TÓM TẮT Luận văn được thực hiện nhằm nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa các đặc điểm về quản trị công ty có thể tác động đến độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm to
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VÕ THÀNH TRUNG
CÁC ĐẶC ĐIỂM VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ ĐỘ TRỄ CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH KIỂM TOÁN NĂM TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH
CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số chuyên ngành : 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGÔ VI TRỌNG
TP Hồ Chí Minh, Năm 2015
Trang 2TÓM TẮT
Luận văn được thực hiện nhằm nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa các đặc điểm về quản trị công ty có thể tác động đến độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm tại các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng cân bằng gồm 650 quan sát của 130 công ty trong khoảng thời gian 5 năm giai đoạn 2010 – 2014 Trong bài nghiên cứu này, 2 thước đo độ trễ công bố thông tin được áp dụng là độ trễ tạm thời và độ trễ báo cáo
Mô hình hồi quy tác động cố định (Fixed Effect Model – FEM) được sử dụng để ước lượng cho mô hình nghiên cứu sau khi đã thực hiện các kiểm định cần thiết để lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp Kết quả thống kê cho thấy sở hữu của tổ chức,
sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, quy mô hội đồng quản trị, quy mô công ty, đòn bẩy tài chính và lợi nhuận trên vốn cổ phần đều có tác động đến độ trễ Mức độ ảnh hưởng của quy mô công ty là cao nhất trong khi đó tác động của quy mô hội đồng quản trị là không đáng kể
Nghiên cứu có mức độ giải thích chỉ từ 45% đến 72% khi xem xét tác động của các đặc điểm về quản trị công ty đến độ trễ, điều này có nghĩa là còn những đặc điểm về quản trị công ty khác ảnh hưởng lên độ trễ báo cáo mà chưa được đưa vào nghiên cứu Nghiên cứu cũng trình bày một số hạn chế trong quá trình thực hiện, từ đó gợi
ý cho hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 3MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Danh mục hình và đồ thị vii
Danh mục bảng viii
Danh mục từ viết tắt ix
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1
1.2 Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5 Kết cấu luận văn 5
CHƯƠNG 2: CÁC ĐẶC ĐIỂM VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ ĐỘ TRỄ 7
2.1 Quản trị công ty 7
2.2 Công bố thông tin và độ trễ của CBTT BCTC kiểm toán 8
2.2.1 Công bố thông tin 8
2.2.2 Độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm 9
2.3 Lý thuyết nền tảng về quản trị công ty 10
2.3.1 Lý thuyết đại diện (agency theory) 11
2.3.2 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary costs theory) 11
2.3.3 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric information) 12
2.4 Nghiên cứu trước về các đặc điểm của quản trị công ty tác động đến độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm 13
2.5 Xây dựng giả thuyết 15
2.5.1 Quyền sở hữu tập trung 15
2.5.2 Sở hữu cổ phần của tổ chức 19
2.5.3 Sở hữu cổ phần của nước ngoài 19
Trang 42.5.4 Quy mô hội đồng quản trị 19
2.5.5 Hội đồng quản trị độc lâp 19
2.5.6 Tính kiêm nhiệm giữa chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc 20
2.5.7 Quy mô công ty 21
2.5.8 Đòn bẩy tài chính 21
2.5.9 Lợi nhuận trên vốn cổ phần 22
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Mô hình nghiên cứu 26
3.1.1 Độ trễ báo cáo 27
3.1.2 Quyền sở hữu tập trung 27
3.1.3 Sở hữu cổ phần của tổ chức 28
3.1.4 Sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài 28
3.1.5 Quy mô hội đồng quản trị 28
3.1.6 Hội đồng quản trị độc lập 28
3.1.7 Tính kiêm nhiệm giữa chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc 29
3.1.8 Quy mô công ty 29
3.1.9 Đòn bẩy tài chính 29
3.1.10 Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu 30
3.2 Dữ liệu nghiên cứu 32
3.3 Phương pháp nghiên cứu 32
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
4.1 Thống kê mô tả 36
4.2 Phân tích đánh giá tương quan giữa các biến 39
4.3 Kết quả hồi quy 41
4.3.1 Độ trễ tạm thời 41
4.3.2 Độ trễ báo cáo 44
4.4 Phân tích kết quả hồi quy 47
4.4.1 Quyền sở hữu tập trung 48
4.4.2 Sở hữu cổ phần của tổ chức 48
Trang 54.4.3 Sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài 48
4.4.4 Quy mô hội đồng quản trị 49
4.4.5 Hội đồng quản trị độc lâp 49
4.4.6 Tính kiêm nhiệm giữa chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc 50
4.4.7 Quy mô công ty 50
4.4.8 Đòn bẩy tài chính 51
4.4.9 Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu 51
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 53
5.1 Đặc điểm của nghiên cứu 53
5.2 Các kết luận quan trọng 53
5.3 Đóng góp của đề tài 53
5.4 Hạn chế của nghiên cứu 56
5.5 Gợi ý hướng nghiên cứu mới 57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 64
Phụ lục 1: Danh sách 130 công ty niêm yết trong mẫu nghiên cứu 64
Phụ lục 2: Kết quả hồi quy ước lượng theo Pooled OLS và các kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy ước lượng tác động lên độ trễ tạm thời 69
Phụ lục 3: Kết quả hồi quy ước lượng các đặc điểm về quản trị công ty tác động lên độ trễ tạm thời sử dụng mô hình hồi quy FEM 73
Phụ lục 4: Kết quả hồi quy ước lượng theo Pooled OLS và các kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy ước lượng tác động lên độ trễ báo cáo 74
Phụ lục 5: Kết quả hồi quy ước lượng các đặc điểm về quản trị công ty tác động lên độ trễ báo cáo sử dụng mô hình hồi quy FEM 78
Trang 6DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Hình 1: Các đặc điểm về quản trị công ty ảnh hưởng tác động đến độ trễ của
CBTT BCTC kiểm toán năm tại các CTNY trên SGDCK 24
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Bảng mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 31
Bảng 2: Bảng thống kê mô tả các biến trong nghiên cứu 36
Bảng 3: Bảng ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu 39
Bảng 4: Kết quả kiểm tra hiện tượng tự đa cộng tuyến 40
Bảng 5: Các kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy tác động lên độ trễ tạm thời 41
Bảng 6: Kết quả hồi quy theo mô hình tác động cố định lên độ trễ tạm thời 42
Bảng 7: Các kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy tác động lên độ trễ báo cáo 44
Bảng 8: Kết quả hồi quy theo mô hình tác động cố định lên độ trễ báo cáo 45
Bảng 9: Tóm lược kỳ vọng dấu và kết quả trong mô hình hồi quy ước lượng 47
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
SGDCK : Sở Giao dịch Chứng khoán
TPHCM : Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 9CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu:
Báo cáo tài chính (BCTC) là công cụ cung cấp những thông tin về tình hình sức khoẻ tài chính, các thay đổi cũng như kết quả hoạt động tài chính của một công ty qua một giai đoạn nhất định Thông tin này được sử dụng bởi những người bên ngoài như các cổ đông, các chủ nợ, các nhà đầu tư tiềm năng, cơ quan quản lý, và công chúng nói chung (Spiceland và công sự, 2013) Theo đó, kịp thời được xác định là một trong những đặc điểm của các thông tin trong BCTC Dogan và cộng sự (2007) cho thấy rằng người sử dụng thông tin tài chính muốn tiếp cận thông tin một cách kịp thời để đưa ra quyết định Thời gian của thông tin cũng quan trọng như chính các nội dung trong đó cho người sử dụng thông tin tài chính, sự hữu ích của BCTC bị suy yếu nếu không được thực hiện thông tin sẵn có cho người sử dụng trong một thời hạn hợp lý sau ngày báo cáo Công bố thông tin (CBTT) chậm trễ có khả năng làm tăng sự không chắc chắn liên quan đến các quyết định được thực hiện dựa trên các thông tin trong các BCTC (Ashton và cộng sự, 1987) Do đó, công bố thông tin báo cáo tài chính kịp thời sẽ góp phần tăng cường các quá trình ra quyết định và đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm sự bất đối xứng thông tin trên thị trường vốn (Owusu-Ansah và Leventis, 2006) Các vấn đề của báo cáo kịp thời cũng ảnh hưởng đến các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách khi họ cần phải đóng một vai trò trong việc bảo đảm sự chậm trễ BCTC ngắn hơn Đối với các thị trường vốn mới nổi, việc tìm ra những yếu tố quyết định báo cáo kịp thời sẽ tăng cường sự điều chỉnh trong việc xây dựng các chính sách mới để nâng cao hiệu quả phân bổ thị trường của họ
Một trong những yếu tố chính của quản trị công ty tốt là công bố kịp thời thông tin tài chính với mục đích giảm thiểu sự bất đối xứng thông tin Do đó, các công ty mà thực hiện quản trị công ty tốt có thể có công bố thông tin kịp thời hơn Theo Wu và cộng sự (2008), quản trị công ty tác động đến quá trình thực hiện, công bố BCTC, trong đó, vai trò giám sát của hội đồng quản trị (HĐQT) là một thành phần quan trọng trong quản trị công ty, và hiệu quả hoạt động của HĐQT được xác định bởi số
Trang 10lượng thành viên HĐQT và, thành phần viên độc lập Theo Habbash (2010), trong môi trường công ty ngày nay, cơ cấu quản trị tốt bao gồm một ban kiểm soát hoạt động đầy đủ, độc lập cùng với một chuyên gia tài chính, sự độc lập của một HĐQT với một chủ tịch độc lập và một cơ cấu sở hữu cân bằng Cohen và cộng sự (2002) thừa nhận rằng một trong những các chức năng quan trọng nhất là quản trị công ty
có thể đóng vai trò trong việc đảm bảo chất lượng của quá trình BCTC Vì vậy, giám sát hiệu quả quá trình BCTC của các cơ chế giám sát nói trên được cho là cải thiện tính chính xác của các báo cáo cho các cổ đông và đóng vai trò như một sự răn
đe đối với hành vi cơ hội nảy sinh bởi các nhà quản lý Ansah (2000), Leventis và cộng sự (2005), Benh và cộng sự (2006) có những nghiên cứu hạn chế sử dụng các biến quản trị công ty để xác định kịp thời của các BCTC, bên cạnh đó cũng có các nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành cung cấp bằng chứng về tác động của biến quản trị công ty đến tính kịp thời các báo cáo tài chính bởi Beekes và cộng sự (2004), Abdullah (2006)
Theo Hà Huy Tuấn (2014), trong 6 nước Asean có mức độ phát triển tương đương gồm Việt Nam, Philippines, Indonesia, Singapore, Malaysia, Thái Lan, thì mức độ quản trị của công ty Việt Nam thuộc mức thấp nhất Năm 2013, điểm quản trị của các công ty Việt Nam bình quân chỉ 42,5 điểm, trong khi Singapore 56,1 điểm, Malaysia 62,3 điểm, Thái Lan 67,7 điểm Nguyên nhân chính khiến các công ty Việt Nam không được đánh giá cao là khuôn khổ quản trị còn thiếu minh bạch, không phân biệt rõ vai trò, chức năng của chủ sở hữu với người điều hành Chính điều này đã tạo ra rào cản cho các công ty khi tiếp cận vốn trên thị trường chứng khoán cũng như vốn từ các ngân hàng thương mại Để nâng cao nhận thức về quản trị công ty, trước hết cần đề cao tính độc lập của các thành viên, các vai trò của HĐQT, của tổng giám đốc (TGĐ) cũng như đề cao tính minh bạch và công khai thông tin kịp thời Đồng thời, các công ty Việt Nam cũng cần chú trọng vai trò của ban giám sát, đặc biệt là giám sát độc lập Bùi Xuân Tùng (2014) cho rằng nền kinh
tế Việt Nam vẫn đang còn chuyển đổi nhiều, xét về lịch sử, hầu hết các công ty niêm yết có nguồn gốc từ công ty có vốn sở hữu nhà nước hoặc tư nhân Do đó, nhiều lãnh đạo cấp cao của các công ty đại chúng tương đối mới này không quen với khái niệm về công bố và minh bạch thông tin để hướng tới một cộng đồng lớn
Trang 11hơn Theo Bùi Xuân Tùng (2014), quản trị công ty tốt là quan trọng đối với hoạt động tối ưu của công ty, thị trường vốn và nền kinh tế nói chung Một BCTC tốt sẽ giúp cải thiện kinh doanh và quản lý hoạt động, xây dựng lòng tin và uy tín của công ty, khi nhà đầu tư tin BCTC đúng sự thật và công bằng với họ, họ sẽ cảm thấy
tự tin hơn để đầu tư Với rủi ro thấp hơn, nhà đầu tư sẽ chấp nhận lợi nhuận thấp hơn, do đó công ty ít tốn kém hơn để vay vốn Đó là một lợi ích quan trọng đối với công ty đang tìm cách huy động vốn để cung cấp BCTC đáp ứng yêu cầu kiểm toán
Để đánh giá mức độ tác động là như thế nào hiện vẫn đang còn là ẩn số trong việc đưa ra giải pháp tăng cường quản trị, qua đó từng bước rút ngắn độ trễ của công bố thông tin báo cáo hàng năm Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, đề tài “Các đặc điểm
về quản trị công ty và độ trễ của CBTT BCTC kiểm toán năm tại các công ty niêm yết (CTNY) ở Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) TP.HCM” được lựa chọn để nghiên cứu Kết quả nghiên cứu thực nghiệm sẽ góp phần cung cấp thêm thông tin cho các thành viên thị trường cũng như cơ quan quản lý trong việc tìm kiếm tài liệu tham khảo hữu ích về tác động của các đặc điểm về quản trị công ty lên độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm
1.2 Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu:
Các báo cáo tài chính kiểm toán tại Việt Nam đóng vai trò ngày càng quan trọng, thu hút được sự quan tâm của các tổ chức, công chúng đầu tư (các cổ đông trong công ty và các nhà đầu tư mới) cũng như chính các thành viên đương nhiệm hoặc sẽ
là các thành viên trong hội đồng quản trị của các công ty Nghiên cứu được thực hiện nhằm xem xét các lý thuyết và dựa trên phân tích thực nghiệm nhằm đưa ra kết
luận để trả lời cho câu hỏi: “những đặc điểm nào tạo ra ảnh hưởng đáng kể trong
số các đặc điểm có khả năng tác động tới độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm?”
Từ câu hỏi nghiên cứu trên đây, đề tài đặt ra các mục tiêu nghiên cứu sau:
Tìm hiểu độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm?
Xác định các đặc điểm về quản trị công ty (cơ cấu sở hữu, thành phần hội đồng quản trị), quy mô công ty, đòn bẩy, lợi nhuận có khả năng tác động đến đến độ
Trang 12trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm tại các công ty niêm yết ở Sở Giao dịch Chứng khoán Tp Hồ Chí Minh
Nghiên cứu sử dụng số liệu thực tế để kiểm nghiệm mức độ tác động của các đặc điểm về quản trị công ty đến độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm, tác động làm tăng lên hay rút ngắn độ trễ của công bố thông tin báo cáo kiểm toán năm
1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu, xem xét độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm trong mối tương quan từ tác động của các đặc điểm về quản trị công ty (cơ cấu
sở hữu, thành phần hội đồng quản trị), quy mô công ty, đòn bẩy tài chính và lợi nhuận
Đối tượng được nghiên cứu là các công ty niêm yết ở Sở giao dịch Chứng khoán
Tp HCM trong khoảng thời gian 5 năm từ 2010 đến 2014 Đây cũng là khoảng thời gian mà số lượng các công ty niêm yết tăng lên đáng kể, mẫu nghiên cứu đủ lớn và
có tính đại diện cao hơn Ngoài ra mẫu nghiên cứu cũng loại bỏ các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính như: ngân hàng, bảo hiểm, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư và các công ty có vốn đầu tư nước ngoài FDI ra khỏi mẫu nghiên cứu vì các công ty hoạt động trong những lĩnh vực trên có các đặc thù riêng Việc không loại
bỏ các công ty niêm yết này sẽ làm cho kết quả nghiên cứu bị sai lệch, không có tính thuyết phục cao
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu thực nghiệm thực hiện các phân tích thống kê mô tả, đánh giá và phân tích ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình Trong bài luận văn sử dụng các phương pháp ước lượng mô hình hồi quy dữ liệu bảng cân bằng bao gồm:
mô hình hồi quy thông thường – Pooled OLS, mô hình hồi quy tác động cố định – FEM, mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên – REM Theo nghiên cứu của Gujiarati (2003), mô hình FEM và REM sẽ được chú trọng hơn bởi việc sử dụng phương pháp ước lượng theo mô hình FEM và REM có thể sẽ khắc phục được những nhược điểm như phương sai sai số thay đổi và tự tương quan của sai số tốt hơn so với mô
Trang 13hình hồi quy Pooled OLS Tuy nhiên, để quyết định xem mô hình ước lượng nào phù hợp nhất, tác giả sẽ tiến hành các kiểm định để lựa chọn cũng như khắc phục những sai lệch trong mô hình đã lựa chọn
1.5 Kết cấu luận văn:
Luận văn được chia làm 5 chương, mỗi chương được trình bày theo bố cục chặt chẽ
và xuyên suốt như sau:
Chương 1: Giới thiệu Trong phần này, tác giả trình bày những nét tổng quát về nghiên cứu thông qua các mục: lý do chọn đề tài nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Các đặc điểm về quản trị công ty và độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm Trong chương này, tác giả trình bày về quản trị công
ty, CBTT và độ trễ của CBTT báo cáo tài chính kiểm toán cũng như các lý thuyết nền cho nghiên cứu Tiếp theo, tác giả trình bày các nghiên cứu trước và phát triển giả thuyết dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm trước đây để làm cơ sở tham khảo
và sử dụng các biến vào mô hình nghiên cứu được sử dụng ở chương ba
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Dựa vào nghiên cứu thực nghiệm của Hout (2012), Lim (2012) và 2 nghiên cứu gần đây của Mouna và Anis (2013), Appah và Emeh (2013), tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu cũng như trình bày cách xác định và tính toán các biến trong mô hình Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đề cập đến cách thức xây dựng mẫu dữ liệu cho nghiên cứu, các phương pháp ước lượng mô hình hồi quy và các kiểm định cần thiết cho mô hình
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Tác giả trình bày kết quả thống kê mô
tả, phân tích đánh giá ma trận hệ số tương quan giữa các biến và kết quả hồi quy tác động của các đặc điểm về quản trị công ty đến độ trễ của CBTT BCTC kiểm toán năm Nhận xét, phân tích và thảo luận dựa trên kết quả của mô hình hồi quy phù hợp với mô hình đề xuất
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Phần cuối cùng sẽ kết luận lại vấn đề nghiên cứu được đưa ra và trình bày tóm tắt kết quả đạt được nhằm trả lời cho câu hỏi nghiên cứu Căn cứ vào các kết quả nghiên cứu, từ đó đưa ra những đóng góp trong
Trang 14việc nâng cao chất lượng thông tin công bố của các công ty Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra những mặt hạn chế và gợi mở hướng nghiên cứu mới tiếp theo
Kết luận chương 1
Chương này trình bày những giới thiệu chung về nền tảng lý thuyết cũng như thực
tế làm cơ sở hình thành luận văn, xác định vấn đề, câu hỏi nghiên cứu trong việc tìm mối quan hệ giữa các đặc điểm về quản trị công ty tác động đến độ trễ công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm tại các công ty niêm yết ở Sở giao dịch Chứng khoán Tp HCM Từ đó, luận văn xác định mục tiêu, đối tượng, các phương pháp nghiên cứu (PPNC) cụ thể áp dụng trong bài Nội dung chi tiết về cở sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày ở các chương
tiếp theo của luận văn
Trang 15CHƯƠNG 2: CÁC ĐẶC ĐIỂM VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ ĐỘ TRỄ CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH KIỂM TOÁN NĂM
Chương 2 trình bày các đặc điểm về quản trị công ty, công bố thông tin và độ trễ công bố thông tin cũng như cung cấp lý thuyết nền của nghiên cứu Dựa trên cơ sở
lý luận, kết quả thực nghiệm của các nghiên cứu trước, qua so sánh, đánh giá và phân tích tác động của các đặc điểm về quản trị công ty đến độ trễ báo cáo, từ đó bài nghiên cứu đưa ra các giả thuyết kỳ vọng về tác động của các đặc điểm về quản trị công ty lên độ trễ của công bố thống tin báo cáo tài chính kiểm toán năm tại các
công ty niêm yết
2.1 Quản trị công ty:
Do cách tiếp cận khác nhau nên có rất nhiều định nghĩa về khái niệm quản trị công
ty mà phần lớn phụ thuộc vào các tác giả, thể chế cũng như quốc gia hay truyền thống pháp lý Oyejide và Soyibo (2001) cho rằng quản trị công ty có thể được xem
từ hai khía cạnh: một cái nhìn hẹp, trong đó nó được xem như chỉ bận tâm đến cấu trúc bên trong của một công ty, các vấn đề liên quan đến bảo vệ cổ đông, kiểm soát quản lý và phổ biến hơn cả là vấn đề đại diện Những người ủng hộ quan điểm rộng hơn muốn xem xét đến tính xã hội của công ty, các nền kinh tế chuyển đổi, các vấn
đề về thể chế, pháp luật và nâng cao năng lực cũng như quy định của pháp luật Trong khi đó, O'Donovan (2003) khái quát rằng quản trị công ty là một hệ thống nội
bộ bao gồm các chính sách, quy trình và nhân sự, phục vụ cho nhu cầu của các cổ đông và các bên liên quan khác, bằng cách chỉ đạo và kiểm soát các hoạt động quản
lý với tầm hiểu biết tốt về kinh doanh, khách quan, trách nhiệm giải trình và tính toàn vẹn Thông qua các cơ chế và quy định, công ty được định hướng điều hành và kiểm soát nhằm đáp ứng quyền lợi của nhà đầu tư, người lao động và những người điều hành công ty
Theo Tổ chức Tài chính quốc tế (2011), quản trị công ty là những biện pháp nội bộ
để điều hành và kiểm soát công ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa ban giám đốc, HĐQT và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan Quản trị công ty cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả
Trang 16hoạt động của công ty Quản trị công ty chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được giám đốc và HĐQT theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách có hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn
Có một số nguyên tắc cơ bản được quốc tế công nhận là có khả năng quản trị công
ty trong đó bao gồm các quyền của cổ đông, đối xử công bằng của các cổ đông, vai trò của các cổ đông, công khai, minh bạch và trách nhiệm của HĐQT (Ige, 2008; Ayininuola, 2009; Appah và Appiah, 2011) Quyền và đối xử công bằng của các cổ đông: Tổ chức phải tôn trọng quyền của cổ đông để thực hiện các quyền đó Họ sẽ giúp cổ đông thực hiện quyền của họ bằng cách giao tiếp hiệu quả thông tin, đó là điều dễ hiểu, dễ tiếp cận và khuyến khích các cổ đông tham gia vào các cuộc họp chung Quyền lợi của các bên liên quan khác: công ty nên nhận ra rằng họ có luật pháp và các nghĩa vụ đối với tất cả các bên liên quan hợp pháp Công khai và minh bạch: Các công ty nên tiết lộ thông tin kịp thời và chính xác về tất cả các vấn đề liên quan đến công ty Vai trò và trách nhiệm của HĐQT: hội đồng quản trị cần một loạt các kỹ năng và sự hiểu biết để có thể đối mặt với các vấn đề kinh doanh khác nhau
và có khả năng xem xét cũng như thay đổi trước những thách thức trong việc thực hiện quản trị có hiệu quả (Appah và Appiah, 2010)
2.2 Công bố thông tin và độ trễ của CBTT BCTC kiểm toán:
2.2.1 Công bố thông tin:
Trên thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng, công bố thông tin có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhà đầu tư Theo đó, CBTT được biết là phương tiện truyền thông quan trọng giúp các nhà quản lý thông tin về tình hình hoạt động của công ty và hoạt động quản trị công ty cho các nhà đầu tư bên ngoài Theo Standard & Poor’s (2002), CBTT là thành phần cơ bản trong quản trị công ty giúp cho các bên liên quan và các nhà đầu tư quan tâm biết được cách thức công ty đang hoạt động CBTT đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thông tin bất cân xứng giữa cổ đông nội bộ (nhà quản lý và người liên quan) và các cổ đông và nhà đầu tư quan tâm bên ngoài CBTT phải đảm bảo tính minh bạch, kịp thời và đầy đủ
Trang 17các thông tin về tài chính, HĐQT và tỷ lệ sở hữu của HĐQT, hoạt động của nhà quản lý, cũng như xác định rõ ràng bất kỳ xung đột lợi ích giữa các nhà quản lý, cổ đông và các bên liên quan khác Trong các thông tin công bố, thông tin về tài chính rất quan trọng và có giá trị đối với các nhà đầu tư vì các thông tin tài chính có thể tác động hoặc làm thay đổi quyết định của nhà đầu tư Để đảm bảo các thông tin tài chính là đáng tin cậy, các báo cáo tài chính phải được kiểm toán bởi công ty kiểm toán độc lập là một yêu cầu được đặt ra để giải quyết xung đột lợi ích giữa nhà quản
lý và nhà đầu tư (Healy và Palepu, 2001; Wu và cộng sự, 2008)
2.2.2 Độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm:
Công bố thông tin báo cáo tài chính kịp thời là cần thiết cho thị trường tài chính lành mạnh, giúp phân bổ hiệu quả và kịp thời các nguồn lực bằng cách giảm phần lớn các thông tin bất đối xứng, cải thiện giá cả của chứng khoán và bằng cách giảm thiểu giao dịch nội gián, giảm rò rỉ thông tin và tin đồn trên thị trường (Kamran, 2003) Các BCTC kiểm toán được công bố kịp thời là yếu tố quyết định quan trọng và có ý nghĩa tác động đến tính hữu ích của thông tin tài chính cung cấp cho người dùng bên ngoài (Aljifri và Khasharmeh, 2010) Công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán trễ, không điều độ sẽ gây nguy hiểm cho chất lượng của BCTC bằng cách không cung cấp thông tin kịp thời cho các nhà đầu tư
Hầu hết các cơ quan quản lý thị trường vốn trên thế giới đều giới hạn thời gian công bố thông tin báo cáo tài chính năm để đảm bảo rằng việc công bố đúng thời hạn cho các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính Theo nghiên cứu của Wu và cộng sự (2008) và Hout (2012), Ủy ban chứng khoán tại Mỹ yêu cầu các công ty công bố báo cáo tài chính hàng năm trong vòng 90 ngày, sau đó họ tiếp tục giảm thời hạn nộp hồ sơ (Mẫu 10 – K) từ 90 ngày xuống còn 60 ngày để nâng cao hiệu quả Còn tại Điều 36 của Luật Chứng khoán Đài Loan yêu cầu CTNY phải công bố báo cáo hàng năm trong vòng 4 tháng sau khi kết thúc năm Cuối năm 2004, Liên minh Châu Âu công bố bộ nguyên tắc minh bạch trong Chỉ thị số 2004/109/EG, theo đó một trong những hướng dẫn chỉ ra rằng các thành viên cá nhân của Liên minh Châu
Âu chịu trách nhiệm thực hiện công bố báo cáo tài chính năm đúng thời hạn, cụ thể
là 4 tháng sau khi kết thúc năm tài chính (Aubert, 2009; Hout, 2012)
Trang 18Tại Việt Nam, theo Thông tư 09/2010/TT-BTC ngày 15/01/2010, thời gian công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm là 100 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính, đến Thông tư 52/2012/TT-BTC ngày 05/04/2012, thời gian công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm rút ngắn còn 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính Như vậy, các báo cáo tài chính kiểm toán từ năm 2010 đến 2011 được xem là công bố trễ nếu công bố sau 100 ngày kể từ khi kết thúc năm tài chính và các BCTC kiểm toán từ năm 2012 đến 2014 được xem là công bố trễ nếu công bố sau 90 ngày
kể từ khi kết thúc năm tài chính
Phương pháp đo lường cơ bản nhất của tính kịp thời là độ trễ báo cáo, lần đầu tiên được xem xét bởi Dyer và McHugh (1975) Độ trễ báo cáo chỉ đơn giản là số ngày
kể từ khi kết thúc năm tài chính đến thời điểm báo cáo được công bố Cách tính độ trễ báo cáo này cũng được đề cập trong rất nhiều nghiên cứu, chẳng hạn như nghiên cứu Chambers và Penman (1984); Sengupta (2004); Aubert (2009) Hout (2012) đã thực hiện nghiên cứu độ trễ báo cáo tại 03 nước Bỉ, Đức, Hà Lan trong năm 2010 với mẫu nghiên cứu là 402 công ty đã tính toán độ trễ báo cáo bằng số ngày công bố BCTC kiểm toán chia cho số ngày tối đa được phép công bố theo định Mouna và Anis (2013) thực hiện nghiên cứu tác động của cơ cấu sở hữu đến độ trễ CBTT BCTC kiểm toán với mẫu nghiên cứu là các công ty niêm yết, không xem xét đến các công ty tài chính liên quan ở SGDCK Tunisia đã chia độ trễ theo 2 khoảng thời gian: Khoảng thời gian tạm thời được định nghĩa là số ngày kể từ ngày tổ chức kiểm toán độc lập ký báo cáo kiểm toán và ngày công ty công bố BCTC kiểm toán ra thị trường Toàn bộ thời gian được định nghĩa là số ngày kể từ khi kết thúc năm tài
chính đến thời điểm công ty công bố BCTC kiểm toán năm
2.3 Lý thuyết nền tảng về quản trị công ty:
Lý thuyết nền tảng về quản trị công ty cung cấp những hướng tiếp cận mang tính khái niệm dùng để giải thích các đặc điểm về quản trị công ty cũng như làm nền tảng cho việc lý giải các hành vi của các nhà đầu tư (cổ đông) trong việc giám sát chất lượng công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán Trong phần này, nghiên cứu đề cập đến ba lý thuyết về quản trị công ty bao gồm: lý thuyết đại diện, lý thuyết chi phí sở hữu và lý thuyết thông tin bất cân xứng
Trang 192.3.1 Lý thuyết đại diện (agency theory):
Lý thuyết đại diện có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế xuất hiện vào năm 1972 bởi Alchian và Demsetz, sau đó được Jensen và Meckling phát triển thêm vào 1976 Theo lý thuyết đại diện, tồn tại mối quan hệ giữa các cổ đông sở hữu vốn và nhà quản lý điều hành công ty (người được thuê để quản lý vốn) Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý đã dẫn đến sự xung đột lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý điều hành công ty, đồng thời tạo ra tình trạng thông tin bất cân xứng giữa cổ đông và nhà quản lý Do đó để bảo vệ vốn đầu tư của mình các cổ đông phải chịu một chi phí đại diện (agency cost) nhằm giám sát thông tin và giảm thiểu khả năng gian lận của nhà quản lý
Các cơ sở quan trọng nhất trong lý thuyết đại diện chính là làm thế nào để các nhà quản lý làm việc vì lợi ích cao nhất và tối đa hóa giá trị cổ đông trong khi họ có lợi thế về thông tin và có những lợi ích khác so với lợi ích của cổ đông Và mặc dù các
cổ đông đều có quyền xem xét, tra cứu các thông tin về hoạt động của công ty, tuy nhiên đối với các CTNY có số lượng cổ đông rất lớn, việc tiếp cận trực tiếp các thông tin về công ty là điều không thể thực hiện vì các chi phí đại diện và một số nhân số khác Vì vậy, Healy và Palepu (2001) cho rằng, ngoài tăng cường quản trị công ty, BCTC phải được xem xét bởi một bên thứ ba là công ty kiểm toán (CTKT) độc lập để giải quyết xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và nhà đầu tư
Lý thuyết đại diện thiết lập một cấu trúc hội đồng quản trị nhằm đảm bảo cho quá trình thực hiện công bố thông tin báo cáo tài chính kịp thời, qua đó giảm thiểu thông tin bất cân xứng giữa cổ đông nội bộ (nhà quản lý và người liên quan), các cổ đông và nhà đầu tư quan tâm bên ngoài
2.3.2 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary costs theory):
Lý thuyết chi phí sở hữu được xem là một trong những hạn chế về công bố thông tin Theo Verrecchia (1983), các thông tin tốt được các công ty chủ động công bố sớm, tuy nhiên các thông tin xấu gây bất lợi cho công ty thì bị công bố chậm hoặc không công bố Chi phí sở hữu (proprietary costs) là chi phí tổn hại công ty gặp phải nếu công bố thông tin xấu
Trang 20Các thông tin rủi ro trên BCTC có thể truyền tải thông tin chiến lược mà đối thủ cạnh tranh sử dụng hoặc ảnh hưởng đến vị thế cạnh tranh của công ty Nếu công ty công bố luôn cả nội dung các thông tin rủi ro cũng như các công cụ để kiểm soát những rủi ro này, công ty có thể phải gánh chịu chi phí sở hữu Vì vậy, các nhà quản lý công ty thường cân nhắc chiến lược công bố thông tin sao cho vừa tối ưu được lợi ích vừa tiết kiệm được chi phí vì chấp nhận tiết lộ thông tin Lý thuyết chi phí sở hữu là một phương thức hữu hiệu để nhận biết về quản trị công ty trong việc công bố thông tin báo cáo tài chính kịp thời
2.3.3 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric information):
Lý thuyết thông tin bất cân xứng lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 bởi một nhóm các nhà khoa học gồm George Akerlof, Michael Spence, Joseph Stiglitz nghiên cứu và đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đại bằng sự kiện các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế 2001 Thông tin bất cân xứng xảy ra khi trong giao dịch, một bên có thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn so với các bên còn lại Người bán lúc nào cũng có thông tin tốt hơn người mua nên sự nghi ngờ về chất lượng sản phẩm là không thể tránh Hậu quả là người bán cũng không còn động lực để sản xuất hàng có giá trị và
có xu hướng cung cấp những sản phẩm có chất lượng thấp hơn chất lượng trung bình trên thị trường Lúc này chỉ còn lại những sản phẩm chất lượng xấu, hàng tốt
bị loại bỏ, dẫn đến lựa chọn bất lợi (adverse selection) cho cả hai bên Như vậy, hiện tượng lựa chọn bất lợi đã cản trở việc giao dịch trên cơ sở hai bên cùng có lợi Thông tin bất cân xứng cũng gây ra rủi ro đạo đức hay còn gọi là tâm lý ỷ lại, nghĩa
là sau khi hợp đồng đã được giao kết nhưng một bên có hành động che đậy thông tin mà bên kia khó lòng kiểm soát, hoặc muốn kiểm soát thì cũng phải tốn kém chi phí Kết quả là họ sẽ rút lui vì không ai muốn trong hợp đồng mà mình đã ký kết luôn trong trạng thái gặp bất lợi về thông tin
Lý thuyết thông tin bất cân xứng cho thấy hậu quả của việc công bố thông tin không minh bạch khiến cho các bên tham gia gặp bất lợi Vì vậy, các công ty niêm yết cần xây dựng cơ chế quản trị công ty để từ đó nâng cao được hiệu quả cũng như đảm bảo chất lượng thông tin báo cáo tài chính được công bố
Trang 212.4 Nghiên cứu trước về các đặc điểm của quản trị công ty tác động đến độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm:
Carslaw và Kaplan (1991) thực hiện nghiên cứu ở New Zealand, kiểm tra tác động của 9 biến lên độ trễ BCTC kiểm toán năm sử dụng dữ liệu từ 245 và 246 CTNY trong năm 1987 và 1988 tương ứng Kết quả cho thấy tổng tài sản và lợi nhuận ròng là có ý nghĩa thống kê trong cả hai năm, trong khi ngành nghề kinh doanh, các khoản mục bất thường, sở hữu công ty và đòn bẩy là có ý nghĩa cho một năm Jaggi
và Tsui (1999) thực hiện nghiên cứu kiểm tra tác động của đặc điểm công ty cụ thể đến độ trễ kiểm toán ở Hồng Kông bằng cách kết hợp tình hình tài chính của công
ty, kiểm soát quyền sở hữu và công nghệ công ty kiểm toán Nguồn dữ liệu thu thập
từ 393 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Hồng Kông trong khoảng thời gian ba năm, kể từ năm 1991 đến năm 1993 Kết quả của họ cho thấy rằng quy mô công ty, tình hình tài chính của công ty, phương pháp tiếp cận kiểm toán (mức độ cấu trúc), mức độ đa dạng hóa, và ý kiến kiểm toán là những biến giải thích cho sự chậm trễ đáng kể báo cáo kiểm toán tại Hồng Kông Bushman và cộng sự (2003) dựa vào những kết quả phân tích các nhân tố đã chia thành 2 loại đặc điểm từ các biến đo lường môi trường thông tin công ty mà họ thu thập được khi thực hiện nghiên cứu Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng các đặc điểm thuộc về tài chính chủ yếu có liên quan đến kinh tế chính trị trong khi đặc điểm thuộc về quản trị lại có liên quan đến hệ thống luật pháp
Một nghiên cứu liên quan đến hiệu quả của ban kiểm soát trong việc tăng cường hệ thống báo cáo tài chính của Bédard và Gendron (2010) chỉ ra rằng mối liên hệ giữa kích thước ban kiểm soát, tính độc lập, năng lực và các cuộc họp với chất lượng của báo cáo tài chính tại các công ty Mỹ thì tốt hơn so với các quốc gia khác Dựa trên đánh giá, các tác giả cho thấy rằng các đặc tính của ban kiểm soát có ảnh hưởng lớn nhất (69% ), tiếp theo là độc lập (57%), năng lực (51%), số lượng các cuộc họp (30%) và kích thước (22%) Họ cũng kết luận rằng hiệu quả hoạt động của ban kiểm soát có thể khác nhau với các yếu tố môi trường công ty như mức độ tập trung quyền sở hữu, mức độ thực thi và tiếp xúc với các vụ kiện, và cho dù có áp dụng các phương pháp quản trị tốt nhất của Mỹ liên quan đến ban kiểm soát thì cũng có
Trang 22thể không đạt được những hiệu quả mong muốn, nó còn phụ thuộc vào thể chế của từng quốc gia hay truyền thống pháp lý
Nghiên cứu của Hout (2012) sử dụng 14 nhân tố từ nhóm các đặc điểm công ty để tìm một kết nối với việc ra quyết định công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán hàng năm Các nhân tố này bao gồm: quốc gia có công ty công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán, hiệu quả hoạt động, công ty có báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh lỗ, lợi nhuận trên vốn cổ phần, công ty báo cáo là công ty tài chính, công ty báo cáo là công ty công nghệ, tỷ lệ nợ trên tài sản, tháng kết thúc năm tài chính, số thành viên trong HĐQT, tỉ lệ phần trăm thành viên độc lập trong HĐQT, nhóm 4 công ty kiểm toán uy tín, ý kiến kiểm toán, công ty có năm liền kề trước thực hiện báo cáo chậm trễ, các công ty được ghi nhận ở Hoa Kỳ
Mouna và Anis (2013) thực hiện nghiên cứu mối quan hệ giữa tính kịp thời của các báo cáo tài chính và các nhân tố đại diện cho đặc điểm quản trị công ty tại các công
ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Tunisia trong năm 2009 Bên cạnh đó, tác giả còn xem xét mối quan hệ giữa quy mô công ty, đòn bẩy, khả năng sinh lời (tin tức tốt) và độ trễ của BCTC kiểm toán năm Kết quả của nghiên cứu cho thấy tập trung quyền sở hữu, chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ là 2 nhân tố thuộc các đặc điểm về quản trị công ty tác động lên tính kịp thời của công bố báo cáo kiểm toán Một nghiên cứu khác của Appah và Emeh được thực hiện trong năm 2013 dựa trên dữ liệu của các công ty niêm yết trong khoảng thời gian 2007 – 2011, sử dụng các biến số về quản trị công ty như: quy mô hội đồng quản trị, yếu tố kinh nghiệm, sự hiểu biết về công ty, các cuộc họp của HĐQT và chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ khi xem xét tác động đến tính kịp thời các báo cáo tài chính Các tác giả cho rằng việc áp dụng các yếu tố quản trị công ty phù hợp sẽ đi một chặng đường dài để nâng cao tính kịp thời các báo tài chính và báo cáo tài chính chất lượng Ở đó, để đạt được mục tiêu trung và dài hạn, chính phủ cần đảm bảo rằng các cơ quan quản lý giám sát các hoạt động của công ty để đảm bảo quá trình được hiện một cách thành công nhất có thể Các nghiên cứu cho thấy tùy theo mục tiêu cụ thể và hướng tiếp cận đã chia làm nhiều tiêu chí phân loại khác nhau Kết quả thực nghiệm đã chỉ ra rằng độ trễ của CBTT báo cáo kiểm toán năm chịu tác động bởi các đặc điểm về quản trị công ty
Trang 232.5 Xây dựng giả thuyết:
Tùy theo hướng tiếp cận mà các tác giả lựa chọn cho mình một tập hợp các nhân tố khi xem xét tác động của các đặc điểm về quản trị công ty ảnh hưởng đến độ trễ của CBTT BCTC kiểm toán năm Trong luận văn nghiên cứu này, tác giả xem xét tác động của các đặc điểm về quản trị công ty ảnh hưởng đến độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm dựa trên cơ sở nghiên cứu của Bushman và cộng sự (2003), Hout (2012), Lim (2012) và 2 nghiên cứu gần đây của Mouna và Anis (2013), Appah và Emeh (2013)
2.5.1 Quyền sở hữu tập trung:
Cấu trúc sở hữu có thể được phân thành 2 loại gồm cấu trúc sở hữu là tập trung và phân tán Trong cấu trúc sở hữu phân tán thì có nhiều cổ đông, mỗi cổ đông sở hữu một số cổ phần công ty, quyền kiểm soát hoạt động công ty do ban giám đốc nắm giữ Trong môi trường mà một số lượng lớn cổ phần được phân tán rộng rãi cho các
cổ đông, những xung đột về lợi ích giữa các cổ đông và nhà quản lý có thể sẽ dẫn đến những vấn đề đại diện trong công ty (Berle và Means, 1932; Jensen và Meckling, 1976) Khi cổ phần bị phân tán, do chi phí cao và tốn kém sẽ khiến cho việc giám sát và gây áp lực lên nhà quản lý của các cổ đông gặp nhiều khó khăn Một khi quyền sở hữu và quyền điều hành có sự tách biệt sẽ tạo ra thông tin không cân xứng, vì vậy mà người điều hành (đại diện) có ưu thế hơn chủ sở hữu về thông tin nên dễ dàng hành động tư lợi cho họ hơn là hành động vì người chủ sở hữu và các cổ đông (Demsetz , 1983)
Một trong những cách để khắc phục vấn đề đại diện này là tăng quyền sở hữu tập trung Cổ đông với sở hữu tập trung tại các công ty sẽ có quyền biểu quyết nhiều hơn và tăng động lực để kiểm soát công ty chặt chẽ Nhờ đó, giảm thiểu được tình trạng sai phạm hay gian dối trong quản trị và điều hành Hơn nữa, do nắm quyền sở hữu và quyền kiểm soát lớn, những người này có khuynh hướng giữ vốn đầu tư trong công ty trong thời gian dài Vì thế họ sẽ ủng hộ những quyết định giúp tăng cường hiệu quả hoạt động dài hạn hơn là những quyết định mang lại lợi ích ngắn hạn Tuy nhiên, hệ thống này cũng dẫn công ty đến những thất bại trong quản trị Theo Hope (2003); Fan và Wong (2002), khi những người điều hành là các cổ đông
Trang 24lớn hay có quyền biểu quyết lớn, họ có thể dùng quyền của mình để tác động đến quyết định của HĐQT sao cho có lợi cho mình nhưng lại không có lợi cho công ty Theo Gul (2006), Choy và cộng sự (2011), Lim (2012) các công ty có cổ phần tập trung liên quan đến CBTT không đầy đủ cũng như mất khá nhiều thời gian cho việc công bố Kết quả nghiên cứu của Mouna và Anis (2013) cho thấy tác động của quyền sở hữu tập trung đến khoảng thời gian tạm thời giữa ngày ký báo cáo của kiểm toán viên và ngày công bố BCTC kiểm toán năm Khi nghiên cứu vấn đề này tại Việt Nam, tác giả cho rằng các cổ đông kiểm soát sẽ cố gắng tăng mức độ sở hữu tập trung để từ đó có thể dùng quyền kiểm soát của mình tạo ra lợi ích cá nhân dựa trên việc kiểm soát thông tin Thời gian công bố thông tin ở các công ty này theo đó cũng sẽ lâu hơn, giả thuyết nghiên cứu H1 được đưa ra như sau:
H1: Tồn tại mối quan hệ đồng biến giữa quyền sở hữu tập trung và độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm
2.5.2 Sở hữu cổ phần của tổ chức:
Theo Hawley và William (1997), tổ chức đầu tư phải tuân thủ các quy tắc cũng như các quy định do trách nhiệm ủy thác từ các nhà đầu tư của họ Tổ chức đầu tư thường có quy mô lớn, họ có kinh nghiệm, có các nguồn lực cũng như chuyên môn
để phân tích các thông tin tài chính và khả năng gây áp lực lên các công ty để hoạt động vì lợi ích của các cổ đông thông qua các phương tiện truyền thông (Wu, 2004) Guercio và cộng sự (2008) nhận thấy khi các tổ chức đầu tư không hài lòng với hoạt động quản lý và quản trị công ty của công ty sẽ thực hiện thoái vốn với một số lượng đáng kể Chính sức mạnh thị trường đáng kể này, tầm ảnh hưởng cũng như khả năng nhận biết về công ty, khả năng phân tích và ước tính luồng tiền trong tương lai của công ty giúp cho các nhà đầu tư tổ chức nắm lợi thế trong việc giám sát các hoạt động của công ty so với các nhà đầu tư khác
Mitra và Cready (2005) dựa trên một mẫu nghiên cứu của 136 công ty thuộc nhóm chỉ số S&P 500 và 237 công ty không thuộc nhóm chỉ số này trong khoảng thời gian tám năm giai đoạn 1991 – 1998 Kết quả của nghiên cứu đã cung cấp các bằng chứng cho thấy rằng hoạt động giám sát của các tổ chức đầu tư giúp cho việc ngăn ngừa cũng như can thiệp và giảm thiểu các hành vi cơ hội đến từ nhà quản lý, do đó
Trang 25nâng cao chất lượng quản trị trong quá trình báo cáo tài chính Tác động tích cực của sở hữu tổ chức trong công ty lên tính kịp thời BCTC cũng đã được kiểm chứng trước đó trong một nghiên cứu của Elgazzar (1998) Bushee và Noe (2000) còn cho rằng chính việc CBTT chất lượng đã giúp cho công ty thu hút các nhà đầu tư, trong
đó có cả các nhà đầu tư chuyên nghiệp và chính sự hiện diện của các nhà đầu tư tổ chức này với kinh nghiệm của mình khuyến khích công ty tăng chất lượng thông tin công bố Cũng có nghiên cứu như của Mouna và Anis (2013) không thu được kết quả có ý nghĩa thống kê mặc dù thực tế tồn tại mối liên hệ này Các công ty ngày nay tại Việt Nam được sự quan tâm khá nhiều từ giới đầu tư, trong đó có cả các nhà đầu tư chuyên nghiệp Đặc biệt là đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, nơi có sự hiện diện của các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp buộc các nhà quản lý phải nâng cao chất lượng quản trị trong quá trình báo cáo tài chính Vì vậy, các thông tin tài chính được công bố ra bên ngoài thị trường cũng sẽ nhanh hơn, giả thuyết H2 theo tác giả đề xuất như sau:
công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm
2.5.3 Sở hữu cổ phần của nước ngoài:
Các nhà đầu tư nước ngoài do khoảng cách về địa lý có thể dẫn đến sự tách biệt với các nhà quản lý của công ty trong việc kiểm soát, vì vậy mà làm tăng sự bất đối xứng thông tin và sự phức tạp trong hoạt động quản lý giám sát Do đó, các nhà đầu
tư nước ngoài có thể yêu cầu tăng thêm chất lượng thông tin được công bố để đảm bảo rằng các hành động quản lý có thể được thống kê đầy đủ Việc tăng cường CBTT tài chính và cả các thông tin khác về công ty, dẫn đến tính kịp thời và giảm tình trạng bất cân xứng thông tin, độ trễ báo cáo cho các nhà đầu tư nước ngoài của công ty
Chủ sở hữu là các nhà đầu tư nước ngoài cũng có thể ảnh hưởng đến quản trị công
ty của công ty thông qua hệ thống đại diện, nơi họ có thể khởi xướng và bỏ phiếu về các đề xuất hoặc thông qua các cuộc đàm phán với các nhà quản lý (Davis và Thompson, 1994) trong việc thực hiện báo cáo Ngoài ra, các nhà đầu tư nước ngoài thường là các tổ chức đầu tư có con mắt tinh tường với kỹ năng vượt trội để tiếp cận
Trang 26và phân tích giá trị có liên quan đến thông tin được cung cấp bởi các công ty (Kim và Yi, 2009) Do đó, họ có thể sử dụng các lợi thế so sánh tác động gây áp lực đối với các công ty phải hoạt động vì lợi ích của cổ đông và tác động gây áp lực lên các công ty để CBTT tài chính một cách kịp thời hơn Điều này được ủng hộ rất nhiều bởi các nghiên cứu thực nghiệm của Kang và Stulz (1997), Jiang và Kim (2004), Lim (2012) Các tác giả đã cung cấp bằng chứng cho thấy nhiều công ty có cổ đông nước ngoài thường liên quan đến tính minh bạch cao và bất đối xứng thông tin thấp Tại Việt Nam, sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các công ty niêm yết còn thấp một phần do quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa là 49% của vốn có quyền biểu quyết Tuy nhiên, tác giả cho rằng các nhà đầu tư ngoại vẫn duy trì được ảnh hưởng của mình tại các công ty, đặc biệt là các công ty có cổ đông chiến lược là các tổ chức nước ngoài Để đảm bảo lợi ích, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ thể hiện vai trò của mình trong việc tăng cường chất lượng quản trị công ty nhằm đảm bảo tính kịp thời cũng như giảm tình trạng thông tin bất cân xứng Giả thuyết H3 theo tác giả đề xuất như sau:
H3: Sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại công ty niêm yết tác động giảm độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm
2.5.4 Quy mô hội đồng quản trị:
Theo Jensen (1993) khi thực hiện nghiên cứu dựa trên mẫu dữ liệu gồm các công ty
ở Mỹ giai đoạn 1984 – 1991 đã chỉ ra rằng một HĐQT quy mô lớn gây ra những vấn đề liên quan đến sự chân thực trong các cuộc thảo luận, những bất đồng quan điểm khi quy mô lớn hơn dẫn đến chậm trễ trong việc thống nhất ý kiến để ra quyết định Wu và cộng sự (2008) dựa vào kết quả thực nghiệm trên 2976 mẫu quan sát được thực hiện qua 9 năm từ 1998 đến 2004 cho thấy khi quy mô HĐQT tăng lên
do áp lực thêm thành viên gia đình hoặc người thân để bổ sung vào HĐQT có thể không dẫn đến tối ưu hoá giá trị công ty, chính vì vậy mà sức mạnh kiểm soát của những công ty gia đình này sẽ không bị pha loãng khi có sự thay đổi về quy mô Ngoài ra, Wu và cộng sự (2008) cho rằng chính tỷ lệ phần trăm của chủ sở hữu cuối cùng trong HĐQT là yếu tố gián tiếp ảnh hưởng tới quyết định CBTT ra công chúng, bởi vì lợi ích của chủ sở hữu cuối cùng không phải lúc nào cũng đồng nhất
Trang 27với các cổ đông khác Do đó không có động lực để họ công bố sớm các báo cáo hàng năm và nhiều khả năng giữ lại các báo cáo cho đến khi nào tới hạn theo luật định Kết quả kiểm định mà Wu và cộng sự (2008) thu được đã chỉ ra rằng khi tỷ lệ
% của chủ sở hữu cuối cùng là thấp hơn 20% thì quy mô hội đồng quản trị tăng lên
có tác động làm tăng độ trễ của báo cáo Nếu tỷ lệ % của chủ sở hữu cuối cùng là trên 50% thì tăng quy mô HĐQT sẽ làm giảm độ trễ báo cáo, tuy nhiên tương quan không đáng kể khi mức ý nghĩa chỉ là 10% Không tìm thấy tương quan có ý nghĩa giữa quy mô HĐQT và độ trễ báo cáo nếu phần trăm tỷ lệ sở hữu của cổ đông cuối cùng nằm trong khoảng (20%, 50%)
Tuy nhiên việc thu thập dữ liệu về tỷ lệ phần trăm sở hữu của cổ đông cuối cùng mất nhiều thời gian cũng như chi phí cao, do đó tác giả chỉ khảo sát quy mô HĐQT của công ty thể hiện qua số thành viên trong hội đồng khi thực hiện nghiên cứu và đặt ra giả thuyết quy mô HĐQT có mối liên hệ với độ trễ của báo cáo Về tác động của chủ sở hữu cuối cùng đến độ trễ báo cáo sẽ được thực hiện nghiên cứu này khi tác giả thu thập được số liệu Theo tác giả khi quy mô HĐQT tăng lên có khả năng
sẽ cung cấp chuyên môn nhiều hơn và đa dạng hơn góp phần nâng cao năng lực giám sát của HĐQT Hơn nữa, một quy mô HĐQT lớn hơn cũng có khả năng sẽ tăng thêm số thành viên độc lập có kiến thức cũng như kinh nghiệm, do đó mà vai trò giám sát cũng như trách nhiệm của HĐQT được nâng cao hơn là các công ty có quy mô nhỏ Giả thuyết nghiên cứu H4 theo tác giả đưa ra là:
H4: Tác động là tích cực lên tính kịp thời, giúp công ty rút ngắn độ trễ của công
bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm khi quy mô hội đồng quản trị lớn hơn
2.5.5 Hội đồng quản trị độc lập:
Fama và Jensen (1983) giải thích rằng các thành viên độc lập bên ngoài có thể tăng cường các giá trị công ty bằng việc đem kinh nghiệm phong phú mà họ có được cũng như chất lượng giám sát, được coi là người bảo vệ quyền lợi của các cổ đông thông qua theo dõi giám sát và kiểm soát O'Sullivan (2000), Sallehet và cộng sự (2006) cho thấy tỷ lệ của sự độc lập trong HĐQT đã có một ý nghĩa và tác động tích cực đến chất lượng kiểm toán Với tỷ lệ lớn hơn của các thành viên độc lập trong HĐQT, hiệu quả sẽ cao hơn trong quá trình theo dõi các hành vi của nhà quản lý, do
Trang 28đó làm giảm đi các rủi ro tiềm tàng và cuối cùng là giảm độ trễ BCTC (Cohen và cộng sự, 2002) Tác giả lập luận rằng khi cơ cấu quản trị của một công ty đã có hiệu quả thực hiện giám sát mạnh mẽ cũng như một quan điểm chiến lược mạnh mẽ, sẽ
là tiền đề cho một công việc kiểm toán hiệu quả hơn dẫn đến một mức độ thấp hơn trong việc kiểm tra chuyên sâu và bảo đảm hơn về tính toàn vẹn của các BCTC Điều này sau đó có thể ảnh hưởng đến mức độ đánh giá rủi ro tiềm tàng và kiểm soát, do đó ảnh hưởng đến chất lượng, thời gian và mức độ của sự chậm trễ BCTC Giả thuyết H5 được đưa ra như sau:
H5: Tăng tỷ lệ thành viên độc lập trong hội đồng quản trị sẽ giảm độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm
2.5.6 Tính kiêm nhiệm giữa chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc: Forker (1992) cho rằng khi xuất hiện sự kết hợp giữa hai vai trò chủ tịch hội đồng quản trị kiêm Giám đốc điều hành sẽ tiềm ẩn nguy cơ chất lượng giám sát bị đe dọa Theo Cui (2004), chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ là nguyên nhân chính làm suy giảm chất lượng CBTT, hạn chế sự minh bạch của công ty Nghiên cứu của Wang và cộng sự (2008) khi thực hiện trên dữ liệu mẫu gồm 2984 quan sát trong 3 năm từ
2004 đến 2006, kết quả thu được không tìm thấy tương quan có ý nghĩa giữa độ trễ báo cáo và tính kiêm nhiệm
Tác giả khi tiến hành nghiên cứu về sự kiêm nhiệm giữa 2 vai trò chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ cho rằng điều này sẽ gây ảnh hưởng đến tính khách quan, minh bạch nên các kiểm toán viên sẽ cẩn trọng và mất nhiều thời gian hơn khi thực hiện công việc của họ Sự kết hợp cả 2 vai trò tuy giúp cho việc đưa ra quyết định dễ dàng và nhanh chóng nhưng cũng tồn tại nguy cơ vì lợi ích của mình hoặc với mục đích che giấu thông tin, chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc điều hành sẽ trì hoãn công bố cho đến thời hạn cuối cùng phải công bố ra bên ngoài Do đó, với những công ty niêm yết có sự kiêm nhiệm ở cả 2 vai trò theo tác giả giả định sẽ làm tăng độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm Giả thuyết H6 được đề xuất:
H6: Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm tổng giám đốc tác động làm tăng độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm
Trang 292.5.7 Quy mô công ty:
Ayoib và Shamharir (2008) cho rằng các công ty nhỏ hơn thì mức độ phức tạp thông tin ít hơn và mức độ quan tâm của nhà đầu tư cũng ít hơn, độ trễ của thông tin cũng sẽ thấp hơn Kết quả thực nghiệm mà họ thu được khi thực hiện nghiên cứu dựa trên bộ dữ liệu 343 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Bursa đã phản ánh cho nhận định trên
Bên cạnh đó, các nghiên cứu của Carslaw và Kaplan (1991); Ng và Tai (1994); Jaggi và Tsui (1999) cũng như nghiên cứu gần đây được Merdekawati và Arsjah (2011) thực hiện dựa trên bộ dữ liệu thu thập ở thị trường chứng khoán Indonesia cho thấy quy mô công ty có ảnh hưởng ngược với độ trễ của báo cáo tài chính Một nghiên cứu khác của Ansah (2000) cho thấy các công ty lớn thu hút được nhiều sự chú ý của nhà đầu tư cũng như nhà phân tích và các bên liên quan khác nên đòi hỏi phải có báo cáo kịp thời và chính xác Các công ty này vì vậy càng có thêm động lực để tiến hành công bố thông tin kịp thời hơn
Ngoài ra, theo tác giả thì các công ty lớn với nền tảng tài chính tốt nên sẽ cố gắng duy trì đội ngũ làm việc giàu kinh nghiệm cũng như có năng lực, khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin sẽ tốt hơn Độ trễ của các báo cáo vì vậy cũng sẽ được rút ngắn hơn, các công ty lớn cũng sẽ có bộ phận kiểm soát nội bộ mạnh mẽ hơn nên cũng góp phần làm giảm bớt nguy cơ sai sót trong các báo cáo tài chính Giả thuyết H7 được đưa ra như sau:
báo cáo tài chính kiểm toán năm
2.5.8 Đòn bẩy tài chính:
Một đối tượng khác song hành cùng với cổ đông hiện hữu là những chủ nợ hay còn gọi là các nhà cung cấp tài chính Luôn có hai quan điểm trái ngược khi đề cập về mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và độ trễ của báo cáo Ở quan điểm đầu tiên, các chủ nợ sẽ có những điều khoản kèm theo khi cho vay để bảo vệ cho phần vốn của
họ do lo ngại rằng công ty sử dụng vốn không đúng như mục đích đã cam kết Khi
có vấn đề nghiêm trọng hoặc trong trường hợp công ty vì lý do nào đó bị phá sản,
Trang 30các chủ nợ vẫn là những người được ưu tiên lấy lại một phần tài sản (tài sản thế chấp) trước các cổ đông hiện hữu Vì vậy, mức độ quan tâm đối với các BCTC hàng năm của công ty phải là một vấn đề đối với chủ nợ
Quan điểm thứ hai cho rằng trong một số trường hợp, ban quản lý điều hành công ty
và chủ nợ không phải lúc nào cũng cùng chung một lợi ích mục tiêu giống nhau, đôi khi có thể là xung đột với nhau Thực tế thì giữa nhà quản lý với chủ nợ luôn luôn tồn tại tình trạng thông tin bất cân xứng, theo Jensen và Meckling (1976), đây là lý
do cũng như động lực cho các nhà quản lý tối ưu hóa lợi ích cho bản thân Chủ nợ
vì vậy lúc nào cũng cần thông tin được cung cấp nhanh nhất có thể để đánh giá việc tuân thủ các điều khoản trong cam kết vay nợ Thông tin chính xác và minh bạch giúp cho chủ nợ chắc chắn rằng nguồn vốn mà mình tài trợ được sử dụng đúng mục đích như giao ước trong hợp đồng vay nợ Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu của Carlaw
và Kaplan (1991); Jaggi và Tsui (1999); Ansah (2000); Wu và cộng sự (2008) lại khẳng định điều ngược lại, có nghĩa là chính do những khoản nợ của công ty có thể đã ảnh hưởng làm tăng độ trễ của các báo cáo Giải thích cho lời khẳng định này, các nghiên cứu cho rằng nhiều khả năng do mức độ nợ gia tăng – đòn bẩy tài chính cao khiến cho nguy cơ xảy ra khủng hoảng tài chính Do đó, dẫn đến mức độ quan tâm, sự thận trọng của kiểm toán viên khiến cho độ trễ của các báo cáo kéo dài hơn như là một hệ quả tất yếu Cùng quan điểm với lập luận này, tác giả kỳ vọng đòn bẩy tài chính cao có tác động cùng chiều tới độ trễ báo cáo Giả thuyết nghiên cứu H8 được đề xuất như sau:
H8: Đòn bẩy tài chính cao có tương quan dương với độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm của các công ty
2.5.9 Lợi nhuận trên vốn cổ phần:
Conover và cộng sự (2008) khi kiểm tra trên một mẫu nghiên cứu gồm báo cáo tài chính của 22 quốc gia từ năm 1986 đến năm 1996 Trong nghiên cứu của họ, lợi nhuận trên vốn cổ phần của công ty có liên quan nghịch biến với độ trễ báo cáo nghĩa là độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm sẽ rút ngắn hơn khi lợi nhuận trên vốn cổ phần cao hơn Aubert (2009) cho rằng với lợi nhuận trên vốn cổ phần tốt hơn tạo động lực cho công ty muốn công bố báo cáo hàng năm
Trang 31của họ sớm hơn, các công ty này có thể yêu cầu kiểm toán nhanh chóng thực hiện công việc kiểm toán để nhanh chóng công bố đến nhà đầu tư về tình trạng tốt của mình Theo Hout (2012), các kiểm toán viên có khả năng thực hiện nhiệm vụ kiểm toán của mình theo hướng thận trọng hơn nếu lợi nhuận của công ty là thấp dẫn đến rủi ro kinh doanh cao Và khi kiểm soát viên thực hiện công việc kiểm toán một cách thận trọng và kỹ lưỡng, thì sự chậm trễ báo cáo kiểm toán dự kiến sẽ dài hơn
so báo cáo kiểm toán của các công ty có lợi nhuận cao hơn
Theo Elder và cộng sự (2008), chỉ lợi nhuận thôi thì không đủ để thúc đẩy quá trình kiểm toán được nhanh hơn Mức độ cao về lợi nhuận có thể là vấn đề cần lưu ý khi tiến hành kiểm toán vì có thể nó đã bị phóng đại lên hoặc đánh giá quá cao giá trị của nó Vì vậy mà kiểm toán viên sẽ chú trọng hơn trong công việc kiểm toán đối với các công ty có lợi nhuận cao này Leventis và cộng sự (2005); Merdekawati và Arsjah (2011) là 2 nghiên cứu khi kiểm định đã không tìm thấy mối tương quan đáng kể giữa lợi nhuận và độ trễ
Tác giả cho rằng ban giám đốc ở các công ty niêm yết có thể là những cổ đông nắm
cổ phần trong công ty và khi có thông tin tốt về lợi nhuận, họ có xu hướng công bố
ra ngoài nhanh hơn, chính các tin tốt này có thể phần nào làm tăng giá trị cổ phiếu
mà họ nắm giữ lên đáng kể Vì vậy, lợi nhuận trên vốn cổ phần sẽ có mối quan hệ nghịch biến với độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm Giả thuyết H9 là:
H9: Lợi nhuận trên vốn vốn cổ phần có tác động ngược chiều với độ trễ của công
bố thông tin báo cáo tài chính của công ty
Tóm lại, từ các nghiên cứu trước đây về tác động của các đặc điểm về quản trị công
ty đến độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm, trong đề tài này, tác giả đã phát triển thành 9 giả thuyết nghiên cứu bao gồm các vấn đề liên quan đến cơ cấu sở hữu, thành phần hội đồng quản trị, quy mô công ty, đòn bẩy tài chính và lợi nhuận Có thể tóm lượt mô tả này qua hình 1 dưới đây:
Trang 32Hình 1: Các đặc điểm về quản trị công ty tác động đến độ trễ CBTT
BCTC kiểm toán năm tại các CTNY trên SGDCK
Độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán
Quyền sở hữu tập trung
Sở hữu của tổ chức
Sở hữu của nước ngoài
Quy mô hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị độc lập
Trang 33Kết luận chương 2
Chương này tác giả trình bày cơ sở lý luận về quản trị công ty, công bố thông tin và
độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm, tác giả cũng trình bày phương thức đo lường độ trễ công bố thông tin Sau khi có lý thuyết nền tảng về quản trị công ty kết hợp với việc tìm hiểu các nghiên cứu trước đây liên quan đến các đặc điểm về quản trị công ty tác động đến độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm Cuối cùng, tác giả đưa ra 9 giả thuyết nghiên cứu dựa trên
cơ sở phân tích cũng như đánh giá bằng chứng thực nghiệm từ các nghiên cứu trước đây về độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm
Chương tiếp theo, tác giả trình bày phương pháp và dữ liệu nghiên cứu mà tác giả
sử dụng để tìm hiểu tác động của các đặc điểm về quản trị công ty đến độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm tại các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TPHCM
Trang 34CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nội dung chương 3 trình bày mô hình nghiên cứu và giải thích các biến trong mô
hình cũng như thiết kế nghiên cứu, xác định cách định lượng các biến trong mô
hình Trên cơ sở mô hình nghiên cứu, trình bày phương pháp phân tích hồi quy dữ
liệu bảng cân bằng theo mô hình hồi quy bình phương tối thiểu kết hợp tất cả các
quan sát (Pooled OLS), mô hình hồi quy tác động cố định (FEM), mô hình hồi quy
tác động ngẫu nhiên (REM) và các kiểm định được thực hiện để lựa chọn mô hình
3.1 Mô hình nghiên cứu:
Dựa vào nghiên cứu thực nghiệm của Hout (2012), Lim (2012) và 2 nghiên cứu gần
đây của Mouna và Anis (2013), Appah và Emeh (2013), tác giả đưa ra những giả
thuyết về các đặc điểm quản trị công ty (cơ cấu sở hữu, thành phần hội đồng quản
trị), quy mô công ty, đòn bẩy tài chính và lợi nhuận trên vốn cổ phần Cách phân
loại này dựa trên 2 nghiên cứu của Mouna và Anis (2013) Cụ thể về biến và mô
hình nghiên cứu được đề xuất trong bài luận văn như sau:
Mô hình nghiên cứu 1:
RLA = a0 + a1*Concent + a2*Institute + a3*Foreign + a4*Bsize + a5*Bind
+ a6*Dual + a7*Size + a8*Lev + a9*Roe + ε
Mô hình nghiên cứu 2:
RLC = a0 + a1*Concent + a2*Institute + a3*Foreign + a4*Bsize + a5*Bind
+ a6*Dual + a7*Size + a8*Lev + a9*Roe + ε
So với mô hình nghiên cứu được Mouna và Anis (2013) sử dụng, trong mô hình
này, tác giả còn nghiên cứu thêm ảnh hưởng của sở hữu nước ngoài đến thời gian
công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm Trong bối cảnh thị trường
chứng khoán tại Việt Nam còn khá non trẻ và đang trên đường hội nhập với quốc tế,
việc nghiên cứu ảnh hưởng của nhà đầu tư nước ngoài lên chất lượng công bố thông
tin là cần thiết, giúp đánh giá được ảnh hưởng của yếu tố ngoại đến sự minh bạch
của thông tin Ngoài ra, mô hình nghiên cứu đề xuất còn khác với mô hình gốc khi
Trang 35phần hội đồng quản trị), quy mô công ty, đòn bẩy tài chính và lợi nhuận trên vốn cổ phần tác động đến độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm 3.1.1 Độ trễ báo cáo:
Độ trễ báo cáo – Reporting lag dùng để đo lường độ trễ của CBTT BCTC kiểm toán năm Theo nghiên cứu của Mouna và Anis (2013), độ trễ của CBTT BCTC năm có thể phân chia thành 2 khoảng thời gian: Khoảng thời gian tạm thời được đo lường bằng số ngày kể từ ngày tổ chức kiểm toán độc lập ký báo cáo kiểm toán đến ngày công ty công bố BCTC kiểm toán ra thị trường Toàn bộ thời gian được tính bằng số ngày kể từ khi kết thúc năm tài chính đến thời điểm công ty công bố BCTC kiểm toán năm Nếu độ trễ báo cáo cho thấy được toàn bộ quá trình mà công ty cần phải thực hiện để công bố thông tin BCTC kiểm toán năm ra bên ngoài, thì độ trễ tạm thời thể hiện phản ứng của công ty trong việc công bố kết quả báo cáo tài chính đã được kiểm toán ra thị trường Đây cũng là 2 cách đo lường độ trễ CBTT được sử dụng trong luận văn, cụ thể như sau:
Độ trễ tạm thời:
RLA𝑖 = Ngày công bố báo cáo kiểm toán𝑖 – Ngày ký báo cáo kiểm toán𝑖
Độ trễ báo cáo:
RLC𝑖 = Ngày công bố báo cáo kiểm toán𝑖 – Ngày kết thúc năm tài chính
Trong đó: RLA𝑖 là độ trễ tạm thời và RLC𝑖 là độ trễ báo cáo của công ty niêm yết i, Ngày ký báo cáo kiểm toán𝑖 là ngày tổ chức kiểm toán độc lập ký báo cáo kiểm toán công ty niêm yết i và ngày công bố báo cáo kiểm toán𝑖 là ngày công ty niêm yết i gửi công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm cho Sở giao dịch chứng khoán,
ngày kết thúc năm tài chính là ngày 31/12
3.1.2 Quyền sở hữu tập trung (Concent):
Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng tỷ lệ sở hữu cổ phần của tất cả các cổ đông sở hữu cổ phiếu chiếm tỷ trọng từ 5% trở lên trong công ty để xem xét tác động của quyền sở hữu tập trung đến độ trễ báo cáo tương tự như nghiên cứu của Mouna và Anis (2013) Đây cũng là cách đo lường được sử dụng trong nghiên cứu trước đó của Gul (2006), Choy và cộng sự (2011), Lim (2012)