DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ctg các tác giả OLS Bình phương nhỏ nhất thông thường Ordinary Least Squares FEM Phương pháp ảnh hưởng cố định Fixed Effects Model REM Phương pháp ảnh hưởng ngẫ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHÓ HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ THÚY NGA
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC BẰNG TIỀN CỦA CÁC CÔNG
TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (HOSE)
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số chuyên ngành : MFB4B
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Người hướng dẫn khoa học:
PGS-TS Nguyễn Minh Kiều
Trang 2MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH v
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vi
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do nghiên cứu 1
1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu 3
1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 4
1.7 Kết cấu luận văn 5
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC 6
2.1 Khái niệm về chính sách cổ tức 6
2.2.1 Khái niệm 6
2.2.2 Các chỉ tiêu đo lường cổ tức 7
2.2 Khái quát một số nghiên cứu về chính sách cổ tức 11
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chính sách cổ tức 16
2.3.1 Quy mô công ty 16
2.3.2 Lợi nhuận 18
2.3.3 Cơ hội phát triển 19
2.3.4 Đòn bẩy tài chính 20
2.3.5 Tính thanh khoản của tài sản 21
2.3.6 Cơ cấu sở hữu 21
2.3.7 Rủi ro kinh doanh 23
2.3.8 Thuế 24
2.3.9 Tài sản thế chấp 24
2.4 Các giả thiết nghiên cứu 26
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Mô hình nghiên cứu 27
Trang 33.2 Đo lường các biến trong mô hình 28
3.2.1 Biến phụ thuộc (DPR) 28
3.2.2 Biến độc lập 29
3.3 Phương pháp ước lượng 31
3.3.1 Mô hình hồi quy Pooled OLS 32
3.3.2 Mô hình hồi quy với tác động cố định (FEM) 32
3.3.3 Mô hình hồi quy với tác động ngẫu nhiên (REM) 32
3.4 Quy trình phân tích số liệu 33
3.4.1 Trình bày và thống kê mô tả số liệu 33
3.4.2 Khảo sát các cặp tương quan giữa các biến độc lập 33
3.4.3 Ước lượng mô hình hồi quy 34
3.4.4 Kiểm định, đánh giá sự phù hợp của mô hình và các giả thiết nghiên cứu sau đó phân tích, đánh giá kết quả 34
3.5 Dữ liệu nghiên cứu 35
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ 38
4.1 Thống kê mô tả 38
4.2 Ma trận tương quan 40
4.3 Phân tích hồi quy 41
4.3.1 Kết quả hồi quy 41
4.3.2 Kiểm định độ phù hợp của mô hình 43
4.3.3 Kết quả kiểm định đa cộng tuyến 43
4.3.4 Kiểm định phương sai sai số thay đổi 44
4.3.5 Kiểm định tự tương quan của phần dư 45
4.3.6 Thảo luận kết quả 45
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Một số kiến nghị 49
5.3 Hạn chế của đề tài và các hướng nghiên cứu tiếp theo 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
PHỤ LỤC 58
Phụ lục 1 58
Phụ lục 2 59
Phụ lục 3 60
Phụ lục 4 61
Phụ lục 5 62
Phụ lục 6 63
Phụ lục 7 64
Phụ lục 8 65
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ctg các tác giả
OLS Bình phương nhỏ nhất thông thường
(Ordinary Least Squares) FEM Phương pháp ảnh hưởng cố định
(Fixed Effects Model) REM Phương pháp ảnh hưởng ngẫu nhiên
(Random Effects Model) HASTC Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội
HOSE Sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh
M&M Miller và Modigliani
NYSE Sở giao dịch chứng khoán New York
(New York Stock Exchange)
IT Công nghệ thong tin
(Information Technology) EPS Lợi nhuận mỗi cổ tức
DPS Cổ tức một cổ phần thường
DPR Tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt
SIZE Quy mô công ty
ROE Lợi nhuận trên vốn Chủ sở hữu
GROW Cơ hội phát triển
LEV Đòn bẩy tài chính
LIQ Tính thanh khoản của tài sản
VIF (Variance Inflation Factor)
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp tác động của các nhân tố 25
Bảng 3.1 Bảng tổng hợp cách đo lường các biến trong mô hình 31
Bảng 4.1 Bảng thống kê mô tả các biến số 38
Bảng 4.2 Bảng ma trận tương quan giữa các biến số 40
Bảng 4.3 Bảng kết quả hồi quy của mô hình nghiên cứu FEM 41
Bảng 4.4 Bảng kết quả hồi quy của mô hình nghiên cứu REM 41
Bảng 4.5 Bảng kết quả kiểm định Hausman 42
Bảng 4.6 Bảng kết quả kiểm định đa cộng tuyến 44
Bảng 4.7 Bảng kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi 44
Bảng 4.8 Bảng kết quả kiểm định tự tương quan của phần dư 45
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu 27
Trang 7TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Luận văn này được nghiên cứu để đo lường các yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức bằng tiền của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) Dựa trên việc lược khảo các cơ sở lý thuyết liên quan, luận văn tiến hành xây dựng khung tiếp cận nghiên cứu cũng như định hình, phát triển các giả thiết nghiên cứu nhằm dự đoán về mối liên hệ giữa các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức với tỷ lệ chi trả cổ tức tiền mặt Chính sách cổ tức được đo lường bằng các biến như: quy mô công ty (SIZE), lợi nhuận (ROE), cơ hội phát triển (GRO), đòn bẩy tài chính (LEV) và tính thanh khoản (LIQ)
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và áp dụng phân tích hồi quy dữ liệu bảng trên 133 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn 2009 – 2013 Luận văn sử dụng mô hình ảnh hưởng cố định (FEM-Fixed Effects Model) để ước lượng mô hình hồi quy
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, quy mô công ty (SIZE), lợi nhuận (ROE) tác động tích cực đến tỷ lệ chi trả cổ tức tiền mặt (DPR) Nghiên cứu còn cho thấy, đòn bẩy tài chính (LEV) tác động tiêu cực đến tỷ lệ chi trả cổ tức tiền mặt (DPR) Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cơ hội phát triển (GRO) và tính thanh khoản (LIQ) chưa tác động đến tỷ lệ chi trả cổ tức tiền mặt (DPR) Nói cách khác, chưa có mối liên hệ giữa cơ hội phát triển, tính thanh khoản và tỷ lệ chi trả cổ tức tiền mặt
Luận văn đã cung cấp sự hiểu biết về mối liên hệ giữa các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức với tỷ lệ chi trả cổ tức tiền mặt trên sàn chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh (HOSE) Do đó, kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong luận văn có giá trị tham khảo nhất định với nhiều đối tượng khác nhau trong nền kinh tế như: nhà hoạch định chính sách, các công ty niêm yết và các nhà đầu tư chứng khoán
Trang 8CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do nghiên cứu
Từ trước tới nay, chính sách cổ tức đã được xem là một trong những quyết định quan trọng của công ty vì nó ảnh hưởng đến tình hình tài chính và chiến lược phát triển công ty Theo Ross (2009), các yếu tố quan trọng không khó khăn xác định nhưng sự tương tác giữa các yếu tố đó phức tạp và không có đáp án dễ dàng nào được đưa ra
Quyết định chia cổ tức sẽ xác định công ty dùng bao nhiêu phần trăm của lợi nhuận để tái đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng và dùng bao nhiêu phần trăm chia cổ tức cho chủ sở hữu, các cổ đông của công ty Như vậy, cổ tức là khoản tiền mà các công
ty trích ra từ lợi nhuận để trả cho cổ đông hay là một hình thức doanh nghiệp san sẻ lợi nhuận của mình cho cổ đông sau một khoảng thời gian hoạt động nhất định Vấn đề mà ban lãnh đạo công ty cần quan tâm là công ty nên theo đuổi một chính sách cổ tức như thế nào và liệu chính sách cổ tức có tác động gì đến giá trị thị trường công ty hay có làm giảm giá cổ phiếu trên thị trường hay không Bên cạnh đó, cũng có nhiều vấn đề nan giải khác như: Tại sao công ty nên hay không nên trả cổ tức? Công ty nên thiết lập một chính sách cổ tức ổn định hay phải thường xuyên thay đổi chính sách cổ tức để cho phù hợp với tình hình? Chính sách chi trả cổ tức có ảnh hưởng đến diện mạo công ty hay không? Yếu tố quyết định nào ảnh hưởng đến quyết định chính sách cổ tức?
Trên thế giới đã có rất nhiều bài viết, bài nghiên cứu xoay quanh những vấn đề này với những giả thiết và kết luận khác nhau Thực tế trong tài chính công ty cho thấy quyết định chính sách cổ tức là một trong những quyết định quan trọng nhất cùng với quyết định đầu tư và quyết định nguồn vốn Vì vậy, công ty cần phải xem xét những yếu tố nào quyết định đến chính sách cổ tức, từ đó có những đánh giá và đưa ra một chính sách hợp lý nhất Các yếu tố quyết định chính sách cổ tức được dẫn
Trang 9chứng bằng các tài liệu và nghiên cứu ở các nước phát triển (Hoa Kỳ, Canada, Anh, Đức, Pháp, Nhật) của các nhà nghiên cứu như: Lintner (1956), Modigliani và Miller (1961), Pettit (1972), Black và Scholes (1973), Amibud và Murgia (1997),… Cũng
có một số nghiên cứu thực nghiệm khác ở các quốc gia đang phát triển hay các thị trường mới nổi, tuy nhiên việc nghiên cứu khá khó khăn và hạn chế nên những kết luận đưa ra cũng không rõ ràng
Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả nghiên cứu các yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức bằng tiền từ góc độ quốc gia đang phát triển qua việc tập trung vào các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong gian đoạn từ năm 2009 đến năm 2013
Nhận định về việc nhiều công ty trả cổ tức bằng tiền mặt liên tục, theo Osobov (2008) việc trả cổ tức bằng tiền mặt là một yếu tố hấp dẫn đối với nhà đầu tư và giúp
cổ phiếu có thêm tính thanh khoản tuy nhiên tùy theo tình hình tài chính, triển vọng
dự án của mỗi doanh nghiệp mà đại hội đồng cổ đông thường niên sẽ quyết định cổ tức chia theo hình thức nào, tỷ lệ bao nhiêu Cũng theo một chuyên gia tài chính cho rằng trong tình hình kinh tế khó khăn thì doanh nghiệp có tiền để trả cổ tức cho cổ đông có thể coi là tốt, tuy nhiên nếu lạm dụng có thể ảnh hưởng đến nguồn vốn cho các dự án đầu tư cũng như sức khỏe tài chính của bản thân doanh nghiệp Vị này cho rằng: “Xét về mặt lâu dài nếu doanh nghiệp không chuẩn bị tốt cho nguồn tài chính
để tái đầu tư vào hoạt động kinh doanh có khả năng sẽ bỏ lỡ những cơ hội tốt và khi cần huy động vốn thì có thể phải dựa vào các nguồn vốn vay khác với lãi suất cao hơn và ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp” Vì vậy, khi chọn lựa cổ phiếu
để đầu tư lâu dài, yếu tố cổ tức nên được xem xét cùng với những yếu tố khác như hoạt động kinh doanh cốt lõi, triển vọng của doanh nghiệp và của ngành
Theo một chuyên gia tài chính, nếu một doanh nghiệp liên tục trả cổ tức bằng tiền mặt với tỷ lệ cao trong nhiều năm, nhà đầu tư nên tìm hiểu xem có thể doanh nghiệp không còn động cơ để tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh - vốn là chỉ báo cho tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp Cũng cần chú ý thêm nếu doanh
Trang 10nghiệp đã hoạt động lâu năm, tốc độ tăng trưởng đã chững lại, thì nhu cầu tái đầu tư
sẽ không cao nhưng nếu doanh nghiệp mới hoạt động mà trả cổ tức tiền mặt cao thì nhà đầu tư nên đặt câu hỏi về tiềm năng tăng trưởng sắp tới của công ty đó
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, thị trường chứng khoán mới hoạt động chưa lâu do vậy mà việc hoạch định chính sách cổ tức chưa được thực sự quan tâm Những năm gần đây, các công ty mà cụ thể hơn là các nhà hoạch định tài chính
đã bắt đầu chú trọng hơn tới vấn đề này Thị trường ngày càng phát triển thì các nhà đầu tư ngày càng trở nên thông thái và có nhiều thông tin hơn, do vậy mà chính sách
cổ tức của công ty cũng sẽ là tín hiệu để họ đưa ra các quyết định đầu tư của mình Bài viết này nghiên cứu các yếu tố tác động lên chính sách chi trả cổ tức bằng tiền của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong gian đoạn từ năm 2009 đến năm 2013
1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hướng tới các mục tiêu chính sau:
Xác định các yếu tố có tác động đến chính sách chi trả cổ tức bằng tiền của các công ty
Đo lường mức độ tác động của từng yếu tố đến chính sách chi trả cổ tức bằng tiền
Đưa ra một số kết luận và kiến nghị về việc xây dựng chính sách chi trả cổ
Trang 11tức bằng tiền đối với các công ty trong thời gian tới
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Với các mục tiêu đã được trình bày ở trên, đề tài tập trung cho việc trả lời các câu hỏi sau:
Những yếu tố nào tác động đến chính sách chi trả cổ tức bằng tiền của một công ty?
Mức độ tác động của từng yếu tố đó đến chính sách cổ tức như thế nào?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức bằng tiền
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Các công ty đang niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong gian đoạn từ năm 2009 đến năm 2013
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu nói chung của đề tài là phương pháp nghiên cứu định lượng và sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng để ước lượng
1.6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Việc thực hiện nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng về mặt khoa học cũng như thực tiễn
Về mặt khoa học, cùng với các nghiên cứu khác, nghiên cứu này làm rõ hơn tác động của một số yếu tố tới chính sách cổ tức Đồng thời, thông qua việc sử dụng phương pháp kiểm định bằng mô hình hồi quy để đưa ra những đánh giá và so sánh với các kết luận của những sự tác động của các yếu tố này đến chính sách cổ tức của các công ty niêm yết tại thị trường Việt Nam Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng nhằm mục tiêu kiểm nghiệm lại những kết quả của các nghiên cứu trước đây và mở ra những
Trang 12thách thức mới cho các nghiên cứu sau này, khắc phục những điểm mà nghiên cứu này chưa thể thực hiện được
Về mặt thực tiễn, nghiên cứu này là một tham khảo mang tính khoa học, hy vọng sẽ đóng góp một phần và hỗ trợ phần nào cho việc xác định một chính sách cổ tức tối ưu đối với mỗi công ty Đồng thời cũng giúp cho các nhà đầu tư và cổ đông
có thể ước tính và định lượng tương đối mức cổ tức sẽ nhận được, từ đó đưa ra các quyết định chính xác nhất trong việc nắm giữ hay từ bỏ cổ phiếu
1.7 Kết cấu luận văn
Kết cấu luận văn này gồm có 05 chương, cụ thể:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Nội dung chính là giới thiệu tổng
quan về đề tài bao gồm: Lý do nghiên cứu; Vấn đề nghiên cứu; Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Ý nghĩa đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về chính sách cổ tức Trình bày các cơ sở lý thuyết
có liên quan tới vấn đề nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Xác định và lựa chọn các yếu tố tác động
đến chính sách chi trả cổ tức bằng tiền; khảo sát và cách thức đo lường các biến nghiên cứu, từ đó thiết lập mô hình nghiên cứu dựa trên các cơ sở lý thuyết và thực
tế của thị trường
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu nhằm
đánh giá các mức độ tác động để xem xét các tác động đó có ý nghĩa hay không
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Từ những kết quả ở các chương trên, đưa ra
kết luận và kiến nghị những ý kiến đóng góp Từ đó, chỉ ra những giới hạn của nghiên cứu, đồng thời gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 13CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC
Phần đầu chương này sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết của đề tài bao gồm các khái niệm cơ bản về cổ tức và chính sách cổ tức Tiếp theo, sẽ đề cập tới một số kết quả nghiên cứu trước đây về các yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức bằng tiền, đây là cơ sở để đề tài xác định các biến đưa vào mô hình nghiên cứu
Bố cục của chương này gồm 4 phần:
Theo Lease và ctg (2000), chính sách cổ tức là một công việc mà nhà quản lý phải đưa ra quyết định về mức chi trả cổ tức cũng như hình thức phân phối lợi nhuận cho cổ đông Chính sách cổ tức của công ty phụ thuộc vào nhiều yếu tố như hiệu quả hoạt động kinh doanh, cơ hội đầu tư, đặc điểm của công ty, cơ cấu sở hữu của cổ đông và nhiều yếu tố khác
Brealey và Myers (2005) mô tả chính sách cổ tức như một trong mười vấn đề khó khăn nhất chưa được giải quyết trong lĩnh vực kinh tế tài chính Điều này cũng được Black (1976) đồng tình và ông ấy khẳng định rằng “chúng ta nhìn vào bức tranh
Trang 14cổ tức càng phức tạp thì nó càng có vẻ như một vấn đề cục bộ với những miếng ghép riêng lẻ không thể ăn khớp với nhau thành một mảnh ghép hoàn chỉnh”
Chính sách cổ tức đã trở thành đề tài của nhiều cuộc tranh luận từ khi Miller và Modigliani (1961) chỉ ra rằng theo một số giả định, cổ tức là không thích hợp và không có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của một công ty Kể từ đó, các nhà nghiên cứu tài chính đã không đồng ý với qua điểm của M&M và họ lập luận rằng qua điểm của M&M chỉ dựa trên các giả thiết về thị trường tư bản nhưng trên thực tế các giả định
đó không tồn tại trong thế giới thực Những mâu thuẩn với quan điểm của M&M làm nảy sinh những lý thuyết và giả thiết khác nhau để chứng minh rằng khi thị trường vốn không phải là tuyệt đối, cổ tức mới tạo nên những vấn đề đáng nói ở đây
2.2.2 Các chỉ tiêu đo lường cổ tức
Cổ tức một cổ phần thường (Dividend per Share - DPS): Cổ tức một cổ phần
là chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập thực tế mà mỗi cổ phần được hưởng từ kết quả hoạt động kinh doanh Cổ tức một cổ phần được tính dựa vào phần trăm mệnh giá cổ phần thường Cổ tức một cổ phần thường cũng có thể được tính toán như sau:
𝐂ổ 𝐭ứ𝐜 𝐦ộ𝐭 𝐜ổ 𝐩𝐡ầ𝐧 𝐭𝐡ườ𝐧𝐠 = 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐮 𝐧𝐡ậ𝐩 𝐜ổ 𝐩𝐡ầ𝐧 𝐭𝐡ườ𝐧𝐠 𝐝ù𝐧𝐠 để 𝐜𝐡𝐢 𝐭𝐫ả 𝐜ổ 𝐭ứ𝐜
𝐓ổ𝐧𝐠 𝐬ố 𝐜ổ 𝐩𝐡ầ𝐧 𝐭𝐡ườ𝐧𝐠
(Nguồn: Trần Ngọc Thơ, 2009, trang 50)
Vì cổ tức một cổ phần thường là thu nhập thực tế mà nhà đầu tư nhận được ngay trong hiện tại nên nhà đầu tư rất quan tâm đến chỉ tiêu này Các cổ đông thường chú
ý đến mức thay đổi trong cổ tức từ kỳ này sang kỳ khác Một sự tăng lên trong cổ tức một cổ phần thường mang lại hiệu ứng tốt trong tâm lý của các nhà đầu tư và ngược lại nếu cổ tức một cổ phần bị sụt giảm
Tỷ lệ chi trả cổ tức (Dividend payout ratio): là tỷ số phản ánh mức cổ tức mà
các cổ đông của công ty cổ phần được hưởng chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong thu nhập một cổ phần thường mà công ty tạo ra trong kỳ và được tính như sau:
𝐓ỷ 𝐥ệ 𝐭𝐫ả 𝐜ổ 𝐭ứ𝐜 = 𝐂ổ 𝐭ứ𝐜 𝐦ỗ𝐢 𝐜ổ 𝐩𝐡ầ𝐧
𝐓𝐡𝐮 𝐧𝐡ậ𝐩 𝐦ỗ𝐢 𝐜ổ 𝐩𝐡ầ𝐧
Trang 15(Nguồn: Trần Ngọc Thơ, 2009, trang 51)
Tỷ lệ chi trả cổ tức cũng cho biết công ty dành ra bao nhiêu phần trăm từ thu nhập một cổ phần thường để tái đầu tư Tỷ lệ chi trả cổ tức càng cao phản ánh công
ty đã sử dụng đại bộ phận lợi nhuận sau thuế để chi trả cổ tức cho các cổ đông, đồng thời chỉ có một phần nhỏ lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư Và ngược lại với tỷ lệ chi trả
cổ tức thấp
Tỷ suất cổ tức (Dividend Yield): Tỷ suất cổ tức là tỷ lệ phần trăm giữa cổ tức
và thị giá cổ phiếu, hay tỷ lệ cổ tức mà nhà đầu tư nhận được so với số tiền mà họ phải trả để mua cổ phiếu đó
𝐓ỷ 𝐬𝐮ấ𝐭 𝐜ổ 𝐭ứ𝐜 = 𝐂ổ 𝐭ứ𝐜 𝐦ỗ𝐢 𝐜ổ 𝐩𝐡ầ𝐧
𝐆𝐢á 𝐭𝐫ị 𝐭𝐡ị 𝐭𝐫ườ𝐧𝐠 𝐦ỗ𝐢 𝐜ổ 𝐩𝐡ầ𝐧
(Nguồn: Trần Ngọc Thơ, 2009, trang 52)
Trong công thức trên, tùy theo nhu cầu đo lường khác nhau mà chúng ta có thể
sử dụng giá trị thị trường mỗi cổ phần ở các kỳ khác nhau, hoặc khác với kỳ chia cổ tức Như chúng ta đã biết, thu nhập của nhà đầu tư gồm hai phần là cổ tức và chênh lệch giá do chuyển nhượng cổ phần Như vậy, tỷ suất cổ tức là tỷ suất sinh lợi của nhà đầu tư chỉ tính riêng cho thu nhập từ cổ tức khi nhà đầu tư mua cổ phần tại một mức giá thị trường nào đó, nghĩa là tỷ suất cổ tức phản ánh nhà đầu tư sẽ nhận được bao nhiêu đồng cổ tức từ một đồng đầu tư vào cổ phiếu tại mức giá thị trường Tỷ suất cổ tức càng cao thể hiện rằng nhà đầu tư có tỷ suất sinh lợi từ cổ tức càng cao, còn tỷ suất cổ tức thấp thì điều đó chưa hẳn đã xấu bởi vì nhà đầu tư có thể trông chờ vào tỷ suất sinh lợi từ lãi vốn của giá cổ phiếu trên thị trường Một tỷ suất cổ tức ở mức cao (hay thấp) chưa chắc đã phản ánh được công ty có chi trả cổ tức cao (hay thấp) không, vì tỷ suất cổ tức còn phụ thuộc vào giá cổ phần trên thị trường Do vậy,
mà chỉ tiêu này chỉ dùng để so sánh chính sách cổ tức của những công ty khác nhau nhưng có những đặc điểm giống nhau về quy mô, ngành nghề kinh doanh và có mức giá cổ phiếu là tương đương nhau
Một số chính sách cổ tức trong thực tế:
Trang 16Theo Chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright (2006-2007), phân tích Tài chính – Bài giảng 10 thì có các loại chính sách tài chính như sau:
Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động: Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động
xác nhận rằng một doanh nghiệp nên giữ lại lợi nhuận khi doanh nghiệp có các cơ hội đầu tư hứa hẹn các tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi mong đợi mà các cổ đông đòi hỏi Bởi lẽ, việc chi trả cổ tức sẽ dẫn đến kết cuộc hoặc là doanh nghiệp hy sinh các cơ hội đầu tư có thể chấp nhận được hoặc phải huy động thêm vốn cổ phần cần thiết từ các thị trường vốn bên ngoài tốn kém hơn nhiều so với lợi nhuận giữ lại Diễn dịch một cách chính xác thì lý thuyết giữ lại lợi nhuận ngụ ý là chi trả cổ tức thay đổi từ năm này sang năm khác và tùy thuộc vào các cơ hội đầu tư có sẵn Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động còn được gọi là chính sách thặng dư cổ tức Từ “thặng dư” đề cập đến “phần còn lại”, và chính sách thặng dư cổ tức ẩn ý rằng cổ tức chỉ được trả trên “phần còn lại” của thu nhập Theo lý thuyết này, công ty chỉ thực hiện việc chi trả cổ tức sau khi đã ưu tiên giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư, đảm bảo cơ cấu huy động vốn tối ưu cho đầu tư của công ty Như vậy doanh nghiệp sẽ theo bốn bước sau khi tính tỷ lệ chi trả cổ tức khi áp dụng chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động: Thứ nhất, xác định ngân sách vốn tối ưu Thứ hai, quyết định lượng vốn cần thiết để tài trợ cho ngân sách này, với cấu trúc vốn mục tiêu đã có Thứ ba, sử dụng thu nhập giữ lại để đáp ứng yêu cầu vốn ở mức có thể Thứ tư, trả cổ tức chỉ khi thu nhập có được lớn hơn mức cần thiết để đáp ứng yêu cầu ngân sách vốn tối ưu
Như vậy, nếu doanh nghiệp theo đuổi chính sách này một cách cứng nhắc thì mức cổ tức trả trong bất kỳ năm nào cũng có thể được mô tả trong phương trình sau:
Cổ tức = Thu nhập ròng – Thu nhập giữ lại để tái đầu tư
= Thu nhập ròng – (Tỷ lệ vốn cổ phần mục tiêu * Tổng ngân sách vốn)
Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động cũng đề xuất một công ty tăng trưởng nên
có tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hơn các công ty đang trong giai đoạn sung mãn (bão hòa)
Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định: được xây dựng trên cơ sở lý thuyết ổn
định lợi tức cổ phần Theo đó, công ty duy trì chi trả cổ tức liên tục qua các năm với
Trang 17mức chi trả các năm tương đối ổn định, có thể có sự biến động, song không đáng kể
so với sự biến động của lợi nhuận Tính ổn định được đặc trưng bằng một sự miễn cưỡng trong việc giảm lượng tiền mặt chi trả cổ tức từ kỳ này sang kỳ khác, và công
ty chỉ thực hiện chi trả cổ tức ở mức cao hơn khi công ty có thể đạt được sự gia tăng lợi nhuận một cách vững chắc, đủ khả năng tăng cổ tức, đồng thời khi đã tăng thì sẽ
cố gắng duy trì cổ tức ở mức đã định cho đến khi công ty thấy rõ là không thể hy vọng ngăn chặn được sự giảm sút lợi nhuận kéo dài trong thời tương lai Lý thuyết của chính sách cổ tức tiền mặt ổn định xuất phát từ tâm lý của các nhà quản lý cho rằng các cổ đông thường ưa thích sự tăng trưởng ổn định của cổ tức Ngay cả trong trường hợp có sự đảm bảo chắc chắn cho việc tăng cổ tức lên cao, thì các nhà quản
lý cũng chỉ tăng tỷ lệ cổ tức lên một phần nào đó rất ít so với sự gia tăng trong lợi nhuận của công ty Bởi vì các nhà quản lý có tâm lý chờ đợi xem việc tăng lợi nhuận
có tỏ ra bền vững hay không trước khi điều chỉnh tăng cổ tức
Chính sách cổ tức có tỷ lệ chi trả không đổi: Một vài doanh nghiệp thực hiện
chính sách cổ tức có tỷ lệ chi trả không đổi Đây là cách trả áp dụng trong nhiều công
ty ở Mỹ, theo đó các công ty luôn cố gắng duy trì một tỷ lệ phần trăm định sẵn giữa phần trả cổ tức và thu nhập mỗi cổ phần Nếu lợi nhuận của doanh nghiệp thay đổi nhiều từ năm này sang năm khác thì cổ tức cũng giao động theo Về cơ bản, tỷ lệ chi trả cổ tức không đổi của các doanh nghiệp thường xoay quanh các tỷ lệ chi trả mục tiêu dài hạn Các doanh nghiệp luôn bám sát các tỷ lệ chi trả cổ tức mục tiêu này và chúng sẽ thay đổi cổ tức chi trả bất cứ khi nào lợi nhuận thay đổi Các doanh nghiệp
có thu nhập tương đối ổn định theo thời gian sẽ thích một chính sách cổ tức có tỷ lệ chi trả không đổi, trong đó nếu doanh nghiệp đang ở giai đoạn sung mãn thì tỷ lệ chi trả không đổi sẽ ở mức cao, còn các doanh nghiệp này đang ở giai đoạn tăng trưởng thì tỷ lệ chi trả cổ tức không đổi sẽ ở mức thấp hơn
Tóm lại, luận văn này sử dụng chính sách cổ tức tiền mặt vì nó phù hợp với môi trường tại Việt Nam
Trang 182.2 Khái quát một số nghiên cứu về chính sách cổ tức
Lintner (1956) đã tiến hành những nghiên cứu đầu tiên, ông thực hiện nghiên cứu trên các công ty tại Mỹ vào giữa những năm 1950 Nghiên cứu đã kết luận rằng quyết định cổ tức dựa vào lợi nhuận hiện tại và lịch sử trả cổ tức của năm trước Kể
từ đó đã có những cuộc tranh luận diễn ra về chính sách cổ tức và có những kết luận trái chiều Fama và Babiak (1968) đã thử nghiệm mô hình của Lintner trên dữ liệu cổ tức của 392 công ty thuộc những ngành công nghiệp chính của Bắc Mỹ trong những năm từ 1946 đến 1964 Fama và Babiak cho rằng các công ty sẽ tăng cổ tức chỉ khi
có thể duy trì cổ tức trong tương lai Họ kết luận rằng mô hình của Lintner đã giải thích hợp lý những thay đổi trong cổ tức của các công ty, trong khi đó nghiên cứu của Wolmaran (2003) tại Nam Phi lại không tìm thấy bất kỳ mối liên hệ nào với mô hình của Lintner
Gordon (1959) đưa ra lý thuyết chắc chắn rằng giá trị chiết khấu của cổ tức trong tương lai gần cao hơn hiện giá lợi nhuận được giữ lại để tái đầu tư trong tương lai Ông lập luận rằng cổ tức nhận được trong tương lai có nhiều yếu tố không chắc chắn hơn những cổ tức trong tương lai gần, vì vậy các cổ đông thường ưu tiên phần lợi nhuận chắc chắn nhận được hay là cổ tức ngay bây giờ hơn là chuyển nó vào trong tương lai Do đó họ thích những công ty trả cổ tức cao hơn là những công ty trả cổ tức ít hơn
Vào năm 1961, Miller và Modigliani đã giới thiệu giả thiết không liên quan tới
cổ tức trong một thị trường hoàn hảo, không có thuế và các chi phí giao dịch M&M lập luận rằng quyết định cổ tức không ảnh hưởng đến giá trị của công ty, vì thế quyết định cổ tức là hoàn toàn độc lập Lãi vốn sẽ tương đương với cổ tức trong một thị trường hoàn hảo Lý thuyết M&M với giả định thị trường hoàn hảo, khẳng định rõ rằng chính sách cổ tức sẽ không ảnh hưởng đến giá trị tài sản của cổ đông, và cổ đông
sẽ không cần phải bận tâm họ nhận được cổ tức hay là phần lãi vốn trong tương lai, miễn là chính sách cổ tức không ảnh hưởng tới chính sách đầu tư của công ty (Shapiro, 1990) Tuy nhiên, thực tế thị trường là không hoàn hảo và do đó có nhiều nhà nghiên
Trang 19cứu cố gắng tìm là những tác động của chính sách cổ tức đến giá trị của công ty Pettit (1977) nghiên cứu hiệu ứng nhóm khách hàng tới cổ tức Ví dụ: Những quỹ hưu trí và các nhà đầu tư đã nghỉ hưu thường có khuynh hướng thích thu nhập tiền mặt và có thể do đó muốn công ty trả tỷ lệ phần trăm lợi nhuận cao Những cổ đông với chiến lược kinh doanh dài hạn lại thích một tỷ lệ lợi nhuận giữ lại để tái đầu
tư cao và chi trả cổ tức thấp hơn
Fama và French (2001) phân tích thực nghiệm sự quan trọng của quy mô công
ty, lợi nhuận và cơ hội tăng trưởng ảnh hưởng tới quyết định chi trả cổ tức Booth và Cleary (2001) cho thấy lợi nhuận, quy mô, nợ, rủi ro, tính xác thực và tăng trưởng kỳ vọng ảnh hưởng tới chính sách cổ tức của công ty Ho (2003) tiến hành nghiên cứu
so sánh chính sách cổ tức ở Úc và Nhật Nghiên cứu kết luận rằng trong số tất cả các biến hồi quy: lợi nhuận, quy mô, tính thanh khoản, đòn bẩy tài chính, độ rủi ro, danh mục tài sản, và tăng trưởng thì quy mô công ty ở Úc và tính thanh khoản ở Nhật có tác động tích cực tới chính sách cổ tức, và riêng ở Nhật thì rủi ro có tác động tiêu cực Các cuộc điều tra của Manos (2002) cũng kết luận rằng giữa quy mô công ty và
tỷ lệ cổ tức có mối liên hệ tích cực Lloyd (1985) lưu ý rằng công ty lớn ít nhạy cảm
về vấn đề tài chính vì vậy có thể trả cổ tức cao hơn cho các cổ đông, ông chứng minh các công ty lớn có tiềm lực về tài chính dễ thâm nhập vào thị trường vốn hơn, giảm phụ thuộc vào quỹ nội bộ và do đó các công ty lớn có thể cho cổ tức cao hơn
Kumar (2003) nghiên cứu sự liên kết có thể thực hiện được giữa cơ cấu sở hữu, quản trị công ty và chính sách chi trả cổ tức của công ty và nhận thấy sự liên kết tích cực hình thành giữa lợi nhuận và cổ tức Nợ trên vốn chủ sở hữu được tìm thấy là tiêu cực và có liên kết trong khi cơ hội đầu tư trong quá khứ liên kết tích cực với chính sách chi trả cổ tức ở Ấn Độ
Kania và Bacon (2005) nghiên cứu ảnh hưởng của lợi nhuận, tăng trưởng, rủi
ro kinh doanh, tính thanh khoản và mở rộng quy mô lên quyết định cổ tức và chính sách cổ tức thông qua việc phân tích dữ liệu tài chính của hơn 10.000 công ty niêm yết Nghiên cứu này kết luận rằng tỷ lệ chi trả cổ tức chịu ảnh hưởng đáng kể của lợi
Trang 20nhuận (lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE), tăng trưởng (tăng trưởng trong doanh thu), rủi ro kinh doanh (hệ số beta – Rủi ro hệ thống của tài sản so với rủi ro bình quân của thị trường), tính thanh khoản (tỷ số thanh khoản hiện hành), khả năng kiểm soát (cơ cấu của quyền sở hữu) và khả năng mở rộng quy mô (tăng trưởng trong việc
sử dụng nguồn vốn)
Aivazian B, Gatchev V và Spindt P (2007) tìm cách liên hệ giữa chính sách cổ tức của công ty với tính thanh khoản của thị trường chứng khoán của các công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán NYSE và AMEX trong giai đoạn từ năm 1963 đến
2003 Với những phân tích chéo, họ nhận thấy số lượng chủ sở hữu ít (hoặc nhiều) thì các cổ phần có tính thanh khoản cao sẽ có khả năng nhận được nhiều (hoặc ít) cổ tức tiền mặt
Al-Malkawi (2007) nghiên cứu các yếu tố quyết định chính sách cổ tức các công
ty ở Jordan trong thời gian giữa năm 1989 và 2000 Quy mô, thời kỳ và lợi nhuận của công ty được nhận thấy là các yếu tố quyết định đến chính sách cổ tức các công ty ở Jordan Các phát hiện cung cấp sự hỗ trợ tích cực cho giả thiết chi phí trung gian và phù hợp chung với giả thiết theo cấp bậc
Al-Twaijry (2007) nghiên cứu thị trường mới nổi ở Malaysia Nghiên cứu xác định chính sách cổ tức ở quá khứ và tương lai ảnh hưởng tới chính sách cổ tức hiện tại Ngoài ra, chính sách cổ tức liên kết với lợi nhuận ròng nhưng ít chặt chẽ
Với bài viết của Anil và Kpoor (2008), họ nỗ lực phân tích thực nghiệm các yếu
tố quyết định tỷ lệ chi trả cổ tức thuộc lĩnh vực Công nghệ thông tin Ấn Độ Với dữ liệu tổng hợp trong 7 năm, nghĩa là từ năm 2000 đến năm 2006, họ nhận thấy dòng tiền mặt, thuế doanh nghiệp, tăng trưởng doanh thu và giá trị thị trường không giải thích mô hình thanh toán cổ tức thuộc lĩnh vực IT Chỉ có tính thanh khoản và beta (thay đổi lợi nhuận từ năm này sang năm khác) được tìm thấy là yếu tố quyết định đáng chú ý
Ahmed và Javid (2009) tìm ra các yếu tố quyết định chính sách chi trả cổ tức của các công ty phi tài chính niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi trong thời gian
Trang 21từ năm 2001 đến năm 2006 Nghiên cứu này hỗ trợ cho lý thuyết của Lintner, họ chứng minh rõ ràng rằng các công ty dựa cả vào lợi nhuận mỗi cổ tức (EPS) ở hiện tại và cổ tức mỗi cổ phần (DPS) ở quá khứ để thiết lập chính sách cổ tức Lợi nhuận, tính thanh khoản, và quyền sở hữu có ảnh hưởng tích cực tới tỷ lệ chi trả cổ tức, trong khi vốn hóa thị trường và quy mô lại có tác động tiêu cực tới chính sách chi trả cổ tức, nghĩa là các công ty thích đầu tư vào tài sản của họ hơn là chi trả cổ tức cho cổ đông Al-Twaijry (2007) nghiên cứu thị trường mới phát triển ở Malaysia Nghiên cứu chỉ ra rằng cổ tức có mối liên hệ với lợi nhuận ròng, nhưng tác động là không nhiều Nghiên cứu cũng cho thấy cả ngành kinh doanh và lịch sử chi trả cổ tức của công ty đều không ảnh hưởng đến giá trị cổ tức mỗi cổ phần (DPS) Tuy nhiên, quy
mô công ty lại có ảnh hưởng lớn tới DPS khi so sánh với ảnh hưởng của lợi nhuận ròng ở hiện tại, quá khứ hoặc tương lai
Duha Al-Kuwari (2009) tiến hành nghiên cứu các yếu tố quyết định đến chính sách cổ tức tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán các quốc gia vùng Vịnh Đây là một trường hợp nghiên cứu về thị trường chứng khoán mới nổi, mà những yếu tố quyết định đến chính sách cổ tức đã nhận được ít sự chú ý Nghiên cứu này sử dụng bộ dữ liệu của các công ty phi tài chính đã niêm yết trên thị trường chứng khoán các nước vùng Vịnh trong giữa những năm 1999 và 2003 Xem xét về những ảnh hưởng của các yếu tố như: sở hữu nhà nước, dòng tiền tự do, quy mô công ty, tốc
độ tăng trưởng, cơ hội tăng trưởng, rủi ro kinh doanh và lợi nhuận công ty đến tỷ lệ chia trả cổ tức Kết quả cho thấy những đặc điểm chính của chính sách chi trả cổ tức
là tính thanh khoản cổ tức ảnh hưởng một cách mạnh mẽ và trực tiếp đến quyền sở hữu nhà nước, quy mô doanh nghiệp và lợi nhuận công ty nhưng ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ lệ đòn bẩy Những kết quả chỉ ra rằng các công ty trả cổ tức với mục đích làm giảm các vấn đề về đại diện và duy trì uy tín của công ty bởi vì sự bảo vệ về pháp lý cho các cổ đông bên ngoài bị hạn chế Ngoài ra, do các xung đột về đại diện trở nên ngày càng nghiêm trọng cũng như nhu cầu tất yếu để xây dựng danh tiếng công ty
mà chính sách cổ tức của công ty đã bị phụ thuộc lớn vào nguồn lợi nhuận Đây chính
là nguyên nhân các công ty được liệt kê ở các nước vùng Vịnh thường xuyên thay đổi
Trang 22chính sách cổ tức và không áp dụng một chính sách cổ tức cho mục tiêu lâu dài Amarjit Gill, Nahum Biger và Rajendra Tibrewala (2010) phân tích các công ty sản xuất và dịch vụ ở Mỹ, họ thấy rằng tỷ lệ chi trả cổ tức phụ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận, tăng trưởng doanh thu, tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu và thuế Với những công
ty trong ngành kinh doanh dịch vụ, tỷ lệ chi trả cổ tức phụ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận, tăng trưởng doanh thu và tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu Đối với ngành sản xuất thì tỷ
lệ trả cổ tức phụ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận, thuế và tỷ số giá trị thị trường với giá trị
sổ sách Họ cũng nhận thấy kết quả khác nhau khi tỷ lệ chi trả cổ tức được xác định như là tỷ lệ giữa cổ tức tiền mặt là dòng tiền mặt sau thuế, không là lợi nhuận sau thuế của công ty
Kashif Imran (2011) nghiên cứu các công ty trong lĩnh vực kỹ thuật của Pakistan qua việc sử dụng dữ liệu của 36 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi từ năm 1996 đến 2008 Qua việc sử dụng kỹ thuật dữ liệu bảng khác nhau như hiệu ứng ngẫu nhiên và cố định, kết quả cho thấy mức chi trả cổ tức của năm trước, lợi nhuận trên cổ phiếu, lợi nhuận, dòng tiền mặt, tăng trưởng doanh thu và quy mô công ty là các yếu tố quan trọng nhất xác định chính sách cổ tức trong lĩnh vực kỹ thuật ở Pakistan
Với nghiên cứu của Appannan và Sim (2011) về các công ty đăng ký ở Malaysia cho ngành công nghiệp thực phẩm thuộc lĩnh vực sản phẩm tiêu dùng cho thấy các biến số có mối liên hệ chặt chẽ với chính sách chi trả cổ tức không nhất thiết phải là các yếu tố quyết định thanh toán cổ tức ví dụ như lợi nhuận sau thuế có mối liên hệ chặt chẽ nhất với cổ tức trên cổ phiếu Nghiên cứu hơn nữa xác định sự thật rằng tỷ
lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và cổ tức trên cổ phiếu ở quá khứ là các yếu tố quan trọng quyết định thanh toán cổ tức
Anupam Mehta (2012) điều tra các yếu tố quyết định chi trả cổ tức cho tất cả các công ty trong lĩnh vực bất động sản, lĩnh vực năng lượng, lĩnh vực xây dựng, lĩnh vực viễn thông, các ngành công nghiệp và y tế (trừ liên quan đến đầu tư và ngân hàng) niêm yết trên sàn chứng khoán Abu Dhabi trong 5 năm từ năm 2005 đến 2009 Nghiên
Trang 23cứu này phân tích một loạt các yếu tố quyết định chính sách cổ tức: lợi nhuận, rủi ro, tính thanh khoản, quy mô và đòn bẩy công ty Mối tương quan và các kỹ thuật hồi quy được áp dụng để tìm ra các biến số quan trọng nhất mà các công ty của tiểu vương quốc Ả rập thống nhất sử dụng trong việc lập quyết định cổ tức Nghiên cứu cung cấp bằng chứng chỉ ra lợi nhuận và quy mô công ty được xem xét quan trọng nhất quyết định chi trả cổ tức trong các công ty của tiểu vương quốc Ả rập thống nhất
Jaratin Lily, Sundar Venkatesh, Thumwimon Sukserm nghiên cứu ảnh hưởng của rủi ro (sự thay đổi lợi nhuận), dòng tiền mặt, cơ hội đầu tư, quy mô công ty, tỷ lệ phần trăm cổ đông lớn và đòn bẩy tài chính (tỷ lệ nợ) lên chính sách cổ tức các công
ty SET100 ở Thái Lan Kết quả cho thấy, sự ổn định lợi nhuận (rủi ro) và đòn bẩy tài chính có liên quan đáng kể đến tỷ lệ chi trả cổ tức các công ty Nghiên cứu cũng chỉ
ra rằng, chính sách cổ tức không liên quan đến dòng tiền mặt các công ty, cơ hội đầu
tư, quy mô công ty và chi phí trung gian Ẩn ý của nghiên cứu này là vấn đề chính sách cổ tức và các nhà quản lý không thể đưa ra quyết định cổ tức mà không xem xét
sự hợp nhất chiến lược kinh doanh gồm tài chính và quyết định đầu tư
Việc xem xét các cơ sở lý luận trên cho thấy hầu hết các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các thị trường phát triển, trong khi rất ít sự chú ý hướng vào chính sách cổ tức tại các thị trường mới nổi Kết quả là, lĩnh vực này vẫn chưa được nhắc đến trong các tài liệu lý thuyết về tài chính Tuy nhiên, những nghiên cứu trên cũng cho thấy nhiều quan điểm khác nhau của những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chính sách cổ tức
2.3.1 Quy mô công ty
Nhiều tài liệu nghiên cứu trước đây cho rằng có mối liên hệ giữa quy mô công
ty và chính sách cổ tức Theo Lloyd (1985), Aivazian và ctg (2003), các công ty có quy mô lớn thường trả cổ tức cao hơn và ngược lại Bởi vì họ nhận thấy những công
ty quy mô nhỏ thường gặp khó khăn để huy động vốn, các công ty có quy mô lớn là những công ty trưởng thành, có thu nhập ổn định và có nhiều tài sản nên dễ dàng tiếp
Trang 24cận và huy động nguồn vốn từ thị trường với mức chi phí thấp hơn những công ty có quy mô nhỏ và do đó ít phụ thuộc vào quỹ nội bộ dẫn đến khả năng chi trả cổ tức cao hơn Holder (1998), Eriotis (2005), Hosami (2007), Al-Twaijry (2007), Osobov (2008) cũng xác nhận cùng quan điểm trên Ngoài ra, nghiên cứu của Barclay, Smith
và Watts (1995) cho rằng những công ty lớn thường là những công ty đã ổn định với
cơ hội tăng trưởng được giới hạn sẽ thiên về việc trả cổ tức nhiều hơn để tránh đầu tư quá mức
Một số nghiên cứu đã kiểm chứng về ảnh hưởng của quy mô công ty đến mối quan hệ cổ tức và đại diện Lloyd và ctg (1985) là một trong những người đầu tiên thay đổi mô hình Rozeff bằng cách bổ sung yếu tố quy mô công ty như một loại biến
Họ coi đó là một biến giải thích quan trọng, bởi vì các công ty lớn có nhiều khả năng tăng chi trả cổ tức để giảm đi chi phí đại diện Phát hiện của họ hỗ trợ cho lập luận của Jensen và Meckling (1976) rằng chi phí đại diện có mối liên quan với quy mô của công ty Họ cho rằng các công ty lớn có lợi thế thương lượng hơn, nếu không sẽ làm tăng chi phí đại diện Hơn nữa, Sawicki (2005) đã chứng minh chi trả cổ tức có thể giúp giám sát một cách gián tiếp hiệu suất của các nhà quản lý trong các công ty lớn Bởi vì, trong các công ty lớn, các thông tin bất đối xứng tăng do sự phân tán quyền sở hữu, làm giảm khả năng kiểm soát của các cổ đông đối với các hoạt động nội bộ và bên ngoài của công ty, tạo nên khả năng kiểm soát không hiệu quả của quản
lý Thanh toán cổ tức lớn có thể là một giải pháp hữu hiệu cho vấn đề này bởi vì cổ tức lớn dẫn đến sự gia tăng nhu cầu về nguồn tài chính bên ngoài và nhu cầu tài chính bên ngoài dẫn đến gia tăng khả năng giám sát của các cổ đông ở các công ty lớn vì
sự tồn tại của các nhà đầu tư hay còn gọi lá các cổ đông bên ngoài
Tuy nhiên, Gugler và Yurtuglu (2003) cho thấy rằng chính sách chi trả cổ tức
có mối quan hệ nghịch chiều với quy mô công ty Có nghĩa là các công ty lớn lại có
xu hướng chi trả cổ tức thấp hơn các công ty nhỏ Công ty nhỏ chi trả cổ tức cao hơn như một tín hiệu cho thấy có một viễn cảnh tốt hơn trong tương lai
Mondher Kouki (2009) đưa ra nghiên cứu thực nghiệm về lý thuyết chi phí đại
Trang 25diện giải thích cho chính sách cổ tức ở Tunisia từ năm 1995-2001 của 29 công ty, quy
mô công ty được tính bằng logarit tổng tài sản của công ty Bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng quy mô công ty có quan hệ nghịch chiều với tỷ lệ chi trả cổ tức, điều
này chứng tỏ rằng các công ty lớn trả cổ tức ít hơn
2.3.2 Lợi nhuận
Các nhà nghiên cứu trước đây nhận thấy lợi nhuận như một trong các yếu tố cần thiết về năng lực của công ty và là yếu tố quyết định quan trọng nhất tới chính sách chi trả cổ tức Lintner (1956) nghiên cứu yếu tố quyết định chính về chính sách cổ tức là lợi nhuận hiện tại và cổ tức năm trước Tuy nhiên, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về tác động của lợi nhuận tới chính sách cổ tức ở các nước đã phát triển
và các nước đang phát triển Sự khác nhau này được thể hiện trong báo cáo của Glen
và ctg (1995), chỉ ra rằng tỷ lệ chi trả cổ tức ở những nước đang phát triển thường xấp xỉ bằng 2/3 so với các nước phát triển Ngoài ra, những công ty ở thị trường mới nổi không tuân theo một chính sách chi trả cổ tức ổn định; theo đó, chi trả cổ tức của một năm sẽ căn cứ trên lợi nhuận của công ty vào năm đó Vào năm 2002, La Porta cùng các đồng nghiệp của mình đã thực hiện việc so sánh giữa những quốc gia có chính sách bảo vệ cổ đông tốt với những quốc gia có chính sách bảo vệ yếu và thấy những nước có chi trả cổ tức thấp có chính sách bảo vệ cổ đông tốt hơn Kết luận đưa
ra là cổ đông có thể nhận được giá trị cổ tức tăng theo lợi nhuận của công ty, điều này chỉ có ở những thị trường mà chi trả cổ tức không ổn định Wang và ctg (2002) đã so sánh chính sách chi trả cổ tức của các công ty ở hai nước là Trung Quốc và nước Anh
và thấy rằng các công ty của Trung Quốc thường có tỷ lệ chi trả cổ tức cao hơn Anh Hơn thế, các công ty của Anh có một chính sách chi trả cổ tức rõ ràng, giá trị chi trả
cổ tức hằng năm đều tăng và tất cả các công ty đều trả cổ tức tiền mặt Ngược lại, các công ty của Trung Quốc có chính sách chi trả cổ tức không ổn định và tỷ lệ chi trả cổ tức của họ căn cứ phần lớn trên lợi nhuận mà công ty thu về trong năm đó, không phụ thuộc vào những yếu tố khác Nghiên cứu này cũng đồng quan điểm với nghiên cứu của Adaolu (2000), khẳng định yếu tố chính quyết định số lượng chi trả cổ tức tiền mặt tại giao dịch chứng khoán Istanbul là lợi nhuận của công ty trong năm Bất kì
Trang 26biến động nào liên quan đến lợi nhuận của doanh nghiệp đều trực tiếp phản ánh mức chi trả cổ tức Một nghiên cứu khác cũng cho kết quả tương tự là nghiên cứu của Panley (2001) đối với các công ty của Malaysia Al-Malkawi (2007) tìm ra tỷ lệ lợi nhuận là chìa khóa cho chính sách chi trả cổ tức của các công ty tại Jordan
Theo lý thuyết, các công ty sẽ ưu tiên vào việc sử dụng quỹ nội bộ cho việc tài trợ hoặc tái đầu tư và do vậy sẽ có xu hướng trả cổ tức ít hơn Do vậy các công ty có lợi nhuận sẽ thích cổ tức được chia ở mức thấp hơn Kania và Bacon (2005) nhận thấy lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu càng cao thì lợi nhuận giữ lại của công ty dành cho việc tái đầu tư càng lớn hay chi trả cổ tức càng thấp Trái lại, có nhiều nghiên cứu khác cho rằng lợi nhuận có tác động tích cực tới tỷ lệ chi trả cổ tức Bởi vì các công
ty có nhiều lợi nhuận thì có lợi nhuận ròng ổn định và có đủ khả năng về dòng tiền mặt do đó trả cổ tức cao hơn Các công ty có lợi nhuận càng cao thì sẽ trả cổ tức càng cao Những nghiên cứu của Aivazian, Booth và Cleary (2003), Li và Lie (2006) cho
rằng các công ty sẽ tăng mức chi trả cổ tức nếu họ có đạt mức lợi nhuận lớn
2.3.3 Cơ hội phát triển
Một cuộc khảo sát đã cho thấy có nhiều cách giải thích khác nhau cho mối quan
hệ giữa tiềm năng phát triển của một công ty và chính sách cổ tức Một cách giải thích cho biết một công ty thường sử dụng nguồn vốn bên trong cho những dự án đầu tư tài chính nếu công ty đó có quy mô phát triển cao cũng như dự án đầu tư lớn Công
ty này chọn cách trả cổ tức ít hơn để giảm sự lệ thuộc vào nguồn tài chính bên ngoài đắt đỏ Trong khi đó, một công ty với quy mô nhỏ và có ít nguồn đầu tư sẽ chi trả cổ tức cao hơn để ngăn chặn việc quản lí sẽ chi đầu tư quá mức cho phép Như vậy, một
cổ tức ở đây đóng vai trò làm động lực để di chuyển nguồn lực từ công ty và giảm chi phí đại diện của dòng tiền tự do (theo Jensen, 1986; Lang and Litzenberger, 1989; Al-Malkawi, 2007) Kết quả, cổ tức trong những công ty phát triển yếu thường có giá cao hơn so với những công ty quy mô lớn bởi vì những công ty này có dòng tiền tự
do thấp hơn (Rozeff, 1982; Lloyd, 1985; Jensen và ctg, 1992; Dempsey and Laber, 1992; Alli và ctg, 1993; Moh'd và ctg, 1995; Holder và ctg, 1998)
Trang 27Một số nghiên cứu khác của Murrali and Welch (1989), Titman và Wessels (1988), Gavers và Gavers (1993), Moh'd và ctg (1995) cũng so sánh tỷ lệ cơ hội đầu
tư để phân biệt những công ty phát triển và những công ty kém phát triển Những nghiên cứu này cho thấy rằng những công ty phát triển tốt thường đưa ra mức nợ thấp hơn để giảm phụ thuộc vào nguồn tài chính bên ngoài, các công ty kém phát triển thì ngược lại Cách giải thích này cũng tương đồng với quan điểm của Myer (1984), người đã cho rằng chính sách đầu tư có thể hỗ trợ chi trả cổ tức La Porta cùng các đồng nghiệp của mình đã tìm hiểu những nước có chính sách bảo hộ cao và thấy những công ty lớn thường chi trả cổ tức ở mức thấp Và như vậy, cổ đông của những công ty này cũng được đảm bảo an toàn, họ có thể chờ đợi để lấy lại phần cổ tức khi xuất hiện đầu tư tốt Ngược lại với những đất nước có chính sách bảo vệ sự an toàn của cổ đông ở mức thấp, các công ty thường chi trả cổ tức mức cao để duy trì danh tiếng của công ty, ngay cả khi nguồn đầu tư của họ tăng cao Một số nghiên cứu của Rozeff (1982), Lloyd và ctg (1985), Jensen và ctg (1992), Alli và ctg (1993), Moh’d
và ctg (1995), Holder và ctg (1998), Chen và ctg (1999), Saxsena (1999), Manos (2002), Travlos (2002) cũng cho thấy sự tăng doanh thu thường được đánh giá đồng nhất với mức độ phát triển của công ty
2.3.4 Đòn bẩy tài chính
Đòn bẩy tài chính hay tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu là tỷ lệ tài chính cho thấy mức độ sử dụng nợ và vốn chủ sở hữu để tài trợ cho tài sản của công ty Các nghiên cứu cho thấy đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng tới chính sách cổ tức, đồng thời cũng chỉ ra những quan điểm khác nhau về sự ảnh hưởng này
Dhillon (1986) cho thấy những kết luận đối lập nhau về tác động của đòn bẩy tài chính Theo ông, ở một số ngành thì đòn bẩy có tác động tích cực tới chính sách
cổ tức, trong khi ở một số ngành khác thì đòn bẩy lại có tác động tiêu cực Theo Rozeff (1982), các công ty có đòn bẩy tài chính cao có khuynh hướng có tỷ lệ chi trả
cổ tức thấp để giảm chi phí khi sử dụng nguồn tài chính bên ngoài Ở các nghiên cứu khác Lloyd (1985), Collins (1996), Al-Malkawi (2007) cũng cho rằng đòn bẩy tài
Trang 28chính có tác động tiêu cực tới chính sách cổ tức, phát minh của họ cho rằng công ty
có mức rủi ro cao hơn sẽ trả cổ tức ở tỷ lệ thấp hơn
Mollaah và ctg (2001) đã thực hiện khảo sát thị trường mới nổi và tìm ra mối quan hệ trực tiếp giữa đòn bẩy tài chính và gánh nặng nợ khiến chi phí giao dịch tăng Theo đó, những công ty có tỷ số đòn bẩy tài chính cao thường có chi phí giao dịch cao và chi trả cổ tức ở mức thấp để giảm phụ thuộc vào nguồn tài chính bên ngoài Tuy nhiên, nghiên cứu của Yordying (2008) cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa đòn bẩy và tỷ lệ chi trả cổ tức Điều này cho thấy khả năng các công ty Thái Lan dựa trên nợ để trả cổ tức Pruitt và Gitman (1991) cho rằng các công ty có tốc độ tăng trưởng nhanh và chi trả cổ tức cao thường sử dụng nợ ở mức cao Kania và Bacon (2005) cũng đồng quan điểm trên, thực tế là các công ty có quỹ nợ cao thường trả cổ tức cao hơn
2.3.5 Tính thanh khoản của tài sản
Tính thanh khoản hay vị thế dòng tiền tự do của công ty đóng vai trò rất quan trọng tác động tới chính sách cổ tức Các công ty có tính thanh khoản của tài sản cao
có khả năng chi trả cổ tức cao hơn so với các công ty có thanh khoản kém Alli (1993) tranh luận rằng thanh toán cổ tức phụ thuộc nhiều vào dòng tiền mặt hơn lợi nhuận hiện tại vì dòng tiền mặt phản ánh khả năng chi trả cổ tức của công ty và công việc tính toán ít ảnh hưởng nặng nề đến lợi nhuận hiện tại Các nghiên cứu của Amidu và Abor (2006), Anil và Kapoor (2008) đều đồng thuận cho rằng tính thanh khoản của tài sản cao có tác động tích cực tới chính sách cổ tức
2.3.6 Cơ cấu sở hữu
Trong một môi trường kinh doanh hiện đại, có một sự tách biệt lớn giữa quyền
sở hữu và quản lý, xung đột lợi ích có thể phát sinh giữa các nhà quản lý, chủ sở hữu bên trong (cổ đông kiểm soát), và các cổ đông bên ngoài, chẳng hạn như cổ đông thiểu số Đề cập đến vấn đề này, Jensen và Meckling (1976) mô tả các công ty như
là mối quan hệ hợp đồng giữa các cá nhân Tuy nhiên, khi người quản lý đưa ra quyết định, những quyết định đó có xu hướng bảo vệ lợi ích của người đại diện đứng đầu
Trang 29hơn là lợi ích chung của cả công ty La Porta và ctg (2000) đã chứng minh rằng các nhà quản lý có thể tận dụng quyền hạn của mình để đem lại lợi ích cho bản thân họ bằng cách chuyển tài sản công ty thành tài khoản của chính họ thông qua các hành vi trộm cắp, thay đổi hệ số tiền lương quá mức hoặc bán tài sản ở một mức giá phù hợp
có lợi cho họ Theo đó, cơ cấu sở hữu trong các công ty lớn có thể ảnh hưởng đến cổ tức và các chính sách tài chính khác (Desmetz, 1983; Desmetz và Lehn, 1985; Shleifer và Vishny, 1986; Morck và ctg, 1988; Schooley và Barney, 1994; Fluck, 1999; La Porta, 2000; Gugler và Yurtoglu, 2003) Một số nghiên cứu đã cho rằng thanh toán cổ tức có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm xung đột giữa các chủ sở hữu bên trong và bên ngoài Khi chủ sở hữu bên trong trả cổ tức bằng tiền mặt, họ sẽ trả nguồn lãi suất của công ty thu được cho các nhà đầu tư và không sử dụng nguồn lãi suất đó để sinh lợi cho bản thân mình (La Porta và ctg, 2000) Tuy nhiên, phần trăm lãi suất của công ty có thể được sử dụng như là cổ tức phải phụ thuộc vào cơ cấu sở hữu của công ty
Glen và ctg (1995), Gul (1999a), Naser và ctg (2004) và Al-Malkawi (2007) đã chứng minh rằng trong thị trường mới nổi, sở hữu nhà nước là một yếu tố then chốt trong quá trình đưa ra quyết định về cổ tức Gul (1999) đã đề xuất thành lập một hiệp hội giữa sở hữu nhà nước và các cổ tức, và cho rằng các công ty có sở hữu nhà nước cao gặp nó ít khó khăn trong các dự án đầu tư, và do đó, có thể đủ khả năng để phân phối cổ tức nhiều hơn Ngược lại, các công ty có sở hữu nhà nước thấp hơn hoặc thậm chí không có sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc huy động vốn, và thay vì đó, họ sẽ phải dựa nhiều vào lợi nhuận đầu tư, như vậy thanh toán cổ tức nhỏ Glen và ctg (1995) lập luận rằng các nhà đầu tư cần được bảo vệ ở các nước có hệ thống pháp luật chưa đồng bộ Ngoài ra, chính phủ là một nhà đầu tư mạnh, có tiềm lực vì vậy các chính phủ nên đóng vai trò như trong việc bảo vệ cho các cổ đông thiểu số bằng cách giám sát các cổ đông nội bộ và buộc họ phải công khai lượng tiền mặt Naser và ctg (2004) nói thêm rằng trong một thị trường mới nổi, nơi mà hệ thống pháp luật còn nhiều hạn chế, nếu các chính phủ mong muốn để xây dựng danh tiếng cho công ty và tránh sự phản bội từ các cổ đông thiểu số thì chính phủ cần trả cho họ với cổ tức lớn
Trang 30Họ cũng khẳng định rằng xây dựng danh tiếng cho công ty là một phần hết sức quan trọng vì điều này có ảnh hưởng đáng kể đến thị trường chứng khoán trẻ Ngoài ra, việc xây dựng danh tiếng cho công ty là rất quan trọng trong trường hợp công ty chưa
có sự đảm bảo chắc chắn về dòng chảy tiền tệ
Trong một nghiên cứu gần đây, Al-Malkawi (2007) phát hiện ra rằng, trong số những cổ đông lớn, chính phủ là một trong những cổ đông có ảnh hưởng nhất trong việc ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của các công ty đã niêm yết trên thị trường chứng khoán Amman Ông giải thích rằng chính phủ đã hành động thay mặt cho người dân, những người không thể trực tiếp kiểm soát, quản lý các công ty chứng khoán Vì vậy, trong các công ty đó, một cuộc xung đột đã xảy ra Cuộc xung đột này
có thể xảy ra giữa người dân và đại diện chính phủ, những người có thể không hành động vì lợi ích tốt nhất cho công và cuộc xung đột giữa đại diện của chính phủ và những người quản lý của các công ty chứng khoán Trong trường hợp này, giải pháp tốt nhất đó là thanh toán cho những cổ tức lớn hơn, điều này sẽ làm giảm lưu lượng tiền mặt có sẵn mà người quản lý nắm giữ, do đó, làm giảm các vấn đề đại diện của công ty Lời giải thích này cũng trùng với những nghiên cứu của chuyên gia Gugler (2003), người đã tiến hành nghiên cứu về các chính sách cổ tức của các công ty ở Úc
2.3.7 Rủi ro kinh doanh
Một số nghiên cứu đã đưa trị beta vào để đo lường như một đại diện cho rủi ro
hệ thống, beta đo lường biến động cổ phiếu trong mối quan hệ với thị trường (Rozeff, 1982; Lloyd và ctg, 1985; Alli và ctg, 1993; Moh’d và ctg, 1995; Casey and Dickens, 2000)
Ngoài ra, còn có lập luận rằng ở những công ty có mức độ rủi ro cao, dòng tiền của họ cũng gặp biến động cao hơn những công ty có mức độ rủi ro thấp Kết quả, cầu tài chính từ bên ngoài của những công ty này tăng, khiến họ giảm chi trả cổ tức
để tránh phụ thuộc vào nguồn tiền bên ngoài Những nghiên cứu bao gồm Higgins (1972), McCabe (1979), Rozeff (1982), Chang and Rahee (1990), Chen and Steine (1999), Jensen và ctg (1992) đều cho thấy rủi ro hệ thống càng lớn thì tương quan
Trang 31giữa tiền tệ và lợi nhuận trong tương lai càng không rõ ràng Do vậy, các công ty thường tránh việc phải trả cổ tức cao, vì họ không chắc chắn về lợi nhuận sẽ thu được Moh'd và ctg (1995) còn đưa ra báo cáo về mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa tỷ lệ cổ tức
và rủi ro bên trong của doanh nghiệp, ký hiệu là beta Theo đó, những công ty với nguồn lợi nhuận không ổn định thường chi trả cổ tức thấp hơn để giữ chi trả cổ tức
ổn định và tránh nguồn tài chính bên ngoài với chi phí cao Ngược lại, Mollah (2002) tìm ra rằng những công ty giao dịch trên Dhaka Stock Exchange thường trả cổ tức ở mức cao, mặc dù cổ phiếu của họ có giá trị beta cao
Vì vậy, ông nhận định, trong một thị trường chứng khoán mới nổi, cổ tức có thể không phải là công cụ phù hợp nhất để cho biết thông tin chính xác về chi phí giao dịch trên thị trường Nghiên cứu này sử dụng beta biểu thị cho rủi ro của doanh nghiệp, nó đại diện cho sự vận hành cùa doanh nghiệp và cả rủi ro tài chính (Rozeff, 1982; Loyed và ctg, 1985; Jensen và ctg, 1992; Alli và ctg, 1993; Moh’d và ctg, 1995; Holder và ctg, 1998; Chen và ctg, 1999; Saxsena, 1999; Manos, 2002)
2.3.8 Thuế
Farrar và Selwyn (1967) cho thấy rằng sự khác biệt giữa chính sách cổ tức thông thường và lãi vốn, các chính sách chi trả cổ tức không làm tối đa hóa giá trị cổ phiếu King (1974) cũng cho rằng trong một khung cảnh như vậy, việc đầu tư được tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ và dĩ nhiên mức cổ tức được thanh toán ít hơn Những lập luận này được minh chứng qua Masulis và Trueman (1988) đã chỉ ra rằng nghĩa vụ thuế tăng (giảm) thì mức thanh toán cổ tức giảm (tăng) trong khi thu nhập tái đầu tư tăng (giảm) Trái ngược với các mối quan hệ tiêu cực giữa lý thuyết cổ tức và các khoản thuế, Abor và Amidu (2006) tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa thuế doanh nghiệp và tỷ lệ chi trả cổ tức ở Ghana, chỉ ra rằng, tăng thuế gắn với sự gia tăng trong chi trả cổ tức
2.3.9 Tài sản thế chấp
Theo Bradley và ctg (1984), công ty có một tỷ lệ tài sản cao, như tài sản hữu hình ở vị trí tốt thì dễ dàng huy động vốn thông qua việc vay nợ với chi phí rẻ hơn
Trang 32điều này sẽ dẫn đến giảm áp lực quá lớn vào các quỹ nội bộ vì vậy tính thanh khoản của tài sản thế chấp có ảnh hưởng tích cực về chính sách chi trả cổ tức của công ty Kanwal và Kapoor (2008) cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa tài sản thế chấp và tỷ lệ chi trả cổ tức của ngành công nghệ thông tin ở Ấn Độ Như vậy, tính thanh khoản của tài sản là một yếu tố quan trọng quyết định đến tỷ lệ chi trả cổ tức
và chỉ ra rằng một vị thế tài sản tốt làm tăng khả năng các công ty chi trả cổ tức Tuy nhiên, nghiên cứu của Faris (2012) cho thấy tính thanh khoản của tài sản thế chấp không có ảnh hưởng đến khă năng chi trả cổ tức của 60 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Amman
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp tác động của các nhân tố
Tên biến Giả thiết
dấu Các tác giả đã nghiên cứu
Quy mô công ty +
Lloyd (1985), Aivazian và ctg(2003), Holder (1998), Eriotis (2005), Hosami (2007), Al-Twaijry (2007), Osobov (2008)
Lợi nhuận + Lintner (1956), Aivazian, Booth và Cleary
(2003), Li và Lie (2006)
Cơ hội phát triển +
Rozeff (1982), Lloyd và ctg(1985), Jensen và ctg(1992), Alli và ctg(1993), Moh’d và ctg(1995), Holder và ctg(1998), Chen và ctg (1999), Saxsena (1999), Manos (2002), Travlos (2002)
Đòn bẩy tài chính - Rozeff (1982), Lloyd (1985), Collins (1996),
Al-Malkawi (2007)
Tính thanh khoản + Alli (1993), Amidu và Abor (2006), Anil và
Kapoor (2008)
Cơ cấu sở hữu +
Jensen và Meckling (1976), Glen và ctg (1995), Gul (1999a), Naser và ctg (2004) và Al-Malkawi (2007)
Rủi ro kinh doanh -
Rozeff (1982), Loyed và ctg(1985), Jensen và ctg(1992), Alli và ctg(1993), Moh’d và ctg(1995), Holder và ctg(1998), Chen và ctg(1999), Saxsena(1999), Manos (2002) Thuế - Farrar và Selwyn (1967),King (1974),
Masulis và Trueman (1988)
Tài sản thế chấp + Bradley và ctg (1984)