1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng thông tin kế toán công bố của các công ty niêm yết tại việt nam nghiên cứu từ các điều chỉnh của kiểm toán,

107 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chất Lượng Thông Tin Kế Toán Công Bố Của Các Công Ty Niêm Yết Tại Việt Nam – Nghiên Cứu Từ Các Điều Chỉnh Của Kiểm Toán
Tác giả Lê Thị Minh Hồng
Người hướng dẫn Th.S Đào Nam Giang
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Kế toán – Kiểm toán
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát của đề tài là tập trung vào nghiên cứu vai trò của các điều chỉnh kiểm toán với chất lượng thông tin kế toán công bố của các công ty niêm yết trên

Trang 1

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

 -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN CÔNG BỐ CỦA

CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM – NGHIÊN CỨU

TỪ CÁC ĐIỀU CHỈNH CỦA KIỂM TOÁN

Hà Nội – Tháng 05/2017

Giảng viên hướngdẫn:

Sinh viên thực hiện

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp: “Chất lượng thông tin kế toán công

bố của các công ty niêm yết tại Việt Nam - Nghiên cứu từ các điều chỉnh của kiểm toán” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc

Các số liệu trình bày trong khóa luận là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn có tính kế thừa và có trích dẫn nguồn tài liệu tham khảo

Các giải pháp nêu trong khóa luận được rút từ những cơ sở lý luận và quá trình nghiên cứu thực tiễn

Hà nội, ngày 26 tháng 05 năm 2017

Sinh viên

Lê Thị Minh Hồng

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Mục tiêu nghiên cứu 3

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4.Phương pháp nghiên cứu 4

5.Kết cấu đề tài 5

CHƯƠNG I 6

TỔNG QUAN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN CÔNG BỐ VÀ CÁC ĐIỀU CHỈNH CỦA KIỂM TOÁN 6

1.1.Chất lượng thông tin kế toán và vai trò của kiểm toán 6

1.1.1.Thông tin kế toán 6

1.1.2.Chất lượng thông tin kế toán 10

1.1.3.Vai trò của kiểm toán đến chất lượng thông tin kế toán 19

1.2.Nghiên cứu các điều chỉnh kiểm toán và chất lượng thông tin kế toán – Kinh nghiệm quốc tế 25

1.2.1.Các nghiên cứu công bố trong nước 26

1.2.2.Các nghiên cứu công bố trên thế giới 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35

CHƯƠNG II:KHẢO SÁT CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM CÓ THÔNG TIN KẾ TOÁN CÔNG BỐ CHỊU TÁC ĐỘNG ĐIỀU CHỈNH CỦA KIỂM TOÁN 37

2.1 Phương pháp và mẫu nghiên cứu khảo sát các công ty niêm yết tại Việt Nam có thông tin kế toán công bố chịu tác động điều chỉnh của kiểm toán 37

2.1.1 Phương pháp nghiên cứu 37

2.1.2 Mẫu nghiên cứu 39

2.2 Tổng hợp kết quả khảo sátcác công ty niêm yết tại Việt Nam có thông tin kế toán công bố chịu tác động điều chỉnh của kiểm toán 44

2.2.1 Kết quả khảo sát chung về tác động của các điều chỉnh kiểm toán đến thông tin kế toán công bố ở các công ty niêm yết tại Việt Nam 44

Trang 4

2.2.2 Kết quả khảo sát các khoản mục bị điều chỉnh kiểm toán của các công ty

niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2016 55

2.2.3 Phân tích kết quả khảo sát theo từng nhóm ngành hoạt động kinh doanh trên thị trường chứng khoán Việt Nam qua các năm 2014 – 2016 66

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2………70

CHƯƠNG III: THẢO LUẬN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KHUYẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT 71

3.1 Kết luận về giả thuyết nghiên cứu và các thảo luận 71

3.1.1 Thảo luận về kết quả khảo sát 71

3.1.2 Kết luận về giả thuyết nghiên cứu 72

3.1.3 Một số hạn chế và định hướng nghiên cứu trong tương lai 73

3.2 Khuyến nghị đề xuất về việc nâng cao chất lượng thông tin kế toán công bố từ nghiên cứu các điều chỉnh của kiểm toán tại Việt Nam 73

3.2.1 Khuyến nghị đối với các công ty kiểm toán độc lập 73

3.2.2 Khuyến nghị đối với công ty niêm yết 75

3.2.3 Khuyến nghị đối với các nhà đầu tư 77

3.2.4 Đối với cơ quan quản lý 77

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 79

KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt

Diễngiải

BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

TMBCTC Thuyết minh báo cáo tài chính

FASB Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính

(Hoa kỳ)

Trang 6

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Những yếu tố cần thiết nhằm tạo nên thông tin BCTC chất lượng cao 18 Hình 2.1 Cơ cấu khảo sát số lượng công ty niêm yết trong các nhóm ngành khác nhau trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam giai đoạn năm 2014 – 2016 40 Hình 2.2 Cơ cấu quy mô tổng tài sản giữa các nhóm ngành khảo sát trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2014 – 2016 42 Hình 2.3 Kết quả khảo sát sự tác động ĐCKT tăng LNST giai đoạn 2014-2016 52 Hình 2.4 Kết quả khảo sát sự tác động ĐCKT giảm LNST giai đoạn 2014-2016 54 Hình 2.5 Số lượng công ty nhóm ngành tài chính có ĐCKT trong giai đoạn 2014 -

2016 67

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Tổng tài sản của các nhóm ngành khảo sát trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2014 – 2016 41 Bảng 2.2 Kết quả thống kê các công ty niêm yết theo ngành nghề họat động kinh doanh từ năm 2014 - 2016 48 Bảng 2.3 Kết quả thống kê các công ty niêm yết có điều chỉnh của kiểm toán tăng lợi nhuận sau thuế giai đoạn 2014 - 2016 49 Bảng 2.4 Kết quả thống kê các công ty niêm yết có điều chỉnh của kiểm toán giảm lợi nhuận sau thuế giai đoạn 2014 - 2016 53 Bảng 2.5 Thống kê số công ty niêm yết có điều chỉnh của kiểm toán chỉ tiêu doanh thu thuần giai đoạn 2014 - 2016 56 Bảng 2.6 Kết quả khảo sát mức độ ảnh hưởng của chênh lệch tăng, giảm DTT đến chênh lệch ĐCKT của LNST trước và sau kiểm toán qua các năm 2014 – 2016 57 Bảng 2.7 Thống kê số công ty niêm yết có điều chỉnh của kiểm toán chi phí giai đoạn 2014 - 2016 58 Bảng 2.8 Kết quả khảo sát mức độ ảnh hưởng của chênh lệch tăng, giảm CP đến chênh lệch ĐCKT của LNST trước và sau kiểm toán qua các năm 2014 – 2016 60 Bảng 2.9 Thống kê số công ty niêm yết có điều chỉnh của kiểm toán khoản phải thu giai đoạn 2014 - 2016 61 Bảng 2.10 Kết quả khảo sát mức độ ảnh hưởng của điều chỉnh KPTđến tổng tài sản của DN qua các năm 2014 – 2016 63 Bảng 2.11 Thống kê số công ty niêm yết có điều chỉnh của kiểm toán khoản phải thu giai đoạn 2014 - 2016 64 Bảng 2.12 Thống kê số công ty niêm yết có điều chỉnh của kiểm toán nợ phải trả giai đoạn 2014 - 2016 65 Bảng 2.13 Kết quả khảo sát mức độ ảnh hưởng của điều chỉnh nợ phải trả đến tổng tài sản của DN qua các năm 2014 – 2016 65

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thông tin kế toán công bố là một trong những kênh thông tin mà các DN thường được yêu cầu cung cấp trong nền kinh tế thị trường Chất lượng thông tin trình bày trên BCTC là yếu tố quyết định cho thị trường tài chính hiệu quả Trong nền kinh tế thị trường, DN là bên cung cấp thông tin, các khách thể như nhà đầu tư, chủ nợ, nhà cung cấp… là đối tượng chủ yếu tiếp nhận và sử dụng các thông tin này trong quá trình ra quyết định của mình Tuy nhiên, thông tin được trình bày và công bố như thế nào để đáp ứng được nhu cầu người sử dụng vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa mong đợi và thực tế Chất lượng thông tin BCTC phụ thuộc vào chất lượng của quá trình tạo lập, trình bày và công bố của các DN, quá trình này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong lẫn bên ngoài

DN Chính vì vậy, hiện nay trên thế giới và Việt Nam, vấn đề này được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

Hiện nay trên thế giới, khái niệm cũng như việc đo lường chất lượng thông tin BCTC được các nhà nghiên cứu nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau Hầu hết các nghiên cứu đều đánh giá chất lượng kế toán công bố thông qua hai nguồn thông tin tài chính và thông tin phi tài chính trên BCTC Một cách gián tiếp qua các hành vinhư: quản trị lợi nhuận (Earning Managenent), công bố lại BCTC (Financial Restatement), HVGL BCTC (Financial Statement Fraud) (Schipper và Vincent, 2003; Cohen, 2004), chất lượng thông tin BCTC được xem xét chủ yếu ở góc độ các thông tin tài chính Thông tin BCTC hiện nay không chỉ dừng ở những thông tin trên BCTC theo ý nghĩa truyền thống, bên cạnh các thông tin tài chính, nhằm hướng đến sự hữu ích cho quá trình ra quyết định của người sử dụng thông tin BCTC, đặc biệt là các đối tượng bên ngoài

DN (phần lớn trong số họ là các nhà đầu tư và các nhà phân tích), thông tin BCTC còn cung cấp những thông tin phi tài chính như: báo cáo và phân tích của nhà quản lý, báo cáo kiểm toán và các báo cáo khác (Ferdy van Beest, 2009) Mặt khác, ngoài những công bố bắt buộc, DN cần công bố những thông tin tự nguyện (Popa Adina,2008) Chất lượng thông tin BCTC chịu ảnh hưởng bởi

Trang 9

nhiều yếu tố, trong đó các ý kiến điều chỉnh thông tin kế toán công bố của hoạt động kiểm toán được quan tâm nhiều trong hơn thập niên gần đây Các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào những yếu tố bên trong bao gồm: HĐQT như: quy mô, thành viên độc lập, quyền hạn, chuyên gia, tần suất cuộc họp…; UBKT như: thành viên độc lập, kinh nghiệm và chuyên môn; sự hiện diện của KTNB trong cơ cấu DN…(Cohen, 2004; Brennan, 2007) Rất nhiều nghiên cứu cho thấy rằng xuất hiện ít điều chỉnh thông tin kế toán trong quá trình kiểm toán BCTC sẽ dẫn đến thông tin BCTC có chất lượng cao và ngược lại chất lượng thông tin BCTC thấp phần lớn sẽ làm xuất hiện nhiều những đề xuất điều chỉnh BCTC trọng yếu của các kiểm toán viên Thông tin BCTC là do các nhà quản

lý, bộ phận tài chính kế toán DN lập và công bố Với nhiều lý do khác nhau, họ

có xu hướng công bố thông tin BCTC không phản ánh đầy đủ và trung thực tình hình hoạt động của DN Từ đó ảnh hưởng đến tính hữu ích của thông tin BCTC đối với người sử dụng khi ra quyết định và làm ảnh hưởng đến tính hiệu quả của thị trường vốn

Tại Việt Nam, thị trường tài chính ngày càng phát triển Sự phát triển này không chỉ dừng ở số lượng các DN mà còn gia tăng số lượng người sử dụng thông tin BCTC trong cũng như ngoài nước Mặc dù Nhà nước đã cố gắng đưa ra nhiều văn bản pháp lý có liên quan nhằm tăng cường hiệu quả thị trường tài chính, đặc biệt liên quan đến chất lượng thông tin BCTC cũng như các hoạt động diễn ra hoặc liên quan đến quá trình kiểm toán BCTC, nhưng các quy định này chỉ mang tính chất định hướng Chính vì điều này, đã dẫn đến việc thực thi ở mỗi

DN là khác nhau, từ đó chất lượng thông tin kế toán công bố mà DN cung cấp là khác nhau

Vậy, tại thị trường tài chính Việt Nam, chất lượng thông tin kế toán công

bố hướng đến sự phù hợp, trung thực và đáng tin cậy đối với người sử dụng đang

ở mức độ nào? Những yếu tố nào, khoản mục nào thường xuyên bị điều chỉnh kiểm toán làm tác động đến chất lượng thông tin kế toán công bố và mức độ ảnh hưởng của chúng được đánh giá như thế nào?

Tính tới thời điểm hiện tại, ở Việt Nam còn chưa nhiều các công trình

Trang 10

nghiên cứu đánh giá chất lượng thông tin kế toán công bố từ các điều chỉnh của kiểm toán một cách toàn diện Xuất phát từ khoảng trống trong nghiên cứu lý

thuyết và nhu cầu thực tế, nên em đã chọn đề tài: “Chất lượng thông tin kế toán công bố của các công ty niêm yết tại Việt Nam – Nghiên cứu từ các điều chỉnh của kiểm toán” để nghiên cứu và trình bày trong khóa luận tốt nghiệp

này

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của đề tài là tập trung vào nghiên cứu vai trò của các điều chỉnh kiểm toán với chất lượng thông tin kế toán công bố của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam, qua đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin BCTC để đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin ngày càng cao của các đối tượng sử dụng thông tin BCTC

Cụ thể, đề tài thực hiện nhằm đạt đến ba mụctiêu:

- Thứ nhất: xác định các thuộc tính đánh giá chất lượng thông tin kế toán công bố của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam

- Thứ hai: xác định tầm quan trọng của các điều chỉnh kiểm toán đến chất lượng thông tin BCTC

- Thứ ba: đánh giá thực trạng chất lượng thông tin kế toán công bố và sự tác động của các điều chỉnh kiểm toán đến chất lượng thông tin BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam để từ đó đưa ra những kiến nghị nâng cao chất lượng thông tinBCTC

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong đề tài là sự tác động của các điều chỉnh kiểm

toán đến chất lượng thông tin BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam

 Phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng khảo sát là thông tin Báo cáo tài chính trước và sau kiểm

toán tại 95 công ty niêm yết ở các ngành nghề lĩnh vực kinh doanh khác nhau trên thị trường chứng khoán ở VN trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2016

Trang 11

- Thông tin BCTC bao gồm thông tin tài chính và phi tài chính được

DN công bố trên các báo cáo, bao gồm: báo cáo thường niên, báo cáo kiểm toán

và các báo cáo tài chính trước khi và sau khi kiểm toán

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong các giai đoạn của quá trình nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu thích hợp giúp cho kết quả nghiên cứu đảm bảo độ tin cậy và kết quả có ý nghĩa Phương pháp nghiên cứu là hệ thống các nguyên tắc và thủ tục nhằm thu thập và phân tích dữ liệu Những nguyên tắc và thủ tục này là một phần quan trọng trong nghiên cứu nhằm lý giải chi tiết và lôgic kết quả nghiên cứu, lý do cho các suy luận của nghiên cứu, hoặc cách thức thực hiện thu thập số liệu có trùng hợp với kết quả nghiên cứu trước đây hay phê phán những nghiên cứu trước đây để thực hiện theo phương pháp nghiên cứu khác,…” (Grahauri và các cộng sự, 1995) Trong bài viết có sử dụng hai phương pháp nghiên cứu định tính (phương pháp quy nạp, phương pháp suy luận) và phương pháp định lượng (phương pháp thống kê) là phương pháp chủ yếu để thu thập và phân tích dữ liệu

Đề tài mô tả chi tiết quy trình tiến hành thu thập dữ liệu, nguồn dữ liệu, cách thức chuẩn bị và xử lý số liệu theo hai phương pháp trên để đảm bảo kết quả nghiên cứu khách quan và có độ tin cậy cao Cụ thể như sau:

Phương pháp quy nạp: thông qua số liệu khảo sát, tác giả sử dụng phương

pháp này nhằm rút ra những hạn chế của chất lượng thông tin BCTC từ các điều chỉnh kiểm toán tại các công ty niêm yết, từ đó đưa ra những kiến nghị phù hợp

Phương pháp suy luận: đề tài dựa vào các nghiên cứu trước đây có liên quan

đến các khía cạnh chất lượng thông tin BCTC để xây dựng lý thuyết nghiên cứu Đồng thời, đề tài sử dụng phương pháp này để xây dựng thang đo chất lượng thông tin BCTC các công ty niêm yết tại Việt Nam từ các điều chỉnh kiểm toán

Phương pháp thống kê: đề tài sử dụng phương pháp thống kê để đưa ra các

con số thể hiện tổng quát thực trạng chất lượng thông tin BCTC các công ty niêm yết tại Việt Nam Số liệu được thu thập từ những website chuyên về đầu tư chứng khoán như vietstock.vn, cafef.vn Từ các số liệu thu thập tác giả tiến

Trang 12

hành xử lý thông tin bằng phương pháp sử dụng kết hợp các phần mềm về tính toán xử lý như excel, …

5 Kết cấu đề tài

Đề tài “Chất lượng thông tin kế toán công bố của các công ty niêm yết tại Việt Nam – Nghiên cứu từ các điều chỉnh của kiểm toán” có kết

cấu bao gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan chất lượng thông tin kế toán công bố và các điều chỉnh của kiểm toán

Chương 2: Khảo sát các công ty niêm yết tại Việt Nam có thông tin kế toán công bố chịu tác động điều chỉnh của kiểm toán

Chương 3: Thảo luận về kết quả nghiên cứu và khuyến nghị đề xuất

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 13

CHƯƠNG I TỔNG QUAN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN CÔNG BỐ VÀ CÁC

ĐIỀU CHỈNH CỦA KIỂM TOÁN 1.1 Chất lượng thông tin kế toán và vai trò của kiểm toán

1.1.1 Thông tin kế toán

1.1.1.1 Định nghĩa

Thông tin là khái niệm đã có từ lâu đời và được hiểu rất rộng Tùy thuộc vào các lĩnh vực quan tâm khác nhau mà nó được định nghĩa khác nhau:

Theo nghĩa thông thường: Thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng,

phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một người có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiên thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu, hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh

Trên quan điểm triết học: Thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội

(thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh , hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người (Đoàn Phan Tân, 2001)

Trên quan điểm kinh tế học: Thông tin là những sự kiện, con số được thể hiện

trong một hình thức hữu ích với người sử dụng để phục vụ cho việc ra quyết định Thông tin có ích với việc ra quyết định vì nó giảm sự không chắc chắn và tăng tri thức về vấn đề được đề cập (Gelinas và Dull, 2008)

Thông tin là những tín hiệu được thu nhận, được hiểu và đánh giá là có ích cho việc ra quyết định Khái niệm thông tin kế toán, cụ thể trong phạm vi đề tài nghiên cứu là thông tin kế toán trên BCTC được nhìn nhận theo hai quan điểm sau:

 Quan điểm thứ nhất cho rằng, BCTC (Financial statements) là sản phẩm

của kế toán tài chính, là đầu ra của hệ thống thông tin kế toán, phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả tài chính của DN BCTC cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, kết quả tài chính và các luồng tiền của DN, đáp ứng yêu cầu của số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế, nó cũng cho thấy kết quả quản lý của ban giám đốc đối với các nguồn lực được giao phó cho họ (IASB, 2012) Để đáp ứng mục tiêu này, BCTC trình bày

Trang 14

thông tin về: tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập và chi phí, bao gồm cả lãi và lỗ, khoản góp vốn của chủ sở hữu và phân phối cho chủ sở hữu, các dòng tiền Thông thường, một hệ thống BCTC bao gồm: báo cáo cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ; báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh BCTC

 Quan điểm thứ hai cho rằng, mặc dù thông tin BCTC truyền thống trình

bày trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán, nhưng chỉ mang tính chất quá khứ nên không đáp ứng nhu cầu thông tin cần thiết hiện nay của người sử dụng Ngày nay, những thay đổi trong môi trường kinh doanh quốc tế theo xu hướng hội nhập, yêu cầu cần xem xét lại về bản chất cũng như nội dung của các BCTC của doanh nghiệp Thông tin BCTC không chỉ gắn liền thông tin tài chính, mà nó còn bao gồm những thông tin phi tài chính (Ali shah.S.Z, 2009) Theo Ferdy Van Beest (2013) các nhà nghiên cứu trước đây khi đo lường chất lượng thông tin thường sử dụng định lượng và tập trung vào những khía cạnh cụ thể của thông tin BCTC như: chất lượng lợi nhuận, mô hình giá trị phù hợp…thông tin BCTC được hiểu theo nghĩa rộng hơn, khái niệm đa chiều hơn Các chiều khác nhau của thông tin BCTC được đánh giá hướng đến sự hữu ích của thông tin, do đó nó phải dựa trên cơ sở thông tin tài chính và phi tài chính cũng như các công bố bắt buộc và tự nguyện như trong BCTC thường niên của DN Thông tin BCTC đảm bảo chức năng thiết yếu cho thị trường vốn hiệu quả, vì vậy DN ngoài việc cung cấp BCTC truyền thống theo quy định luật pháp cần phải bổ sung những báo cáo mang tính chất tự nguyện về những phân tích đánh giá, các dự báo của nhà quản lý (Healy và Palepu, 2001)

1.1.1.2 Mục đích thông tin kế toán

Mục đích chung của thông tin BCTC là cung cấp thông tin hữu ích của đơn vị được lập báo cáo tài chính cho những nhà đầu tư, những nhà cho vay hiện tại và trong tương lai, và những người chủ nợ khác trong việc ra quyết định hạn mức cho vay với tư cách là một trong những người cung cấp vốn Theo FASB (2010) và IASB (2010) đặc tính chất lượng là những thuộc tính giúp cho thông tin BCTC hữu ích Đặc tính chất lượng có thể là những đặc tính cơ bản hoặc cũng có thể

Trang 15

những đặc tính bổ sung tùy thuộc vào sự hữu ích của chúng đối với thông tin BCTC Bất kể đặc tính thuộc loại nào thì nó đều cung cấp sự hữu ích của thông tin báo cáo tài chính

1.1.1.3 Phân loại thông tin kế toán

Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới về những thông tin kế toán được trình bày trên BCTC ở nhiều góc độ khác nhau Trong phạm vi đề tài, tác giả dựa trên hai góc độ: với góc độ khả năng đo lường thông tin được chia thành: thông tin tài chính và phi tài chính; và xét dưới góc độ công bố thông tin kế toán trên BCTC thì thông tin BCTC được phân thành hai loại: thông tin bắt buộc và thông tin tự nguyện

 Thông tin tài chính và phi tài chính

Thông tin tài chính gắn liền với dòng tiền, kết quả và tình hình tài chính

(Bảng cân đối kế toán) và sự liên kết giữa chúng với nhau Thông tin tài chính liên quan trực tiếp với hệ thống định chế tài chính và nó có thể là thông tin quá khứ hoặc tương lai Thông tin tài chính được biểu hiện dưới dạng là đơn vị tiền tệ và có thể được đo lường chính xác

Thông tin phi tài chính là những thông tin mang tính chất dự kiến về chương

trình quản lý, những cơ hội, rủi ro và tập trung vào những nhân tố nhấn mạnh đến khả năng tạo ra giá trị trong dài hạn và trình bày thông tin giúp cho người sử dụng thông tin có cái nhìn rõ hơn về những thông tin đã trình bày bên cạnh những báo cáo về hoạt động điều hành của nhà quản lý Thông tin phi tài chính là những thông tin khác ngoài những thông tin tài chính và không liên quan trực tiếp đến các định chế tài chính và tính trung thực của nó ít được đảm bảo

 Thông tin bắt buộc và thông tin tự nguyện

Trong các DN niêm yết, lập và công bố là một trong những công cụ quan trọng mà DN dùng để thông tin đến cổ đông Công bố thông tin là yếu tố thiết yếu nhằm đảm bảo sự hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực xã hội và giảm tình trạng thông tin bất cân xứng giữa DN và các cổ đông Nhằm giảm tình trạng thông tin bất cân xứng, các DN thường cung cấp hai dạng thông tin khác nhau: thông tin bắt buộc và thông tin tự nguyện

Trang 16

Trong lý thuyết kế toán, công bố được định nghĩa là việc chuyển đưa thông tin báo cáo tài chính tới công chúng Công bố là giai đoạn cuối cùng của chu trình

kế toán Nội dung, số lượng và hình thức công bố thông tin tùy thuộc vào những luật pháp, quy định về kế toán của từng quốc gia, từng khu vực.Những thông tin được công bố trong mức giới hạn nhất định được gọi là thông tin bắt buộc.Bất kỳ những nội dung, số lượng thông tin do Ban lãnh đạo DN quyết định ngoài giới hạn này được gọi là thông tin tự nguyện

Thông tin bắt buộc của báo cáo được quy định tùy thuộc vào từng quốc gia

và vùng lãnh thổ thông qua các hội nghề nghiệp hoặc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đặc điểm này là phổ biến và được áp dụng trên hầu hết các quốc gia

mà không quan tâm đến quy mô của DN, định chế luật pháp, tài chính, hệ thống kế toán Thông tin bắt buộc được công bố theo yêu cầu luật pháp của nước sở tại như: luật kinh doanh, luật pháp về kế toán, Ủy ban chứng khoán…Thông tin dạng này được trình bày mang tính chất định kỳ và thường xuyên

Thông tin tự nguyện là kết quả của tình trạng thông tin bất cân xứng giữa hai

bên: bên điều hành (ban giám đốc) và bên chủ sở hữu Thông tin tự nguyện nhằm

bổ sung những thiếu hụt của thông tin bắt buộc nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng Đây là những thông tin tùy thuộc vào sự lựa chọn của DN Nó phụ thuộc vào những yếu tố như: văn hóa, xã hội, kinh tế, hành vi ứng xử của từng DN Không có định nghĩa chung hoặc cơ sở lý thuyết nào cho khái niệm thông tin tự nguyện Trong nghiên cứu năm 2003 của Naser, K và Nuseibeh, R, tác giả phân loại thông tin tự nguyện thành hai dạng: thông tin tự nguyện có liên quan đến công bố bắt buộc và thông tin tự nguyện không liên quan đến công bố bắt buộc

Các BCTC theo dạng truyền thống thường cung cấp những thông tin mang tính chất lịch sử Với tốc độ phát triển của những ngành nghề khác nhau, chế độ báo cáo tài chính truyền thống chưa đảm bảo phản ánh đầy đủ và thích hợp được mức độ phức tạp của từng DN riêng biệt

1.1.1.4 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán trên BCTC của công ty niêm yết trên TTCK

Ngày nay trong xu thế hội nhập, một trong những thách thức đó là các báo

Trang 17

cáo tài chính được yêu cầu phải cung cấp nhiều thông tin hữu ích hơn cho người

sử dụng thông tin, đặc biệt là đối tượng bên ngoài DN Trong các DN niêm yết, đa phần họ là các nhà đầu tư và các nhà phân tích

Theo Popa Adina và Peres Ion (2008) đối tượng sử dụng thông tin BCTC các DN niêm yết chủ yếu được chia làm hai nhóm:

 Nhóm 1: đối tượng có kiến thức chuyên môn: môi giới chứng khoán, các nhà phân tích tài chính và các quỹ đầu tư, nhóm này sử dụng thông tin để tư vấn cho nhóm 2

 Nhóm 2: người không có kiến thức chuyên môn, nhóm 2 là những người không có kiến thức chuyên ngành và họ cần sự giúp đỡ nhóm 1

Tất cả những người sử dụng này mong muốn nhiều thông tin hơn ngoài những giới hạn thông tin được công bố theo quy định Dưới áp lực này, các nhà điều hành cần tự nguyện cung cấp thông tin mà họ tin rằng là hữu ích đối với các

cổ đông

1.1.2 Chất lượng thông tin kế toán

1.1.2.1 Quan niệm về chất lượng thông tin

Chất lượng thông tin là một khái niệm rộng bao trùm nhiều đặc tính cụ thể tùy thuộc vào nhu cầu và bối cảnh cụ thể của người sử dụng.Đánh giá chất lượng thông tin tùy thuộc vào cảm nhận của người sử dụng Thông tin đảm bảo chất lượng là thông tin đáp ứng được bản chất bên trong của thông tin; phù hợp với bối cảnh thông tin theo mục tiêu sử dụng; hình thức thể hiện thông tin phù hợp và sử dụng được Thông tin kế toán về bản chất là thông tin nên khái niệm chất lượng thông tin kế toán cũng được xây dựng và phát triển trên nền tảng của chất lượng thông tin

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về chất lượng thông tin kế toán trên BCTC, nhưng chưa có định nghĩa chung về thuật ngữ “chất lượng” và hầu hết người sử dụng thông tin trên BCTC lại hiểu nó dưới khái niệm là chất lượng kế toán Robison và Munter (2004) cho rằng “BCTC chất lượng cao” khi nó trình bày hợp

lý hoạt động, tình hình tài chính của công ty khi nói về BCTC theo ý nghĩa rộng hơn Trong khi đó, McFie (2006) cho rằng nhiều người nhận thức khác nhau về

Trang 18

chất lượng, và ít người trong số họ có thể đo lường được mức độ này.Ví dụ BCTC được xem là có chất lượng cao đối với các nhà nghiên cứu, nhưng có thể những đối tượng sử dụng khác thì không.Vì vậy, thuật ngữ “chất lượng” là một thuộc tính mang tính chất chủ quan mà nó được cảm nhận tùy thuộc vào mỗi cá nhân khác nhau liên quan đến chủ đề cần quan tâm.Thêm nữa, McFie (2006) khẳng định một cách sâu hơn khi phân biệt hai khái niệm “chất lượng BCTC” (Quality of financial reporting) và “BCTC có chất lượng” (Quality financial reporting) là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Nếu như “BCTC có chất lượng” đề cập đến một mức độ chất lượng thông tin xác định, cụ thể ở đây là chất lượng thông tin trên BCTC đạt mức tốt, thì “chất lượng BCTC” là cụm danh từ, trong đó đề cập đến sự đánh giá từ mức độ không tốt đến tốt của thông tin trên BCTC Tác giả cũng cho thấy rằng chất lượng thông tin BCTC dù chỉ xét ở một yếu tố riêng lẻ cũng có những nhận thức khác nhau, tùy thuộc vào mức độ quan trọng và sự hữu ích của thông tin đối với người sử dụng

Các nghiên cứu trước đây xem xét chất lượng thông tin BCTC ở nhiều góc

độ khác nhau, trong đó có nhiều nghiên cứu về HVGL BCTC Ví dụ, dưới góc độ công bố lại BCTC và gian lận BCTC (financial restatements fraud) có Schipper & Vicent, 2003; Sandeep Nabar, Yongtae Kim, William G Heninger, 2007; Huang Zhizhong, Zhang Juan, 2011 Hay trong gian lận thông tin phi tài chính, tiêu biểu

có nghiên cứu của Persons, 2006 Một số nghiên cứu khác lại tập trung vào chất lượng thông tin được công bố, bao gồm cả công bố các thông tin bắt buộc và thông tin tự nguyện như Anna Watson, Philip Shrivrs, Claire Marston, 2002; Eugene C.M Cheng, Stephen M Courtenay, 2006; Bader Al-Shammari, Waleed Al-Sultan, 2010… Trong quá trình thực hiện đề tài dựa trên nghiên cứu của Jonat và Blanchet (2000) để so sánh, phân tích và lựa chọn tiêu chuẩn chất lượng thông tin

kế toán phù hợp nhất cho đề tài Theo đó, chất lượng thông tin BCTC được thực hiện đo lường trên cơ sở các đặc tính chất lượng của FASB và IASB, bao gồm hai đặc tính cơ bản: thích hợp và trình bày trung thực; ba đặc tính bổ sung: có thể hiểu,

so sánh được và nhất quán Với các tổ chức nghề nghiệp kế toán như Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế ÍASB; Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ

Trang 19

FASB hoặc theo chuẩn mực kế toán Việt nam, chất lượng thông tin kế toán được đánh giá qua chất lượng báo cáo tài chính với mục tiêu giải thích tình hình tài chính của doanh nghiệp cho nhiều đối tượng sử dụng khác nhau với những mục đích khác nhau Mục đích của nó là tăng tính so sánh được của thông tin tài chính giữa các doanh nghiệp tại các quốc gia khác nhau Trên cơ sở này các phương pháp ghi chép, hạch toán kế toán được xác định phù hợp Theo McFie.J.B (2006) quan điểm chất lượng thông tin BCTC của Jonat và Blanchet (2000) đo lường chất lượng thông tin BCTC dựa trên các đặc tính chất lượng của FASB và IASB là tốt khi từng đặc tính này được đo lường ở mức độ tốt

1.1.2.2 Quan điểm của FASB và IASB về chất lượng thông tin kế toán

a Quan điểm Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ - FASB

Để có một nhìn tổng quát nhằm lựa chọn được tiêu chuẩn chất lượng thông tin BCTC cho đề tài, chúng ta cùng xem xét các nhóm quan điểm này Đã trình bày

ở phần trên, theo quan điểm của FASB, chất lượng của thông tin trên báo cáo tài chính được chia làm 2 nhóm đặc tính bao gồm: đặc tính cơ bản gồm tính thích hợp

và trình bày trung thực; và nhóm các đặc tính bổ sung là có thể hiểu được, có thể

so sánh và nhất quán FASB cũng đưa ra các hạn chế của chất lượng thông tin là vấn đề cân nhắc chi phí – hiệu quả; trọng yếu và thận trọng

Thích hợp:Thông tin kế toán thích hợp là thông tin giúp người ra

quyết định (người sử dụng) có thể thay đổi quyết định của mình Nó phải baogồm:

 Có giá trị dự đoán hay đánh giá: Thông qua việc dự đoán hay đánh giá lại các dự đoán trong quá khứ, người ra quyết định có thể thay đổi các tiên đoán trước đó và do đó có thể thay đổi quyết định củamình

 Kịp thời: Kịp thời là một đặc tính hỗ trợ cho tính thích hợp của thông tin Kịp thời được hiểu là thông tin phải sẵn sàng cho người quyết định trước khi thông tin này bị mất khả năng ảnh hưởng tới việc ra quyếtđịnh

Trình bày trung thực:Thông tin kế toán trình bày trung thực, không

có sai sót hoặc thiên lệch và trong phạm vi có khả năng kiểm chứng

 Trình bày trung thực: Việc đánh giá để tạo thông tin và việc diễn đạt thông tin kế toán phải phù hợp với nghiệp vụ hoặc sự kiện muốn trình bày

Trang 20

 Có thể kiểm chứng: Có thể kiểm chứng là khả năng đồng thuận giữa những người đánh giá có đủ năng lực và độc lập để đảm bảo thông tin tài chính phù hợp với với nghiệp vụ hoặc sự kiện muốn trình bày hoặc phương pháp đánh giá tạo thông tin không có sai sót hoặc thiên lệch

 Trung lập hay khách quan: Yêu cầu thông tin phải khách quan, không được thiên lệch để tạo ra một kết quả đã định trước hay chịu ảnh hưởng của một tác động cá biệt nào đó nhằm tô vẽ hình ảnh thông tin để tác động lên quyết định theo một hướng đặc biệt nào đó

 Khả năng hiểu, so sánh được và nhất quán

 Hiểu và so sánh được: Hiểu và so sánh được là yêu cầu thông tin giúp người sử dụng có thể nắm bắt và nhận thấy sự khác biệt và tương tự giữa hai hiện tượng kinh tế Các hiện tượng giống nhau phải được phản ánh giống nhau; các hiện tượng khác nhau phải được phản ánh khác nhau

 Nhất quán đòi hỏi sự thống nhất giữa các kỳ báo cáo thông qua việc không thay đổi thủ tục và chính sách kế toán Khi cần áp dụng phương pháp kế toán mới, để đảm bảo khả năng so sánh được thì thông tin cần có thêm phần thuyết minh giải trình thích hợp

Tuy nhiên các đặc điểm chất lượng trong nhiều tình huống không thể thực

hiện đầy đủ, FASB đưa ra các hạn chế liên quan tới chất lượng thông tin, bao gồm:

Quan hệ chi phí – lợi ích: Lợi ích có được từ việc sử dụng thông tin

cần được xem xét trong mối quan hệ với chi phí để cung cấp thông tin đó Quan hệ lợi ích và chi phí là giới hạn có ảnh hưởng rộng tới chất lượng thôngtin

Trọng yếu:Trọng yếu là tầm quan trọng của việc bỏ sót hay trình bày

sai thông tin mà trong một hoàn cảnh nhất định nào đó, sự sai sót này ảnh hưởng tới việc xét đoán làm thay đổi quyết định của người sử dụng thông tin đó

 Thận trọng: Là phản ứng thận trọng với các tình huống chưa rõ ràng

để đảm bảo các tình huống chưa rõ ràng và các rủi ro tiềm tàng được xem xét một cách đầyđủ

b Quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế - IASB

Theo quan điểm của IASB, các đặc điểm chất lượng của thông tin trên báo

Trang 21

cáo tài chính gồm: có thể hiểu được, thích hợp, trình bày trung thực và có thể so sánh được IASB cũng đưa ra các hạn chế của chất lượng thông tin là cân đối giữa lợi ích - chi phí; sự kịp thời và sự cân đối giữa các đặc điểm chất lượng

Có thể hiểu được: Người sử dụng phải hiểu được báo cáo tài chính

thì thông tin mới hữu ích Người sử dụng báo cáo tài chính được giả thiết là có một kiến thức nhất định về kinh tế, kinh doanh và kế toán cũng như phải có thiện chí và nỗ lực đọc báo cáo tài chính Tuy nhiên thông tin về một vấn đề phức tạp nhưng cần thiết cho việc ra quyết định thì không được loại trừ ra khỏi báo cáo tài chính dù nó khó hiểu đối với một số đối tượng sử dụng báo cáo tài chính

 Thích hợp: Thông tin được coi là thích hợp khi nó giúp người đọc đánh giá quá khứ, hiện tại (tính xác nhận), tương lai (tính dự đoán) hoặc xác nhận hay điều chỉnh các đánh giá trước đây Tính thích hợp chịu ảnh hưởng của nội dung và tính trọng yếu thôngtin

 Trình bày trung thực: Trình bày trung thực là đặc điểm chất lượng

yêucầu:

 Phản ánh trung thực các sự kiện hay nghiệp vụ cần trìnhbày

 Thông tin cần xem trọng nội dung hơn là hình thức, nghĩa là phải trình bày phù hợp với bản chất kinh tế chứ không chỉ căn cứ và hình thức pháplý

 Thông tin phải trung lập, kháchquan

 Thận trọng: Khi thực hiện một sự xét đoán hay ước tính trong điều kiện chưa rõ ràng phải đảm bảo sao cho tài sản và thu nhập không bị thổi phồng,

nợ phải trả không bị giấubớt

 Thông tin phải đầy đủ trong phạm vi của trọng yếu và chi phí Một

sự bỏ sót có thể làm thông tin bị hiểu lầm hay sai lệch và do đó sẽ ảnh hưởng đến tính đáng tincậy

Có thể so sánh được:Muốn thông tin so sánh được cần sử dụng nhất

quán phương pháp và thủ tục kế toán qua các kỳ Việc thuyết minh là cần thiết trong trường hợp doanh nghiệp thay đổi chính sách kế toán hoặc theo yêu cầu của chuẩnmực

IASB cũng đưa ra các hạn chếliên quan tới các đặc tính chất lượng thông

Trang 22

tin, bao gồm:

Sự kịp thời: Thông tin được báo cáo chậm sẽ mất đi tính thích hợp

nhưng ngược lại việc cung cấp thông tin đáng tin cậy phải có thời gian Vì vậy cần phải cân đối giữa yêu cầu kịp thời và tính đáng tin cậy của thôngtin

Cân đối giữa lợi ích và chi phí: Lợi ích mang lại từ thông tin cần cân

đối với chi phí để cung cấpchúng

 Cân đối giữa các đặc điểm chấtlượng

c.Quan điểm hội tụ IASB- FASB

Sau khi xem xét hai quan điểm của FASB và IASB, ta nhận thấy hội tụ IASB và FASB đã xác định hai đặc tính chất lượng cơ bản, bốn đặc tính chất

lượng bổ sung và hai hạnchế (giới hạn chất lượng thông tin BCTC)

Đặc điểm chất lượng cơ bản

Thích hợp: Thông tin thích hợp là thông tin giúp người sử dụng có

thể thay đổi quyết định thông qua việc giúphọ:

o Cung cấp đầu vào cho quá trình dự đoán triển vọng tươnglai

o Xác nhận hoặc điều chỉnh các đánh giá trướcđó

Trình bày trung thực: Thông tin trên báo cáo tài chính phải trung

thực về các hiện tượng kinh tế muốn trình bày, cụ thể như sau:

o Đầy đủ: Nghĩa là phải bao gồm mọi thông tin cần thiết để trình bày trung thực mọi hiện tượng kinh tế muốn trìnhbày

o Trung lập: Nghĩa là không bị sai lệch một cách có chủ đích để đạt một kết quả dự định trước hoặc ảnh hưởng lên quyết định theo một hướng đặc biệt nàođó

o Không có sai lệch trọngyếu

 Các đặc điểm chất lượng bổ sung

 Có thể so sánh:Là yêu cầu thông tin phải giúp người sử dụng có thể

nhận thất sự khác biệt và tương tự giữa hai hiện tượng kinh tế Muốn vậy, phải sử dụng nhất quán phương pháp và thủ tục kế toán qua các kỳ và trong cùngkỳ

 Có thể kiểm chứng: Là thông tin đạt được mức đồng thuận giữa các

người sử dụng có kiến thức và độc lập về cácmặt:

Trang 23

o Thông tin trình bày trung thực về hiện tượng kinh tế muốn trình bày mà không có sai sót hay thiên lệch trọng yếu

o Các phương pháp ghi nhận hay đánh giá đã chọn không có sai sót hay thiên lệch một cách trọngyếu

 Tính kịp thời: Thông tin có được cho người ra quyết định trước khi

nó mất khả năng ảnh hưởng với quyết định

 Có thể hiểu được: Liên quan tới việc, phân loại, diễn giải và trình bày một cách rõ ràng và súctích

 Các giới hạn của chất lượng thông tin

 Trọng yếu:Thông tin nếu có sai sót hoặc trình bày sai nếu ảnh hưởng

tới quyết định của người ra quyết định thì sẽ được coi là thông tin trọng yếu Trọng yếu được xem là giới hạn vì nó ảnh hưởng tới tất cả các đặc điểm chất lượng thông tin

 Chi phí: Lợi ích của báo cáo tài chính phải biện minh được cho các chi phí của việc lập báo cáo tài chính trên cả hai phương diện định lượng và định tính

1.1.2.3 Quan điểm của chuẩn mực kế toán Việt Nam

Theo chuẩn mực kế toán Việt nam, chất lượng thông tin được trình bày ở nội dung “Các yêu cầu cơ bản với kế toán” của Chuẩn mực số 01 "Chuẩn mực chung" ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC của Bộ

trưởng Bộ Tài chính, bao gồm:

 Trung thực:Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và

báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh

 Khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo

 Đầy đủ: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan tới kỳ

kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót

 Kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo

Trang 24

cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn qui định, không được chậm trễ

 Dễ hiểu: Các thông tin và số liệu kết toán trình bày trong báo cáo tài chính phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng Thông tin về những vấn đề phức tạp trong báo cáo tài chính phải được giải trình trong phần thuyết minh

 Có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán cần được tính toán

và trình bày nhất quán Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng báo cáo tài chính có thể so sánh và đánh giá thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch

1.1.2.4 Các yếu tố cần thiết tạo ra thông tin BCTC chất lượng

Theo McFie.J.B (2006), thông tin BCTC là kết quả của quá trình bao gồm 3 hoạt động: lập, trình bày và công bố, trong đó:

Hoạt động lập: bao gồm các thông tin tài chính được tạo lập từ các

số liệu kế toán thông qua quy trình kế toán từ việc ghi nhận các nghiệp vụ kinh

tế phát sinh tuân thủ các chuẩn mực kế toán Sự hiệu quả của hoạt động này phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống kiểm soát nội bộ liên quan đến quá trình lậpBCTC

Hoạt động trình bày: bao gồm trình bày những giải thích về các

hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính, các biểu đồ, tỷ lệ, hình thức báocáo

Hoạt động công bố: công bố các thông tin tài chính và phi tài chính

kể cả việc công bố về những giải thích trong vấn đề lựa chọn các chính sách và ước tính kế toán

Trang 25

Hình 1.1 Những yếu tố cần thiết nhằm tạo nên thông tin BCTC chất lượng cao

(Nguồn:Trích nghiên cứu của McFie.J.B, 2006)

Qua hình 1, cho thấy chất lượng của những thông tin này không đơn thuần chỉ là đánh giá thông qua sản phẩm cuối cùng là các báo cáo, mà nó phụ thuộc vào chất lượng từng bước trong quá trình tạo ra chúng Ngoài ra, để thông tin BCTC có chất lượng, các hoạt động trên, trước khi công bố đều phải được kiểm soát từ bên ngoài lẫn bên trong thông qua kiểm toán viên độc lập và UBKT để hạn chế tối đa khả năng xảy ra gian lận thông tin.Và vì vậy, chất lượng thông tin BCTC còn phụ thuộc vào chất lượng tạo lập thông tin BCTC và các hoạt động kiểm soát chúng

Thông tin BCTC có chất lượng

Chất lượng số liệu

kế toán

Chất lượng về công

bố thông tin Chất lượng về trình

bày thông tin

Chất lượng ý kiến của

kiểm toán viên độc lập

Chất lượng ý kiến của kiểm toán viên độc lập

Chất lượng giám

sát của UBKT

Chất lượng giám sát của UBKT

Chất lượng giám sát của UBKT

Trình bày những giải thích

về các hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính, các biểu đồ, tỷ lệ, hình thức báo cáo

Thủ tục lập số liệu kế

toán có chất lượng

Chất lượng công bố về những giải thích khi lựa chọn chính sánh kế toán

Chất lượng chuẩn mực kế toán biểu hiện thông qua

tính rõ ràng và khả năng ứng dụng Chất lượng trong việc thiết kế

bố cục của báo cáo

Sự hữu hiệu hệ thống kiểm soát nội bộ liên quan đến

quy trình ghi nhận số liệu kế toán Chất lượng của những tài liệu

là giấy hoặc file điện tử của báo cáo thường niên của doanh nghiệp Các nghiệp vụ và sự kiện kinh tế của doanh nghiệp

Trang 26

1.1.3 Vai trò của kiểm toán đến chất lượng thông tin kế toán

1.1.3.1.Bối cảnh phát triển của hoạt động kiểm toán

Hoạt động kiểm toán đã có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài gắn liền với quá trình phát triển của kinh tế, xã hội loài người Hình thành từ khi sản xuất phát triển, của cải dư thừa dẫn đến sự tách rời giữa chủ sở hữu với người quản lý tài sản, nhu cầu kiểm tra độc lập – hình thức kiểm toán sơ khai phát sinh ở thời

kỳ cuối cổ đại tại La Mã

Kiểm toán bắt đầu phát triển trên thế giới vào đầu thế kỷ 20 với vai trò kiểm tra về tính trung thực của thông tin kế toán trên BCTC.Khi cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ, hoạt động kinh doanh phức tạp dẫn đến nhu cầu huy động vốn để mở rộng hoạt động sản xuất.TTCK và các công ty cổ phần xuất hiện.Quá trình cổ phần hóa dẫn đến sự tách biệt giữa quyền sở hữu của các cổ đông và chức năng quản trị điều hành của nhà quản lý.Xuất hiện với vai trò trung gian, kiểm toán độc lập ra đời và cung cấp dịch vụ kiểm toán dưới hình thức kiểm tra tài chính Tuy nhiên đến những năm 30 của thế kỷ thứ XX, với sự phá sản của hàng loạt các tổ chức tài chính lớn tại Mỹ, Luật chứng khoán Liên bang vào năm

1933 và luật giao dịch chứng khoán 1934 ra đời và yêu cầu BCTC của các CTNY phải được kiểm toán để xác minh tính trung thực của thông tin kế toán trên BCTC Vào thời điểm này, các hoạt động kiểm toán bắt đầu tập trung xác minh tính khách quan và trung thực của thông tin trên BCTC, chú trọng phát hiện các sai sót, nhầm lẫn liên quan đến hoạt động kế toán

Trong tiến trình tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động kiểm toán Việt Nam phải phát triển trước yêu cầu của nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường cùng với việc tiếp tục tạo lập, hoàn chỉnh khuôn khổ pháp lý, tăng cường hoạt động các tổ chức nghề nghiệp Một mặt, tiếp tục phát triển về số lượng, quy mô các tổ chức và phạm vi cung cấp; đồng thời, thúc đẩy chất lượng và hiệu quả hoạt động kiểm toán, tăng cường quản lý nhằm phát triển các hoạt động kế toán, kiểm toán đáp ứng yêu cầu tăng trưởng và ổn định kinh tế Mặt khác, chú trọng phát triển các hoạt động kiểm toán theo yêu cầu của nền kinh tế, theo xu hướng phát triển của các nước trong

Trang 27

khu vực và quốc tế Sự phát triển cả về số lượng và chất lượng, nâng cao năng lực nghề nghiệp đã từng bước khẳng định vị trí hoạt động kiểm toán Việt Nam trong khu vực và quốc tế; thông qua hoạt động của các tổ chức nghề nghiệp (Hiệp hội Kế toán và Kiểm toán) Thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam

đã ký kết, kể cả cam kết song phương và đa phương, từ giữa những năm 90 của thế kỷ XX, hệ thống kế toán Việt Nam đã có những cải cách một cách căn bản và toàn diện được xây dựng trên cơ sở tiếp cận và hoà nhập có chọn lọc với những nguyên tắc, thông lệ phổ biến của quốc tế về kiểm toán, phù hợp từng bước với đổi mới cơ chế kinh tế - tài chính Ngay từ 1989, Câu lạc bộ Kế toán trưởng các doanh nghiệp toàn quốc ra đời và sau đó, 1994, Hội Kế toán Việt nam (VAA), nay là Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam được thành lập với tính chất là tổ chức xã hội- nghề nghiệp, đảm nhiệm vai trò giao lưu, phổ biến thông tin và nâng cao năng lực chuyên môn cho những người làm nghề kế toán, kiểm toán trong cả nước Hệ thống kiểm toán Việt Nam đã được xây dựng mới, tiếp tục phát triển trong một khuôn khổ pháp lý, tiếp cận và hoà nhập với các nước trên thế giới và trong khu vực; từng bước tạo cơ sở pháp lý cho việc công nhận của quốc tế đối với hệ thống kiểm toán Việt Nam Việc nghiên cứu và phổ biến rộng rãi các chuẩn mực quốc tế về kiểm toán được triển khai ngay từ những năm đầu đổi mới cơ chế kinh tế, đồng thời tiến hành lựa chọn các chuẩn mực có khả năng

áp dụng để công bố trong hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

Kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập xuất hiện ở Việt Nam từ những năm đầu thập kỷ 90, thế kỷ XX với hai công ty kiểm toán đầu tiên là Công ty kiểm toán Việt Nam (VACO) và Công ty Dịch vụ kế toán & Kiểm toán Việt Nam (AASC), nhưng đã phát triển rất nhanh, sớm tạo dựng vị thế trong nền kinh

tế Hoạt động kiểm toán tiếp tục phát triển, được luật pháp Việt Nam thừa nhận trong Luật Kế toán (2003) và Nghị định của Chính phủ về kiểm toán độc lập Đến nay, đã có gần 150 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán, cả công ty nhà nước, công ty tư nhân, công ty 100% vốn nước ngoài và công ty liên doanh và có gần 11.000 kiểm toán viên hành nghề hoạt động tại hầu hết các tỉnh, thành phố trên cả nước Hoạt động

Trang 28

kiểm toán Việt Nam không ngừng được cải thiện về chất lượng dịch vụ và đã khẳng định được vị trí trong nền kinh tế quốc dân Hoạt động kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong việc trợ giúp, tư vấn cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp

về luật pháp, chế độ thể chế tài chính kế toán của nhà nước, cũng như việc phát hiện sai sót, nhầm lẫn thông tin kế toán nói chung và thông tin báo cáo tài chính nói riêng tại các doanh nghiệp

Hiện nay, không những phát hiện sai sót, nhầm lẫn mà kiểm toán còn đưa

ra các ý kiến điều chỉnh các thông tin kế toán có ảnh hưởng trọng yếu tới BCTC

và quyết định của các đối tượng thông tin Do đó, điều chỉnh của kiểm toán đóng vai trò quan trọng và được thực hiện trong quy trình kiểm toán BCTC giúp thông tin kế toán công bố của các CTNY được chất lượng hơn

1.1.3.2 Vai trò của kiểm toán đối chất lượng thông tin kế toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán

Nhìn từ góc độ tổng quan nhất, bản chất của kiểm toán chính là sự kiểm tra độc lập từ bên ngoài được thực hiện bởi một lực lượng có trình độ kĩ năng chuyên môn cao, chịu trách nhiệm hoàn toàn về mặt pháp lý và kinh tế đối với các nhận xét của mình về độ tin cậy của các thông tin được thẩm định Nhà nước cũng như xã hội sẽ quản lí và giám sát hoạt động kiểm tra này trên ba mặt chủ yếu: thứ nhất, các thông tin công khai phải tuân thủ các nguyên tắc và chuẩn mực chung được xã hội thừa nhận; thứ hai, hoạt động kiểm toán phải dựa vào các chuẩn mực chung; cuối cùng là mọi cá nhân, tổ chức có liên quan đến các sai sót hoặc xuyên tạc các thông tin công khai để đánh lừa các pháp nhân hoặc thể nhân trong các mối quan hệ kinh tế xã hội gây ra các thiệt hại thì pháp luật sẽ can thiệp để buộc các cá nhân tổ chức có hành vi trên phải chịu trách nhiệm của mình cả về kinh tế và pháp lý đối với sự sai lệch về thông tin và các thiệt hại đó Kiểm toán trong giai đoạn đầu của sự phát triển chủ yếu là kiểm tra, xác nhận độ trung thực của báo cáo tài chính công khai nên có quan điểm cho rằng kiểm toán là kiểm tra kế toán, tài chính độc lập Nhưng sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã làm cho hoạt động của kiểm toán không ngừng mở rộng phạm vi của mình Từ chỗ chỉ kiểm tra các báo cáo tài chính và cho nhận xét,

Trang 29

kiểm toán đã tiến hành thẩm định và nêu nhận xét về độ tin cậy các thông tin có liên quan đến cả hiệu quả các hoạt động quản lý cũng như độ tuân thủ các quy tắc, quy định của các nhà kinh tếtrong hoạt động của họ ở mức độ nào Do đó, khái niệm về kiểm toán được nhiều nhà khoa học thừa nhận, trong đó có Alvin

(2011) cho rằng “Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá các bằng chứng về

các thông tin nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin với các các chuẩn mực được thiết lập”.Mặt khác, dù hoạt động trong

bất kì lĩnh vực kinh tế nào thì tình hình tài chính và kết quả hoạt động hàng năm của doanh nghiệp đều được thể hiện trên báo cáo tài chính (gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, bảng lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính), vì thế tính trung thực, hợp lý và đầy đủ thông tin trong BCTC của DN

có ảnh hưởng phần lớn đến các quyết định của các đối tượng quan tâm và sử dụng tới các thông tin này (Nhà nước, các cơ quan chức năng, cổ đông công ty, ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các đối tác của CTNY cũng như các nhân viên công ty…).Hoạt động kiểm toán thông tin BCTCđối với mỗi đối tượng sử dụng thông tin kế toán công bố sẽ có vai trò, tác động khác nhau và được trình bày cụ thể như sau:

Các cơ quan Nhà nước cần có thông tin trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Nhà nước căn cứ vào báo cáo tài chính đã được kiểm toán để xem xét các doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn để hoạt động kinh doanh có đem lại hiệu quả không, có phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước hay không Cơ quan thuế sẽ căn cứ vào báo cáo tài chính đã được kiểm toán để tính

và thu thuế trừ khi có nghi vấn mới kiêm tra lại Về nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, các doanh nghiệp thường muốn nộp ít để chiếm chiếm dụng phần thuế phải nộp Nhà nước nên họ sẽ khai tăng các khoản chi phí để làm giảm lợi nhuận

và như thế thuế phải nộp sẽ ít đi.Tuy nhiên nếu được kiểm toán thì sai phạm này

sẽ bị phát hiện và có điều chỉnh của kiểm toán

Các cổ đông góp vốn kinh doanh hoặc các nhà đầu tư mua mã chứng khoán của doanh nghiệp không có đủ khả năng để kiểm tra kỹ lưỡng bản báo cáo tài chính, do đó khi có trên thông tin của báo cáo tài chính đã được kiểm toán viên

Trang 30

độc lập xác nhận là trung thực hợp lý thì họ có thể yên tâm về quyền lợi, lợi tức được nhận và quyết định tiếp tục đầu tư hoặc không đầu tư vào doanh nghiệp đó Bên cạnh đó, nước ta đang trong thời kỳ mà nền kinh tế thực hiện chính sách mở cửa, đa phương hoá đầu tư không chỉ trong nước mà còn nước ngoài Việc thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài (cả trực tiếp và gián tiếp) đang được Nhà nước rất quan tâm, cụ thể là đã ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam nhằm khuyến khính các nhà đầu tư vào Việt Nam Những nhà đầu tư nước ngoài luôn đòi hỏi một báo cáo tài chính được kiểm toán đầy đủ, trung thực về tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp mà họ dự định đầu tư

Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng cho doanh nghiệp vay vốn cũng phải nắm chắc tình hình kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng để quyết định cho vay, thu hồi vốn hoặc không cho vay Kiểm toán viên sẽ giúp ngân hàng hoặc những người cho vay làm việc đó

Tuy trong quan hệ kinh doanh DN có thể mua chịu nhưng nếu có báo cáo tài chính đã được kiểm toán nghiêm túc và đúng quy trình,kiểm tra xác nhận là đạt chất lượng cao thì tỷ lệ trường hợp người bán dễ dàng bán chịu cho DN nhiều hơn.Ngược lại xác nhận là tình hình tài chính của CTNY khó khăn thì không nhiều khả năngDN có thể mua được hàng khi chưa có tiền thanh toán

Ngoài ra, với cơ cấu kinh tế thị trường, người lao động có quyền lựa chọn nơi làm việc ổn định và có mức thu nhập cao, báo cáo tài chính của một doanh nghiệp làm ăn có lãi được kiểm toán viên xác nhận sẽ hấp dẫn được ngươì lao động có chuyên môn trình độ và năng lực tham gia

Đặc biệt, ngay chính các nhà quản trị trong doanh nghiệp cũng cần thông tin trung thực không chỉ riêng trên các bảng khai tài chính để có những quyết định trong mọi giai đoạn quản lý kể cả tiếp nhận nguồn vốn, chỉ đạo và điều hành các hoạt động kinh doanh trong công ty

Nếu phân loại kiểm toán theo đối tượng kiểm toán, kiểm toán bao gồm kiểm toán tài chính, kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ Trong đó, các học giả này đã định nghĩa kiểm toán tài chính như sau:

Trang 31

“Kiểm toán tài chính là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về BCTC được trình bày theo các chuẩn mực được thiết lập Các chuẩn mực được thiết lập thường là các nguyên tắc kế toán được chấp nhận phổ biến và KTV thực hiện các thử nghiệm thích hợp để xác minh các sai phạm trọng yếu không tồn tại trong BCTC của đơn vị được kiểm toán” (Alvin và cộng sự, 2011)

Như vậy, đối tượng của kiểm toán tài chính chủ yếu là BCTC Do đó, KTV

có trách nhiệm đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC của đơn vị được kiểm toán có lập và trình bày trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu các thông tin định lượng của BCTC, và sự phù hợp với khuôn khổ, chuẩn mựcvề lập và trình bày BCTC theo các quy định hiện hành Với trách nhiệm đó, kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ, đề xuất công ty được thực hiện kiểm toán điều chỉnh thông tin kế toán có sai sót, nhầm lẫn ở mức độ trọng yếu và củng cố nề nếp hoạt động tài chính kế toán nói riêng và hoạt động của đơn vị kiểm toán nói chung Mọi hoạt động, đặc biệt là hoạt động tài chính, đều bao gồm những mối quan hệ đa dạng, luôn biến đổi và được cấu thành bởi hàng loạt nghiệp vụ cụ thể Tính phức tạp của hoạt động này càng tăng lên bởi quan hệ chặt chẽ giữa các quan hệ tài chính với lợi ích con người Trong khi đó, thông tin kế toán là sự phản ánh của hoạt động tài chính.Ngoài việc chứa đựng những phức tạp của các quan hệ tài chính, thông tin kế toán còn là sản phẩm của quá trình xử lí thông tin bằng phương pháp kĩ thuật rất đặc thù Do đó, nhu cầu hướng dẫn điều chỉnh kiểm toán và củng cố nề nếp trong quản lí tài chính càng có đòi hỏi thường xuyên và ở mức độ cao hơn Vì vậy, KTV và DNKT cần chú trọng tới các điều chỉnh kiểm toán như phần tất yếu trong quy trình kiểm toán BCTC.Từ đó, hoạt động kiểm toán sẽ giúp nâng cao niềm tin và sự tin tưởng, giảm bớt sự nghi ngờ vềchất lượng của thông tin kế toán công bố Các công ty kiểm toán là tổ chức độc lập giám sátchất lượng thông tin tài chính của các CTNY Nếu KTV chú trọng phát hiện các sai phạm hơn việc đưa ra ý kiến điều chỉnh sau đó thì BCTC được kiểm toán vẫn chứa đựng nhiều rủi ro thông tin gây tâm lý hoang mang đối với người

sử dụng thông tin.Dẫn tới chất lượng thông tin không được nâng cao và kiểm

Trang 32

toán không còn đóng vai trò là kênh trung gian nhằm minh bạch hóa các thông tin về BCTC cho người sử dụng

Bên cạnh đó, kiểm toán hạn chế và giảm thiểu các CTNY bị kiện tụng và phá sản vì liên quan đến chất lượng thông tin kế toán công bố không đảm bảo Lịch sử các vụ bê bối tài chính cho thấy, sự thất bại trong điều chỉnh kiểm toán khiến các CTNY và KTV phải vướng vào vòng lao lý và thậm chí phá sản do sự thiếu thận trọng và chưa có quy trình kiểm toán thích hợp Trách nhiệm đưa ra ý kiến điều chỉnh là đòi hỏi tất yếu trong kiểm toán thông tin kế toán công bố, giúp hoạt động kiểm toán có thể tăng tính hữu ích, hợp lý trong kiểm toán BCTC Tóm lại, ý kiến điều chỉnh kiểm toán là một phần không tách rời và được thực hiện song song trong quy trình của kiểm toán BCTC Đưa ra các ý kiến điều chỉnh thông tin có đặc tính và mức độ ảnh hưởng so với đưa ra các ý kiến chấp nhận (không chấp nhận) thông tin được kiểm toán xét trên khía cạnh giải pháp, khuyến nghị góp phần nâng cao chất lượng thông tin kế toán công bố sau quá trình kiểm toán

1.2 Nghiên cứu các điều chỉnh kiểm toán và chất lượng thông tin kế toán – Kinh nghiệm quốc tế

Trong phần này đề tài trình bày các công trình nghiên cứu ở Việt Nam và thế giới với nội dung liên quan đến chất lượng thông tin BCTC và tác động của các điều chỉnh kiểm toán Khi tìm hiểu về sự tương quan giữa các điều chỉnh của kiểm toánvà chất lượng thông tin kế toán, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận vấn đề theo nhiều hướng khácnhau Góc độ chất lượng thông tin BCTC: các tác giả quan tâm đến tính hữu ích, sự minh bạch, quản trị lợi nhuận, công bố lại BCTC, gian lận BCTC, công bố thông tin bao gồm thông tin bắt buộc và tựnguyện.Góc độ điều chỉnh của kiểm toán: các nghiên cứu tập trung vào các đặc điểm, tính chất điều chỉnh kiểm toán trong quá trình công bố thông tin kế toán của CTNY, nhận diện mức độ tác động của những đề nghị và chấp thuận điều chỉnh kiểm toán của các khoản mục, tài khoản trên BCTC

Trang 33

1.2.1 Các nghiên cứu công bố trong nước

Các nghiên cứu trong nước dựa trên nhiều khía cạnh khác nhau của thông tin BCTC Theo phần 1.1.2.4 đã nêu thông tin BCTC là kết quả của quá trình lập, trình bày và công bố Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, bài viết sẽ đưa ra một

số các nghiên cứu trong nước về đánh giá chất lượng thông tin kế toán công bố của các công ty niêm yết tại Việt Nam khi nghiên cứu từ giác độ của quá trình trình bày

và công bố thông tin kế toán và một số bài báo thống kê về thông tin kế toán công

bố của các CTNY trước và sau kiểm toán tại Việt Nam

 Các công trình nghiên cứu đánh giá chất lượng thông tin kế toán

công bố của các CTNY từ góc độ của quá trình trình bày và công bố thông tin kế toán

Liên quan đến quá trình trình bày và công bố thông tin, các tác giả nghiên cứu tập trung về những lĩnh vực như sự minh bạch, hình thức và nội dung thông tin công bố, đại diện nghiên cứu nàynhưThS Đào Nam Giang (2015) trong bài viết“Bàn thêm về chất lượng thông tin lợi nhuận kế toán và các thước đo đánh giá” trên Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng số 157.Bài viết tập trung phân tích khái niệm về chất lượng thông tin lợi nhuận kế toán từ góc độ cuả chuẩn mực kế toán cũng như từ các nghiên cứu thực chứng Từ đó tác giả đưa ra các thước đo đánh giá về chất lượng thông tin lợi nhuận kế toán báo cáo Giới thiệu các đặc điểm định tính cần có của thông tin kế toán cũng là các tiêu chí về chất lượng thông tin, tác giả nghiên cứu dựa trên quan điểm cuả các cơ quan ban hành chuẩn mực IFRS

và VAS Nghiên cứu Khung khái niệm (conceptual framework) ban hành năm 2010 cuả IASB, bài viết đã tổng kết hai đặc điểm nền tảng tạo nên tính hữu ích cuả thông tin kế toán là thích hợp và trình bày trung thực Tính hữu ích cuả thông tin kế toán

sẽ được củng cố nếu các thông tin đấy có thể so sánh, xác nhận, dễ hiểu và mang tính kịp thời Bên cạnh đó, tác giả lưu ý trong các trường hợp khác nhau chúng ta cần cân nhắc chi phí cơ hội cuả việc cung cấp thông tin kế toán; tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể mà có thể ưu tiên một số đặc tính thông tin kế toán này hơn những đặc tính khác.Một vấn đề khác mà tác giả chỉ ra rất chuẩn xác với thực trạng hiện nay Đó là thiếu tính nhất quán trong quan điểm của các cơ quan ban hành

Trang 34

chuẩn mực về chất lượng thông tin kế toán công bố nói chung và chất lượng thông tin lợi nhuận báo cáo nói riêng giữa các thời kỳ cũng như giữa các quốc gia khác nhau Chính vì những nguyên nhân trên, bài viết khẳng định khi xây dựng các thước

đo đánh giá về chất lượng thông tin kế toán, các nhà nghiên cứu thực chứng sẽ xuất phát từ các lý thuyết khác nhau liên quan đến các đặc điểm định tính đối với thông tin kế toán để làm cơ sở nền tảng nghiên cứu; nhưng không ứng dụng trực tiếp chúng trong các nghiên cứu thực chứng về chất lượng thông tin kế toán và chất lượng thông tin lợi nhuận kế toán Mặt khác, tác giả nhận định nghiên cứu đánh giá

về chất lượng thông tin lợi nhuận kế toán là một nhánh nghiên cứu lớn, nhưng lại không có một khái niệm chung duy nhất về chất lượng thông tin lợi nhuận báo cáo

có thể vận dụng cho mọi trường hợp Chất lượng lợi nhuận kế toán công bố là khái niệm rất trừu tượng, đa chiều và không thể đo lường một cách trực tiếp, trong khi vấn đề cốt lõi của nghiên cứu thực chứng là phải lượng hóa được đối tượng nghiên cứu Do đó, các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều các tiêu chí khác nhau để đánh giá về chất lượng lợi nhuận báo cáo Để có cái nhìn tòan diện hơn, trong nghiên cứu của mình, tác giả giới thiêụ về các tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin lợi nhuận báo cáo của các bài tổng luận về nhánh nghiên cứu trênvà từ các nghiên cứu có những tổng kết tương đối đầy đủ vềvấn đề này Cụ thể như sau:

Francis et al (2004) và J Francis (2008) tổng kết từ các nghiên cứu trước và thống nhất đưa ra 7 tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin lợi nhuận báo cáo và phân chia các tiêu chí trên thành 2 nhóm:

 Nhóm 1: Các thước đo được xây dựng dựa theo số liệu kế toán based) bao gồm: chất lượng các khoản dồn tích (accrual quality), tính bền vững của lợi nhuận (earnings persistence), khả năng dự báo của lợi nhuận (predictablility) và

(accounting-sự ổn định của lợi nhuận (smoothness)

 Nhóm 2: Các tiêu chí gắn với thị trường (market – based) xác định được đo lường thông qua lợi tức từ cổ phiếu, bằng hai tiêu chí là giá trị thích hợp (value relevance) và tính kịp thời và thận trọng (timeliness and conservatism)

Dechow et al (2010) đã tổng kết các thước đo chất lượng thông tin lơị nhuận báo cáo thành 2 nhóm chính là xem xét các đặc điểm chất lượng cuả chỉ tiêu lợi

Trang 35

nhuận và đo lường mức độ phản ứng của nhà đầu tư trước thông tin lợi nhuận báo cáo Bên cạnh đó, bài viết đã tổng hợp thêm một nhóm nghiên cứu thứ 3 từ các nhà nghiên cứu khác, chính là nhóm các nghiên cứu đánh giá chất lượng lợi nhuận báo cáo thông qua các bằng chứng bên ngòai về sai sót trong lợi nhuận báo cáo.Tác giả viết về nhóm nghiên cứu thứ 3 cụ thể như sau: “Chất lượng thông tin lợi nhuận báo cáo được đánh giá thông qua các chỉ số bên ngoài về việc báo cáo lợi nhuận sai, ví

dụ việc phải công bố lại thông tin về lợi nhuận, điều tra của cơ quan quản lý, báo cáo kiểm toán không chấp nhận toàn bộ” Như vậy, các nhà nghiên cứu thực chứng

đã phát triển rất nhiều tiêu chí khác nhau để đánh giá về chất lượng thông tin lợi nhuận kế toán báo cáo, mỗi tiêu chí sẽ được phát triển các biến số và thang đo cụ thể để phù hợp với mục đích và điều kiện nghiên cứu Dựa trên bài nghiên cứu của tác giả ThS Đào Nam Giang, đề tài thực hiện nghiên cứu để đánh giá chất lượng thông tin kế toán công bố theo hướng nhóm nghiên cứu thứ 3từ góc độ của các điều chỉnh của kiểm toán

Ngoài ra, trong phạm vi nghiên cứu, đề tài cũng giới thiệu một số công trình nghiên cứu khác về đánh giá chất lượng thông tin kế toán công bố theo hướng nhóm nghiên cứu thứ 3 vừa nêu trên hoặc từ các nghiên cứu có những khuyến nghị, tổng kết tương đối đặc thù liên quan tới vấn đề này

Nguyễn Bích Liên (2012), với đề tài “Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tại các doanh nghiệp Việt Nam” cho rằng quan điểm của FASB, IASB và chuẩn mực kế toán Việt Nam đều cho rằng chất lượng thông tin kế toán đồng nghĩa với chất lượng BCTC Tuy nhiên, quan điểm chất lượng thông tin của tác giả trong môi trường công nghệ thông tin được xác định bởi các tiêu chuẩn: hữu hiệu, hiệu quả, bảo mật, toàn vẹn, sẵn sàng, tuân thủ và đáng tin cậy; các tiêu chuẩn liên quan gắn với các chuẩn mực kế toán nằm ngoài phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu của tác giả chủ yếu tập trung vào năng lực ứng dụng công nghệ thông tin cho quy trình xử lý các thông tin kế toán và chất lượng thông tin kế toán phụ thuộc vào ứng dụng hệ thống thông tin này

Bên cạnh đó, năm 2011 trong bài viết “Thực trạng và giải pháp cho vấn đề

Trang 36

công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam” của tác giả Đặng Thị Thúy Hằng, tác giả quan tâm đến công bố thông tin ở một góc độ khác về công bố thông tin kế toán Tác giả xem xét thông tin mà doanh nghiệp công bố dưới hai góc độ thông tin bắt buộc và thông tin tự nguyện Tác giả đánh giá thực trạng công bố thông tin kế toán các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam thông qua các yếu tố như: tính kịp thời, sử dụng giá trị hiện tại trong kế toán, chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán và công bố các thông tin tự nguyện Tác giả cho rằng những yếu tố trên đã làm hạn chế chất lượng thông tin kế toán và đã đưa ra những kiến nghị có liên quan nhằm nâng cao chất lượng thông tin kếtoán

Các nghiên cứu thống kê số liệu thông tin công bố về BCTC của các CTNY trước và sau kiểm toán tại Việt Nam

Với sự phát triển của TTCK, BCTC ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với các nhà đầu tư Do đó, các điều kiện niêm yết trên TTCK ngày càng chặt chẽ, như các tổ chức trước khi niêm yết thì BCTC phải được kiểm toán bởi “tổ chức kiểm toán được chấp nhận thực hiện kiểm toán CTNY và ý kiến kiểm toán phải là ý kiến chấp nhận toàn phần đối với vốn chủ sở hữu, vốn điều lệ đã góp và không được phát hành ý kiến ngoại trừ đối với các khoản mục trọng yếu như tiền mặt, HTK, TSCĐ, KPT và nợ phải trả” (Bộ Tài chính, 2015) Bên cạnh đó, Thông tư số 202/2015/TT-BTC có quy định công ty bị hủy niêm yết trong trường hợp “tổ chức kiểm toán không chấp nhận thực hiện kiểm toán hoặc có ý kiến không chấp nhận hoặc từ chối cho ý kiến đối với BCTC năm gần nhất” Với quy định cụ thể của hệ thống pháp luật tới công bố thông tin của các CTNY , việc công bố thông tin BCTC của CTNY ngày càng phổ biến

Bài viết nghiên cứu trong nhiều năm vừa qua trên TTCK Việt Nam trong tháng 6/2015 của Minh An, trong số liệu thống kê của Vietstock từ năm 2012 đến tháng 6 năm 2015 cho thấy: số liệu thông tin công bố về BCTC bán niên và BCTC của các CTNY trước và sau kiểm toán vẫn có nhiều vấn đề bất cập Đặc biệt, số lượng các CTNY phải điều chỉnh số liệu trên BCTC sau kiểm toán đều đạt ở mức cao, mặc dù có xu hướng giảm trong các năm qua Cụ thể, số lượng CTNY điều chỉnh số liệu trên BCTC năm 2014 khoảng 72% trong số 643 công ty và 6 tháng

Trang 37

đầu năm 2015 có 52% trong số 679 CTNY Kết quả sau kiểm toán cho thấy số liệu lợi nhuận trong BCTC các CTNY phải điều chỉnh giảm nhiều hơn so với lợi nhuận điều chỉnh tăng Cụ thể, trong năm 2014, số lượng các CTNY điềuchỉnhgiảmlợinhuậntăng gầngấprưỡisovới các CTNY điều chỉnh tăng lợi nhuận (có 263 CTNY điều chỉnh giảm lợi nhuận và 198 CTNY điều chỉnh tăng lợi nhuận)

và trong 6 tháng đầu năm 2015 thì tỷ lệ các CTNY điều chỉnh tăng lợi nhuận cao hơn 35% so với các CTNY điều chỉnh giảm Điều đó cho thấy xu hướng lập BCTC điều chỉnh tăng lợi nhuận của các CTNY chiếm tỷ trọng cao (Minh An, 2015) Trong đó, đặc biệt là các CTNY trong các lĩnh vực như xây dựng, bất động sản, thực phẩm và kim loại có tỷ lệ điều chỉnh số liệu BCTC cao nhất sau kiểm toán Cụ thể, một số tập đoàn lớn thường xuyên điều chỉnh giảm lợi nhuận qua các năm với chỉ tiêu trước kiểm toán lãi hàng trăm tỷ đồng nhưng sau kiểm toán báo lỗ hàng nghìn tỷ đồng kèm ý kiến kiểm toán có điểm nhấn mạnh hoặc ý kiến ngoại trừ (Phụ lục 1 - Bảng 3) Các khoản mục thường phải điều chỉnh là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, chi phí quản lý doanh nghiệp như dự phòng nợ phải thu khó đòi,

dự phòng hàng tồn kho, các khoản đầu tư tài chính, thông qua các giao dịch nội

bộ với công ty con và công ty liên kết

Thực trạng chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán của các CTNY phổ biến không tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh và độ tin cậy trong cung cấp thông tin trên BCTC Chất lượng thông tin BCTC là vấn đề cấp bách đối với thị trường chứng khoán nói chung và các CTNY nói riêng Vai trò của các điều chỉnh kiểm toán trong nâng cao chất lượng BCTC là đòi hỏi tất yếu của sự phát triển của TTCK Việt Nam

1.2.2 Các nghiên cứu công bố trên thế giới

Nhận thức được tầm quan trọng của việc giám sát và kiểm soát các hoạt động

tài chính của DN, đặc biệt ảnh hưởng của điều chỉnh kiểm toán trong quá trìnhtrình

bày và công bố thông tin kế toán, các nhà nghiên cứu trên thế giới ở nhiều góc độ

khác nhau đã tìm những bằng chứng cho thấy sự tác động điều chỉnh kiểm toán đến chất lượng thông tin BCTC.Các công trình nghiên cứu về được trình bày cụ thể dưới đây:

Trang 38

Gian lận BCTC (Financial statement Fraud):

Gian lận BCTC là hành vi cố tình bóp mép thông tin công bố nhằm đánh lừa người sử dụng BCTC Gian lận có thể liên quan đến sự thay đổi trong việc ghi nhận các nghiệp vụ, tạo nghiệp vụ ảo, áp dụng sai những nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung Điển hình có các nghiên cứu:

Nghiên cứu của David B Farber (2004) trên 87 công ty có gian lận báo cáo tài chính do COSO công bố trong giai đoạn 1982 -2000 Tác giả đã phát hiện những gian lận chủ yếu trong BCTC: giao dịch giả: có 52 công ty, chiếm 60% mẫu nghiên cứu; sự khác biệt về thời gian giữa doanh thu và chi phí có 31 công ty, chiếm 36% mẫu nghiên cứu; các gian lận khác: 04 công ty, chiếm 4% mẫu nghiên cứu.Nadia Smaili, Réal Labelle (2009) xem xét BCTC của 107 công ty tại Canada trong vấn đề không tuân thủ theo 14 yêu cầu của Ủy ban chứng khoán Otario

Công bố lại BCTC (Financial Restatement)

Công bố lại BCTC là trường hợp công bố BCTC nhằm cung cấp sự khẳng định về những sai lệch trọng yếu mà doanh nghiệp đã công bố trong BCTC trước đây Lý do công bố lại BCTC, thông thường do sai sót, thay đổi chính sách, ước tính kế toán hay phát hiện các hoạt động gian lận Điều này đồng nghĩa, thông qua BCTC công bố lại cho thấy dấu hiệu rõ ràng là BCTC đã công bố trước đây là không trung thực, thể hiện chất lượng BCTC thấp (Huang Zhizhong và Zhang Juan, 2011) Phương pháp chủ yếu các nghiên cứu này là lựa chọn các công ty có công bố lại BCTC trong giai đoạn thời gian nghiên cứu và xem xét đến những thay đổi các yếu tố HVGL có liên quan từ lúc có sai phạm đến trước thời điểm công bố lại BCTC Điển hình nhóm nghiên cứu này là các tác giả như: Huang Zhizhong và Zhang Juan (2011), Sandeep Nabar và các cộng sự (2007), Abbott.L, Parker Susan, Peter.F (2004)…

Điều chỉnh kiểm toán trên BCTC (Audit Adjustment)

Song song với sự phát triển của thị trường chứng khoán, quá trình áp dụng các chuẩn mực báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết bất kể quy mô, ngành nghề ngày càng được các nhà đầu tư quan tâm Điều này cho thấy tác động quan trọng của thông tin kế toán công bố tại các công ty niêm yết đến sự thúc đẩy đầu tư

Trang 39

và tăng trưởng kinh tế Vì vậy, trên thế giới hiện có một số nghiên cứu chất lượng thông tin kế toán công bố theo góc độ các điều chỉnh kiểm toán Điển hình nhất là các tác giả như: Roger D.Martin (2016), Clive Lennox, Xi Wu và Tianyu Zhang (2015), Frankel and Litov (2009), Durtshi and Easton (2005, 2009), Tucker and Zarowin (2006),… Nhóm nghiên cứu này thường tập trung đánh giá, phân tích phương pháp tác động đến mối quan hệ giữa các điều chỉnh kiểm toán và chất lượng thông tin về thu nhập (hoặc lợi nhuận) trong BCTC – một chỉ tiêu cụ thể trong BCTC Từ đó đưa ra những kết luận cụ thể, chi tiết trong mối quan hệ trên nhưng chưa mang tính khái quát chung sự tác động giữa các điều chỉnh kiểm toán

và chất lượng toàn bộ hệ thống thông tin kế toán công bố (cụ thể như BCTC) Các nghiên cứu trên đã phân tích và trình bày cụ thể như sau:

Nghiên cứu “Earnings management and audit adjustments - An empirical study of listed companies” trên tạp chí Investment Management and Financial Innovations, Volume 7, Issue 1 của 2010, nhóm tác giả Oriol Amat và Oscar Elvira xuất phát từ những nghi ngờ về độ tin cậy của chất lượng các thông tin kế toán công

bố trên thị trường, quá trình kiểm toán đóng vai trò giám sát làm hạn chế sai sót, nhầm lẫn trong công tác quản lý và nghiệp vụ kế toán tài chính, nhất là các bút toán liên quan tới chỉ tiêu thu nhập Nghiên cứu thực nghiệm nhận định rằng hoạt động kiểm toán có thể là một giải pháp hiệu quả trong một số trường hợp và hỗ trợ quyết định của người sử dụng thông tin BCTC sau khi kiểm toán có thể giảm trừ khả năng bất cân xứng thông tin Nghiên cứu thực nghiệm này chỉ ra tầm quan trọng của hoạt động kiểm toán trong thị trường tài chính, đặc biệt là trong công tác quản lý thu nhập Nhóm tác giả tập trung vào sai sót của chỉ tiêu thu nhập trước kiểm toán và điều chỉnh của kiểm toán viên sau đó, đồng thời sử dụng mẫu khảo sát của các CTNY trong giai đoạn 1997-2004 (42 công ty, 336 báo cáo thường niên, 75 chỉ tiêu thu nhập có sai sót trọng yếu) và các tiêu chuẩn chỉ số trên thị trường chứng khoán

ở Tây Ban Nha (IBEX 35) Nghiên cứu của nhóm tác giả chỉ ra rằng các công ty thường có trạng thái sai lệch nhiều hơn khi thu nhập của họ không đáp ứng một số cột mốc (ví dụ như kế hoạch DN đặt ra, tốc độ phát triển của bình quân ngành nghề hoạt động kinh doanh hay kì vọng tăng trưởng của nền kinh tế) Trước kiểm toán,

Trang 40

các nhà đầu tư có thể thấy các chỉ tiêu như lợi nhuận, thu nhập bị phản ánh không trung thực với các sai sót, nhầm lẫn hoặc là cố ý thực hiện gian lận; tuy nhiên, sau kiểm toán họ có thể nhận được thông tin kế toán công bố có giá trị hơn từ việc điều chỉnh kiểm toán theo tình hình sai sót trọng yếu của lợi nhuận Nghiên cứu cũng xem xét cách thức điều chỉnh kiểm toán và mối liên hệ đến giá trị CTNY trên thị trường chứng khoán, khối lượng giao dịch chứng khoán của chúng; và nhóm tác giả

đã phát hiện ra rằng các chỉ tiêu lợi nhuận có giá trị điều chỉnh kiểm toán thấp hơn thì có khối lượng giao dịch chứng khoán lớn hơn so với các công ty cùng lĩnh vực hoạt động kinh doanh

Clive Lennox, Xi Wu và Tianyu Zhang (2015), trong nghiên cứu đề tài

“Audit adjustments and earnings quality”, tham khảo từ công trình nghiên cứu trước của Miao Bin, Robert Knechel, Huai Zhang, nhóm tác giả xem xét những điều chỉnh mà kiểm toán viên yêu cầu củacác chỉ tiêu liên quan tới lợi nhuậntrong DN được kiểm toán Điều chỉnh xảy ra khi kiểm toán viên cho rằng cácchỉ tiêu lợi nhuận của DN trước kiểm toán không đảm bảo chất lượng thông tin và ngược lại,khi khôngcó sựđiều chỉnh kiểm toán số liệu, khoản mục thu nhập trên BCTC được chấp nhận Nhóm tác giả đánh giá nhận thức của kiểm toán viên về chất lượng lợi nhuận bằng cách so sánh các thuộc tính của lợi nhuận trước kiểm toán và sau kiểm toánđể trực tiếp suy ra cách chỉ tiêu lợi nhuận thay đổi trong suốt quá trình kiểm toán cuối năm tài chính, đồng thời, rút ra kết luận về vai trò điều chỉnh của kiểm toán về chất lượng lợi nhuận Bài viết khảo sát 10.114 các công ty giao dịch chính thức ở Trung Quốc từ năm 2006 đến năm 2011, và sau quá trình thực hiện, nhóm tác giả thống kê tần suất điều chỉnh kiểm toán là 70,69%, trong đó các điều chỉnh của kiểm toán giảm xuất hiện nhiều hơn gấp đôi so với thường như điều chỉnh tăng (47,97% so với 22,72%) Qua các nghiên cứu này, chúng ta thấy hoạt động kiểm toán, đặc biệt là các điều chỉnh của kiểm toán là rất cần thiết trong việc kiểm tra và nâng cao chất lượng thông tin lợi nhuận cũng như chất lượng thông tin

kế toán công bố tại bất kỳ quốc gia nào, không phân biệt quốc gia phát triển hay quốc gia đang phát triển

Ngày đăng: 17/12/2023, 00:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Abbott, Lawrence J;Parker, Susan;Peters, Gary F, 2004, Auditing Characteristics and Restatements. Auditing: A Journal of Practice & Theory Vol 23, No.1. pp69-87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Auditing Characteristics and Restatements
2. Ali shah.S.Z, Ali Butt.S, Hasan.A, 2009, Corporate Governance and Earnings Management an Empirical Evidence Form Pakistani Listed Companies. European Journal of Scientific Research, ISSN 1450-216X Vol.26 No.4(2009),pp.624-638 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate Governance and Earnings Management an Empirical Evidence Form Pakistani Listed Companies
Tác giả: Ali shah.S.Z, Ali Butt.S, Hasan.A, 2009, Corporate Governance and Earnings Management an Empirical Evidence Form Pakistani Listed Companies. European Journal of Scientific Research, ISSN 1450-216X Vol.26 No.4
Năm: 2009
3. Anna Watson, Philip Shrivrs, Claire Marston, 2002. Voluntary Disclourse of Accounting Ratios in the UK. British Accounting Review (2002). Vol. 34, pp.289-313 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Voluntary Disclourse of Accounting Ratios in the UK
Tác giả: Anna Watson, Philip Shrivrs, Claire Marston, 2002. Voluntary Disclourse of Accounting Ratios in the UK. British Accounting Review
Năm: 2002
4. Anup Agrawal and Sahiba Chadha, 2004. Corporate Governance and AccountingScandals Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anup Agrawal and Sahiba Chadha, 2004
5. Bader Al-Shammari, Waleed Al-Sultan, 2010. Corporate governance and voluntary disclosure in Kuwait. International Journal of Disclosure and Governance (2010) Vol 7, pp. 262 –280 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate governance and voluntary disclosure in Kuwait
6. Bích Diệp (2015), Quy mô thị trường chứng khoán Việt tương đương 34% GDP, truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2016, từ http://dantri.com.vn/kinh-doanh/quy-mo- thi- truong-chung-khoan-viet-tuong-duong-34-gdp-p76r20151220162608232.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy mô thị trường chứng khoán Việt tương đương 34% GDP
Tác giả: Bích Diệp
Năm: 2015
7. Bộ Tài chính (2015), Thông tư số 202/2015/TT-BTC hướng dẫn về niêm yết chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán, ban hành ngày 18 tháng 12 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 202/2015/TT-BTC hướng dẫn về niêm yết chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2015
8. Bộtàichính,2005.Chuẩnmựckếtoánsố29:Thayđổichínhsáchkếtoán,ước tính kế toán. Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC, ngày 15/02/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộtàichính,2005."Chuẩnmựckếtoánsố29:Thayđổichínhsáchkếtoán,ước tính kế toán
10. Brennan, 2007. Corporate Governance and Financial k8Reporting. http://hdl.handle.net/10197/3855 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Brennan, 2007. "Corporate Governance and Financialk8Reporting
11. Bùi Thị Thủy (2014), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Luận án Tiến sỹ, Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Bùi Thị Thủy
Năm: 2014
12. Chính phủ (1998), Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán, ban hành ngày tháng năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1998
13. Chính phủ (2003), Nghị định số 144/2003/NĐ-CP thay thế cho Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán, ban hành ngày 28 tháng 11 năm2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 144/2003/NĐ-CP thay thế cho Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
14. Chính phủ (2012), Nghị định số 58/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thị hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán, ban hành ngày 20 tháng 7 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 58/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thị hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
15. Chính phủ (2013), Nghị định số 105/2013/NĐ/CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập, ban hành ngày 16 tháng 9 năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 105/2013/NĐ/CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
16. Chính phủ (2015), Nghị định số 60/2015/NĐ-CP sửa đổi. bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ quy địnhchitiếtvàhướngdẫnthịhànhmộtsốđiềucủaLuậtchứngkhoánvàLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán, ban hành ngày 26 tháng 6 năm2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 60/2015/NĐ-CP sửa đổi. bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ quy địnhchitiếtvàhướngdẫnthịhànhmộtsốđiềucủaLuậtchứngkhoánvàLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
17. Clive Lennox, Xi Wu và Tianyu Zhang (2015), “Audit adjustments and earnings quality” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clive Lennox, Xi Wu và Tianyu Zhang (2015), “Audit adjustments and earnings quality
Tác giả: Clive Lennox, Xi Wu và Tianyu Zhang
Năm: 2015
18. Cohen.J, Krishnamoorthy.G and Wright.A, 2004, The corporate governance mosaic and financial quality, Journal of Accounting Literature (87 –152) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The corporate governance mosaic and financial quality
20. Dechow, P., W.R.Landsman, and C.Schrand. 2010, “Understanding earnings quality: A review of the proxies, their determinants and their consequences”, Journal of Accounting and Economics 50 (2-3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dechow, P., W.R.Landsman, and C.Schrand. 2010, “Understanding earnings quality: A review of the proxies, their determinants and their consequences
21. Đoàn Phan Tân, 2001. Về khái niệm thông tin và các thuộc tính làm nên giá trị của thông tin. Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật, số3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khái niệm thông tin và các thuộc tính làm nên giá trị của thông tin
19. Đặng Thị Thúy Hằng, 2011.Thực trạng và giải pháp cho vấn đề công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam.Website Tạp chínghiên cứu khoa học kiểm toán,http://www.khoahockiemtoan.vn/Category Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w