vào những tờ giấy trên nhưng phải đọc được cả bài thơ như sau:
Ngày đẹp lắm bạn ơi Nắng vàng trải khắp nơi Chim ca trong bóng lá
Ra sân ta cùng chơi
Quả cầu giấy xanh xanh Qua chân tôi, chân anh Bay lên rồi lộn xuống
Đi từng vòng quanh quanh Anh nhìn cho tinh mắt
Trang 16Tôi đá thật dẻo chân
Cho cầu bay trên sân Đừng để rơi xuống đất
Trong nắng vàng tươi mát Cùng chơi cho khỏe người Tiếng cười xen tiếng hát Chơi vui học càng vui
Các bài thơ khác tương tự
+ Trò chơi 3 “ Tìm câu viết lạc ”:
Giáo viên viết khổ thơ hoặc bài thơ nhưng có nhiều câu bị lạc chỗ Yêu cầu HS tìm những câu bị lạc đó Trả những câu bị lạc đó về đúng chỗ của nó trong khổ thơ, bài thơ
VD:
Bài “ Chú ở bên Bác Hồ”
Tôi viết bảng phụ rồi cho HS chơi:
Các khổ thơ sau có nhiều câu bị viết lạc chỗ Hãy gạch chân dưới những câu đó rồi sắp xếp lại các câu cho đúng
a) Chú Nga đi bộ đội b) - Chú bây giờ ở đâu?
c) Nhớ chú, Nga thường nhắc:
d) Sao lâu quá là lâu!
e) Mẹ đỏ hoe đôi mắt g) - Đất nước không còn giặc h) Chú ở bên Bác Hồ
i) Ba ngước lên bàn thờ:
Đáp án:
a) Chú Nga đi bộ đội
b) - Chú bây giờ ở đâu?
c) Nhớ chú, Nga thường nhắc:
d) Sao lâu quá là lâu!
e) Mẹ đỏ hoe đôi mắt g) - Đất nước không còn giặc h) Chú ở bên Bác Hồ